
Huyền Cương
Cho đến nay việc tìm ra những nét đặc trưng và đánh giá vai trò của
dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử đối với nền văn hoá, tư tưởng, triết học
và tôn giáo Việt Nam đã có khá nhiều công trình nghiên cứu, phân tích với
nhiều góc nhìn, màu sắc và mức độ khác nhau. Nhưng về bối cảnh ra đời
của dòng thiền nhập thế-vô ngã có một không hai của Việt Trong
bài này người viết muốn góp đôi lời với một cái nhìn bao quát về chủ
đề này. I. Vua
Trần Nhân Tông với công cuộc tái thiết và phục hồi đất nước sau chiến
tranh
Ngày 17 tháng 3 năm Mậu Tý (1288) sau hai lần quét sạch giặc Nguyên
ra khỏi bờ cõi (1285 và 1288) vua Trần NHân Tông cho giải lũ tướng giặc
bị ta bắt về phủ Long Hưng tế bàn thờ hoàng đế Trần Thái Tông, người
ông anh hùng của mình đã lãnh đạo thắng lợi cuộc kháng chiến vệ quốc
chống Mông Thát năm 1258. Đứng trước toà lăng bị quân thù đào bới ngổn
ngang chỉ còn trơ lại mấy pho tượng ngựa đá lấm bùn vị hoàng đế
anh hùng Trần Nhân Tông không ngăn nổi xúc cảm đối với ngay cả những
con ngựa đá vô tri đã thốt lên mấy lời thơ thể hiện tấm lòng nhân hậu
và niềm tin vững chắc vào tương lai rạng rỡ của dân tộc Việt:
Sau
đó vua Trần Nhân Tông đã dành trọn năm năm, từ đầu hạ Mậu Tý (1288)
đến cuối xuân Quý Tỵ (1293), tự mình trực tiếp lãnh đạo nhân dân Đại
Việt trong sự nghiệp hàn gắn vết thương chiến tranh, dựng xây đất nước,
đồng thời bền bỉ đấu tranh ngoại giao nhằm đè bẹp ý chí xâm lược
của kẻ thù để nhân dân ta dồn sức cho công cuộc tái thiết hoà bình. Nhờ
chủ trương sáng suốt, trước sau như một, và với chính sách khôn khéo của
vua, khi cứng rắn lúc mềm dẻo, nên mặc dù gặp biết bao khó khăn, thử
thách, thiên tai, địch hoạ - đất nước bị tàn phá nặng nề bởi hai cuộc
chiến tranh liên tiếp, hạn hán kéo dài, mưa lũ liên miên, nạn đói hoành
hành, người Ai Lao bốn lần xâm phạm biên giới (1290, 1294, 1297, 1298) mà
hai lần đầu vua phải thân cầm quân đánh dẹp… - nền kinh tế Đại Việt
vẫn phục hồi nhanh chóng, đất nước thay da đổi thịt từng ngày và đã
có được bộ mặt tươi đẹp, thanh bình, cả nước như một công trường
rộng lớn và sôi nổi, khiến sứ Nguyên Trần Phu phải ghi nhận trong bài
An Nam Tức Sự của y. II. Vua
Trần Nhân Tông với sự nghiệp xây dựng một quá khứ thần thánh cho dân
tộc Ý
thức rằng công cuộc tiến hoá của dân tộc và sự trường tồn của đất
nước không chỉ đơn thuần là việc tái thiết, xây dựng kinh tế, cải
thiện đời sống vật chất mà thôi, vua Trần Nhân Tông còn quan tâm sâu sắc
đến việc mở mang một nền văn hoá-tư tưởng đậm đà chất Đại Việt
trên nền khối đoàn kết toàn dân để người dân có được chỗ dựa
tinh thần thiêng liêng, nhưng lành mạnh và bền vững. “Đó
là gây dựng một quá khứ thần thánh cho dân tộc bằng việc phong thần
cho những người có công với nước, như Phù Đổng Thiên Vương, Sĩ Nhiếp,
Triệu Quang Phục, Lý Nam Đế, Phùng Hưng, Lý Thường Kiệt… Sự kiện này
không thấy Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi lại, nhưng may thay Việt Điện
U Linh Tập của Lý Tế Xuyên đã chép… Việc phong thần cho những anh
hùng, liệt nữ và những ai có công với dân với nước trong quá khứ
không phải đến thời Trần Nhân Tông mới được thực hiện, [Lê Đại Hành
và] Lý Thái Tổ đã làm việc ấy đối với Phù Đổng Thiên Vương. Tuy
nhiên đó chỉ là những việc làm lẻ tẻ, chưa có tính cách hệ thống.
Phải đợi đến vua Trần Nhân Tông công việc này mới được tiến hành
một cách đầy đủ. Lần đầu tiên một thần điện Việt Nam được hình
thành với những con người bằng xương bằng thịt trong quá khứ [của
dân tộc], có sự tích, có hành trạng, chứ không phải là những vị thần
thánh từ nước ngoài đưa vào… “Việc
phong thần cho 27 vị anh hùng liệt nữ và những thần núi, thần sông, thần
đất cho ta thấy rõ ý đồ của vua Trần Nhân Tông gây dựng một quá khứ
anh hùng và thần thánh cho dân tộc ta, dùng những tâm gương anh hùng, liệt
nữ và thần thánh đó để giáo dục nhân dân ta sống xứng đáng với tổ
tiên, đất nước mình. Có thể nói chủ nghĩa yêu nước và anh hùng Việt
Có
người đặt câu hỏi: Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (ĐVSKTT) chỉ rằng nguồn
gốc họ Trần là người Mân (Phúc Kiến) hoặc Quế Lâm (Quảng Tây), Trung
Hoa (2). Vậy tại sao các vua nhà Trần, nhất là vua Trần Nhân Tông, lại muốn
xây dựng một quốc gia Đại Việt không theo mẫu hình chính trị, văn hoá-tư
tưởng và tôn giáo của Trung Hoa? Để
trả lời câu hỏi này ta cần dựa vào hai điểm mấu chốt sau đây: 1)
Dù cho
là người gốc Mân hoặc gốc Quế Lâm đi chăng nữa thì cũng chưa chắc
đã là người Hoa. Lịch sử cho biết Phúc Kiến hoặc Quảng Tây đều thuộc
đất của các nước Việt trong Bách Việt xưa (như Mân Việt, Dương Việt,
Tây Âu…). Bởi vậy chất Hoa chưa chắc đã có trong dòng máu họ Trần. 2)
Chính
ĐVSKTT ghi nhận ông tổ họ Trần là Trần Kinh nhập cư ở hương Tức Mặc,
phủ Thiên Trường ( III. Triết lý sống tích cực của
thời đại Trần Nhân Tông
Không chỉ dừng lại ở việc hình thành một thần điện thiêng
liêng, vua Trần Nhân Tông còn dầy công xây dựng một triết lý sống cho
người dân Đại Việt. Triết lý sống ấy được trình bày rõ ràng trong
bài phú mười hội Cư Trần Lạc Đạo (Ở Đời Vui Đạo) nổi tiếng của
Vua.
Kế thừa và phát huy tư tưởng khoát đạt của người thầy truyền
pháp đáng kính của mình là thượng sĩ Tuệ Trung và của vua cha là vô nhị
thượng nhân Trần Thánh Tông, trong bài phú của mình Vua Trần Nhân Tông đã
công khai và nhẹ nhàng phê phán thái độ hờ hững đối với cuộc sống
thực tiễn, trong khi đó lại viển vông mong cầu một “kiếp sau” mơ hồ
nào đó tốt lành, sung sướng hơn, theo kiểu đứng núi này trông núi nọ.
Thái độ này bắt nguồn từ lòng thiếu tự tin và là biểu hiện của tư
tưởng ỷ lại vào một sức mạnh siêu nhiên tưởng tượng nào đó gây
ra do bị ám ảnh bởi nỗi khiếp sợ vô căn cứ của con người.
Vua khuyên mọi người hãy tự tin và gắng sức sửa mình bằng cách
ngay trong đời này làm những việc tốt lành, tránh những điều xấu ác
để có thể tự khơi mở trí tuệ sáng suốt (tính Bụt) trong mình. Tịnh
độ và cực lạc phải được tìm thấy ngay ở đây và bây giờ bằng
cách lắng lòng dẹp bỏ thói ham đắm, nỗi oán hờn và lòng mê muội ra
khỏi cuộc sống để có thể vui với đạo ngay trong đời này, chứ chẳng
phải kiếm tìm đâu xa và tới tận khi nào.
Chất nhập thế-vô ngã thể hiện đậm nét trong từng câu từng chữ
của bài phú. Do vậy có thể nói bài phú Cư Trân Lạc Đạo đóng vai trò
như một bản tuyên ngôn báo trước sự ra đời dòng thiền nhập thế-vô
ngã Trúc Lâm Yên Tử, mà thượng hoàng Trần Nhân Tông sáng lập sau này,
sau khi đã xuất gia và thành đạo, trở thành vua Bụt. IV. Việc
nhường ngôi cho con và lên làm thái thượng hoàng của họ Trần
Ngày mồng 9 tháng 3 năm Quý Tỵ (1293), khi công cuộc tái thiết đã
đi vào ổn định, đất nước đang đà hồi phục và phát triển mạnh mẽ,
mối đe doạ xâm lăng từ phương Bắc tuy chưa thật hết, nhưng đã tạm
thời lắng dịu, vua Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con trai trưởng dòng
đích, là hoàng thái tử Thuyên, khi ấy đã đến tuổi trưởng thành (18 tuổi)
– đó là hoàng đế Trần Anh Tông – và lên làm thái thượng hoàng. Sử
gia Ngô Sĩ Liên cho rằng việc nhường ngôi cho con khi con đến tuổi trưởng
thành và lên làm thái thượng hoàng là gia phong nhà Trần, tuy nhiên theo
ông, nếu “chưa đến lúc già yếu thì không được lười mỏi” và việc
nhường ngôi như thế là không nên vì chưa từng có trong lịch sử Trung
Hoa kể từ sau đời Hạ Vũ. (3) Theo
học giả Lê Mạnh Thát thì mô hình nhường ngôi cho con khi con đến tuổi
trưởng thành đúng là gia pháp họ Trần, nhưng ông đã tìm thấy nguồn gốc
của mô hình này từ kinh vua Ma Điều chép trong Lục Độ Tập Kinh mà nhà
sư người Việt gốc Khương Cư (Khương Tăng Hội) đã dịch sang chữ Hán
từ cả ngàn năm trước. Chỉ có điều khác là vua Ma Điều sau khi nhường
ngôi cho con liền xuống tóc làm sa môn (đi tu), còn các thái thượng hoàng
triều Trần thì vẫn tham gia chỉ đạo các hoạt động đối nội và đối
ngoại hệ trọng của triều đình, giúp vua con điều hành đất nước. “Đây
là một cải biên mô hình vua Ma Điều cho phù hợp với thực tiễn chính
trị nước ta”. Như vậy nhà Trần không chịu lệ thuộc hoàn toàn theo
khuôn mẫu chính trị của nước ngoài, cho dù nước ngoài ấy ở phương nào.
“Điều đó chứng tỏ việc vận dụng tư tưởng Phật giáo một cách
khá linh động của giới Phật giáo Đại Việt. Đồng thời cũng chứng tỏ
bản lĩnh sáng tạo của đân tộc ta trong việc sử dụng và kế thừa tinh
hoa của nhân loại”. (4) Để
có một cái nhìn bao quát về những công việc mà thái thượng hoàng Trần Nhân Tông đã thực hiện sau
khi nhường ngôi cho vua Anh Tông ta hãy đọc bản tóm tắt dưới đây (góp
nhặt từ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Thánh Đăng Ngữ Lục và Khâm Định
Việt Sử Thông Giám Cương Mục). V. Tóm tắt hành trạng của thái thượng hoàng
Trần Nhân Tông Năm Giáp Ngọ (1294) . Tháng 7: Xuất gia tại Vũ Lâm, Yên
Khánh, Ninh Bình. . Tháng 8: Lần thứ hai đích thân cầm
quân đánh dẹp người Ai Lao xâm phạm biên giới. Năm Ất Mùi (1295) . Tháng 2: Tiếp phái bộ nhà Nguyên do Lý
Hành và Tiêu Thái Đăng dẫn đầu. . Tháng 6: Từ Vũ Lâm về kinh thảo tờ biểu
mừng hoàng đế Thành Tông nhà Nguyên lên ngôi và tờ biểu xin đại tạng
kinh Trung Hoa. Năm Kỷ Hợi (1299) . Tháng
5: Từ phủ Thiên Trường về kinh, bắt gặp vua Anh Tông say rượu, thượng
hoàng định truất ngôi. Sau vua Anh Tông phải nhờ Đoàn Nhữ Hài dâng biểu
tạ tội, thượng hoàng mới tha. . Tháng
7: Chỉ đạo dựng am Ngự Dược trên núi Yên Tử. . Tháng
8: Từ phủ Thiên Trường lại xuất gia chuyên tu theo hạnh đầu đà (khổ
hạnh) trên núi Yên Tử trong khoảng 18 tháng. Năm Tân Sửu (1301) . Mùa
xuân: Thành đạo, trở thành vị vua Bụt của Đại Việt với pháp danh Điều
Ngự Giác Hoàng. Sáng tác bài phú Đắc Thú Lâm Tuyền Thành Đạo Ca. Xúc
tiến thành lập dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử mang sắc thái riêng của Đại
Việt. . Tháng
3: Đi thăm các nơi, tìm hiểu mặt bằng tín ngưỡng trong dân chúng để
chuẩn bị công cuộc giáo hoá. Đến am Tri Kiến, thuộc trại Bố Chính (Quảng
Bình), rồi sang Chiêm Thành truyền giáo. Được vua Chiêm Thành Chế Mân thỉnh
mời và cúng dường. Nhân đó hứa gả công chúa Huyền Trân cho Chế Mân,
Chế Mân cũng hứa dâng hai châu Ô và Lý làm đồ dẫn cưới. Năm Quý Mão (1303) . Tháng
giêng: Mở hội Vô Lượng Pháp ở chùa Phổ Minh, phủ Thiên Trường, bố
thí và cấp chẩn cho dân nghèo. Trác tích tại chùa Sùng Nghiêm, Chí Linh,
để xiển dương tôn giáo. Chỉ đạo chủ trương cho Đoàn Nhữ Hài trước
khi đi sứ sang Chiêm Thành. Năm Giáp Thìn (1304) . Đi
khắp các xóm làng giáo hoá, dạy dân thực hành mười điều lành (thập
thiện), dẹp bỏ các miếu thờ bậy bạ, mê tín dị đoan (dâm từ). . Mùa
đông: Trao truyền tâm giới bồ tát tại gia cho vua Anh Tông và một số
quan chức triều đình Đại Việt. Năm Bính Ngọ (1306) . Tháng
6: Chỉ đạo việc gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm Thành Chế Mân và
sáp nhập hai châu Ô và Lý vào bản đồ Đại Việt, đổi tên thành châu
Thuận và châu Hoá. Năm Mậu Thân (1308) . Tháng
8: Sai chủ trại châu Hoá dẫn 300 người Chiêm Thành trở về nước họ (có
lẽ số người này đã đi theo công chúa Huyền Trân sang Đại Việt sau khi
vua Chế Mân mất). . Tháng
11: Lúc nửa đêm ngày mồng 1 thượng hoàng-vua Bụt Trần Nhân Tông viên tịch
tại am Ngoạ Vân núi Yên Tử, thọ 51 tuổi. VI. Điểm qua vài cách đánh giá khác nhau đối
với hành trạng của thái thượng hoàng Trần Nhân Tông
Bản
tóm tắt trên cho thấy 15 năm cuối đời (trong đó bao gồm cả khoảng hơn
sáu năm xuất gia tu hành và thành đạo) của thượng hoàng-vua Bụt Trần
Nhân Tông đầy ắp những công việc vì dân, vì nước. Hầu như chẳng lúc
nào được ngơi nghỉ, Ngài luôn phải lo toan chỉ đạo đường lối và
đưa ra những chủ trương sáng suốt, những quyết sách hệ trọng và kịp
thời, cả đối nội cũng như đối ngoại. Ngài giám sát, chỉ bảo và
giúp đỡ sát sao vua Anh Tông điều hành, kiến thiết, bảo vệ đất nước
và mở mang bờ cõi. Ngài
còn thao thức, trăn trở tìm cách đặt nền móng và xây dựng thành công một
nền văn hoá-tư tưởng giàu sáng tạo, một triết lý sống tích cực và một
giáo hội thống nhất, đậm đà sắc thái riêng của Đại Việt, mà cốt
lõi là dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Ngài công khai phê phán tư tưởng nô
lệ, sao chép nước ngoài một cách vô lối, thiếu sáng tạo đã hằn sâu
trong tầng lớp nho sĩ-trí thức nước ta sau hơn ngàn năm Bắc thuộc. Ngài
trực tiếp đi xuống từng xóm làng dạy dân dẹp bỏ việc thờ cúng bậy
bạ, mê tín dị đoan. Có thể nói cuộc đời Ngài đã thể hiện đầy đủ
và rõ nét chất nhập thế-vô ngã của pháp Bụt Việt Xem
thế đủ thấy sau khi nhường ngôi cho con thượng hoàng Trần Nhân Tông đi
tu đâu có phải là để “siêu thoát” (nghĩa là ‘vượt ra khỏi vòng trần
tục’, hoặc nói nôm na là ‘chán đời’); cũng chẳng là “hiền giả
chi quá dã” (nghĩa là ‘cái lỗi của bậc hiền giả’); lại càng chẳng
phải là “ưu du, cuồng phóng” (nghĩa là ‘ham chơi, buông thả’) như một
vài nhà nghiên cứu lịch sử xưa và nay dường như trong đầu nhuốm đậm
nếp nghĩ vay mượn, dính kẹt, thiếu khách quan và thiếu hẳn lòng tự
tôn dân tộc, đã có những đánh giá méo mó, lệch lạc; quá quắt hơn, họ
còn dùng lời lẽ báng bổ. Ví dụ: “…Song
[thượng hoàng Trần Nhân Tông] để tâm nơi kinh Phật, nói là để siêu
thoát, nhưng đó không phải là đạo trung dung của thánh nhân…”. (5) “…Chỉ
một việc xuất gia là không hợp đạo trung dung, là cái lỗi của bậc hiền
giả…”. (6) “…Sau
những tháng năm gian khổ, lớp quý tộc thống trị [nhà Trần] có tâm lý
ưu du, cuồng phóng. Nhân
Tông nhường ngôi cho con (1293) rồi đi chơi và đi tu…”. (7) Trái
hẳn với lối đánh giá không đúng mức kiểu này, lịch sử đã ghi chép
một cách khách quan giây phút cuối đời và tang lễ thượng hoàng Trần
Nhân Tông như sau: “…Thượng
hoàng trở về núi dặn dò thị giả rồi lặng lẽ ngồi và mất…[hoả]
thiêu được ba nghìn hạt xá lợi…Khi sắp đưa [tang], giờ đã đến mà
quan liêu, dân chúng đứng chật khắp cung điện. Tể tướng cầm roi xua
đuổi mà vẫn không giãn ra được…”. (8) Còn
học giả Lê Mạnh Thát thì nhận định một cách khách quan và trân trọng
cuộc đời và những đóng góp của vua Trần Nhân Tông cho dân tộc và
nhân loại như sau: “Đây
là một cuộc đời chỉ trong vòng 50 năm mà có những đóng góp vô cùng to
lớn cho dân tộc và cho nhân loại. Một cuộc đời đã kết thúc, nhưng để
lại bao nhiêu lưu luyến cho những người đương thời cũng như hậu thế.
Một cuộc đời có một kết thúc hết sức bình dị nhưng lại vô cùng
cao đẹp. Ngày nay mỗi lần đọc lại những gì tổ tiên ta đã viết về
những ngày cuối cùng của vua Trần Nhân Tông chúng ta không khỏi bồi hồi
xúc động như mình đang đối diện với một người đang sống bằng
xương bằng thịt trước mặt chúng ta”. (9) “Vua
Trần Nhân Tông là một vị anh hùng dân tộc, có những đóng góp to lớn
nhiều mặt cho đất nước, cho lịch sử. Vua trực tiếp lãnh đạo quân
và dân ta, tập hợp được những nhà quân sự tài giỏi, huy động được
tiềm lực của toàn dân [hai lần] đánh thắng đội quân [xâm lược] hung
hãn, thiện chiến nhất [hành tinh] thời bấy giờ… Không những thế, vua
đã mở rộng biên cương của tổ quốc, đặt nền móng vững chắc cho sự
nghiệp nam tiến hoành tráng của dân tộc mà con cháu hôm nay và mai sau mãi
mãi ghi nhớ và biết ơn. “Thêm
vào đó, nền văn hoá Việt “Sự
kiện thứ hai là việc vua Trần Nhân Tông đã thành lập dòng thiền Trúc
Lâm Yên Tử thuần tuý Việt Nam, với chủ trương cư trần lạc đạo…Dòng
thiền Trúc Lâm ra đời…làm nền tảng cho sự phát triển Phật giáo Việt
Nam hàng mấy trăm năm sau…”.(10) Thêm
nữa, đánh giá cao sự đóng góp của vua Trần Nhân Tông đối với tư tưởng
triết học Việt “Sau
14 năm làm vua, Nhân Tông nhường ngôi cho con là Anh Tông rồi làm thái thượng
hoàng và đi tu trở thành thuỷ tổ (sơ tổ) phái thiền Trúc Lâm Yên Tử,
một phái thiền để lại dấu ấn đặc sắc trong lịch sử tư tưởng Việt
Nam. Nhân Tông thực sự là một triết gia lớn của Phật học, giúp triết
học Phật giáo Việt Nam phát triển rực rỡ, thể hiện đủ trí tuệ, bản
lĩnh Việt Nam. Tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông là tư tưởng thực
tiễn chiến đấu và táo bạo …”. (11) VII. Bối cảnh ra đời của dòng thiền
Trúc Lâm Yên Tử 1) Công cuộc xây dựng và phát triển
một đất nước chắc chắn không thể chỉ riêng mặt đời sống kinh tế-vật
chất mà thôi, bên cạnh đó còn phải chú ý đúng mức đến mặt đời sống
tinh thần nữa, đó chính là nền văn hoá-tư tưởng, hoặc cao hơn và sâu
hơn, ấy là nền tín ngưỡng-tôn giáo. Hai mặt đời sống ấy nếu được
mở mang cân đối, đúng hướng và lành mạnh thì chúng có tác dụng bổ
sung, hỗ trợ nhau một cách gắn bó, nhịp nhàng, giúp cho dân tộc tiến
hoá, đất nước phát triển thuận lợi. Như thế được gọi là ‘trị’.
Trái lại, nếu thiếu hoặc yếu một trong hai mặt ấy, xã hội sẽ trở
nên khập khiễng, dần dần dẫn đến ‘loạn’ và mất nước. Như trên đã nói, sau
khi xuất gia và thành đạo, tháng 3 năm Tân Sửu (1301) vua Bụt đã đi thăm
các nơi để tìm hiểu mặt bằng tín ngưỡng trong dân chúng, chuẩn bị
cho công cuộc giáo hoá. Nhìn bề ngoài thì nền
tín ngưỡng-tôn giáo Đại Việt có vẻ như là thuần nhất và phát triển,
nhất là Phật giáo. Thật vậy, sau chuyến sang Đại Việt năm Quý Tỵ
(1293) sứ nhà Nguyên là Trần Phu đã mô tả trong Trần Cương Trung Thi Tập
về tín ngưỡng Đại Việt thời Trần bằng những câu như “chỉ có
cúng Phật là rất thịnh hành” và “hết thảy dân đều là thày tu”
(dân tất tăng). Trần Phu còn nhận xét Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn
như sau: “rất chuộng Phật nên đặt tên châu là Vạn Kiếp” (12). Có thể
nói Phật giáo đã phát triển mạnh mẽ và chiếm ưu thế trong cộng đồng
người Việt thời Trần, chẳng những ở ngoài dân chúng mà cả trong giới
quan chức triều đình. Tuy nhiên đi sâu tìm hiểu,
vua Bụt đã nhận thấy mặt bằng tín ngưỡng nước ta bấy giờ còn nhiều
lệch lạc đòi hỏi phải thực hiện một công cuộc giáo hoá sâu rộng
trong dân chúng để dạy dân thực hành theo lời dạy của Đức Phật. Rải rác đó đây trong
các xóm làng còn có những dâm từ (miếu thờ bậy bạ, mê tín dị đoan).
Ngay trong lòng Phật giáo Đại Việt cũng không phải là không có những vấn
đề phức tạp. Trong cộng đồng người Việt từ cuối thời nhà Lý, bên
cạnh ba dòng thiền truyền thống đã xuất hiện những khuynh hướng khác
lạ, xa rời chính pháp. Đó là những hoạt động
bùa phép nhằm giải quyết mâu thuẫn cá nhân mà sử sách đã ghi chép
không chỉ một lần, chẳng hạn như việc sư Đại Điên dùng phép thuật
đánh chết và vứt xác Từ Vinh xuống sông Tô Lịch. Sau đó con trai Từ
Vinh là Từ Lộ, khi xuất gia là thiền sư Đạo Hạnh, đã sang Ấn Độ (?)
học phép lạ để báo thù cho cha. Học xong Đạo Hạnh đến nhà Đại Điên
vung gậy đánh, Đại Điên phát bệnh mà chết. (13) Cũng không thể không kể
đến khuynh hướng Tịnh Độ ở nước ta từ giữa TK11, nhất trong tầng lớp
bình dân hạ trí. Thượng sĩ Tuệ Trung với chủ trương hỗn tục hoà
quang “đã nhạy cảm phát hiện rằng bên cạnh mặt tích cực của khuynh
hướng Tịnh Độ, là giáo dục con người hướng về một thế giới cực
lạc ở Tây phương trong kiếp sau mà siêng năng làm lành, lánh dữ trong kiếp
sống này, còn có mặt tiêu cực của nó. Đó là tính ỷ lại vào sự cứu
độ từ bên ngoài (tha lực), dần dần làm thui chột nỗ lực tự thân,
mà điều này thật sự là mối lo đối với tất cả con dân Đại Việt,
nhất là giới lãnh đạo nhà Trần trong bối cảnh sự sống còn của dân
tộc, nền độc lập của đất nước luôn luôn bị thế lực đế quốc
Nguyên Mông khổng lồ đe doạ và rình rập từ phương Bắc… “Dường như trong xã hội
Đại Việt bấy giờ trào lưu Tịnh Độ đã thịnh hành và người Phật tử
nói chung, nhất là những kẻ hạ trí nói riêng, có thói quen bám dính vào
khái niệm và phát triển sức tưởng tượng quá mức đến viển vông, xa
rời thực tế cuộc sống…” khiến thượng sĩ với lòng từ bi vô hạn
của người tỉnh thức đã phải lên tiếng khuyên bảo những ai còn lẫn
lầm, nhẹ dạ, mơ hồ qua bài thơ bốn câu ba vần Thị Tu Tây Phương Bối.
(14) 2) Về vị trí địa lý, Đại Việt nằm
kề bên một đế quốc rộng lớn và có nền văn hóa phát triển lâu đời
là Trung Hoa. Quá khứ hơn nghìn năm Bắc thuộc dường như còn để lại những
vết hằn nhức nhối, khó phai trong xã hội người Việt. Vào thời đại
Trần Nhân Tông cái lực lượng đế quốc rộng lớn này, còn được bồi
thêm bằng sức mạnh vũ bão của vó ngựa Mông Thát thiện chiến và bạo
tàn, đã trở thành đế quốc Nguyên Mông khổng lồ, hung hãn, thật đáng
gờm. Đây
chính là mối đe dọa thường trực đối với sự sống còn của Đại Việt
và thực tế mối đe dọa này ít ra đã biến thành hai cuộc xâm lăng khủng
khiếp mà vua Trần Nhân Tông cùng toàn dân Đại Việt phải đương đầu,
ấy là chưa kể cuộc xâm lăng của quân Mông Thát thời vua Trần Thái
Tông. Bối
cảnh ngàn cân treo sợi tóc đó cùng với những tin tức về những gì
đang diễn ra sôi động trong và ngoài nước giai đoạn này không thể
không khiến vị hoàng đế sáng suốt và có tầm nhìn chiến lược Trần
Nhân Tông phải bận lòng trăn trở kiếm tìm đường lối xây dựng quốc
gia Đại Việt sao cho vừa hùng mạnh về quân sự, chính trị và kinh tế,
lại vừa mở mang về văn hóa-tư tưởng và tôn giáo, tạo ra một đời sống
tinh thần phong phú nhưng lành mạnh và không lệ thuộc, đủ sức đương
đầu với mối họa xâm lăng từ bên ngoài không chỉ về quân sự, chính
trị mà cả về âm mưu nô dịch văn hóa-tư tưởng và tôn giáo nữa. 3) Hẳn
là những khi thao thức kiếm tìm phương hướng đường lối và vạch ra những
bước cụ thể thực hiện đường lối ấy, nhất là những lúc một mình
ngồi dưới gốc thông già suy ngẫm, chiêm nghiệm hoặc những phút giây lắng
lòng sau buổi nghiên cứu nội, ngoại điển, vua đã có dịp khám phá
nguyên nhân nội tại khiến cho quốc gia Phật giáo rộng lớn và có bề
dày lịch sử-văn hóa lâu đời như Ấn Độ, quê hương của Đức Thế Tôn
và của đạo Phật, đã phải thất bại thảm hại trước làn sóng xâm lăng
dã man của quân Hồi giáo đến từ Thổ Nhĩ Kỳ (từ TK8 đến TK13). Và theo đó Phật giáo Ấn Độ
cũng bị tàn phá nặng nề, thảm hại và suy tàn đến nỗi gần như mất
hẳn ở đất nước này sau hơn 1700 năm phát triển rực rỡ, “từng làm
bá chủ về tư tưởng toàn Ấn Độ, đoạt hẳn vị trí độc tôn của
Bà La Môn giáo… Nhất là Phật giáo dưới thời đại hai vương triều A Dục
(Asoka) và Ca Nhị Sắc Ca (Kaniska) cực kỳ phồn thịnh …”. (15) Nguyên
nhân nội tại ấy là gì nếu không phải là chủ trương xuất thế-siêu
thoát, nuôi dưỡng tư tưởng ỷ lại vào lực lượng siêu nhiên, nhất là
trong thời kỳ phát triển của mật giáo Ấn Độ (701-1200). Thêm vào đó,
sự chia tách phức tạp quá nhiều tông phái Phật giáo cũng làm cho đạo
Phật đất nước này dần dần suy yếu, nếu không muốn nói là rệu rã,
ngay từ trước khi có sự tàn phá của quân Hồi giáo. Trong
thời đại Trần Nhân Tông ngoài tấm gương tầy liếp của Phật giáo Ấn
Độ, như đã nói ở trên, còn hai tấm gương cũng tầy liếp không kém và
cũng đáng được coi như những bài học mà Đại Việt cần tham khảo để
rút kinh nghiệm. Đó là sự quá tin cầu một kiếp sau tốt lành, sung sướng
ở nơi “Tây Phương Cực Lạc” của Phật giáo tịnh độ Trung Hoa đời
Tống. Chính nó đã làm yếu mòn khả năng đề kháng của đất nước,
đưa đến sự tiêu tan triều đại nhà Tống dưới vó ngựa xâm lăng Mông
Thát. Rồi nữa, liệu có gì liên hệ không giữa tư tưởng quá ỷ lại
vào quyền năng siêu nhiên của mật giáo Tây Tạng với sự thất bại dễ
dàng và mau chóng của đất nước băng tuyết này trước sức tấn công của
quân Nguyên thời Thế Tổ Hốt Tất Liệt (TK11)? 4) Đến
đây có thể giả thiết vua Trần Nhân Tông đã phát hiện được điểm yếu
chung giữa ba nền Phật giáo của ba quốc gia rộng lớn nói trên là ở chỗ
chúng đều có cái vỏ ỷ lại vào sức mạnh siêu nhiên bên ngoài (tha lực).
Cái vỏ này che đậy khéo léo cái lõi bên trong là cái Tôi yếu mềm, ham hố
và dính kẹt (chấp ngã). Thực
tế ấy cộng với kinh nghiệm xương máu rút ra từ những lần chiến thắng
oanh liệt giặc Nguyên Mông đã giúp vua Bụt vạch ra đường lối phát triển
đời sống tinh thần của Đại Việt và quyết tâm xây dựng một giáo hội
Phật giáo thống nhất với chủ trương tự giải thoát, không cầu xin, dựa
dẫm tha lực. Tư tưởng chủ đạo của Phật giáo Đại Việt là nhập thế-vô
ngã, nghĩa là “làm thì làm hết mình nhằm tới thành công, nhưng không gắn
cái Tôi vào đó”, hay người ta quen nói là “công thành” thì “danh tịch”.
Tư tưởng chủ đạo đó của giáo hội nhằm tạo nên một lực lượng tôn
giáo tích cực và hùng hậu, giúp đỡ đắc lực cho công cuộc tiến hoá của
dân tộc, phát triển và bảo vệ đất nước. Đó chính là đặc điểm nổi
bật của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử có một không hai, một dòng thiền
thuần tuý Việt Chất
nhập thế-vô ngã này, được vua Bụt sáng tạo dựa trên sự đúc kết những
tinh hoa của cả ba dòng thiền có mặt ở nước ta từ trước (Tỳ Ni Đa
Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, và Thảo Đường) trong quá trình vận động thống
nhất thành một dòng thiền duy nhất, đã giúp cho nền văn hoá-tư tưởng
Đại Việt đủ sức đứng vững trước làn sóng nô dịch văn hoá từ
bên ngoài tràn tới, góp phần đáng kể bảo vệ nền độc lập, tự chủ
của nước nhà. 5) Ngang đây
hẳn là có người muốn đặt câu hỏi: Chất nhập thế-vô ngã và tính thống
nhất của dòng thiên Trúc Lâm Yên Tử tuyệt vời như thế, vậy mà sao
dòng thiền này chỉ truyền thừa được ba thế hệ (Trần Nhân Tông, Pháp
Loa, Huyền quang) thôi. Có người còn cho rằng “Phong trào Phật giáo nhập
thế gọi là Trúc Lâm Yên Tử chỉ hưng thịnh cho đến khoảng TK14. Sau đó
phong trào yếu dần” (16) và “thời hưng thịnh chấm dứt”. (17)
Sự tồn tại của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử là cả một chủ đề
lớn, cần được nghiên cứu riêng và bàn bạc kỹ lưỡng mới có thể
tìm ra câu trả lời thoả đáng. Trong số những dữ liệu lịch sử còn lại
từ những thế kỷ trước đã có những ghi chép sai lạc, dẫn đến những
ngộ nhận ở những thế kỷ tiếp theo, khiến hậu thế đinh ninh rằng thời
hưng thịnh của dòng thiền này nói riêng, của Phật giáo Việt Nam nói
chung đã chấm dứt từ sau tam tổ Huyền Quang. Ngay vấn đề liệu thiền
sư Huyền Quang có đúng là vị tổ thứ ba của dòng thiền này không, hay
chỉ là tự pháp (chỗ dựa của dòng thiền) và còn nhiều điều khác nữa
cũng cần được bàn giải, xem xét, đánh giá lại một cách đúng mức.
Trả lời câu hỏi nêu trên học giả Lê Mạnh Thát đã viết những
dòng sau đây: “…vì những ngộ nhận vừa nêu (dòng thiền Trúc Lâm Yên
Tử chỉ truyền thừa được ba thế hệ và sau đó là hết thời hưng thịnh)
nên phải viết sơ một ít về dòng thiền Trúc Lâm do vua Trần Nhân Tông
thành lập” rồi ông đã dành cả một chương, gồm 48 trang sách, để gọi
là viết sơ về vấn đề này. (18) Người
viết bài này không có tham vọng bàn sâu chủ đề này ở đây. Mong rằng
sẽ có dịp được chia sẻ. 6) Chủ trương
nhập thế-vô ngã của Phật giáo Việt Điểm
theo dòng lịch sử Phật giáo Việt Nam có thể dễ dàng thấy chủ trương
nhập thế-vô ngã đã được nhen nhóm và dấy lên từ những gương mặt sáng
giá như: sư Định Không (730-808), trưởng lão La Quý An (825-936), sư Pháp
Thuận (925-991), sư Khuông Việt (933-1011), sư Vạn Hạnh (?-1025), v.v… Tuy nhiên phải đợi đến
vua Bụt Trần Nhân Tông tư tưởng nhập thế-vô ngã mới được trình bày
rành mạch trong văn học Phật giáo với bài phú Cư Trần Lạc Đạo mà vua
Bụt sáng tác bằng văn nôm để dễ dàng phổ biến không chỉ riêng cho giới
tăng ni mà còn cho rộng rãi Phật tử
và dân chúng Đại Việt nữa. Tuy
đánh giá chưa thật thoả đáng về sự ra đời, ảnh hưởng và vai trò của
dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử đối với nền văn hoá-tư tưởng Việt Nam nói
chung và lịch sử Phật giáo Việt Nam nói nói riêng, tác giả Nguyễn Lang cũng
phải thừa nhận: “Chính Nhân Tông đã sử dụng được tiềm năng của
Phật giáo để phục vụ cho chính trị. Sự xuất gia [và thành đạo] của
vua, cũng như những năm hành đạo trong dân gian của vua, đã khiến giáo hội
Phật giáo Trúc Lâm trở nên một lực lượng tôn giáo hùng mạnh yểm trợ
cho triều đại”. (19) Đến
đây hẳn là chẳng còn ai nghi ngờ vai trò lớn lao và tích cực của dòng
thiền Trúc Lâm Yên Tử đối với sự nghiệp dựng nước và giữ nước của
Đại Việt TK13 và 14. VIII. Kết luận Sự
ra đời của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử là một mốc son sáng chói đánh
dấu sự chín muồi của hệ tư tưởng chủ đạo nhập thế-vô ngã với
triết lý sống tích cực của Phật giáo Đại Việt. Nó cũng là đỉnh cao
của cuộc vận động thống nhất các dòng thiền có mặt trong cộng đồng
người Việt cho đến lúc bấy giờ, tạo nên một lực lượng tôn giáo thống
nhất, hùng hậu, đủ sức phá tan âm mưu nô dịch văn hoá của các thế lực
xâm lược.
Chủ trương nhập thế-vô ngã chẳng hề xoá mờ, mà trái lại càng
làm nổi rõ chất tỉnh thức và giải thoát của con đường mà Bụt Thích
Ca đã chỉ. Dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử ra đời với một sức sống khoẻ
khoắn và tươi mới đã dóng góp phần quan trọng trong sự nghiệp xây dựng
đời sống văn hoá-tinh thần lành mạnh, đậm nét Đại Việt, giàu chất
sáng tạo và tính nhân văn trong suốt diễn trình tiến hoá của dân tộc
Việt Nam cho đến hôm nay và mai sau. Bồ
Đề, một sớm cuối xuân PL
2549 – Bính Tuất – 2006 Chú giải 1)
Lê Mạnh Thát:
Toàn Tập Trần Nhân Tông (nxb TP Hồ Chí Minh, 2000); tr. từ 169 đến 171. 2)
Đại Việt Sử Ký
Toàn Thư tập II (nxb Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1998); tr. 7. 3)
Như (2); tr. 30. 4)
Lê Mạnh Thát: Toàn Tập Trần Thái Tông (nxb Tổng Hợp TP Hồ Chí Minh, 2004); tr.
128. 5)
Như (2); tr. 44. 6)
Như (2); tr. 93. 7)
Trần Quốc Vượng-Vũ
Tuấn Sán: Hà Nội Nghìn Xưa (nxb Quân Đội Nhân Dân, Hà Nội,
2004); mục Quý Tộc Sa Đoạ; tr. 347. 8)
Như (2); tr. 92 và
95. 9)
Như (1); tr. 229. 10)
Như (1); tr. 7 và 8. 11)
Quỳnh Cư-Đỗ Đức
Hùng: Các Triều Đại Việt 12) Như (1); tr. 209. 13) Thiền Uyển Tập Anh (nxb
Văn Học, Hà Nội, 1990); chuyện Thiền
Sư Đạo Hạnh; tr. từ 197 đến 199. 14)
Huyền Cương:
Bài báo ‘Thấy Gì Qua Bài Thơ Thị Tu Tây Phương Bối’ (tạp chí Nghiên
Cứu Phật Học, số 4/2005); tr. từ 19 đến 23. 15)
HT Thích Thanh
Kiểm: Lược Sử Phật Giáo Ấn Độ (Thành Hội Phật Giáo TP Hồ Chí Minh
ấn hành, 1989); tr. 199. 16)
Nguyễn Lang:
Việt Nam Phật Giáo Sử Luận tập I (nxb Văn Học, Hà Nội, 1994); tr. 356. 17) Như (16); tr. 450. 18) Như (1); chương IX: Vua Trần Nhân Tông Với Thiền
Phái Trúc Lâm; tr. từ 307 đến 355. 19) Như (16); tr. 507. x x
x © Copyright 2006 giaodiem.com |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com