giaodiem copyright
          posted: 17.4.2006
                 Nguyễn Mạnh Quang
 
Ý CHÍ THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC
CỦA CÁC DÂN TỘC KHI LÃNH THỔ BỊ QUA PHÂN 
 
(CHƯƠNG 76 – sách chưa xb.)

Kinh nghiệm lịch sử cho thấy rằng, nguyên nhân của tình trạng đất nước bị chia đôi hay chia năm xẻ bẩy là do sự tranh giành quyền lực giữa các phe nhóm hay thế lực đối nghịch muốn thanh toán lẫn nhau để nắm chiếm độc quyền chính trị. Hầu hết những thế lực này đều  không có chính nghĩa. Vì không có chính nghĩa, cho nên họ chỉ biết đặt quyền lợi của cá nhân và phe nhóm lên trên hết mà không cần biết đến chiến tranh sẽ làm nhân dân khốn khổ điêu linh, quốc gia sẽ bị suy yếu và có thể bị diệt vong. Cái gương của các nước Chiêm Thành trong những thế kỷ 13, 14 và 15, Cao Mên trong những thế kỷ 17, 18 và 19, và Do Thái của thời xa xưa cách đây hơn 2 ngàn năm vẫn còn rành rành trong sách sử.

Trong hoàn cảnh đất nước bị qua phân, thế lực nào nêu cao được chính nghĩa, biết đặt quyền lợi của tổ quốc lên trên quyền lợi của cá nhân và phe nhóm, tổ chức được đạo quân có kỷ luật, quyết tâm chiến đấu cho dân, bảo vệ dân và không hà hiếp nhân dân, thi thế lực đó sẽ được toàn dân triệt để ủng hộ và sẽ đại thắng, thống nhất được đất nước, cứu vãn được tổ quốc khỏi bị  cái họa diệt vong.

Thế nhưng, chỉ những người nặng lòng yêu nước, thương dân, hằng tâm lo lắng cho tiền đồ của tổ quốc, coi nhẹ tất cả những tình, tiền, quyền thế, thì mới có thể làm được. Trong thực tế,  từ ngàn xưa, rất ít người có quyền lực trong tay có thể làm được cái chuyện cao cả như vậy.  

Tuy nhiên, người viết cũng nhận thấy một trường hợp đặc biệt là ông Mạc Ngọc Liễn tuy không còn có  quyền lực trong tay, nhưng cũng đã có hành động biết đặt quyền lợi của  dân tộc lên trên quyền lợi của cá nhân mà rút lui khỏi “cuộc chơi”,  và một trường hợp đặc biệt khác nữa là khi Hoa Kỳ mới lập quốc, đại biểu của 13 tiểu bang nguyên thủy đã  biết tương nhượng lẫn nhau với hy vọng để củng cố  quốc gia cho được hùng mạnh, và cũng là để cho các ngoại cường không thể lợi dụng nhẩy vào thừa nước đục để thả câu.

Trường hợp của ông Mạc Ngọc Liễn được sách sử ghi lại như sau:

"Nay họ Lê lại dấy lên được, ấy là số trời đã định; còn dân ta thì có tội gì, mà ta nỡ để khổ sở mãi về việc chiến tranh? Vậy ta nên đành phận lánh mình ở nước ngoài, chứ đừng có đem lòng cạnh tranh mà lại mời người Tàu sang làm hại nước mình."[i]

Trường hợp các đại biểu của 13 tiểu bang tương nhượng lẫn nhau khá đặc biệt. Đặc biệt vì đây là công trình vĩ đại  qua các cuộc tranh luận hết sức gay go của  55 bậc thức gia tham dự Hội Nghị Lập Hiến Hoa Kỳ tại Toà Thị Sảnh của thành phố Philadelphia (Pennsylvania) từ đầu tháng 6 năm 1787 cho đến ngày 17/9/1787, đặc biệt vì họ đã phải vượt qua không biết bao nhiêu là bất đồng chính kiến về nhiều vấn đề:

1.- Khác biệt về việc quy định số đại biểu tính theo đầu người giữa tiểu bang lớn đông dân và tiểu bang nhỏ ít dân. Tiểu bang đông dân có nhiều đại biểu ở Quốc Hội, tiểu bang ít dân có đại biểu ở Quốc Hội. Tình trạng này làm cho các tiểu bang nhỏ ít dân sợ rằng những vấn đề có lợi cho các tiểu bang lớn đông dân, nhưng bất lợi cho các tiểu bang nhỏ ít dân và phải quyết định bằng lá phiếu của các dân biểu tại Quốc Hội, thì các tiểu bang lớn luôn luôn thắng thế tại Quốc Hội. Cuối cùng họ đi đến một thỏa hiệp là Quốc Hội phải được tổ chức thành lưỡng viện: Hạ Viện (Lower House hay House Of Representatives) và Thượng Viện (Upper House hay Senate). Số dân biểu ở Hạ Viện được tính theo dân số (cử tri) trong tiểu bang với nhiệm kỳ là 2 năm, cứ ba người nam da đen được tính một cử tri. (Lúc đó, phụ nữ da trắng cũng như da đen đều không được đi bầu). Tại Thượng Viện, con số thượng nghị sĩ đại diện cho các tiểu bang được quy định đồng đều, bất kể là lớn hay nhỏ, mỗi tiểu bang đều có hai thượng nghị sĩ với nhiệm kỳ là sáu năm. Thỏa hiệp này làm hài lòng cả các tiểu bang lớn đông dân và các tiểu bang nhỏ ít dân.

2.- Khác biệt về việc tính phiếu theo đầu người giữa người da trắng. Họ đặt ra một quy luật về  dân nô lệ da đen để quy định số đại biểu cho các tiểu bang miền Nam có nhiều nô lệ da đen. Lúc đó, người da đen không được bình đẳng với người da trắng và không được đi bầu, nhưng họ cũng vẫn là con người và các nhà chính trị trong các tiểu bang có nhiều nô lệ da đen đòi phải coi số người nô lệ như số cử tri để được có thêm dân biểu ở Quốc Hội. Miền Bắc phản đối kịch liệt, lấy cớ rằng người da đen không được đi bầu thì không được căn cứ vào con số người da đen để có thêm dân biểu. Cuối cùng, hai bên tương nhượng lẫn nhau và đi đến giải pháp là cứ ba người nô lệ da đen thì đuợc coi như là có một cử tri.   

3.- Khác biệt về hoạt động kinh tế giữa các tiểu bang miền Bắc sống về kỹ nghệ, thương mại và hàng hải, muốn thi hành chính sách bảo vệ mậu dịch, và các tiểu bang miền Nam có căn bản kinh tế là nông nghiệp chuyên về trồng bông và trồng thuốc lá, nhập cảng nhiều hàng hóa kỹ nghệ, muốn theo chính sách tự do mậu dịch.

Cuối cùng, vì ý thức được tình trạng đất nước vừa thoát ra cuộc chiến giành độc lập, họ không muốn rơi vào cái thảm họa “ngao cò tranh nhau” giữa khi các cường quốc Âu Châu Anh, Pháp và Tây Ban Nha đang muốn tiêu diệt tân quốc gia Hoa Kỳ để bành trướng thế lực vào Bắc Mỹ. Vì lý do này, họ đã cùng nhau cương quyết đặt quyền lợi chung của quốc gia lên trên quyền lợi riêng của các tiểu bang  bằng cách tìm ra những phương thức tương nhượng lẫn nhau để  đi đến các thoả hiệp mà các tiểu bang đông dân cũng như ít dân, miền Bắc có căn bản kinh tế là kỹ nghệ và thương mại cũng như các tiểu bang miền Nam có căn bản kinh tế là nông nghiệp, tất cả   đều có thể chấp nhận được. Nhờ vậy, mà các nhà ái quốc tham dự Hội Nghị Lập Hiến này đã hoàn thành nhiệm vụ soạn thảo bản Hiếp Pháp  được coi như là hợp lý nhất, tiến bộ nhất, trong đó có phần tu chính hiến. Nhờ có phần này, mà ngay khi vừa mới soạn xong, ông Thomas Jefferson (1743-1826) [vắng mặt, không tham dự Hội Nghị Lập Hiến vì lúc đó ông đang là Đại Sư Hoa Kỳ tại Pháp] xem lại thấy có phần thiếu sót, liền đề nghị thêm vào 10 tu chính hiến đầu tiên và được mọi người đồng thuận vào năm 1791. Mười tu chính hiến đầu tiên này hết sưc quan trọng vì nó được coi như là Bản Dân Quyền (Bills of Rights) trong đó có điều khoản “Tách rời tôn giáo ra khỏi chính quyền”, điều mà Giáo Hội run sợ nhất, thù ghét nhất và đã tìm cả trăm phương ngàn kế để xóa bỏ mà vẫn không sao thực hiện được. Chính vì điểm này mà bản Hiến Pháp Hoa Kỳ được các nhà viết sử coi như là thích hợp với nhu cầu của hoàn cảnh đất nước Hoa Kỳ vào bất kỳ  thời điểm nào.

Ngoài hai trường hợp đặc biệt trên đây, rất hiếm có trường hợp những người  cầm quyền của các thế lực trong một quốc gia biết đặt quyền lợi của tổ quốc và dân tộc lên trên quyền lợi của cá nhân và phe nhóm để rút lui khỏi chính trường như trường hợp Mạc Ngọc Liễn của nước ta vào thế kỷ 16 hay các bậc trí giả soạn thảo hiến pháp Hoa Kỳ vào mùa hè năm 1787 như đã nói trên.

Cũng vì rất hiếm có những trường hợp như trên, cho nên lịch sử nhân loại mới có nhiều quốc gia chỉ vì có những cá nhân quyền thế hay băng đảng có thế lực muốn thanh toán lẫn nhau để giành chiếm ngôi vị chí tôn hay nắm độc quyền chính trị mà đất nước phải rơi vào tình trạng phân hóa, vỡ ra làm nhiều mảnh, gây nên những cuộc nội chiến triền miên khiến cho nhân dân khốn khổ, điêu đứng, lầm than để rồi quốc gia đó có thể bị xoá tên trên bản đồ thế giới và dân tộc bị diệt vong. Như đã nói ở trên, Chiêm Thành và Do Thái đã ở vào trương hợp này. Trường hợp nước Chiêm Thành, sách sử Việt Nam đã nói quá nhiều rồi. Người viết chỉ ghi lại trường hợp nứoc Do Thái để chúng ta cùng suy gẫm về cái quốc gia của một dân tộc tự coi là được Chúa chọn này.

NƯỚC DO THÁI RA ĐỜI, BỊ DIỆT VONG HƠN HAI NGÀN NĂM MỚI ĐƯỢC TÁI SINH

Theo sách sử, nước Do Thái thực sự được hình thành vào đời ông Josué khi ông dẫn nhóm người Do Thái của ông Moses ở vùng chân núi Sinai về chiếm lại được xứ Canaan, nơi mà họ gọi là Đất Hứa. Rồi dần dà, họ lập thành quốc gia Do Thái. Lúc đó, ông Saul được tôn lên làm vua và là vị quốc vương đầu tiên của người Do Thái. Vua Saul (1021-1000 B.C.) lãnh đạo dân Do Thái đánh đuổi người Philistin, nhưng chẳng may bị tử trận. Con ông Saul là David (1010?-970? B.C.) lên nối nghiệp, tiếp tục chiến đấu và chiến thắng chiếm được toàn vùng Canaan, thiết lập thủ đô tại Jerusalem. Ông David mất, ông Solomon lên nối ngôi vào năm 977 trước CN và đưa nước Do Thái vào thời kỳ cực thịnh. Ông tổ chức các cơ cấu hành chánh, tài chánh và quân sự giống như nước Việt Nam ta trong thời nhà Lý. Cũng vào thời cai trị của vua Solomon, người Do Thái đã biết sáng chế ra một thứ lịch giống như âm lịch do người Trung Hoa phát minh.

Vua Solomon băng hà vào năm 937 trước CN. Bảy năm sau, vào khoảng năm 930 trước CN, nước Do Thái bị phân hóa ra làm thành hai nước nhỏ: nước Israel ở miền Bắc và nước Judée ở miền Nam. Hai nước chống đối nhau để tranh giành ưu thế khiến cho cả hai cùng suy yếu. Bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi. Năm 722 trước  CN, người Assyrians đến tấn chiếm nước Israel ở miền Bắc. Năm 586 trước CN, người Babylone đến tấn chiếm nước Judée ở miền Nam. Ít lâu sau, người Ba Tư đến đánh đuổi người Babylone thống trị cả toàn vùng. Thời gian sau, người Hy Lạp với sức mạnh của đoàn quân của Đại Đế Alexander đến đánh đuổi người Ba Tư và trở thành chủ nhân ông vùng đất này. Sau người Hy Lạp đến người Syrie. Năm 164 trước CN, dân Israel nổi lên đánh đuổi được người Syrians giành lại chủ quyền. Năm 63 trước CN, người La Mã tràn tới chiếm xứ Judée và chiếm luôn cả các vùng lân cận trong đó có nước Israel ở miền Bắc.

Ít lâu sau, Đế Quốc La Mã đổi tên Israel thành Palestine. Kể từ đó, nước Do Thái bị xóa tên trên bản đồ thế giới.

Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết. Nước Do thời đó vốn đã yếu kém so với các nước chung quanh trong vùng vì diện tích nhỏ bé và ít dân, lại còn bị phân hóa ra làm hai. Tình trạng này khiến cho lãnh thổ vốn đã nhỏ lại càng  nhỏ hơn, dân số vốn đã ít lại càng ít hơn. Như vậy, sức mạnh dân tộc vốn đã yếu kém lại càng yếu kém thêm gấp bội phần. Tệ hại hơn nữa, sau khi phân hóa thành hai rồi, cả hai nước Do Thái Israel ở miền Bắc và nước Do Thái Judée ở miền Nam đều theo chế độ đạo phiệt Do Thái  với chủ trương giam nhốt người dân trong cái nhà ngục tôn giáo, kìm hãm  họ ở trong tình trạng ngu dốt,  áp bức họ đến cùng độ của áp bức và bóc lột họ đến tận xương tận tủy. Tất cả những hành động chuyên chế phản tiến hóa, phi nhân quyền và cực kỳ dã man này đều được tiến hành theo các Luật Sợ Chúa, Luật Trị Người,  Luật Cung Phụng Thiên Chúa, v.v… trong Kinh Thánh của người Do Thái (cũng là Cựu Ước Kinh của Giáo Hội La Mã).

Kinh nghiệm lịch sử cho thấy rằng bất kỳ quốc gia nào bị áp đặt phải sống theo chế độ đạo phiệt, đạo phiệt Thiên Chúa Giáo, cũng đều rơi vào tình trạng chậm tiến,  nghèo đói và dân trí thì thấp kém và lạc hậu. Cái gương của các nước Nam Âu như Ý Đại Lợi, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha so với các nước Tây Âu và Bắc Âu, cái gương của các nước Phi Luật Tân, Nam Dương, Bangladesh Pakistan, cái gương của tất cả các nước theo đạo Hồi ở vùng Trung Đông Đông và ở Châu Phi, cái gương của tất cả các nước ở Châu Mỹ La-tinh (Mễ Tây Cơ, Trung và Nam Mỹ) là những bằng chứng rõ ràng nhất cho sự kiện này. 

Với tình trạng như trên, làm sao các cường lân lại không nhẩy vào đóng vai trò ngư ông thủ lợi? Cái họa bị diệt vong của một dân tộc không ý thức được cái lẽ  Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết” và theo chế độ đạo phiệt là như vậy. Đây là quy luật của lịch sử. 

Cho mãi đến năm 1948, với sự triệt để ủng hộ của Hoa Kỳ, nước Anh lúc đó cai trị vùng Palestine, đề nghị cắt một miếng đất ở vùng này để tái lập nước Do Thái. Nhờ thế mà nước Do Thái mới được tái sinh kể từ đó.

MỘT SỐ QUỐC GIA BỊ QUA PHÂN NHƯNG RỒI LẠI ĐƯỢC THỐNG NHẤT LÀ NHỜ CÓ

MỘT THẾ LỰC CÓ CHÍNH NGHĨA DÂN TỘC

Theo sự hiểu biết của người viết, trong lịch sử nhân loại, có nhiều quốc gia đã rơi vào tình trạng bị qua phân, nhưng rồi lại thống nhất quy về một mối. Sở dĩ được như vậy là nhờ có một thế lực có chính nghĩa, biết đặt quyền lợi của dân tộc và tổ quốc lên trên  quyền lợi của cá nhân, phe đảng và tôn giáo. 

Phần dưới đây, chúng tôi sẽ trình bày một số trường hợp của các quốc gia này.

1.-  TRƯỜNG HỢP NƯỚC TRUNG HOA

Nước Trung Hoa đã nhiều lần bị phân hóa thành những tiểu quốc dưới quyền thống trị của bọn lãnh chúa phong kiến hay quân phiệt địa phương:

A.- Vào thời nhà Đông Chu (770-249 B.C.), sử gọi là Thời Xuân Thu Chiến Quốc, trong thời kỳ này, các tiểu quốc đua nhau xưng hùng xưng bá, các tiểu quốc mạnh thôn tính   các tiểu quốc yếu, gây nên những cuộc chiến khốc liệt giữa các tiểu quốc. Tình trạng này kéo dài tới khoảng 600 năm.  Khi Tần Doanh Chánh lên ngôi, Trung Hoa chỉ còn có 8 nước là Tần, Tấn, Triệu, Ngụy, Hàn, Tề, Yên và Sở . Sau đó, vua Tần lần lần đánh chiếm và sáp nhập tất   cả 7 nước Tấn, Triệu, Ngụy, Hàn, Tề, Yên và Sở vào nước Tần và lên ngôi, lấy đế hiệu là Tần Thuỷ Hoàng (221-207 TTL). Nhờ vậy mà Trung Hoa mới được thống nhất thành một quốc gia hùng mạnh nhất Á Châu vào lúc bấy giờ. 

B.- Vào cuối đời nhà Hán (202 TTL – 220 ), Vua Hán hèn yếu, quyền thần tháo túng triều đình, gây bè kết đảng thanh toán lẫn nhau khiến cho loạn lạc nối lên đánh phá khắp nơi, rồi đất nước bị phân hóa thành ba nước  Ngụy, Thục, Ngô (213-280). Sách sử gọi thời kỳ này là thời Tam Quốc. Sau nhờ có Tư Mã Ý và con là Tư Mã Sư nắm được quyền chính tại nước Ngụy diệt được nước Ngô, rồi phế bỏ vua Ngụy lên ngôi. Không bao lâu, nước Ngô cũng bị diệt luôn vào đời con của Tư Mã Sư là Tư Mã Viêm.  Sau khi diệt được nhà Ngô, Tư Mã Viêm lập ra nhà  Tây Tấn (265-317), và lấy đế hiệu là Tấn Võ Đế. Trung Hoa lại được thống nhất, nhưng đến năm 317, nhà Tây Tấn  lại suy vi, đất nước lại rơi vào tình trạng hỗn loạn và phân hóa thành Nam Bắc Triều.

C.- Thời Nam Bắc Triều (317-580),  kéo dài gần ba trăm năm. Trong thời gian này, Trung Hoa vốn đã phân hóa lại càng phân hóa thêm thành nhiều tiểu quốc, mỗi tiểu quốc nằm dưới quyền thống trị của một gia đình phong kiến, tự phong làm vua tại địa phương của mình. Bắc Triều thì phân hóa thành các nước Mộ Dung, Hán (sau đổi tên là Tiền Triệu) và Hậu Triệu. Nam Triều thì phân hóa thành hai nước Ngô và Đông Tấn. Cuối cùng cả 5 nước này đều bị Dương Kiên đánh bại, tóm thâu về một mối, lập lên nhà Tuỳ (581-618) và lấy đế hiệu là Tuỳ Văn Đế (580-605.

D.- Đầu thế kỷ 20, trong thời gian  Tôn Dật Tiên và Tưởng Giới Thạch với Quốc Dân Đảng cầm quyền (1912-1949), nước Trung Hoa đang bị các liệt cường Âu và Á Châu xâu xé, đặc biệt là đế quốc Nhật Bản. Trong thời kỳ này, Trung Hoa lại bị phân hóa thành nhiều sứ quân giống như những tiểu quốc, mỗi tiểu quốc nằm dưới quyền thống trị của bọn quân phiệt địa phương. Ngoài ông lãnh chúa địa phương này, còn có đảng Cộng Sản Trung Hoa hùng cứ vùng Tây Bắc Trung Hoa và lan sang nhiều vùng khác. Nhưng vì khát vọng giải phóng quê hương thoát khỏi ách thống trị của người ngoại bang, các thế lực phong kiến địa phương trên đây và Cộng Sản đã tạm thời bỏ qua những khác biệt  về chủ trương chính trị và quyền lợi riêng tư, quyết tâm cùng nhau chiến đấu cho đại cuộc đánh đuổi quân xâm lăng Nhật ra khỏi đất nước. Nhờ thế, mà khi Nhật Hoàng chính thức tuyên bố đầu hàng các nước Đồng Minh vào ngày 15/8/1945, Trung Hoa không bị một cường quốc nào uy hiếp đem quân tái chiếm các tô giới  ở Trung Hoa mà họ đã chiếm được trong  những năm từ giữa thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, ngoại trừ người Anh còn giữ lại Hồng Kông và cam kết sẽ trao lại cho Trung Hoa vào ngày 30/6/1997 đúng như nhượng ước đã quy định mà triều đình Bắc Kinh (Nha Thanh) đã ký cho nước Anh thuê trong một thời hạn  99 năm và có hiệu lực kể từ ngày 1/7/1898.

Thế nhưng, sau khi quân xâm lăng Nhật đầu hàng,  hàng ngũ Quốc Quân Trung Hoa lại rơi vào tình trạng sứ quân, mỗi ông thủ lãnh hùng cứ một phương như một thứ lãnh chúa trong vùng, tự tung tự tác, tác oai, tác quái, và quân lính thì  hà hiếp nhân dân, không có kỷ cương gì cả. Cũng vì thế mà khi hai phe Quốc Dân Đảng và Cộng Sản phải nói chuyện vơi nhau bằng súng đạn, thì  Quốc Quân Trung Hoa không thể nào đương đầu được với Hồng Quân Trung Hoa. Hồng Quân tiến tới đâu thì Quốc Quân vội vã vơ vét tiền bạc và cuốn gói bỏ chạy để thoát thân. Có nhiều nơi, Hồng Quân chưa tới, Quốc Quân đã bỏ chạy rồi. Tới cuối  tháng 9 năm 1949, toàn bộ cơ quan đầu não của ông Tưởng Giới Thạch cuốn gói hối hả chạy ra hải đảo Đài Loan ẩn náu,   đám đàn em và quân sĩ  dưới quyền ở lại như rắn mất đầu trước sức tiến quân như vũ bão của Hồng Quân Trung Hoa. Nhờ vậy mà đất nước Trung Hoa lại được thống nhất thực sự kể từ đó.

2.- CUỘC CHIẾN THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC

CỦA DÂN TỘC HOA KỲ

Vì bất đồng chính kiến về vấn đề nô lệ và quyền lợi kinh tế, cho nên sau khi ông Abraham Lincoln (1809-1865) vừa mới đắc cử tổng thống trong kỳ bầu cử tháng 11 năm 1860, thì ngày 1 tháng 2 năm 1961, bẩy tiểu bang miền Nam  tuyên bố ly khai, thành lập một liên bang mới với danh xưng là “The Confederate States of America”, rồi đưa ông Jefferson Davis thuộc tiểu bang Mississippi lên làm tổng thống và Tướng Robert E. Lee làm tổng tư lệnh quân đội miền Nam chống lại  Liên Bang Hoa Kỳ (cũng gọi là miền Bắc). Đứng trước hành động phản quốc này, Tổng Thống Lincoln đã phải hành động vô cùng khôn kéo để trình bày cho nhân dân toàn quốc thấy rằng ông không bao giờ có ý định bắt ép ai phải theo quan niệm chính trị của ông, nhưng mọi người cũng phải nên hiểu rằng quyền lợi tối thượng của đất nước Hoa Kỳ phải được đặt lên trên mọi quyền lợi của cá nhân hay phe nhóm. Sách This Is America’ s Story ghi lại cung cách ứng xử  của Tổng Thống Lincoln trong giờ phút nghiêm trọng này như sau:

“Khi  trở thành Tổng Thống Hoa Kỳ vào ngày 4 tháng 3 năm 1861, ông Abraham Lincoln phải đương đầu với một vấn đề vô cùng khó khăn. Ông phải làm gì với các tiểu bang ly khai này?

Ông không muốn chiến tranh, khi tuyên thệ nhậm chức, ông nói: “Giả thử các bạn tiến đến chiến tranh, các bạn cũng không phải chiến đấu mãi mãi! Sau khi cả hai bên cùng bị tổn thất nặng nề, các bạn phải ngưng chiến đấu, những vấn đề xưa cũ vẫn còn lại với các bạn.” Vấn đề nô lệ ở miền Nam không nguy hiểm, vì rằng Tổng Thống Lincoln hứa rằng ông “không có ý định, dù trực tiếp hay gián tiếp, can thiệp vào vấn đề nô lệ ở các tiểu bang vốn đã có nô lệ.” Ông nói tiếp: “Hỡi đồng bào bất mãn! Chính do nơi  các bạn, chứ không phải do nơi  chúng tôi, đã tạo nên cuộc nội chiến này. Chính phủ sẽ không tấn công các bạn.” Tuy nhiên, Tổng Thống Lincoln đã làm sáng tỏ vấn đề khi ông long trọng thề phải “duy trì và bảo vệ chính quyền Hiệp Chủng Quốc.” Sau hết, ông kêu gọi toàn dân hãy đoàn kết. Ông long trọng nói:

Chúng ta không phải là kẻ thù mà là bạn. Chúng ta nhất định không phải là kẻ thù. Tiếng vọng huyền bí của trí nhớ bao trùm từ những nấm mồ của các nhà ái quốc cho đến hết thảy mọi trái tim của những người còn sống ở trong khắp đất nước này sẽ trờ thành bài ca đồng điệu của toàn thể quốc gia, và khi xúc động thì chắc chắn sẽ là những thiên thần lộng lẫy trong vũ trụ của chúng ta.

[Nguyên văn: “When Abraham Lincoln became President of the United States on March 4, 1861, he faced a very difficult problem. What should he do about the seceded states?

Lincoln did not want war. As he took oath of office, he said, “Suppose you go to war, you cannot fight always; and when, after much loss on both sides, and no gain on either, you cease fighting, the [same] old questions… are upon you.” Slavery in the South was in no danger, for Lincoln promised that he had “no purpose, directly or indirectly, to interfere with… slavery in the states where it exists.” He went on to say, “In your hands, my dissatisfied fellow countrymen, and not in mine, is the momentous issue of civil war. The government will not assail you.” Lincoln, however, made it clear that he had taken a solemn oath to “preserve, protect, and defend” the United States government. Finally he pleaded with the people of the whole country to unite one again. Solemnly he said:

“We are not enemies, but friends. We must not be enemies… The mystic chords of memory, streching from every… patriot grave to every living heart and hearthtone all over this broad land, will yet swell the chorus, as surely they will be, by the better angels of our nature.”][ii]

Chiến tranh thực sự bùng nổ vào 4:30 sáng ngày 12/4/1861, kéo dài gần 4 năm trời và thực sự chấm dứt vào ngày 9/4/1865 khi Tướng Robert E. Lee, tổng chỉ huy quân đội miền Nam, đầu hàng Tướng Ulysses Grant, tư lệnh chiến truởng của quân đội miền Bắc.

Bàn tay của Giáo Hội La Mã trong cuộc nội chiến Hoa Kỳ: Bốn năm chiến tranh đã gây ra không biết bao đau thương khốn khổ, tổn thất rất nhiều về nhân mạng và tài sản cho nhân dân của cả hai miền Nam và Bắc. Đây là điều không thể nào tránh được khi đã có chiến tranh xẩy ra. Tuy nhiên, có một điều làm cho nhân dân thế giới phải hết sức kinh tởm là trong khi tiến hành chiến tranh, Tổng Thống Lincoln  phát hiện được việc Giáo Hội La Mã đã xúi giục miền Nam đẩy mạnh chiến tranh chống miền Bắc để đóng vai trò ngư ông thủ lợi. Lời tuyên bố của Tổng Thống Abraham Linclon được sách Smokescreens ghi lại dưới đây cho chúng ta thấy rõ sự kiện này:

"Cuộc nội chiến này sẽ chẳng bao giờ xẩy ra nếu không có ảnh hưởng ác độc của Dòng Tên. Vì chính sách (xâm thực) của Giáo Hội La Mã mà giang sơn chúng ta đã nhuộm đầy máu  của chính những người con cao quý nhất của chúng ta. Dù rằng giữa miền Nam và miền Bắc có nhiều khác biệt lớn lao về vấn đề nô lệ, nhưng cả Tổng Thống Jeff Davis (của miền Nam) cũng như tất những nhân vật lãnh đạo khác trong chính quyền miền Nam, không có ai dám nghĩ đến việc tấn công miền Bắc nếu họ không trông cậy vào những lời hứa hẹn của Dòng Tên rằng nếu miền Nam tấn công miền Bắc thì Giáo Hội La Mã, và ngay cả nước Pháp nữa, sẽ gửi tiền bạc và vũ khí đến tiếp viện cho họ.  Khi nhân dân Hoa Kỳ nhận thức được rằng chính các ông giám mục và tất cả các tu sĩ khác của Giáo Hội La Mã ở Hoa Kỳ phải chịu trách nhiệm về cuộc chiến đẫm máu và đầy nước mắt này, tôi cảm thấy thương xót cho họ. Từ sự hiểu biết tình hình của đất nước, tôi phải giấu kín những gì tôi biết về vấn đề này; vì rằng nếu nhân dân Hoa Kỳ biết hết sự thật (về chuyện này) cuộc chiến sẽ biến thành cuộc chiến tranh tôn giáo, sẽ trở nên tàn khốc với tất cả đặc tính của một cuộc chiến tranh tôn giáo và  máu của người dân Hoa Kỳ sẽ đổ ra gấp mười lần. Ở vào trường hợp này, cả miền Nam lẫn miền Bắc đều trở nên vô cùng tàn nhẫn để tận diệt lẫn nhau. Khi đó, những tín hữu Tin Lành ở cả miền Bắc lẫn miền Nam sẽ cùng nhau đoàn kết để tận diệt hết các ông tu sĩ Dòng Tên và các tu sĩ khác của Giáo Hội La Mã nếu họ nghe được những gì Giáo-sư Morse đã nói với tôi về những âm mưu được hoạch định ngay tại La Mã để tiêu hủy chế độ Cộng Hòa Hoa Kỳ của chúng ta, và nếu họ biết được rằng các ông tu sĩ và các bà phước của Giáo Hội La Mã hàng ngày nhập cảnh vào Hoa Kỳ những người với bề ngoài là truyền đạo, dạy học và săn sóc những người ốm đau, mà thực chất chỉ là những tên gián điệp của Giáo Hoàng, của Napoleon (Đệ III của nước Pháp) và của những tên bạo chúa khác ở Âu châu đến đây để phá hoại những cơ cấu chính quyền của chúng ta, làm cho nhân dân ta mất thiện cảm với hiến pháp và luật lệ của chúng ta, để phá hoại các trường học của chúng ta. Mục đích của họ là làm cho đất  nước chúng ta trở thành hỗn loạn, một tình trạng vô chính phủ như họ đã làm ở Ái Nhĩ Lan, ở Mễ Tây Cơ, ở Tây Ban Nha, và ở bất kỳ nơi nào mà nhân dân ở đó muốn được sống đời  tự do."

"Tổng Thống Abraham Lincoln nói tiếp: "Có phải là một sự vô lý hay không, nếu đem cho một người một cái gì mà chính họ đã thề thù ghét, nguyền rủa và hủy diệt?  Và vào bất kỳ khi nào có thể làm được một cách an toàn, Giáo Hội La Mã có thù ghét, nguyền rủa và hủy diệt tự do lương tâm hay không?  Tôi là người đứng về phía tự do của lương tâm theo ý nghĩa   cao thượng nhất, rộng rãi nhất và cao cả nhất. Nhưng tôi không thể nào lại trao tự do lương tâm cho Giáo Hoàng và những người tín đồ của ông ta khi mà qua các công đồng của họ, qua các nhà thần học của họ và qua luật thánh của họ, tôi vẫn còn nghe thấy tiếng nói lương tâm của họ ra lệnh cho họ phải thiêu đốt và bóp cổ vợ con tôi cho đến chết, và cắt cổ tôi khi mà họ có cơ hội!.    Nhân dân ta ngày nay hình như chưa hiểu được điều này. Nhưng  rồi sớm hay muộn, ánh sáng của công lý sẽ làm sáng tỏ điều này, và khi đó tất cả mọi người sẽ hiểu rằng không thể nào trao tự do lương tâm cho những người đã thề phải tuân phục một ông Giáo Hoàng tự phong cho chính mình cái quyền được sát hại những người khác biệt niềm tin tôn giáo với ông ta."

[Nguyên văn: "This war would never been possible without the sinister influence of the Jesuits. We owe it to the popery that we now see our land reddened with the blood of her noblest sons. Though there were great differences of opinion between the South and the North on the question of slavery, neither Jeff Davis nor anyone of the leading men of the Confederacy would have dared to attack the North, had they not relied on the promises of the Jesuits, that, under the mask of Democracy, the money and the arms of the Roman Catholic, even the arms of France were at their disposal, if they would attack us. I pity the priests, the bishops and monks of Rome in the United States, when the people realize that they are, in great part, responsible for the tears and the blood shed in this war. I conceal what I know, on that subject, from the knowledge of the nation; for if the people knew the whole truth, this war would turn into a religious war, and it would at once, take a tenfold more savage and bloody character. It would become  merciless as all both sides. The Protestants both the North and the South would surely united to exterminate the priests and the Jesuits, if they could hear what Professor Morse has said to me of the plots made in the very city of Rome to destroy this Republic, and if they could learn how the priests, the nuns, and the monks, which daily land on our shores, under the pretext of preaching their religion, instructing the people in their schools, taking care of the sick in the hospitals, are nothing else but the emissaries of the Pope, of Napoleon, and the other despots of Europe, to undermine our institutions, alienate the hearts of our people from our constitution,  and our laws, destroy our schools, and prepare a reign of anarchy here as they have done in Ireland, in Mexico, in Spain, and wherever there are any people who want to be free."

"And then President Abraham Lincoln went on to say: "Is it not an absurdity to give a man a thing which is sworn to hate, curse, and destroy? And does not the Church of Rome hate, curse and destroy liberty of conscience whenever she can do it safely? I am for liberty of conscience in its noblest, broadest, highest sense. But I cannot give librerty of conscience to the Pope and to his followers, the Papists, so long as they tell me, through all their councils, theologians, and canon laws, that their conscience orders them to burn my wife, strange my children, and cut my throat when they find their opportunity! This does not seem to be understood by the people today. But sooner or later, the light of common sense will make it clear to every one that no liberty of conscience can be granted to men who are sworn to obey the Pope, who pretends to have right to put death those who differ from him religion."].[iii]

Việc Giáo Hội La Mã  xúi giục các tiểu bang miền Nam ly khai,  viện trợ tài chánh cùng nhân sự và tích cực tiếp tay cho miền Nam tiến hành chiến tranh chống lại miền Bắc khiến cho chính quyền Hoa Kỳ cắt đứt quan hệ ngoại gia với Tòa Thánh Vatican kể từ đó. Sự kiện này được ông Lương Minh Sơn ghi lại sự kiện này  như sau: 

"Đối với Hoa Kỳ, mặc dầu là đất nước  được gây dựng trên nền tảng luân lý và đạo đức của niềm tin nơi Thiên Chúa (Judeo-Christian), tổ tiên của người Mỹ là những người Âu Châu đã từng bỏ chạy qua đây để tránh sự ruồng bắt của Tòa Thánh La Mã trong thời kỳ "Inquisition" . Thành thử, Hiến Pháp Hoa Kỳ nghiêm cấm và tách rời mọi sự liên hệ về quyền lực chính trị giữa chính quyền và tôn giáo, không phải chỉ    trình độ ý thức chính trị cao mà còn là vì những kinh nghiệm đau đớn có thật lúc trước. Nếu Hoa Kỳ đã cấm bang giao với Cộng Sản Trung Quốc trong 23 năm (1949-1972), với Cộng Sản Việt Nam trong 19 năm  (1975-1994) vì không tương quan trên chính kiến và quyền lợi, thì Hoa Kỳ cũng đã từng cấm bang giao với Vatican trong 117 năm (1867-1984). Điều này cho thấy, trong thập niên 1950, Ngô Đình Diệm  được Đức Hồng Y Spellman và các Ủy Viên Chính Trị Tôn Giáo của một số nhà  thờ Mỹ đưa đi gặp một số giới chức Hoa Kỳ   chẳng những phải bằng trường hợp bí mật để che dấu nhân dân Hoa Kỳ mà còn không thể nào hợp pháp được với hiến pháp của Hiệp Chủng Quốc. Trong khi ông Diệm cho giới chức Hoa Kỳ biết rằng ông "tin tưởng vào Vatican và ông chống Cộng cực lực" thì năm 1960, Thượng Nghị Sĩ John F. Kennedy đã phải khẳng định với Phó Tổng Thống  Richard Milhous Nixon và hàng chục triệu người Mỹ rằng mọi quyết định của ông trên cương vị của một Tổng Thống Hiệp Chủng Quốc sẽ không thể nào bị chi phối bởi  tôn giáo của ông. Lý do là vì ông Kennedy đang tranh cử để trở thành tổng thống, đầu tiên và duy nhất của Hoa Kỳ cho đến ngày hôm nay là người Thiên Chúa Giáo La Mã, trong một quốc gia mà gần 80%  dân số không phải là  những người có cùng giáo phái, và không có quyền bang giao với Vatican, {WAR. Census of Religious Groups in U.S."]

Richard M. Nixon và dư luận người Mỹ thắc mắc về trường hợp tín ngưỡng của John F. Kennedy không phải vì tôn giáo nhưng là vì chính trị. Hoa Kỳ là một quốc gia chấp nhận đa tôn giáo với hơn 180 hệ phái  từ đủ mọi tôn giáo, trong đó có khoảng 60 triệu là người Thiên Chúa La Mã. Vatican vừa là Tòa Thánh với nhiệm vụ phát huy và bảo tồn giáo luật, vừa là một quốc gia có nhiệm vụ phát biểu và khẳng định quan điểm chính trị để bảo vệ quyền lợi đối với các quốc gia khác trong cộng đồng thế giới. Và Kennedy muốn trở thành tổng thống của một quốc gia đang bị cấm bang giao với quốc gia mà tâm linh ông tin tưởng là điều mà nhân dân Hoa Kỳ có quyền biết trong năm 1960. Nỗi thắc mắc này đã hiện ra trong cuộc bỏ phiếu với sự kiện Kennedy được trội hơn Nixon chỉ có 113.067 dân phiếu trong tổng số 69 triệu phiếu đi bầu, có nghĩa là chưa được 2 phần ngàn số phiêu [6], [TRA, "Political Events - 1960". Thành thử, nếu Ngô Đình Diệm đã trở thành một "Spanish Inquisitor" thì ngay cả Kennedy cũng không thể nào có thẩm quyền để tiếp tục dung túng ông. Và nếu vấn đề "Inquisition" đã từng có thật ở miền Nam Việt Nam thì Cộng Sản không phải là nỗi kinh hoàng duy nhất đã xẩy đến cho dân tộc Việt. - Hồ Sơ Ngũ Giái Đài."[iv]

Đánh bại được miền Nam và mang lại được nền thống nhất đất nước là công lao vĩ đại và tài lãnh đạo vô cùng khôn khéo  của Tổng Thống Abraham Lincoln. Nhờ vậy mà Hoa Kỳ mới có thể   dồn nỗ lực vào công cuộc kiến thiết đất nước và mở rộng lãnh thổ  về phía Tây tới tận bở biển Thái Bình Dương, về phía bắc tới vĩ tuyến 49 rồi lại mua thêm Alaska của nước Nga, về phía nam xuống tới Vịnh Mễ Tây Cơ và biên giới Mexico. Cũng nhờ vậy mà quốc gia này càng ngày càng trở nên hùng mạnh.  Chính vì lẽ này mà nhân dân Hoa Kỳ đã coi Tổng Thống Lincoln là một trong hai vị tống thống vĩ đại nhất trong lịch sử Hoa Kỳ, và đã dành cho ông một chỗ ngồi danh dự nhất trong lịch sử, sánh ngang cùng với Tổng Thống George Washington. Để tri ơn hai vị tổng thống vĩ đại này, Quốc Hội Hoa Kỳ đã chọn một ngày quốc lễ của đất nước gọi là Ngày Tổng Thống (President’ s Day). Ngày quốc lễ này được ấn định vào Ngày Thứ Hai của tuần lễ thứ ba trong tháng Hai hàng năm.

Trong bất kỳ một xã hội văn minh nào cũng đều có quy luật  thưởng  phạt phân minh, có suy tôn và vinh danh, thì phải có lên án và nguyền rủa. Trong cuộc chiến thống nhất đất nước này, nhân dân Hoa Kỳ đã vinh danh và suy tôn Tổng Thống Abraham Lincoln và Tướng Ulysses S. Grant, chỉ huy quân đội miền Bắc đánh bại quân đội miền Nam, thì tất nhiên cũng phải lên án và nguyền rủa những kẻ chủ mưu và xúi giục các nhà cầm quyền các tiểu bang miền Nam ly khai và phát động chiến tranh chống lại chính quyền Liên Bang Hoa Kỳ.

Như đã trình bày ở trên, “những âm mưu tiêu hủy chế độ Cộng Hòa Hoa Kỳ được hoạch định ở ngay trong Tòa Thánh Vatican.” Dĩ nhiên là những sự thật này đã được ghi vào sách sử Hoa Kỳ và nhân dân Hoa Kỳ lên án, đời đời khinh bỉ và nguyền rủa Tòa Thánh Vatican cùng các “ông tu sĩ và các bà phước của Giáo Hội La Mã”.

Lý do  là vì họ đã “nhập cảnh vào Hoa Kỳ những người với bề ngoài là truyền đạo, dạy học và săn sóc những người ốm đau, mà thực chất chỉ là những tên gián điệp của Giáo Hoàng, của Napoleon (Đệ III của nước Pháp) và của những tên bạo chúa khác ở Âu châu đến đây để phá hoại những cơ cấu chính quyền của chúng ta, làm cho nhân dân ta mất thiện cảm với hiến pháp và luật lệ của chúng ta, để phá hoại các trường học của chúng ta. Mục đích của họ là làm cho đất  nước chúng ta trở thành hỗn loạn, một tình trạng vô chính phủ như họ đã làm ở Ái Nhĩ Lan, ở Mễ Tây Cơ, ở Tây Ban Nha, và ở bất kỳ nơi nào mà nhân dân ở đó muốn được sống đời tự do.”

Một trong những bằng chứng của hành động lên án và khinh bỉ này là Hoa Kỳ đã cắt đứt quan hệ ngoại giao với Tòa Thánh Vatican kể từ năm 1867. Một bằng chứng khác nữa là nhân dân Hoa Kỳ ngày nay dù là tín đồ của Giáo Hội La Mã, họ cũng thẳng tay lôi cổ bọn tu sĩ Da-tô phạm pháp ra trước ánh sáng  công luận và công lý. Sự thật này đã thể hiện cho chúng ta thấy, từ đầu năm 2002, có cả trên một ngàn linh mục, giám mục đã bị đưa ra ánh sáng công luận về tội loạn dâm, sờ mó, làm tình bậy bạ với con nít và nữ tín đồ. Tình trạng này khiến cho Giáo Hội La Mã đã phải bỏ ra tới gần ba tỉ  Mỹ kim đề bồi thương thiệt hại cho hàng ngàn nạn nhân của các ông mang chức thánh ở Hoa Kỳ. (Xin xem lại Chương 17, Phần I của bộ sách này.)

3.- CUỘC CHIẾN CHỐNG  LẠI VATICAN

VÀ THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC CỦA DÂN TỘC Ý

Ý Đại Lợi thường được gọi vắn tắt là nước Ý. Ý là một trong những nước Âu Châu nằm trên ven bờ Địa Trung Hải. Hoàn cảnh chính trị của quốc gia này khá phức tạp hơn các nước Âu Châu khác vì có Đế Quốc Vatican chiếm một phần lớn lành thổ tại Kinh Thành Rome và một số tiểu quốc gọi là Papal States. Cho tới thập niên 1840, nước Ý vừa là một tập hợp các tiểu quốc không cùng một chính quyền vừa nằm trong vùng tranh chấp  ảnh hưởng của ba thế lực Pháp, Áo và Tòa Thánh Vatican. Cả ba thế lực này đều muốn chiếm nước Ý làm của riềng hay nắm ưu thế trên bán đảo này. Tình trạng này khiến cho nước Ý khốn khổ hơn các quốc gia đồng cảnh ngộ như Ba Lan nằm giữa hai quốc gia hùng mạnh là Đức và Nga từ năm 1871 cho đến năm 1989,  Cao Miên và nước Ai Lao nằm giữa Việt Nam và Thái Lan trong những thế kỷ 16, 17, 18 và 19.

Vào đầu thâp niên 1830, nước Ý còn bao gồm nhiều tiểu quốc riêng rẽ. Một số nằm dười quyền thống trị của Vatican và một số nằm dưới quyền thống trị của các ông hoàng tay sai của Pháp, hay tay sai của Áo, hoặc là tay sai của Vatican. Tính từ Nam lên Bắc, những tiểu quốc đó là tiểu quốc Lưỡng Sicilies, các tiểu quốc của Giáo Hội gọi là Papal States (nằm dưới quyền trực trị của Giáo Hòang), Tuscany,   Modena,  Parma, Lombardy và Venetia (nằm trong trong Đế Quóc Áo) và vương quốc Sardina bao trùm đảo Sardina cùng với hai vùng Savoy và Piedmont ở trong đất liền.

Một phần vì địa thế núi non lởm chởm làm  trở ngại cho việc thống nhất đất nước, một phần khác khá quan trọng là do yếu tố lịch sử. Từ khi Đế Quốc La Mã sụp đổ vào nửa cuối thế kỷ thứ 5, bán đảo Ý Đại Lợi đã trở thành một miếng mồi béo bở cho các thế lực Âu Châu tranh giành  ảnh hường và muốn làm chủ nhân ông bán đảo này. Nước Ý không những đã không có đất đai phì nhiêu thuận lợi cho nông nghiệp mà còn thiếu cả những tài nguyên và nguyên liệu cần thiết cho việc mở mang kỹ nghệ. Hai yếu tố này là những nguyên nhân gây khó khăn cho nước Ý trở thành một quốc gia hùng mạnh để có thể chống lại các cường lân xâm chiếm. Ngoài ra, còn phải kể đến yếu tố lòng tham lam và lòng ích kỷ của  nhóm thiểu số quý tộc và tu sĩ Da-tô. Hai nhóm thiểu số ăn hại sống bám xã hội này sợ rằng nếu thống nhất đất nước thì quyền lực chính trị sẽ thuộc về phe nhóm khác và họ sẽ là những người thua thiệt, mất hết cả quyền lực chính trị và địa vị ăn trên ngồi trước đã có sẵn của họ. Vì thế,  họ luôn luôn khư khư ôm lấy quan niêm:

Triều đình riêng một góc trời,

Thiếu gì cô quả, thiếu gì bá vương. (Nguyễn Du)

Những yếu tố trên đây  đã khiến cho nước Ý vào đầu thập niên 1870 vẫn còn ở trong tình trạng của một tập họp hổ lốn với nhiều tiểu quốc, hỗn quân hỗn quan giống như tình trạng nước Trung Hoa trong thời Đông Châu Liệt Quốc và Việt Nam trong thời Thập Nhị Sứ Quân, nhưng còn tồi tệ và khốn nạn hơn nước Trung Hoa trong thời Đông Châu Liệt Quốc và Việt Nam trong thời Thập Nhị Sứ Quân.

Tại sao lại như vậy? Dưới đây là lời gỉai thích:

Nhân dân nước Trung Hoa trong thời Đông Châu Liệt Quốc và nhân dân Việt Nam trong thời Thập Nhị Sứ Quân chỉ áp đặt dưới ách thống trị của bọn lãnh chúa địa phương mà thôi. Trong khi đó, thì nhân dân Ý trước năm 1870 ở vào cái thế một cổ hai tròng: Thứ nhất là cái tròng của bọn lãnh chúa quý tộc địa phương. Thứ hai là cái tròng của Vatican. Cả hai thế lực này cấu kết với nhau, đem tín lý Ki-tô và giáo luật trộn lộn vào thế quyền, biến tín điều Ki-tô và lời dạy của Vatican thành luật pháp rồi cưỡng bách nhân dân phải đóng góp cho nhà thờ hàng trăm thứ tiền dưới danh nghĩa là thuế thập phân (tithe), thuế qua cầu, thuế nhập thị (vào chợ), v.v…, và hàng trăm thứ tiền khác với danh nghĩa là của lễ. Một phần những khoản tiền này được gửi về La Mã nuôi báu cô tập đoàn ăn hại trong giáo triều Vatican và một phần dùng để nuôi báu cô bọn tu sĩ Da-tô tại địa phương để cho chúng tiếp tục diến trò bịp bợm ở nhà thờ, sờ mó, làm tình bất chính với con nít và nữ tín đồ. Sư kiện này đã được trình bày đầy đủ ở hai Chưng 16 và 17, trong Phần I của bộ sách này.

Phần trình bày trên đây cho chúng ta thấy rõ thảm cảnh của người dân Ý trong thời kỳ từ năm 1870 trở về trước. Nhân dân càng khốn khổ thì họ càng bất mãn với chính quyền và bất mãn với thế lực quyền thế đương thời. Càng bất mãn thì họ càng khao khát được giải thoát và sẵn sàng đi theo thế lực nào đáp ứng được khát vọng của họ.

Cũng vì thế mà phong trào quần chúng mong muốn đất nước được thống nhất và giải thoát cái ách Vatican càng ngày càng trở nên mãnh lịệt, nhất là từ khi Cách Mạng Pháp bùng nổ vào tháng 7 năm 1789. Năm 1830,  Phong Trào Cách Mạng lại bùng lên ở Âu Châu  nhưng bị dập tắt, rồi lại bùng lên vào năm 1848, tiếp theo là Ba Lê Công Xã ra đời với cuộc chiến đẫm máu chống lại bọn phong kiến phản động ở ngay Kinh Thành Paris. Phong trào này đã làm cho tập đoàn phong kiến phản động ở Âu Châu phải khiếp sợ. Các phong trào này đã làm cho các thế lực phong kiến  phản động ở Pháp, ỏ Áo và Tòa Vatican ở vào thế thụ động, phải lo chống đỡ ở ngay trên đất Pháp và đất Áo. Nhờ vậy, phong trào cách mạng tại Ý mới thừa thắng xông lên và quyết tâm đè bẹp hết tất cả thế lực phong kiến phản động tại Ý và Giáo Hội La Mã để thống nhất nước Ý.

CÁC PHONG TRÀO THỐNG NHẤT TIÊN KHỞI

Đúng ra phong trào thống nhất nước ở Ý cũng là tinh thần quốc gia Ý, nghĩa là chủ trương muốn hợp nhất các tiểu quốc Ý thành một quốc gia duy nhất đủ lớn mạnh để có thể đương đầu  với các cường lân tham lam hiếu chiến ở phương Bắc là hai đế quốc Pháp và Áo. Người viết chưa có đủ tài liệu để có thể khẳng định phong trào này manh nha từ bao giờ. Tuy nhiên, hầu như các nhà viết sử đều đồng ý rằng phong trào này trở nên mãnh liệt từ cuối thế kỷ 18, sau khi Cách Mạng Pháp 1789 ít năm. Phong trào quốc gia có chủ đích vừa giải phóng nhân dân các tiểu quốc Ý thóat khỏi ách thống trị của ba thế lực là bọn lãnh chúa, bọn tu sĩ Da-tô phong kiến và các thế lực ngoại bang. Sau khi chính quyền của Hoàng Đế Napoléon I hoàn toàn bị đánh bại vào năm 1815, thế lực phong kiến phản động trở lại làm chủ lục địa Âu Châu và quyết tâm tận diệt các phong trào cách mạng. Vì thế, các phong trào này phải tổ chức thành những hội đoàn hay tổ chức bí mật giống như các đảng phái cách mạng chính trị tại Việt Nam trong thời Liên Minh Pháp - Vatican thống trị Việt Nam 1885-1954 và ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1963 dưới ách thống trị của chế độ đạo phiệt Da-tô Ngô Đình Diệm. Một trong những nhân vật lãnh đạo nổi tiếng của phong trào này là nhà ái quốc Giuseppe Mazzini.

Chào đời vào năm 1805, ngày từ khi vừa mới bước vào tuổi trưởng thành, Mazzini đã  coi việc thống nhất nước Ý như là một thứ tôn giáo đối với ông và ông quyết tâm hiến trọn cuộc đời cho đại cuộc. Vì quyết tâm theo đuổi lý tưởng này mà  ông phải vào tù ra khám nhiều lần rồi  bôn đào sống lưu vong ở nơi xứ lạ quê người trong nhiều năm. Năm 1831, ông  kêu gọi các nhà ái quốc Ý gia nhập tổ chức "Nước Ý Trẻ" (Young Italy) để phổ biến rộng rãi lý tưởng "giải phóng và thống nhất nước Ý" (Risorgimento). Ông gọi phong trào này là "Những người anh em Ý tin tưởng vào Tiến Bộ và Nhiệm Vụ" (A Brotherhood of Italians who believe in Progress and Duty.)

Các cuộc Cách Mạng Pháp 1789, 1830 và  1848 đã ảnh hưởng mạnh mẽ vào tâm hồn  nhân dân Ý và làm nẩy sinh phong trào tranh đấu cho  nước Ý được tự do và thống nhất, lật  đổ  chính quyền phong kiến Áo ở Lombardy và Venetia. Thấy tình thế đã biến đổi do Cách Mạng Pháp 1848 gây nên, chính quyền của các vương quốc Two Sicilies và Tuscany phải ban hành hiến pháp để xoa dịu lòng căm phẫn của nhân dân khiến cho họ không cần phải vùng lên làm cách mạng, nhưng đã quá muộn. Năm 1849, quân cách mạng tiến chiếm kinh thành Rome, thành lập chính quyền Cộng Hòa,  Mazzini cùng với hai đồng chí của ông được đưa lên lãnh đạo tân chính quyền. Nhưng rồi vừa mới cầm quyền chưa được bao lâu,  chưa ổn định được tình thế thì cách mạng  bị  quân đội của thế lực phong kiến và phản động đè bẹp, Mazzini phải chạy trốn thoát thân và các bản hiến pháp do cách mạng ban hành tại các tiểu quốc này lại bị hủy bỏ, chỉ còn có tiểu quốc Sardinia còn giữ lại hiến pháp cách mạng mà thôi.

Dù là bị thất bại, các nhà ái quốc Ý vẫn kiên tâm tiếp tục tranh đấu cho lý tưởng thống nhất đất nước và giải phóng nhân dân Ý thóat khỏi   ách thống trị của các thế lực phong kiến phản động. Họ cùng đồng ý với nhau về đối tượng và mục tiêu tranh đấu để hoàn thành đại cuộc thống nhất đất nước và thể chế chính trị (hình thức chính quyền) sau khi  đất nước đã được thống nhất vì rằng lúc bấy giờ có ba nhóm có những ý kiến khác biệt nhau về thể chế chính trị. Ba nhóm này là:

1.- Thứ nhất là nhóm tu sĩ và tín đồ Da-tô ngoan đạo muốn rằng sau khi hoàn thành công cuộc thống nhất,  nước Ý phải được tổ chức thành một liên bang và đặt dưới quyền lãnh đạo của Giáo Hoàng.

2.- Thứ hai là nhóm Tự Do muốn thành lập một nước Ý theo chế độ cộng hòa, chống lại chủ trương của giới tu sĩ và tín đồ Da-tô.

3.- Thứ ba là một nhóm muốn theo chế độ quân chủ lập hiến và đưa vua Victor Emmanuel của tiểu quốc Sardinia lên làm Hoàng Đế.

Như vậy, rõ ràng là lập trường chính trị của hai nhóm thứ nhất và nhóm thứ hai như nước với lửa, tất nhiên không thể nào dung hòa được. Cuối cùng, đa số các nhà ái quốc Ý tạm thời ngả về nhóm thứ ba tức là nhóm "Quân Chủ Lập Hiến".

NHÀ ÁI QUỐC CAVOUR 

TRONG CÔNG CUỘC THỐNG  NHẤT NƯỚC Ý

Phong trào thống nhất nước Ý được gọi là phong trào Risorgimento. Vì các nhà ái quốc muốn dùng vương quốc Sardinia làm căn cứ cách mạng, cho nên triều đình vương quốc Sardinia được các nhà ái quốc hướng về để nuôi hy vọng, giống như nhân dân Việt Nam trong thời gian  từ năm 1941 đến mùa thu năm 1945 hướng về Việt Bắc như đã trình bày ở  Chương 43, Phần II của bộ sách này.

Như đã nói trên, Sardinia theo chế độ quân chủ lập hiến, cho nên người lành đạo chính quyền  là Thủ Tướng Count Camillo Benso Cavour (người đứng đầu nội các), chứ không phải là vua Victor Emmanuel.

Camillo Benso Cavour sinh ngày 10 tháng 8 năm 1810  tại Turin trong một gia đình quý tộc. Tuy là xuất thân từ một gia đình quý tộc, nhưng vì gia đình ông gắn bó với chế độ của Hòang Đế Napoléon I, cho nên ông bị ảnh hường của tư tưởng Voltaire và Cách Mạng Pháp 1789. Năm 1847, ông cho xuất bản một tờ báo với chủ trương truyền bá tư tưởng quốc gia (thống nhất). Năm 1848, ông trở thành một trong những người lãnh đạo phong trào Cách Mạng, và năm 1852 ông trở thành thủ tướng của vương quốc Sardinia.

Cũng nặng lòng ái quốc như Mazzini, nhưng khác với Mazzini, ông nặng về thực tế  trong khi Mazzini thiên về lý tưởng. Nhờ ở vào tư thế có quyền lực trong tay, Cavour dồn hết nố lực vào việc canh tân xứ  sở, cải tổ quân đội, thiết lập các nhà ngân hàng, khuếch trương kỹ nghệ, mở mang các đường giao thông, đặc biệt là hệ thống đường xe lửa, khuyến khích việc đóng tầu, gửi người đi thương thuyết với các quốc gia khác để mở rộng nền ngoại thương. Đặc biết nhất là ông nêu lên khẩu hiệu "Giáo Hội  tự do trong một quốc gia tự do" vởi chủ đích giảm bớt ảnh hưởng của Giáo Hội La Mã trong chính quyền và trục xuất bọn tu sĩ Dòng Tên ra khỏi đất nước.” ("Under "a free church in a free state," he tried to reduces the influence of the  Roman Catholic Church in politics. The powerful Jesuit order was expelled from the country."[v] 

Việc nước Áo  thống trị hai tiểu quốc Lombardy và Venetia  ở phía bắc nước Ý là một trở ngại vô cùng lớn lao cho việc thống nhất nước Ý. Vì thế, Cavour phải tìm cách liên minh với các nước khác để chống lại nước Áo, và ông đã  liên kết được với  nước Pháp (trong thời Hoàng Đế Napoléon III) để chống lại nước Áo.

Thực ra, lúc đầu Hoàng Đế Napoléon III rất miễn cưỡng vì sợ  rằng liên minh với Sardinia chống lại nước Áo, có nghĩa là chống lại Giáo Hội La Mã, tức là chống lại khối giáo dân Da-tô ở Pháp. Sau đó, ông lại nghĩ rằng liên minh với Sardinia  là để triệt hạ thế lực của nước Áo ra khỏi bán đảo Ý. Như vậy, nước Pháp có cơ may bành trướng ảnh hưởng trên đất Ý.

Về phần Cavour, ông tin rằng nếu nước Áo không còn ảnh hưởng ở Ý nữa thì các tiểu quốc khác ở trên bán đảo Ý sẽ gia nhập Liên Bang Ý. Như vậy, nước Ý sẽ trở nên hùng mạnh và có thể đương đầu với cả Pháp và  Áo.

Năm 1858, chính quyền Cavour  của Sardinia ký mật ước với triều đình Napoléon III của nước Pháp. Theo mật ước này,   nếu Áo tuyên chiến với Sardinia thì   Pháp sẽ gửi quân đến giúp Sardinia đánh đuổi quân Áo ra khỏi  hai tiểu quốc Lombardy và Venetia. Đáp lại, Sardinia sẽ nhường cho Pháp hai thị trấn Nice và Savoy. Đây là cái giá tiên khởi của đại cuộc thống nhất nước Ý.

Ký xong mật ước với Pháp, năm 1859, Thủ Tướng Cavour của vương quốc Sardinia động viên để chuẩn bị hành động. Thấy Sardinia động viên, triều đình Áo liền gửi tối hậu thư yêu cầu Sardina phải ngưng động viên trong vòng ba ngày. Thủ Tướng Cavour bác bỏ  yêu cầu này của Áo một cách thẳng thừng và tố cáo Áo có mưu đồ can thiệp vào nội tình nước Ý. Áo tuyên chiến với Sardinia ngay tức thì.

Cuộc chiến Áo - Ý bủng nổ vào tháng 4 năm 1859, khởi đầu liên quân Pháp - Sardinia đại thắng, và quân Áo  bị quét sạch ra khỏi lành thổ tiểu quốc Lombardy. Thừa thắng, Liên Quân Pháp – Sardinia  tiến vào lãnh thổ tiểu quốc Venetia. Đồng thời, các lực lượng yêu nước Ý tại các tiểu quốc còn nằm dưới thống trị của Áo  như Tuscany, Modena, và Parma cũng nổi dậy  đánh đuổi quân Áo ra khỏi quê hương và tình nguyên xin được sáp nhập vào Sardinia.

Liên quân Pháp - Sardinia đang trên đà chiến thắng và giữa khi khát vọng thống nhất toàn thể lãnh thổ nước Ý gần như sắp được toại nguyện, thì đột nhiến, tháng 7 năm đó, triều đình Napoléon III trở mặt với Sardinia, đơn phương ký mật ước ngưng chiến với Áo. Theo mật ước này, Lombardy sẽ được sáp nhập vào Sardinia, và Áo sẽ được quyền chiếm Venetia, Tuscany, Modena và Parma.  

Cũng nên biết rằng vào thời điểm này, chính quyền Áo nằm trong tay phe bảo thủ phong kiến liên kết chặt chẽ với Tòa Thánh Vatican. Trong khi đó, bên cạnh Hoàng Đế Napoléon III của nước Pháp, lại có Hoàng Hậu Eugénie, môt tín đồ Da-tô ngoan đạo  sẵn sàng vâng lệnh các đấng bề trên trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội La Mã. Vai trò của Hoàng Hậu Eugénie ở hậu trường sân khấu chính trị nước Pháp có thể là một nguyên nhân khiến cho Napoléon III trở mặt với Sardinia. Nhớ lại, vai trò của bà Hoàng Hậu  này “nói nhỏ” với Hoàng Đế Napléon III  trong việc các Giám-mục Pellerin, Linh-mục Huc, Linh-mục Le Grand de La Liraye vừa gửi một Tờ Trình lên triều đình Pháp trong đó có một kế hoạch đánh chiếm Việt Nam và nói rõ những lợi điểm cho nước Pháp nếu xuất quân đánh chiếm Việt Nam, vừa  thân hành đến kinh thành Paris trực tiếp thuyết phục nhà vua và các nhân vật có thế lực trong triều đình Paris phải lanh tay chớp lấy thời cơ, nếu không sẽ bị nước Anh nhẩy vào chiếm mất. (Xin xem lại Chương  22, Phần II trong bộ sách này.)

Việc trở mặt của Hòang Đế Napoléon III khiến cho cuộc chiến  thống nhất nước Ý của nhà ái quốc Cavour  phải khựng lại và  hầu như đứng trên bờ vực thẳm nguy hiểm mà kẻ thù chính ở hậu trường sân khấu chính trị trong cuộc chiến này là Giáo Hội La Mã đang tìm đủ mọi cách để huỷ diệt công trình thống nhất của nhân dân Ý.

Tuy rằng trở mặt với Sardinia, Napoléon III cũng vẫn đòi Sardinia phải thi hành lời hứa nhường hai thị trấn Nice và Savoy cho Pháp như đã cam kết trong mật ước 1858. Sợ rằng già néo đứt giây, làm găng với kẻ mạnh chỉ là lãnh thêm những thiệt thòi, rồi lại mất cả chì lẫn chài, vua Victor Emmanuel II đành phải nhường hai thị trấn Nice và Savoy cho nước Pháp. Thân phận của một nước tiểu nhược là như vậy.

Tuy nhiên, nhân dân Ý vẫn chưa chịu bỏ cuộc. Các lực lượng ái quốc tại Tuscany, Parrma và Modena càng họat động mạnh hơn. Họ thành lập chính phủ lâm thời và cương quyết đánh đuổi quân Áo ra khỏi quê hương. Gương tranh đấu của các tiểu quốc này khiến cho nhân dân tiểu quốc Romagna đang nằm dưới quyền thống của giáo triều Vatican cũng nô nức noi theo, vùng lên chống lại chính quyền đạo phiệt Da-tô, và đại thắng, rồi tổ chức trưng cầu dân ý để sáp nhập vào Sardinia.

Thế nhưng, Hoàng Napoléon III của nước Pháp lại chống lại việc Romagna sáp nhập vào Sardinia. Tình trạng này khiến cho tình hình hai nước Sardinia và Pháp trở nên vô cùng căng thẳng. Sardinia có ý định nếu xẩy ra chiến tranh giữa Pháp và Sardinia thì sẽ đưa ra yêu sách để đòi lại Nice và Savoy. Thâm ý của Sardinia  vừa khích lệ nhân dân Ý  hăng say chiến đấu, vừa khuyến khích nhân dân hai thị trấn này nổi lên chống Pháp. Nhưng rồi sau đó, năm 1860, Sardinia và Pháp thương thuyết ký một thỏa hiệp theo đó thì Pháp được giữ lại Nice và Savoy, Sardinia được quyền sáp nhập các xứ Parma, Modena, Tuscany và  Romagna.

Đến đây, con đường thống nhất đất nước Ý đã đi qua một giai đọan khởi đầu. Phần còn lại hết sức gay go và vô cùng khó khăn vì kẻ thù  nguy hiểm của dân tộc Ý là Vatican đóng đô ở ngay trên các ngọn đồi Vatican nằm trong lãnh thổ nước Ý và đã dùng chiêu bài tôn giáo để mê hoặc dân Ý chống lại khát vọng thống nhất tự do của dân tộc Ý.

Khát vọng thống nhất đất nước  chưa hoàn thành thì ngày 6 tháng 6 năm 1861, Cavour qua đời để lại đại cuộc còn dang dở cho thế hệ đàn em của ông nối tiếp. Đọan đường còn dang dở đó là Tòa Thánh Vatican còn nằm chềnh ềnh trong lòng nước Ý vẫn cương quyết chống lại ý chí thống nhất đất nước của dân tộc Ý, và vướng quốc Lưỡng Sicilies  vẫn còn nằm dưới ách thống trị của ông vua Da-tô bảo thủ Francis II thuộc dòng họ Bourbon của các vua Louis XIII (1601-1643) Louis XIV (1643-1715), XV (1715-1774), XVI (1774-1792), XVIII (1814-1824), Charles X (1824-1830) và Louis Philippe (1830-1848) của nước Pháp.

NHÀ ÁI QUỐC GIUSEPPE GARIBALDI

VÀ ĐÒAN QUÂN CÁCH MẠNG ÁO ĐỎ

Giuseppe Garibaldi sinh tại Nice ngày 4 tháng 7 năm  1807 tại Nice. Lớn lên, ông gia nhập Phong trào Nước Ý Trẻ của nhà ái quốc Mazzani. Năm 1834, ông phải trốn ra ngọai quốc sống lưu vong vi lúc đó phong trào ái quốc này đang bị chính quyền đương thời đàn áp dữ dội. Trong thời kỳ lưu vong này, ông phiêu bạt lang thang từ Châu Mỹ La Tinh  tới Hoa Kỳ. Mãi tới năm 1854, ông mới trở về nước Ý.

Nhờ được tiền tài trợ của Thủ Tướng Cavour, Garibaldi chiêu mộ nghĩa sĩ thành lập một lực lượng võ trang có tới hơn một ngàn quân (tương đương một trung đoàn) với quân phục màu đỏ.  Vi vây mà đạo quân cách mạng của ông được mệnh danh là "Đoàn Quân Áo Đỏ". Mùa xuân năm 1860, Garibaldi cùng Đòan Quân Cách Mạng Áo Đỏ  của ông  đổ bộ lên đảo Sicily  được nhân dân tại đây hân hoan đón mừng. Thừa thắng xông lên, quân cách mạng vượt biển tiến vào lục địa tấn chiếm Naples, đẩy lui vua Francis I, và quân lính của nhà vua chạy lên tới tận biên giới các lãnh địa của Tòa Thánh Vatican.

Garibaldi dự tính sẽ tiếp tục tiến lên đánh chiếm  Rome (của Giáo Hội La Mã) rồi chiếm luôn cả Venetia (của Áo). Nhưng Cavour lại sợ rằng nếu để cho Garibaldi làm như vậy thì sẽ tạo cơ hội cho Pháp và Áo xua quân tiến vào đất Ý, và cũng sợ rằng Garibaldi đang cố gắng thành lập chế độ cộng hòa. Như vậy, sẽ gặp phản ứng mãnh liệt của phe đảng phong kiến phản động. Cho nên, Cavour  gửi một đạo quân tiến xuống miền Nam chặn đứng "Quân Áo Đỏ của Garibaldi", rồi ông cho sáp nhập phần lớn các tiểu quốc của Giáo Hội vào Sardinia, chỉ để lại cho Giáo Hòang có kinh thành Rome mà thôi.

Mùa thu năm 1860, Cavour thân hành đến Naples hội thảo với Garibaldi và thuyết phục Garibaldi hủy bỏ kế hoạch giải phóng toàn thể lãnh thổ bán đảo Ý. Garibaldi miễn cưỡng phải nghe lời. Sau đó, ông lại còn thuyết phục Garibaldi phải đồng ý để cho ông thành lập vương quốc Ý (theo chế độ quân chủ lập hiến) và tôn Victor Emmanuel II lên làm hòang đế.

CHẶNG ĐƯỜNG CHÓT PHẢI HOÀN THÀNH

Năm 1860, chính quyền Sardinia tổ chức tổng tuyển cử trên toàn thể lãnh thổ để thống nhất nước Ý, ngọai trừ Venetia và Rome. Cuộc tổng tuyển cử này  được đại đa số nhân dân Ý tán thành và khi thống nhất, nước Ý theo chế độ quân chủ lập hiến của vương quốc Sardinia với Victor Emmanuel II làm hoàng đế. Quốc Hội sẽ nhóm họp ở  thành phố Turin  vào tháng 2 năm 1861 để xác nhận vua Victor Emmanuel II trở thành vua nước Ý. Bốn tháng sau, Cavour qua đời.

Đến đây, ta thấy rằng, trên lý thuyết, nước Ý đã được thống nhất, nhưng trong thực tế Venitia vẫn còn nằm dưới ách thống trị của người Áo, và phần miền Tây của các tiểu quốc kế cận kinh thành Rome vẫn còn nằm trong tay của Tòa Thánh Vatican. Sự kiện này khiến cho các nước Âu Châu ở vào thế phải chọn lựa: Hoặc là nhìn nhận tân quốc gia Ý mới thống nhất, tức là chống lại Giáo Hội La Mã,  hoặc là ủng hộ Giáo Hội La Mã và chiến đấu chống lại nước Ý mới thống nhất. Tình thế này làm cho Hòang Đế Napoleon III của nước Pháp phải băn khoăn suy nghĩ. Cuối cùng, ông đã nghĩ ra được một biện pháp vừa không phải tuyên chiến với tân quốc gia Ý mới thống nhất,  vừa làm hài lòng Giáo Hội La Mã. Biện pháp đó là gửi một đạo quân đến trú đóng tại kinh thành Rome để ngăn chặn  quân Ý tiến đến đánh chiếm kinh thành này.

Như vậy là vào năm 1861, công cuộc thống nhất nước Ý chưa được hoàn thành. Năm 1866, chiến tranh Phổ - Áo bùng nổ. Lợi dụng Áo đang phải bận tâm đối phó với nước Phổ ở phương Bắc, Ý đem quân tiến chiếm Venetia và thành công dễ dàng. Năm 1870, chiến tranh Pháp - Phổ  bùng nổ khiến cho Hòang Đế Nappléon III phải ra lệnh rút quân ở Rome về để đối phó với quân Phổ ở phía Đống biên thùy. Đây là cơ hội bằng vàng cho quân Cách Mạng Áo Đỏ (quân Ý) hoàn thành chặng đường chót của  đại cuộc thống nhất đất nước. Khúc phim Quân Đội Cách Mạng Ý của Garibaldi tiến chiếm kinh thành Rome và tấn công vào Vatican được sách Rich Churh Poor Church viết như sau:

"Ngày 19 tháng 8 năm 1970, quân đội Pháp lo bảo Vệ Tòa Thánh Vatican thực sự rút lui vĩnh viễn.   Trận đánh Sedan vào ngày 2 tháng 9 năm đó  đã làm cho đế quốc của Hoàng Đế Nã Phá Luân Đệ Tam hoàn toàn sụp đổ. Tòa Thánh Vatican mất đi một thế lực bảo vệ cuối cùng, và nước Pháp, "người trưởng nữ của Giáo Hội La Mã" kể từ năm 1871 đến năm 1940 đã phải thay đổi đến 99 nội các. Quân Pháp vừa mới rút lui, tức thì, ngày 19 tháng 9, quân đội quốc gia Ý tiến vào kinh thành La Mã và đóng quân ở ngay chung quanh cổ thành Leonine nằm trong Kinh Thành La Mã. Ngày hôm sau (20/9), sau khoảng ba tiếng đồng hồ nã đại pháo và cận chiến lẻ tẻ, vào lúc 9:30 sáng, Giáo Hoàng ra lệnh kéo cờ trắng ở trên nóc nhà thờ  St. Peter. Mười phút sau đó, không còn nghe thấy tiếng súng nữa. Quân đội Ý tiến vào phía trong kinh thành và chiếm đoạt hết tất cả của cải trong đó, chỉ có Ngọn Đồi Vatican là họ không rớ tới. Quốc Gia của Giáo Hoàng không còn tồn tại nữa. Diện tích của quốc gia này từ 16 ngàn dặm vuông bị cắt xén,  còn lại chỉ có 480 ngàn mét vuông kể cả ngọn Đồi Vatican và xung quanh ngọn đồi này trong đó có nhà thờ St. Peter, các tòa nhà phụ cận và các khu vườn Vatican ở gần đó. Hôm sau, ngày 21 tháng 9, Giáo Hoàng Pius IX (1846-1878) viết   một lá thư ngắn ngủi cho người cháu:

Cháu yêu quý:

Tất cả đã hết rồi. Không có tự do, không thể nào quản lý được Giáo Hội. Hãy cầu nguyện cho ta và cho tất cả các con. Ta chúc phúc cho các con."

Nguyên văn:"On August 19, 1870, the protecting French troops withrew definitely. With the battle of Sedan on September 2, the empire of Napoléon III came to an end. The papacy had lost its last defender, and France, the "eldest duaghter of the Church" was to have an astounding 99 goverments between 1871 and 1940. Immediately the Italian nationalist troops march on Rome. They encamped around the old Leonine walls of Rome on September 19. The following day, after some three hours of artillery barrage and sporadic hand-to-hand fighting, the pope ordered the white flag to be raised above the dome of St. Peter at 9:30 A.M. Ten minutes later, all firing had ceased. The Italian troops entered the city and took possession of it all, leaving Vatican Hill untouched. The papal State had ceased to exist. Its 16,000 square miles were now reduced to 480,000 square meters on and around Vatican Hill where St. Peter's it adjoining buildings, and the Vatican gardens were clustered. The next day, September 21, Pius IX (1846-1878) wrote a short note to his nephew:

Dear Nephew:

All is over. Without liberty, it is impossible to govern the Church. Pray for me, all of you. I bless you. Pius P. IX."[vi]

Đến đây, cuộc chiến của nhân dân Ý chống lại Tòa Thánh Vatican, chống lại hai cường lân là đế quốc Pháp và đế quốc Áo để thống nhất đất nước đã hoàn thành.

Cũng như chính quyền và nhân dân Hoa Kỳ, chính quyền Cách Mạng 1870 và nhân Ý cũng áp dụng chính sách thưởng phạt phân minh dể “hoằng dương chính khí”. Vì thế, những người có chiến công lớn nhất của đại cuộc này là các nhà ái quốc Giuseppe Mazzini, Camillo Benso Cavour  và Giuseppe Garibaldi đều được nhân dân Ý tôn vinh và đặt tên cho các trường học, công viên, công thự và các đường phố trong các thành phố trên toàn quốc nước Ý. Đồng thời, chính quyền Cách Mạng Ý 1870 cũng thẳng tay trừng trị Tòa Thánh Vatican bằng cách “chiếm đoạt hết tất cả của cải trong đó, chỉ có Ngọn Đồi Vatican là họ không rớ tới. Quốc Gia của Giáo Hoàng không còn tồn tại nữa. Diện tích của quốc gia này từ 16 ngàn dặm vuông bị cắt xén,  còn lại chỉ có 480 ngàn mét vuông.”  Và cũng từ đó, những thằng Ý gian làm tay sai cho Tòa Thánh Vatican, cho Pháp và cho Áo đề bị nhân dân ý căm thù, đời đời nguyền rủa và khinh bỉ gọi là những thằng Ý gian, những thằng Ý  cõng rắn cắn gà nhà”.

Chú thích:


[i] Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược - Quyển II (Sàigòn: Bộ Giáo Dục, 1971), tr. 25.

[ii] Harriett  McCune Brown, Robert P. Ludlum & Howard B. Wider, This Is America’ s Story (Atlanta, GA