
posted: 05.02.05
|
TÔI HỌC VĂN NHƯ HỌC SỐNG Trần Mạnh Hảo Sáu,
bảy tuổi đánh chiếc quần đùi nâu dày cộp như mo nang, khoác chiếc áo
gụ sờn đứt khuy xộch xệch, đầu trọc lóc bình vôi, cỡi trên con nghé
vừa đến tuổi tập cày, tôi theo cha mẹ ra đồng học sống. Cuốn vở đầu
đời của tôi là cánh đồng làng và người thầy là mẹ cha lam lũ. Mẹ là
cô giáo dạy văn đầu tiên của tôi. Những lời hát ru tràn đầy lục bát
của mẹ nuôi thế giới tinh thần tôi lớn lên một cách vô thức. Thơ có
mặt ở khắp nơi mẹ đưa tôi đến. Hồn ca dao hồng hào phù sa, nhễ nhại
đất cát, xanh biền biệt cỏ chân đê bao bọc tôi như ánh mắt mẹ hiện
thân trong ánh trăng sao, nắng gió. Từ mồ hôi, nước mắt thông qua bùn lầy
nước đọng, qua chân lấm tay bùn, qua nỗi buồn của bầu trời mùa đông
mây xám...bằng tình yêu, mẹ đã tinh lọc nên dòng sữa vật chất và tinh
thần nuôi tôi, cho tôi một đôi mắt biết mở to, biết ngạc nhiên về tất
cả mọi điều trên mặt đất, dù điều đó đôi khi có vẻ nhàm chán và
ù lỳ, lạnh lùng và vô cảm. Cái lõi của văn là sống, học văn trước
hết phải học sống. Một đứa trẻ nhà quê như tôi, từng làm nghề cu
trâu trước khi học chữ, sáu tuổi đã cầm chiếc rổ mau vạt tép theo mẹ
ra đồng học cách bắt từng con tôm con tép, học cách lừa con cá con tôm
bằng mồi câu thì sự sống quả là
một cái nghề dữ dội. Dù đến nay đã hơn năm mươi tuổi, tôi vẫn chỉ
là đứa học trò vỡ lòng của người thầy cuộc sống.
Con trâu, xá cày, cây lúa, vạt cỏ, con mương, con đom đóm, chim chuột,
cây cối, trời xanh, bùn đất... tất cả đều là những người thầy của
tôi, dạy cho tôi biết cuộc đời là kỳ lạ, vừa nghiêm chỉnh vừa hài
hước, vừa thiêng liêng vừa dung tục, hút đôi mắt trẻ thơ của tôi
vào như ma ám. Tôi kinh ngạc đến vu vơ vì sao con ốc lại đi bằng lưỡi,
con đom đóm lại toả sáng ở đằng đít, tôm tép lại đi ngược : đuôi
trước, đầu sau và con rùa đi đâu cũng mang nhà theo... Dường như trong mỗi
hình ảnh của tạo vật đều chứa một triết lý siêu nhiên, một hồn trời
quyến rũ. Những ấn tượng, những ám ảnh của thế giới tự nhiên xâm
chiếm hồn tôi, tan biến trong những giấc mơ hư thực của tôi, sương khói
hoá cái nhìn búng ra sữa của cậu bé tinh quái rình bắt ve mỗi mùa hè đến.
Tâm hồn tôi hoá thành hang cho chú dế cuộc đời đến trọ và gáy lên những
tiếng gáy dị thường của mơ mộng. Và vầng trăng lang thang hoá thành chiếc
mũ của tuổi thơ tôi còn đội mãi đến bây giờ. Bước khởi nguồn của
hành trình học văn của tôi mà người thầy đầu tiên ngoài cha mẹ, làng
xóm còn là giun dế là trời mây, sông bể... Tôi học
chữ cũng như học sống. Chữ lúc đầu vụn gẫy, chổng chơ như chà
chuôm, như rơm rác, như cây bị bão đổ rạp, rồi túc tắc, lổm ngổm,
chữ bò như cua, ngoằn ngoèo, loăng quăng giun dế trên vở học loang lổ mực
tím của tôi. Nhiều bữa tôi cưỡi cả trâu đi học. Rồi chữ ngoáy như
chim bay, cá lượn đưa tôi đi cùng trời cuối đất trong một thế giới mà
tưởng tượng là sân chơi của hồn tôi. Chữ chân thật, gần gũi lại xa
vời, kỳ diệu như bà Tiên, như ông Bụt, chắp cho thằng oắt con cu trâu
tinh nghịch nhất làng đôi cánh Thiên Thần có khả năng bay lên thám hiểm
cả thiên đường và địa ngục. Tôi biết đọc, ham đọc nhưng không có
sách. Giá mà hồi đó tôi vớ được cuốn "Truyện cổ tích Việt Nam" hoặc được
gặp bác Tôn Ngộ Không và anh Trư Bát Giới...Những cuốn sách đầu đời
của tôi là Kinh Thánh, truyện các thánh, sách kinh và hàng tập báo cũ của
tờ báo "Đa Minh bán nguyệt", một
tờ báo của địa phận Bùi Chu thời trước năm 1945. Gia đình tôi theo đạo
Chúa nên ảnh hưởng của tinh thần văn chương Kinh Thánh thấm vào tôi như
mưa thấm vào mái rạ. Cuốn diễn ca bằng lục bát đầu đời tôi đọc và
thuộc là cuốn "Truyện Thánh
A-lê-xù" với những câu mở đầu ngô nghê như sau :" Thuở xưa người nước Rô- ma/ Con nhà sang trọng
tên là O - Phê.". Cuốn sách đầu tiên của chế độ mới tôi được
đọc là cuốn sách phổ biến khoa học thường thức của nhà xuất bản
Phổ Thông hình như có tên là "Trái đất
và hệ mặt trời". Đêm ấy, bầu trời làng tôi đầy sao. Tôi
nhìn lên hàng vạn tinh tú, há hốc mồm kinh ngạc vì hoá ra, các ngôi sao
kia từ nay không phải là những con đom đóm của Chúa Trời nữa mà là những
hành tinh còn lớn hơn trái đất... Tôi bắt
đầu học văn trong sách báo. Ở một làng quê Công Giáo hẻo lánh như quê
tôi, thật không dễ dàng mượn được cuốn sách để đọc. Mắc cái bệnh
mê đọc sách, tôi đọc nghiến ngấu tất cả những gì vớ được. Đến
nỗi, vì nhà đôi khi hết dầu hoả thắp đèn, có đêm, tôi leo lên mái bể
nước ngoài sân, nhờ ánh trăng rằm đọc sách, bị bố đánh cho một trận
vì sợ sau này thằng con mù mắt. Mê sách quá đến nỗi, xin lỗi, có những
lần, tôi đã ăn cắp sách hoặc mượn sách của ai đó rồi lờ đi không
trả. Cái câu ăn cắp sách không có tội thực ra là một lời dối trá. Nhắc
lại chuyện không hay ho này của mình để thấy rằng các bạn trẻ ngày
nay so với thế hệ tôi thật hạnh phúc, vì xung quanh các bạn cả một thế
giới sách bao phủ. Rồi chiến tranh với bom đạn, sốt rét, đói khát…
là trường học đời lính của tôi. Tôi đã học sống, giờ tôi cần học
cách hy sinh. Cái chết là một nỗi gì ghê gớm, vừa rất cụ thể, vừa rất
siêu hình, đã dạy tôi điều không một sách vở nào có thể dạy được...
Tóm lại, cho đến bây giờ, tóc đã bạc, tôi vẫn là kẻ cắp sách đến
trường đời học văn và nghề văn, như ngày xưa tôi từng rình xem con cò
đứng một chân mà ngủ, phục con cò sát đất để rồi không sao học
được cách đi một chân trên mặt đất ... ( Trích
bài “Mở đầu” cuốn – Văn học-Phê bình-Nhận diện ( Hầu chuyện
các giáo sư) NXB VĂN HỌC –Hà Nội 1999)
|
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com