giaodiem copyright
          posted: 19.4.2006
VỀ BỐI CẢNH RA ĐỜI CỦA
DÒNG THIỀN TRÚC LÂM YÊN TỬ

                                                                                          Huyền Cương

      Cho đến nay việc tìm ra những nét đặc trưng và đánh giá vai trò của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử đối với nền văn hoá, tư tưởng, triết học và tôn giáo Việt Nam đã có khá nhiều công trình nghiên cứu, phân tích với nhiều góc nhìn, màu sắc và mức độ khác nhau. Nhưng về bối cảnh ra đời của dòng thiền nhập thế-vô ngã có một không hai của Việt Nam này thì hầu như chưa được ai bàn đến, hoặc nếu có thì còn rất sơ sài.

      Trong bài này người viết muốn góp đôi lời với một cái nhìn bao quát về chủ đề này.

I. Vua Trần Nhân Tông với công cuộc tái thiết và phục hồi đất nước sau chiến tranh

      Ngày 17 tháng 3 năm Mậu Tý (1288) sau hai lần quét sạch giặc Nguyên ra khỏi bờ cõi (1285 và 1288) vua Trần NHân Tông cho giải lũ tướng giặc bị ta bắt về phủ Long Hưng tế bàn thờ hoàng đế Trần Thái Tông, người ông anh hùng của mình đã lãnh đạo thắng lợi cuộc kháng chiến vệ quốc chống Mông Thát năm 1258. Đứng trước toà lăng bị quân thù đào bới ngổn ngang chỉ còn trơ lại mấy pho tượng ngựa đá lấm bùn vị hoàng đế anh hùng Trần Nhân Tông không ngăn nổi xúc cảm đối với ngay cả những con ngựa đá vô tri đã thốt lên mấy lời thơ thể hiện tấm lòng nhân hậu và niềm tin vững chắc vào tương lai rạng rỡ của dân tộc Việt:

                         Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã     
                     Sơn hà thiên cổ điển kim âu
 
             (dịch:  Đất nước đôi phen mòn ngựa đá
                        Non sông nghìn thuở vững âu vàng)

      Sau đó vua Trần Nhân Tông đã dành trọn năm năm, từ đầu hạ Mậu Tý (1288) đến cuối xuân Quý Tỵ (1293), tự mình trực tiếp lãnh đạo nhân dân Đại Việt trong sự nghiệp hàn gắn vết thương chiến tranh, dựng xây đất nước, đồng thời bền bỉ đấu tranh ngoại giao nhằm đè bẹp ý chí xâm lược của kẻ thù để nhân dân ta dồn sức cho công cuộc tái thiết hoà bình.

      Nhờ chủ trương sáng suốt, trước sau như một, và với chính sách khôn khéo của vua, khi cứng rắn lúc mềm dẻo, nên mặc dù gặp biết bao khó khăn, thử thách, thiên tai, địch hoạ - đất nước bị tàn phá nặng nề bởi hai cuộc chiến tranh liên tiếp, hạn hán kéo dài, mưa lũ liên miên, nạn đói hoành hành, người Ai Lao bốn lần xâm phạm biên giới (1290, 1294, 1297, 1298) mà hai lần đầu vua phải thân cầm quân đánh dẹp… - nền kinh tế Đại Việt vẫn phục hồi nhanh chóng, đất nước thay da đổi thịt từng ngày và đã có được bộ mặt tươi đẹp, thanh bình, cả nước như một công trường rộng lớn và sôi nổi, khiến sứ Nguyên Trần Phu phải ghi nhận trong bài An Nam Tức Sự của y.

II. Vua Trần Nhân Tông với sự nghiệp xây dựng một quá khứ thần thánh cho dân tộc

      Ý thức rằng công cuộc tiến hoá của dân tộc và sự trường tồn của đất nước không chỉ đơn thuần là việc tái thiết, xây dựng kinh tế, cải thiện đời sống vật chất mà thôi, vua Trần Nhân Tông còn quan tâm sâu sắc đến việc mở mang một nền văn hoá-tư tưởng đậm đà chất Đại Việt trên nền khối đoàn kết toàn dân để người dân có được chỗ dựa tinh thần thiêng liêng, nhưng lành mạnh và bền vững.

      “Đó là gây dựng một quá khứ thần thánh cho dân tộc bằng việc phong thần cho những người có công với nước, như Phù Đổng Thiên Vương, Sĩ Nhiếp, Triệu Quang Phục, Lý Nam Đế, Phùng Hưng, Lý Thường Kiệt… Sự kiện này không thấy Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi lại, nhưng may thay Việt Điện U Linh Tập của Lý Tế Xuyên đã chép… Việc phong thần cho những anh hùng, liệt nữ và những ai có công với dân với nước trong quá khứ không phải đến thời Trần Nhân Tông mới được thực hiện, [Lê Đại Hành và] Lý Thái Tổ đã làm việc ấy đối với Phù Đổng Thiên Vương. Tuy nhiên đó chỉ là những việc làm lẻ tẻ, chưa có tính cách hệ thống. Phải đợi đến vua Trần Nhân Tông công việc này mới được tiến hành một cách đầy đủ. Lần đầu tiên một thần điện Việt Nam được hình thành với những con người bằng xương bằng thịt trong quá khứ [của dân tộc], có sự tích, có hành trạng, chứ không phải là những vị thần thánh từ nước ngoài đưa vào…

      “Việc phong thần cho 27 vị anh hùng liệt nữ và những thần núi, thần sông, thần đất cho ta thấy rõ ý đồ của vua Trần Nhân Tông gây dựng một quá khứ anh hùng và thần thánh cho dân tộc ta, dùng những tâm gương anh hùng, liệt nữ và thần thánh đó để giáo dục nhân dân ta sống xứng đáng với tổ tiên, đất nước mình. Có thể nói chủ nghĩa yêu nước và anh hùng Việt Nam đã được phát huy cao độ vào thời đại Trần Nhân Tông… Đây có thể là một đóng góp to lớn về đời sống [văn hoá-]tư tưởng của vua Trần Nhân Tông đối với dân tộc ta…”. (1)

      Có người đặt câu hỏi: Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (ĐVSKTT) chỉ rằng nguồn gốc họ Trần là người Mân (Phúc Kiến) hoặc Quế Lâm (Quảng Tây), Trung Hoa (2). Vậy tại sao các vua nhà Trần, nhất là vua Trần Nhân Tông, lại muốn xây dựng một quốc gia Đại Việt không theo mẫu hình chính trị, văn hoá-tư tưởng và tôn giáo của Trung Hoa?

      Để trả lời câu hỏi này ta cần dựa vào hai điểm mấu chốt sau đây:

1)      Dù cho là người gốc Mân hoặc gốc Quế Lâm đi chăng nữa thì cũng chưa chắc đã là người Hoa. Lịch sử cho biết Phúc Kiến hoặc Quảng Tây đều thuộc đất của các nước Việt trong Bách Việt xưa (như Mân Việt, Dương Việt, Tây Âu…). Bởi vậy chất Hoa chưa chắc đã có trong dòng máu họ Trần.

2)      Chính ĐVSKTT ghi nhận ông tổ họ Trần là Trần Kinh nhập cư ở hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường (Nam Định ngày nay) đã từ lâu. Vua Trần Nhân Tông (Trần Khâm) là đời thứ bẩy của dòng họ - bao gồm các thế hệ: Kinh, Hấp, Lý, Thừa, Cảnh, Hoảng, Khâm - trải trên dưới hai thế kỷ kể từ ngày nhập cư. Với quãng thời gian dài như thế chắc chắn họ Trần nếu có là gốc Hoa thì chất Hoa đã phai lạt nhiều, và trên thực tế họ đã thành người Việt rồi.

III. Triết lý sống tích cực của thời đại Trần Nhân Tông

      Không chỉ dừng lại ở việc hình thành một thần điện thiêng liêng, vua Trần Nhân Tông còn dầy công xây dựng một triết lý sống cho người dân Đại Việt. Triết lý sống ấy được trình bày rõ ràng trong bài phú mười hội Cư Trần Lạc Đạo (Ở Đời Vui Đạo) nổi tiếng của Vua.

      Kế thừa và phát huy tư tưởng khoát đạt của người thầy truyền pháp đáng kính của mình là thượng sĩ Tuệ Trung và của vua cha là vô nhị thượng nhân Trần Thánh Tông, trong bài phú của mình Vua Trần Nhân Tông đã công khai và nhẹ nhàng phê phán thái độ hờ hững đối với cuộc sống thực tiễn, trong khi đó lại viển vông mong cầu một “kiếp sau” mơ hồ nào đó tốt lành, sung sướng hơn, theo kiểu đứng núi này trông núi nọ. Thái độ này bắt nguồn từ lòng thiếu tự tin và là biểu hiện của tư tưởng ỷ lại vào một sức mạnh siêu nhiên tưởng tượng nào đó gây ra do bị ám ảnh bởi nỗi khiếp sợ vô căn cứ của con người.

      Vua khuyên mọi người hãy tự tin và gắng sức sửa mình bằng cách ngay trong đời này làm những việc tốt lành, tránh những điều xấu ác để có thể tự khơi mở trí tuệ sáng suốt (tính Bụt) trong mình. Tịnh độ và cực lạc phải được tìm thấy ngay ở đây và bây giờ bằng cách lắng lòng dẹp bỏ thói ham đắm, nỗi oán hờn và lòng mê muội ra khỏi cuộc sống để có thể vui với đạo ngay trong đời này, chứ chẳng phải kiếm tìm đâu xa và tới tận khi nào.

      Dưới đây là trích dẫn một số câu trong bài phú:
… Tịnh Độ là lòng trong sạch, chớ còn ngờ hỏi đến Tây Phương
Di Đà là tính sáng soi, mựa (đừng) phải nhọc tìm về Cực Lạc…
 
Gìn tính sáng, mựa lạc tà đạo …
Trần tục mà nên, phúc ấy càng yêu hết tấc (mức)
Sơn lâm chẳng cốc (biết), họa kia thực cả (thật tất) đồ (uổng) công …
Biết chân như, tin bát nhã, chớ còn tìm Phật, Tổ, tây, đông …
Tích nhân nghì, tu đạo đức, ai hay này chẳng phải Thích Ca,
Cầm (giữ) giới hạnh, đoạn xan tham, chỉn (chính) thật ấy là Di Lặc …
Bụt ở cong (trong) nhà
Chẳng phải tìm xa
Nhân khuấy bổn (vì quên gốc) nên ta tìm Bụt
Đến cốc (biết) hay chỉn Bụt là ta …
Sạch giới lòng, giồi (trau) giới tướng, nội ngoại nên Bồ Tát trang nghiêm
Ngay thờ Chúa, thảo thờ cha, đi đỗ mới trượng phu trung hiếu …
Công danh mảng đắm, ấy toàn là những đứa ngây thơ
Phúc tuệ gồm no, chỉn mới khá nên người thực cốc
Dựng cầu đò giồi chiền tháp, ngoại trang nghiêm sự tướng hãy tu …
Chuộng công danh, lồng nhân ngã, thực ấy phàm phu
Xây đạo đức, dời thân tâm, định nên thánh trí …
 
          Kệ rằng:  Cư trần lạc đạo thả tuỳ duyên
                        Cơ tắc xan hề khốn tắc miên
                        Gia trung hữu bảo hưu tầm mích
                        Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền
 
(Dịch: Ở đời vui đạo cứ tùy duyên
Hễ đói thì ăn, mệt ngủ liền
Trong nhà có báu, thôi tìm kiếm
Trước cảnh không tâm, khỏi hỏi thiền)

      Chất nhập thế-vô ngã thể hiện đậm nét trong từng câu từng chữ của bài phú. Do vậy có thể nói bài phú Cư Trân Lạc Đạo đóng vai trò như một bản tuyên ngôn báo trước sự ra đời dòng thiền nhập thế-vô ngã Trúc Lâm Yên Tử, mà thượng hoàng Trần Nhân Tông sáng lập sau này, sau khi đã xuất gia và thành đạo, trở thành vua Bụt.

IV. Việc nhường ngôi cho con và lên làm thái thượng hoàng của họ Trần

      Ngày mồng 9 tháng 3 năm Quý Tỵ (1293), khi công cuộc tái thiết đã đi vào ổn định, đất nước đang đà hồi phục và phát triển mạnh mẽ, mối đe doạ xâm lăng từ phương Bắc tuy chưa thật hết, nhưng đã tạm thời lắng dịu, vua Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con trai trưởng dòng đích, là hoàng thái tử Thuyên, khi ấy đã đến tuổi trưởng thành (18 tuổi) – đó là hoàng đế Trần Anh Tông – và lên làm thái thượng hoàng.

      Sử gia Ngô Sĩ Liên cho rằng việc nhường ngôi cho con khi con đến tuổi trưởng thành và lên làm thái thượng hoàng là gia phong nhà Trần, tuy nhiên theo ông, nếu “chưa đến lúc già yếu thì không được lười mỏi” và việc nhường ngôi như thế là không nên vì chưa từng có trong lịch sử Trung Hoa kể từ sau đời Hạ Vũ. (3)

      Theo học giả Lê Mạnh Thát thì mô hình nhường ngôi cho con khi con đến tuổi trưởng thành đúng là gia pháp họ Trần, nhưng ông đã tìm thấy nguồn gốc của mô hình này từ kinh vua Ma Điều chép trong Lục Độ Tập Kinh mà nhà sư người Việt gốc Khương Cư (Khương Tăng Hội) đã dịch sang chữ Hán từ cả ngàn năm trước. Chỉ có điều khác là vua Ma Điều sau khi nhường ngôi cho con liền xuống tóc làm sa môn (đi tu), còn các thái thượng hoàng triều Trần thì vẫn tham gia chỉ đạo các hoạt động đối nội và đối ngoại hệ trọng của triều đình, giúp vua con điều hành đất nước.

      “Đây là một cải biên mô hình vua Ma Điều cho phù hợp với thực tiễn chính trị nước ta”. Như vậy nhà Trần không chịu lệ thuộc hoàn toàn theo khuôn mẫu chính trị của nước ngoài, cho dù nước ngoài ấy ở phương nào. “Điều đó chứng tỏ việc vận dụng tư tưởng Phật giáo một cách khá linh động của giới Phật giáo Đại Việt. Đồng thời cũng chứng tỏ bản lĩnh sáng tạo của đân tộc ta trong việc sử dụng và kế thừa tinh hoa của nhân loại”. (4)

      Để có một cái nhìn bao quát về những công việc mà thái thượng  hoàng Trần Nhân Tông đã thực hiện sau khi nhường ngôi cho vua Anh Tông ta hãy đọc bản tóm tắt dưới đây (góp nhặt từ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Thánh Đăng Ngữ Lục và Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục).

V.  Tóm tắt hành trạng của thái thượng hoàng Trần Nhân Tông

Năm Giáp Ngọ (1294)

   . Tháng 7: Xuất gia tại Vũ Lâm, Yên Khánh, Ninh Bình.

   . Tháng 8: Lần thứ hai đích thân cầm quân đánh dẹp người Ai Lao xâm phạm biên giới.

Năm Ất Mùi (1295)

   . Tháng 2: Tiếp phái bộ nhà Nguyên do Lý Hành và Tiêu Thái Đăng dẫn đầu.

   . Tháng 6: Từ Vũ Lâm về kinh thảo tờ biểu mừng hoàng đế Thành Tông nhà Nguyên lên ngôi và tờ biểu xin đại tạng kinh Trung Hoa.

Năm Kỷ Hợi (1299)

   .  Tháng 5: Từ phủ Thiên Trường về kinh, bắt gặp vua Anh Tông say rượu, thượng hoàng định truất ngôi. Sau vua Anh Tông phải nhờ Đoàn Nhữ Hài dâng biểu tạ tội, thượng hoàng mới tha.

   .  Tháng 7: Chỉ đạo dựng am Ngự Dược trên núi Yên Tử.

   .  Tháng 8: Từ phủ Thiên Trường lại xuất gia chuyên tu theo hạnh đầu đà (khổ hạnh) trên núi Yên Tử trong khoảng 18 tháng.

Năm Tân Sửu (1301)

   .  Mùa xuân: Thành đạo, trở thành vị vua Bụt của Đại Việt với pháp danh Điều Ngự Giác Hoàng. Sáng tác bài phú Đắc Thú Lâm Tuyền Thành Đạo Ca. Xúc tiến thành lập dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử mang sắc thái riêng của Đại Việt.

   .  Tháng 3: Đi thăm các nơi, tìm hiểu mặt bằng tín ngưỡng trong dân chúng để chuẩn bị công cuộc giáo hoá. Đến am Tri Kiến, thuộc trại Bố Chính (Quảng Bình), rồi sang Chiêm Thành truyền giáo. Được vua Chiêm Thành Chế Mân thỉnh mời và cúng dường. Nhân đó hứa gả công chúa Huyền Trân cho Chế Mân, Chế Mân cũng hứa dâng hai châu Ô và Lý làm đồ dẫn cưới.

Năm Quý Mão (1303)

   .  Tháng giêng: Mở hội Vô Lượng Pháp ở chùa Phổ Minh, phủ Thiên Trường, bố thí và cấp chẩn cho dân nghèo. Trác tích tại chùa Sùng Nghiêm, Chí Linh, để xiển dương tôn giáo. Chỉ đạo chủ trương cho Đoàn Nhữ Hài trước khi đi sứ sang Chiêm Thành.      

Năm Giáp Thìn (1304)

   .  Đi khắp các xóm làng giáo hoá, dạy dân thực hành mười điều lành (thập thiện), dẹp bỏ các miếu thờ bậy bạ, mê tín dị đoan (dâm từ).

   .  Mùa đông: Trao truyền tâm giới bồ tát tại gia cho vua Anh Tông và một số quan chức triều đình Đại Việt.

Năm Bính Ngọ (1306)

   .  Tháng 6: Chỉ đạo việc gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm Thành Chế Mân và sáp nhập hai châu Ô và Lý vào bản đồ Đại Việt, đổi tên thành châu Thuận và châu Hoá.    

Năm Mậu Thân (1308)

   .  Tháng 8: Sai chủ trại châu Hoá dẫn 300 người Chiêm Thành trở về nước họ (có lẽ số người này đã đi theo công chúa Huyền Trân sang Đại Việt sau khi vua Chế Mân mất).

   .  Tháng 11: Lúc nửa đêm ngày mồng 1 thượng hoàng-vua Bụt Trần Nhân Tông viên tịch tại am Ngoạ Vân núi Yên Tử, thọ 51 tuổi.

VI.  Điểm qua vài cách đánh giá khác nhau đối với hành trạng của thái thượng hoàng Trần Nhân Tông                    

      Bản tóm tắt trên cho thấy 15 năm cuối đời (trong đó bao gồm cả khoảng hơn sáu năm xuất gia tu hành và thành đạo) của thượng hoàng-vua Bụt Trần Nhân Tông đầy ắp những công việc vì dân, vì nước. Hầu như chẳng lúc nào được ngơi nghỉ, Ngài luôn phải lo toan chỉ đạo đường lối và đưa ra những chủ trương sáng suốt, những quyết sách hệ trọng và kịp thời, cả đối nội cũng như đối ngoại. Ngài giám sát, chỉ bảo và giúp đỡ sát sao vua Anh Tông điều hành, kiến thiết, bảo vệ đất nước và mở mang bờ cõi.

      Ngài còn thao thức, trăn trở tìm cách đặt nền móng và xây dựng thành công một nền văn hoá-tư tưởng giàu sáng tạo, một triết lý sống tích cực và một giáo hội thống nhất, đậm đà sắc thái riêng của Đại Việt, mà cốt lõi là dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Ngài công khai phê phán tư tưởng nô lệ, sao chép nước ngoài một cách vô lối, thiếu sáng tạo đã hằn sâu trong tầng lớp nho sĩ-trí thức nước ta sau hơn ngàn năm Bắc thuộc. Ngài trực tiếp đi xuống từng xóm làng dạy dân dẹp bỏ việc thờ cúng bậy bạ, mê tín dị đoan. Có thể nói cuộc đời Ngài đã thể hiện đầy đủ và rõ nét chất nhập thế-vô ngã của pháp Bụt Việt Nam nói chung và của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử mà Ngài là người sáng lập nói riêng.

      Xem thế đủ thấy sau khi nhường ngôi cho con thượng hoàng Trần Nhân Tông đi tu đâu có phải là để “siêu thoát” (nghĩa là ‘vượt ra khỏi vòng trần tục’, hoặc nói nôm na là ‘chán đời’); cũng chẳng là “hiền giả chi quá dã” (nghĩa là ‘cái lỗi của bậc hiền giả’); lại càng chẳng phải là “ưu du, cuồng phóng” (nghĩa là ‘ham chơi, buông thả’) như một vài nhà nghiên cứu lịch sử xưa và nay dường như trong đầu nhuốm đậm nếp nghĩ vay mượn, dính kẹt, thiếu khách quan và thiếu hẳn lòng tự tôn dân tộc, đã có những đánh giá méo mó, lệch lạc; quá quắt hơn, họ còn dùng lời lẽ báng bổ. Ví dụ:

      “…Song [thượng hoàng Trần Nhân Tông] để tâm nơi kinh Phật, nói là để siêu thoát, nhưng đó không phải là đạo trung dung của thánh nhân…”. (5)

      “…Chỉ một việc xuất gia là không hợp đạo trung dung, là cái lỗi của bậc hiền giả…”. (6)

      “…Sau những tháng năm gian khổ, lớp quý tộc thống trị [nhà Trần] có tâm lý ưu du, cuồng phóng.

      Nhân Tông nhường ngôi cho con (1293) rồi đi chơi và đi tu…”. (7)

      Trái hẳn với lối đánh giá không đúng mức kiểu này, lịch sử đã ghi chép một cách khách quan giây phút cuối đời và tang lễ thượng hoàng Trần Nhân Tông như sau:

      “…Thượng hoàng trở về núi dặn dò thị giả rồi lặng lẽ ngồi và mất…[hoả] thiêu được ba nghìn hạt xá lợi…Khi sắp đưa [tang], giờ đã đến mà quan liêu, dân chúng đứng chật khắp cung điện. Tể tướng cầm roi xua đuổi mà vẫn không giãn ra được…”. (8)

      Còn học giả Lê Mạnh Thát thì nhận định một cách khách quan và trân trọng cuộc đời và những đóng góp của vua Trần Nhân Tông cho dân tộc và nhân loại như sau:

      “Đây là một cuộc đời chỉ trong vòng 50 năm mà có những đóng góp vô cùng to lớn cho dân tộc và cho nhân loại. Một cuộc đời đã kết thúc, nhưng để lại bao nhiêu lưu luyến cho những người đương thời cũng như hậu thế. Một cuộc đời có một kết thúc hết sức bình dị nhưng lại vô cùng cao đẹp. Ngày nay mỗi lần đọc lại những gì tổ tiên ta đã viết về những ngày cuối cùng của vua Trần Nhân Tông chúng ta không khỏi bồi hồi xúc động như mình đang đối diện với một người đang sống bằng xương bằng thịt trước mặt chúng ta”. (9)

      “Vua Trần Nhân Tông là một vị anh hùng dân tộc, có những đóng góp to lớn nhiều mặt cho đất nước, cho lịch sử. Vua trực tiếp lãnh đạo quân và dân ta, tập hợp được những nhà quân sự tài giỏi, huy động được tiềm lực của toàn dân [hai lần] đánh thắng đội quân [xâm lược] hung hãn, thiện chiến nhất [hành tinh] thời bấy giờ… Không những thế, vua đã mở rộng biên cương của tổ quốc, đặt nền móng vững chắc cho sự nghiệp nam tiến hoành tráng của dân tộc mà con cháu hôm nay và mai sau mãi mãi ghi nhớ và biết ơn.

      “Thêm vào đó, nền văn hoá Việt Nam thời đại Trần Nhân Tông đã xuất hiện hai sự kiện có ý nghĩa hết sức trọng đại. Thứ nhất là việc dùng tiếng Việt như một ngôn ngữ hành chính chính thức của triều đình cùng với tiếng Hán. Đây là lần đầu tiên việc sử dụng tiếng Việt đã được [lịch sử] ghi lại bằng minh văn…

      “Sự kiện thứ hai là việc vua Trần Nhân Tông đã thành lập dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử thuần tuý Việt Nam, với chủ trương cư trần lạc đạo…Dòng thiền Trúc Lâm ra đời…làm nền tảng cho sự phát triển Phật giáo Việt Nam hàng mấy trăm năm sau…”.(10)

     Thêm nữa, đánh giá cao sự đóng góp của vua Trần Nhân Tông đối với tư tưởng triết học Việt Nam tác giả Quỳnh Cư viết:  

     “Sau 14 năm làm vua, Nhân Tông nhường ngôi cho con là Anh Tông rồi làm thái thượng hoàng và đi tu trở thành thuỷ tổ (sơ tổ) phái thiền Trúc Lâm Yên Tử, một phái thiền để lại dấu ấn đặc sắc trong lịch sử tư tưởng Việt Nam. Nhân Tông thực sự là một triết gia lớn của Phật học, giúp triết học Phật giáo Việt Nam phát triển rực rỡ, thể hiện đủ trí tuệ, bản lĩnh Việt Nam. Tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông là tư tưởng thực tiễn chiến đấu và táo bạo …”. (11)

VII. Bối cảnh ra đời của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử

   1) Công cuộc xây dựng và phát triển một đất nước chắc chắn không thể chỉ riêng mặt đời sống kinh tế-vật chất mà thôi, bên cạnh đó còn phải chú ý đúng mức đến mặt đời sống tinh thần nữa, đó chính là nền văn hoá-tư tưởng, hoặc cao hơn và sâu hơn, ấy là nền tín ngưỡng-tôn giáo. Hai mặt đời sống ấy nếu được mở mang cân đối, đúng hướng và lành mạnh thì chúng có tác dụng bổ sung, hỗ trợ nhau một cách gắn bó, nhịp nhàng, giúp cho dân tộc tiến hoá, đất nước phát triển thuận lợi. Như thế được gọi là ‘trị’. Trái lại, nếu thiếu hoặc yếu một trong hai mặt ấy, xã hội sẽ trở nên khập khiễng, dần dần dẫn đến ‘loạn’ và mất nước.

      Như trên đã nói, sau khi xuất gia và thành đạo, tháng 3 năm Tân Sửu (1301) vua Bụt đã đi thăm các nơi để tìm hiểu mặt bằng tín ngưỡng trong dân chúng, chuẩn bị cho công cuộc giáo hoá.

      Nhìn bề ngoài thì nền tín ngưỡng-tôn giáo Đại Việt có vẻ như là thuần nhất và phát triển, nhất là Phật giáo. Thật vậy, sau chuyến sang Đại Việt năm Quý Tỵ (1293) sứ nhà Nguyên là Trần Phu đã mô tả trong Trần Cương Trung Thi Tập về tín ngưỡng Đại Việt thời Trần bằng những câu như “chỉ có cúng Phật là rất thịnh hành” và “hết thảy dân đều là thày tu” (dân tất tăng). Trần Phu còn nhận xét Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn như sau: “rất chuộng Phật nên đặt tên châu là Vạn Kiếp” (12). Có thể nói Phật giáo đã phát triển mạnh mẽ và chiếm ưu thế trong cộng đồng người Việt thời Trần, chẳng những ở ngoài dân chúng mà cả trong giới quan chức triều đình.

      Tuy nhiên đi sâu tìm hiểu, vua Bụt đã nhận thấy mặt bằng tín ngưỡng nước ta bấy giờ còn nhiều lệch lạc đòi hỏi phải thực hiện một công cuộc giáo hoá sâu rộng trong dân chúng để dạy dân thực hành theo lời dạy của Đức Phật.

      Rải rác đó đây trong các xóm làng còn có những dâm từ (miếu thờ bậy bạ, mê tín dị đoan). Ngay trong lòng Phật giáo Đại Việt cũng không phải là không có những vấn đề phức tạp. Trong cộng đồng người Việt từ cuối thời nhà Lý, bên cạnh ba dòng thiền truyền thống đã xuất hiện những khuynh hướng khác lạ, xa rời chính pháp.

      Đó là những hoạt động bùa phép nhằm giải quyết mâu thuẫn cá nhân mà sử sách đã ghi chép không chỉ một lần, chẳng hạn như việc sư Đại Điên dùng phép thuật đánh chết và vứt xác Từ Vinh xuống sông Tô Lịch. Sau đó con trai Từ Vinh là Từ Lộ, khi xuất gia là thiền sư Đạo Hạnh, đã sang Ấn Độ (?) học phép lạ để báo thù cho cha. Học xong Đạo Hạnh đến nhà Đại Điên vung gậy đánh, Đại Điên phát bệnh mà chết. (13) 

      Cũng không thể không kể đến khuynh hướng Tịnh Độ ở nước ta từ giữa TK11, nhất trong tầng lớp bình dân hạ trí. Thượng sĩ Tuệ Trung với chủ trương hỗn tục hoà quang “đã nhạy cảm phát hiện rằng bên cạnh mặt tích cực của khuynh hướng Tịnh Độ, là giáo dục con người hướng về một thế giới cực lạc ở Tây phương trong kiếp sau mà siêng năng làm lành, lánh dữ trong kiếp sống này, còn có mặt tiêu cực của nó. Đó là tính ỷ lại vào sự cứu độ từ bên ngoài (tha lực), dần dần làm thui chột nỗ lực tự thân, mà điều này thật sự là mối lo đối với tất cả con dân Đại Việt, nhất là giới lãnh đạo nhà Trần trong bối cảnh sự sống còn của dân tộc, nền độc lập của đất nước luôn luôn bị thế lực đế quốc Nguyên Mông khổng lồ đe doạ và rình rập từ phương Bắc…

     “Dường như trong xã hội Đại Việt bấy giờ trào lưu Tịnh Độ đã thịnh hành và người Phật tử nói chung, nhất là những kẻ hạ trí nói riêng, có thói quen bám dính vào khái niệm và phát triển sức tưởng tượng quá mức đến viển vông, xa rời thực tế cuộc sống…” khiến thượng sĩ với lòng từ bi vô hạn của người tỉnh thức đã phải lên tiếng khuyên bảo những ai còn lẫn lầm, nhẹ dạ, mơ hồ qua bài thơ bốn câu ba vần Thị Tu Tây Phương Bối. (14)

   2) Về vị trí địa lý, Đại Việt nằm kề bên một đế quốc rộng lớn và có nền văn hóa phát triển lâu đời là Trung Hoa. Quá khứ hơn nghìn năm Bắc thuộc dường như còn để lại những vết hằn nhức nhối, khó phai trong xã hội người Việt. Vào thời đại Trần Nhân Tông cái lực lượng đế quốc rộng lớn này, còn được bồi thêm bằng sức mạnh vũ bão của vó ngựa Mông Thát thiện chiến và bạo tàn, đã trở thành đế quốc Nguyên Mông khổng lồ, hung hãn, thật đáng gờm.

     Đây chính là mối đe dọa thường trực đối với sự sống còn của Đại Việt và thực tế mối đe dọa này ít ra đã biến thành hai cuộc xâm lăng khủng khiếp mà vua Trần Nhân Tông cùng toàn dân Đại Việt phải đương đầu, ấy là chưa kể cuộc xâm lăng của quân Mông Thát thời vua Trần Thái Tông.

      Bối cảnh ngàn cân treo sợi tóc đó cùng với những tin tức về những gì đang diễn ra sôi động trong và ngoài nước giai đoạn này không thể không khiến vị hoàng đế sáng suốt và có tầm nhìn chiến lược Trần Nhân Tông phải bận lòng trăn trở kiếm tìm đường lối xây dựng quốc gia Đại Việt sao cho vừa hùng mạnh về quân sự, chính trị và kinh tế, lại vừa mở mang về văn hóa-tư tưởng và tôn giáo, tạo ra một đời sống tinh thần phong phú nhưng lành mạnh và không lệ thuộc, đủ sức đương đầu với mối họa xâm lăng từ bên ngoài không chỉ về quân sự, chính trị mà cả về âm mưu nô dịch văn hóa-tư tưởng và tôn giáo nữa.

   3) Hẳn là những khi thao thức kiếm tìm phương hướng đường lối và vạch ra những bước cụ thể thực hiện đường lối ấy, nhất là những lúc một mình ngồi dưới gốc thông già suy ngẫm, chiêm nghiệm hoặc những phút giây lắng lòng sau buổi nghiên cứu nội, ngoại điển, vua đã có dịp khám phá nguyên nhân nội tại khiến cho quốc gia Phật giáo rộng lớn và có bề dày lịch sử-văn hóa lâu đời như Ấn Độ, quê hương của Đức Thế Tôn và của đạo Phật, đã phải thất bại thảm hại trước làn sóng xâm lăng dã man của quân Hồi giáo đến từ Thổ Nhĩ Kỳ (từ TK8  đến TK13). Và theo đó Phật giáo Ấn Độ cũng bị tàn phá nặng nề, thảm hại và suy tàn đến nỗi gần như mất hẳn ở đất nước này sau hơn 1700 năm phát triển rực rỡ, “từng làm bá chủ về tư tưởng toàn Ấn Độ, đoạt hẳn vị trí độc tôn của Bà La Môn giáo… Nhất là Phật giáo dưới thời đại hai vương triều A Dục (Asoka) và Ca Nhị Sắc Ca (Kaniska) cực kỳ phồn thịnh …”. (15)

      Nguyên nhân nội tại ấy là gì nếu không phải là chủ trương xuất thế-siêu thoát, nuôi dưỡng tư tưởng ỷ lại vào lực lượng siêu nhiên, nhất là trong thời kỳ phát triển của mật giáo Ấn Độ (701-1200). Thêm vào đó, sự chia tách phức tạp quá nhiều tông phái Phật giáo cũng làm cho đạo Phật đất nước này dần dần suy yếu, nếu không muốn nói là rệu rã, ngay từ trước khi có sự tàn phá của quân Hồi giáo.

      Trong thời đại Trần Nhân Tông ngoài tấm gương tầy liếp của Phật giáo Ấn Độ, như đã nói ở trên, còn hai tấm gương cũng tầy liếp không kém và cũng đáng được coi như những bài học mà Đại Việt cần tham khảo để rút kinh nghiệm. Đó là sự quá tin cầu một kiếp sau tốt lành, sung sướng ở nơi “Tây Phương Cực Lạc” của Phật giáo tịnh độ Trung Hoa đời Tống. Chính nó đã làm yếu mòn khả năng đề kháng của đất nước, đưa đến sự tiêu tan triều đại nhà Tống dưới vó ngựa xâm lăng Mông Thát. Rồi nữa, liệu có gì liên hệ không giữa tư tưởng quá ỷ lại vào quyền năng siêu nhiên của mật giáo Tây Tạng với sự thất bại dễ dàng và mau chóng của đất nước băng tuyết này trước sức tấn công của quân Nguyên thời Thế Tổ Hốt Tất Liệt (TK11)?

   4) Đến đây có thể giả thiết vua Trần Nhân Tông đã phát hiện được điểm yếu chung giữa ba nền Phật giáo của ba quốc gia rộng lớn nói trên là ở chỗ chúng đều có cái vỏ ỷ lại vào sức mạnh siêu nhiên bên ngoài (tha lực). Cái vỏ này che đậy khéo léo cái lõi bên trong là cái Tôi yếu mềm, ham hố và dính kẹt (chấp ngã).

      Thực tế ấy cộng với kinh nghiệm xương máu rút ra từ những lần chiến thắng oanh liệt giặc Nguyên Mông đã giúp vua Bụt vạch ra đường lối phát triển đời sống tinh thần của Đại Việt và quyết tâm xây dựng một giáo hội Phật giáo thống nhất với chủ trương tự giải thoát, không cầu xin, dựa dẫm tha lực. Tư tưởng chủ đạo của Phật giáo Đại Việt là nhập thế-vô ngã, nghĩa là “làm thì làm hết mình nhằm tới thành công, nhưng không gắn cái Tôi vào đó”, hay người ta quen nói là “công thành” thì “danh tịch”. Tư tưởng chủ đạo đó của giáo hội nhằm tạo nên một lực lượng tôn giáo tích cực và hùng hậu, giúp đỡ đắc lực cho công cuộc tiến hoá của dân tộc, phát triển và bảo vệ đất nước. Đó chính là đặc điểm nổi bật của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử có một không hai, một dòng thiền thuần tuý Việt Nam.  

      Chất nhập thế-vô ngã này, được vua Bụt sáng tạo dựa trên sự đúc kết những tinh hoa của cả ba dòng thiền có mặt ở nước ta từ trước (Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, và Thảo Đường) trong quá trình vận động thống nhất thành một dòng thiền duy nhất, đã giúp cho nền văn hoá-tư tưởng Đại Việt đủ sức đứng vững trước làn sóng nô dịch văn hoá từ bên ngoài tràn tới, góp phần đáng kể bảo vệ nền độc lập, tự chủ của nước nhà.

   5) Ngang đây hẳn là có người muốn đặt câu hỏi: Chất nhập thế-vô ngã và tính thống nhất của dòng thiên Trúc Lâm Yên Tử tuyệt vời như thế, vậy mà sao dòng thiền này chỉ truyền thừa được ba thế hệ (Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền quang) thôi. Có người còn cho rằng “Phong trào Phật giáo nhập thế gọi là Trúc Lâm Yên Tử chỉ hưng thịnh cho đến khoảng TK14. Sau đó phong trào yếu dần” (16) và “thời hưng thịnh chấm dứt”. (17)

      Sự tồn tại của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử là cả một chủ đề lớn, cần được nghiên cứu riêng và bàn bạc kỹ lưỡng mới có thể tìm ra câu trả lời thoả đáng. Trong số những dữ liệu lịch sử còn lại từ những thế kỷ trước đã có những ghi chép sai lạc, dẫn đến những ngộ nhận ở những thế kỷ tiếp theo, khiến hậu thế đinh ninh rằng thời hưng thịnh của dòng thiền này nói riêng, của Phật giáo Việt Nam nói chung đã chấm dứt từ sau tam tổ Huyền Quang. Ngay vấn đề liệu thiền sư Huyền Quang có đúng là vị tổ thứ ba của dòng thiền này không, hay chỉ là tự pháp (chỗ dựa của dòng thiền) và còn nhiều điều khác nữa cũng cần được bàn giải, xem xét, đánh giá lại một cách đúng mức.

      Trả lời câu hỏi nêu trên học giả Lê Mạnh Thát đã viết những dòng sau đây: “…vì những ngộ nhận vừa nêu (dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử chỉ truyền thừa được ba thế hệ và sau đó là hết thời hưng thịnh) nên phải viết sơ một ít về dòng thiền Trúc Lâm do vua Trần Nhân Tông thành lập” rồi ông đã dành cả một chương, gồm 48 trang sách, để gọi là viết sơ về vấn đề này. (18)

      Người viết bài này không có tham vọng bàn sâu chủ đề này ở đây. Mong rằng sẽ có dịp được chia sẻ.

   6) Chủ trương nhập thế-vô ngã của Phật giáo Việt Nam không phải đến thời Trần Nhân Tông mới được đặt ra. Trong suốt cả ngàn năm Bắc thuộc trước đó, thực tế đấu tranh với bao cuộc nổi dậy của người Việt chống ách bạo tàn của thế lực thống trị và quá trình vận động vô hiệu hoá âm mưu nô dịch văn hoá-tư tưởng thâm độc của chúng đã hun đúc thành kinh nghiêm quý báu của dân tộc và kết tinh thành chất nhập thế-vô ngã tuyệt vời của Phật giáo Đại Việt, lúc nhạt nhoà khi rành rẽ, rải rác ở tông phái này hay sơn môn nọ, nhưng không ngừng được ươm mầm và nuôi lớn trong lòng các dòng thiền của cộng đồng người Việt.

      Điểm theo dòng lịch sử Phật giáo Việt Nam có thể dễ dàng thấy chủ trương nhập thế-vô ngã đã được nhen nhóm và dấy lên từ những gương mặt sáng giá như: sư Định Không (730-808), trưởng lão La Quý An (825-936), sư Pháp Thuận (925-991), sư Khuông Việt (933-1011), sư Vạn Hạnh (?-1025), v.v…

      Tuy nhiên phải đợi đến vua Bụt Trần Nhân Tông tư tưởng nhập thế-vô ngã mới được trình bày rành mạch trong văn học Phật giáo với bài phú Cư Trần Lạc Đạo mà vua Bụt sáng tác bằng văn nôm để dễ dàng phổ biến không chỉ riêng cho giới tăng ni mà còn cho rộng rãi  Phật tử và dân chúng Đại Việt nữa.

     Tuy đánh giá chưa thật thoả đáng về sự ra đời, ảnh hưởng và vai trò của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử đối với nền văn hoá-tư tưởng Việt Nam nói chung và lịch sử Phật giáo Việt Nam nói nói riêng, tác giả Nguyễn Lang cũng phải thừa nhận: “Chính Nhân Tông đã sử dụng được tiềm năng của Phật giáo để phục vụ cho chính trị. Sự xuất gia [và thành đạo] của vua, cũng như những năm hành đạo trong dân gian của vua, đã khiến giáo hội Phật giáo Trúc Lâm trở nên một lực lượng tôn giáo hùng mạnh yểm trợ cho triều đại”. (19)

     Đến đây hẳn là chẳng còn ai nghi ngờ vai trò lớn lao và tích cực của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử đối với sự nghiệp dựng nước và giữ nước của Đại Việt TK13 và 14.

VIII. Kết luận

      Sự ra đời của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử là một mốc son sáng chói đánh dấu sự chín muồi của hệ tư tưởng chủ đạo nhập thế-vô ngã với triết lý sống tích cực của Phật giáo Đại Việt. Nó cũng là đỉnh cao của cuộc vận động thống nhất các dòng thiền có mặt trong cộng đồng người Việt cho đến lúc bấy giờ, tạo nên một lực lượng tôn giáo thống nhất, hùng hậu, đủ sức phá tan âm mưu nô dịch văn hoá của các thế lực xâm lược.

      Chủ trương nhập thế-vô ngã chẳng hề xoá mờ, mà trái lại càng làm nổi rõ chất tỉnh thức và giải thoát của con đường mà Bụt Thích Ca đã chỉ. Dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử ra đời với một sức sống khoẻ khoắn và tươi mới đã dóng góp phần quan trọng trong sự nghiệp xây dựng đời sống văn hoá-tinh thần lành mạnh, đậm nét Đại Việt, giàu chất sáng tạo và tính nhân văn trong suốt diễn trình tiến hoá của dân tộc Việt Nam cho đến hôm nay và mai sau.                                                                 

Bồ Đề, một sớm cuối xuân

PL 2549 – Bính Tuất – 2006

Chú giải

1)    Lê Mạnh Thát: Toàn Tập Trần Nhân Tông (nxb TP Hồ Chí Minh, 2000); tr. từ 169 đến 171.

2)    Đại Việt Sử Ký Toàn Thư tập II (nxb Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1998); tr. 7.

3)    Như (2); tr. 30.

4)    Lê Mạnh Thát:  Toàn Tập Trần Thái Tông  (nxb Tổng Hợp TP Hồ Chí Minh, 2004); tr. 128.

5)    Như (2); tr. 44.

6)    Như (2); tr. 93.

7)    Trần Quốc Vượng-Vũ Tuấn Sán:  Hà Nội Nghìn Xưa   (nxb Quân Đội Nhân Dân, Hà Nội, 2004); mục Quý Tộc Sa Đoạ; tr. 347.

8)    Như (2); tr. 92 và 95.

9)    Như (1); tr. 229.

10)    Như (1); tr. 7 và 8.

11)    Quỳnh Cư-Đỗ Đức Hùng: Các Triều Đại Việt Nam (nxb Thanh Niên, Hà Nội, 1999); tr. 118.

12)  Như (1); tr. 209.

13)  Thiền Uyển Tập Anh  (nxb Văn Học, Hà Nội, 1990);  chuyện Thiền Sư Đạo Hạnh; tr. từ 197 đến 199.

14)     Huyền Cương: Bài báo ‘Thấy Gì Qua Bài Thơ Thị Tu Tây Phương Bối’ (tạp chí Nghiên Cứu Phật Học, số 4/2005); tr. từ 19 đến 23.

15)     HT Thích Thanh Kiểm: Lược Sử Phật Giáo Ấn Độ (Thành Hội Phật Giáo TP Hồ Chí Minh ấn hành, 1989); tr. 199.

16)     Nguyễn Lang: Việt Nam Phật Giáo Sử Luận tập I (nxb Văn Học, Hà Nội, 1994); tr. 356.

17)  Như (16); tr. 450.

18)  Như (1); chương IX: Vua Trần Nhân Tông Với Thiền Phái Trúc Lâm; tr. từ 307 đến 355.

19)  Như (16); tr. 507.

x

x       x

© Copyright 2006 giaodiem.com

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com