
Kinh nghiệm lịch sử cho thấy rằng, nguyên nhân của
tình trạng đất nước bị chia đôi hay chia năm xẻ bẩy là do sự tranh
giành quyền lực giữa các phe nhóm hay thế lực đối nghịch muốn thanh toán
lẫn nhau để nắm chiếm độc quyền chính trị. Hầu hết những thế lực
này đều không có chính nghĩa. Vì
không có chính nghĩa, cho nên họ chỉ biết đặt quyền lợi của cá nhân
và phe nhóm lên trên hết mà không cần biết đến chiến tranh sẽ làm
nhân dân khốn khổ điêu linh, quốc gia sẽ bị suy yếu và có thể bị diệt
vong. Cái gương của các nước Chiêm Thành trong những thế kỷ 13, 14 và
15, Cao Mên trong những thế kỷ 17, 18 và 19, và Do Thái của thời xa xưa cách
đây hơn 2 ngàn năm vẫn còn rành rành trong sách sử. Trong hoàn cảnh đất nước bị qua phân, thế lực
nào nêu cao được chính nghĩa, biết đặt quyền lợi của tổ quốc lên
trên quyền lợi của cá nhân và phe nhóm, tổ chức được đạo quân có kỷ
luật, quyết tâm chiến đấu cho dân, bảo vệ dân và không hà hiếp nhân
dân, thi thế lực đó sẽ được toàn dân triệt để ủng hộ và sẽ đại
thắng, thống nhất được đất nước, cứu vãn được tổ quốc khỏi bị cái họa diệt vong. Thế nhưng, chỉ những người nặng lòng yêu nước,
thương dân, hằng tâm lo lắng cho tiền đồ của tổ quốc, coi nhẹ tất cả
những tình, tiền, quyền thế, thì mới có thể làm được. Trong thực tế, từ ngàn xưa, rất ít người có quyền lực
trong tay có thể làm được cái chuyện cao cả như vậy. Tuy nhiên, người viết cũng nhận thấy một trường
hợp đặc biệt là ông Mạc Ngọc Liễn tuy không còn có quyền lực trong tay, nhưng cũng đã có
hành động biết đặt quyền lợi của dân
tộc lên trên quyền lợi của cá nhân mà rút lui khỏi “cuộc chơi”, và một trường hợp đặc biệt khác nữa
là khi Hoa Kỳ mới lập quốc, đại biểu của 13 tiểu bang nguyên thủy đã biết tương nhượng lẫn nhau với hy vọng
để củng cố quốc gia cho được hùng
mạnh, và cũng là để cho các ngoại cường không thể lợi dụng nhẩy
vào thừa nước đục để thả câu. Trường hợp của
ông Mạc Ngọc Liễn được sách sử
ghi lại như sau: "Nay họ Lê lại dấy lên được, ấy là số
trời đã định; còn dân ta thì có tội gì, mà ta nỡ để khổ sở mãi về
việc chiến tranh? Vậy ta nên đành phận lánh mình ở nước ngoài, chứ đừng
có đem lòng cạnh tranh mà lại mời người Tàu sang làm hại nước mình."[i]
Trường hợp các đại biểu của 13 tiểu bang
tương nhượng lẫn nhau khá đặc biệt. Đặc biệt vì đây là công trình
vĩ đại qua các cuộc tranh luận hết
sức gay go của 55 bậc thức gia tham dự
Hội Nghị Lập Hiến Hoa Kỳ tại Toà Thị Sảnh của thành phố Philadelphia
(Pennsylvania) từ đầu tháng 6 năm 1787 cho đến ngày 17/9/1787, đặc biệt vì
họ đã phải vượt qua không biết bao nhiêu là bất đồng chính kiến về
nhiều vấn đề: 1.- Khác biệt về việc quy định số đại biểu
tính theo đầu người giữa tiểu bang lớn đông dân và tiểu bang nhỏ ít
dân. Tiểu bang đông dân có nhiều đại biểu ở Quốc Hội, tiểu bang ít
dân có đại biểu ở Quốc Hội. Tình trạng này làm cho các tiểu bang nhỏ
ít dân sợ rằng những vấn đề có lợi cho các tiểu bang lớn đông dân,
nhưng bất lợi cho các tiểu bang nhỏ ít dân và phải quyết định bằng lá
phiếu của các dân biểu tại Quốc Hội, thì các tiểu bang lớn luôn luôn
thắng thế tại Quốc Hội. Cuối cùng họ đi đến một thỏa hiệp là Quốc Hội phải được tổ
chức thành lưỡng viện: Hạ Viện (Lower House hay House Of Representatives) và
Thượng Viện (Upper House hay Senate). Số dân biểu ở Hạ Viện được tính
theo dân số (cử tri) trong tiểu bang với nhiệm kỳ là 2 năm, cứ ba người
nam da đen được tính một cử tri. (Lúc đó, phụ nữ da trắng cũng như da
đen đều không được đi bầu). Tại Thượng Viện, con số thượng nghị
sĩ đại diện cho các tiểu bang được quy định đồng đều, bất kể là
lớn hay nhỏ, mỗi tiểu bang đều có hai thượng nghị sĩ với nhiệm kỳ
là sáu năm. Thỏa hiệp này làm hài lòng cả các tiểu bang lớn đông dân
và các tiểu bang nhỏ ít dân. 2.- Khác biệt về việc tính phiếu theo đầu người
giữa người da trắng. Họ đặt ra một quy luật về dân nô lệ da đen để quy định số đại
biểu cho các tiểu bang miền 3.- Khác biệt về hoạt động kinh tế giữa các
tiểu bang miền Bắc sống về kỹ nghệ, thương mại và hàng hải, muốn thi hành chính sách bảo vệ mậu dịch,
và các tiểu bang miền Nam có căn bản kinh tế là nông nghiệp chuyên
về trồng bông và trồng thuốc lá, nhập cảng nhiều hàng hóa kỹ nghệ, muốn theo chính sách tự do mậu dịch. Cuối cùng, vì ý thức được tình trạng đất
nước vừa thoát ra cuộc chiến giành độc lập, họ không muốn rơi vào
cái thảm họa “ngao cò tranh nhau” giữa khi các cường quốc Âu Châu Anh,
Pháp và Tây Ban Nha đang muốn tiêu diệt tân quốc gia Hoa Kỳ để bành trướng
thế lực vào Bắc Mỹ. Vì lý do này, họ đã cùng nhau cương quyết đặt
quyền lợi chung của quốc gia lên trên quyền lợi riêng của các tiểu
bang bằng cách tìm ra những phương thức
tương nhượng lẫn nhau để đi đến
các thoả hiệp mà các tiểu bang đông dân cũng như ít dân, miền Bắc có
căn bản kinh tế là kỹ nghệ và thương mại cũng như các tiểu bang miền
Nam có căn bản kinh tế là nông nghiệp, tất cả
đều có thể chấp nhận được. Nhờ vậy, mà các nhà ái quốc
tham dự Hội Nghị Lập Hiến này đã hoàn thành nhiệm vụ soạn thảo bản
Hiếp Pháp được coi như là hợp lý
nhất, tiến bộ nhất, trong đó có phần tu chính hiến. Nhờ có phần này,
mà ngay khi vừa mới soạn xong, ông Thomas Jefferson (1743-1826) [vắng mặt,
không tham dự Hội Nghị Lập Hiến vì lúc đó ông đang là Đại Sư Hoa Kỳ
tại Pháp] xem lại thấy có phần thiếu sót, liền đề nghị thêm vào 10
tu chính hiến đầu tiên và được mọi người đồng thuận vào năm 1791.
Mười tu chính hiến đầu tiên này hết sưc quan trọng vì nó được coi
như là Bản Dân Quyền (Bills of Rights) trong đó có điều khoản “Tách rời tôn giáo ra khỏi chính quyền”,
điều mà Giáo Hội run sợ nhất, thù ghét nhất và đã tìm cả trăm
phương ngàn kế để xóa bỏ mà vẫn không sao thực hiện được. Chính
vì điểm này mà bản Hiến Pháp Hoa Kỳ được các nhà viết sử coi như là
thích hợp với nhu cầu của hoàn cảnh đất nước Hoa Kỳ vào bất kỳ thời điểm nào. Ngoài hai trường hợp đặc biệt trên đây, rất
hiếm có trường hợp những người cầm
quyền của các thế lực trong một quốc gia biết đặt quyền lợi của tổ
quốc và dân tộc lên trên quyền lợi của cá nhân và phe nhóm để rút
lui khỏi chính trường như trường hợp Mạc Ngọc Liễn của nước ta vào
thế kỷ 16 hay các bậc trí giả soạn thảo hiến pháp Hoa Kỳ vào mùa hè
năm 1787 như đã nói trên. Cũng vì rất hiếm có những trường hợp như trên,
cho nên lịch sử nhân loại mới có nhiều quốc gia chỉ vì có những
cá nhân quyền thế hay băng đảng có thế lực muốn thanh toán lẫn nhau để
giành chiếm ngôi vị chí tôn hay nắm độc quyền chính trị mà đất nước
phải rơi vào tình trạng phân hóa, vỡ ra làm nhiều mảnh, gây nên những
cuộc nội chiến triền miên khiến cho nhân dân khốn khổ, điêu đứng, lầm
than để rồi quốc gia đó có thể bị xoá tên trên bản đồ thế giới và
dân tộc bị diệt vong. Như đã nói ở trên, Chiêm Thành và Do Thái đã ở
vào trương hợp này. Trường hợp nước Chiêm Thành, sách sử Việt NƯỚC DO THÁI RA ĐỜI, BỊ DIỆT
VONG Theo sách sử, nước Do Thái thực
sự được hình thành vào đời ông Josué khi ông dẫn nhóm người Do Thái
của ông Moses ở vùng chân núi Sinai về chiếm lại được xứ Vua Solomon băng hà vào năm 937 trước
CN. Bảy năm sau, vào khoảng năm 930 trước CN, nước Do Thái bị phân hóa
ra làm thành hai nước nhỏ: nước Ít lâu sau, Đế Quốc La Mã đổi
tên Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì
chết. Nước Do thời đó vốn đã yếu kém so với các nước chung quanh
trong vùng vì diện tích nhỏ bé và ít dân, lại còn bị phân hóa ra làm
hai. Tình trạng này khiến cho lãnh thổ vốn đã nhỏ lại càng nhỏ hơn, dân số vốn đã ít lại càng
ít hơn. Như vậy, sức mạnh dân tộc vốn đã yếu kém lại càng yếu kém
thêm gấp bội phần. Tệ hại hơn nữa, sau khi phân hóa thành hai rồi, cả
hai nước Do Thái Israel ở miền Bắc và nước Do Thái Judée ở miền Nam đều
theo chế độ đạo phiệt Do Thái với chủ trương giam nhốt người dân
trong cái nhà ngục tôn giáo, kìm hãm họ
ở trong tình trạng ngu dốt, áp bức họ
đến cùng độ của áp bức và bóc lột họ đến tận xương tận tủy. Tất
cả những hành động chuyên chế phản tiến hóa, phi nhân quyền và cực kỳ
dã man này đều được tiến hành theo các Luật Sợ Chúa, Luật Trị Người, Luật Cung Phụng Thiên Chúa, v.v… trong Kinh
Thánh của người Do Thái (cũng là Cựu Ước Kinh của Giáo Hội La Mã). Kinh
nghiệm lịch sử cho thấy rằng bất kỳ quốc gia nào bị áp đặt phải sống
theo chế độ đạo phiệt, đạo phiệt Thiên Chúa Giáo, cũng đều rơi vào
tình trạng chậm tiến, nghèo đói và
dân trí thì thấp kém và lạc hậu. Cái gương của các nước Nam Âu như
Ý Đại Lợi, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha so với các nước Tây Âu và Bắc
Âu, cái gương của các nước Phi Luật Tân, Nam Dương, Bangladesh Pakistan, cái
gương của tất cả các nước theo đạo Hồi ở vùng Trung Đông Đông và
ở Châu Phi, cái gương của tất cả các nước ở Châu Mỹ La-tinh (Mễ
Tây Cơ, Trung và Nam Mỹ) là những bằng chứng rõ ràng nhất cho sự kiện
này. Với tình trạng như trên, làm sao
các cường lân lại không nhẩy vào đóng vai trò ngư ông thủ lợi? Cái họa
bị diệt vong của một dân tộc không ý thức được cái lẽ “Đoàn
kết thì sống, chia rẽ thì chết” và theo chế độ đạo phiệt là
như vậy. Đây là quy luật của lịch sử. Cho mãi đến năm 1948, với sự triệt
để ủng hộ của Hoa Kỳ, nước Anh lúc đó cai trị vùng Palestine, đề
nghị cắt một miếng đất ở vùng này để tái lập nước Do Thái. Nhờ
thế mà nước Do Thái mới được tái sinh kể từ đó. MỘT SỐ QUỐC GIA BỊ QUA PHÂN NHƯNG RỒI MỘT THẾ LỰC CÓ CHÍNH NGHĨA DÂN TỘC Theo sự hiểu biết của người viết, trong lịch
sử nhân loại, có nhiều quốc gia đã rơi vào tình trạng bị qua phân, nhưng
rồi lại thống nhất quy về một mối. Sở dĩ được như vậy là nhờ
có một thế lực có chính nghĩa, biết đặt quyền lợi của dân tộc và
tổ quốc lên trên quyền lợi của cá
nhân, phe đảng và tôn giáo. Phần dưới đây, chúng tôi sẽ trình bày một số
trường hợp của các quốc gia này. 1.- TRƯỜNG HỢP
NƯỚC TRUNG HOA Nước Trung Hoa đã nhiều lần bị phân hóa thành
những tiểu quốc dưới quyền thống trị của bọn lãnh chúa phong kiến
hay quân phiệt địa phương: A.- Vào thời nhà Đông Chu (770-249 B.C.), sử gọi
là Thời Xuân Thu Chiến Quốc, trong thời kỳ này, các tiểu quốc đua nhau
xưng hùng xưng bá, các tiểu quốc mạnh thôn tính
các tiểu quốc yếu, gây nên những cuộc chiến khốc liệt giữa
các tiểu quốc. Tình trạng này kéo dài tới khoảng 600 năm. Khi Tần Doanh Chánh lên ngôi, Trung Hoa chỉ
còn có 8 nước là Tần, Tấn, Triệu, Ngụy, Hàn, Tề, Yên và Sở . Sau đó,
vua Tần lần lần đánh chiếm và sáp nhập tất
cả 7 nước Tấn, Triệu, Ngụy, Hàn, Tề, Yên và Sở vào nước
Tần và lên ngôi, lấy đế hiệu là Tần Thuỷ Hoàng (221-207 TTL). Nhờ vậy
mà Trung Hoa mới được thống nhất thành một quốc gia hùng mạnh nhất Á
Châu vào lúc bấy giờ. B.- Vào cuối đời nhà Hán (202 TTL – 220 ), Vua
Hán hèn yếu, quyền thần tháo túng triều đình, gây bè kết đảng thanh
toán lẫn nhau khiến cho loạn lạc nối lên đánh phá khắp nơi, rồi đất
nước bị phân hóa thành ba nước Ngụy,
Thục, Ngô (213-280). Sách sử gọi thời kỳ này là thời Tam Quốc. Sau nhờ
có Tư Mã Ý và con là Tư Mã Sư nắm được quyền chính tại nước Ngụy
diệt được nước Ngô, rồi phế bỏ vua Ngụy lên ngôi. Không bao lâu, nước
Ngô cũng bị diệt luôn vào đời con của Tư Mã Sư là Tư Mã Viêm. Sau khi diệt được nhà Ngô, Tư Mã Viêm lập
ra nhà Tây Tấn (265-317), và lấy đế
hiệu là Tấn Võ Đế. Trung Hoa lại được thống nhất, nhưng đến năm
317, nhà Tây Tấn lại suy vi, đất nước
lại rơi vào tình trạng hỗn loạn và phân hóa thành Nam Bắc Triều. C.- Thời Nam Bắc Triều (317-580), kéo dài gần ba trăm năm. Trong thời gian này,
Trung Hoa vốn đã phân hóa lại càng phân hóa thêm thành nhiều tiểu quốc,
mỗi tiểu quốc nằm dưới quyền thống trị của một gia đình phong kiến,
tự phong làm vua tại địa phương của mình. Bắc Triều thì phân hóa
thành các nước Mộ Dung, Hán (sau đổi tên là Tiền Triệu) và Hậu Triệu.
Nam Triều thì phân hóa thành hai nước Ngô và Đông Tấn. Cuối cùng cả 5
nước này đều bị Dương Kiên đánh bại, tóm thâu về một mối, lập
lên nhà Tuỳ (581-618) và lấy đế hiệu là Tuỳ Văn Đế (580-605. D.- Đầu thế kỷ 20, trong thời gian Tôn Dật Tiên và Tưởng Giới Thạch với
Quốc Dân Đảng cầm quyền (1912-1949), nước Trung Hoa đang bị các liệt cường
Âu và Á Châu xâu xé, đặc biệt là đế quốc Nhật Bản. Trong thời kỳ
này, Trung Hoa lại bị phân hóa thành nhiều sứ quân giống như những tiểu
quốc, mỗi tiểu quốc nằm dưới quyền thống trị của bọn quân phiệt
địa phương. Ngoài ông lãnh chúa địa phương này, còn có đảng Cộng Sản
Trung Hoa hùng cứ vùng Tây Bắc Trung Hoa và lan sang nhiều vùng khác. Nhưng vì
khát vọng giải phóng quê hương thoát khỏi ách thống trị của người
ngoại bang, các thế lực phong kiến địa phương trên đây và Cộng Sản
đã tạm thời bỏ qua những khác biệt về
chủ trương chính trị và quyền lợi riêng tư, quyết tâm cùng nhau chiến
đấu cho đại cuộc đánh đuổi quân xâm lăng Nhật ra khỏi đất nước.
Nhờ thế, mà khi Nhật Hoàng chính thức tuyên bố đầu hàng các nước Đồng
Minh vào ngày 15/8/1945, Trung Hoa không bị một cường quốc nào uy hiếp đem
quân tái chiếm các tô giới ở Trung
Hoa mà họ đã chiếm được trong những
năm từ giữa thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, ngoại trừ người
Anh còn giữ lại Hồng Kông và cam kết sẽ trao lại cho Trung Hoa vào ngày
30/6/1997 đúng như nhượng ước đã quy định mà triều đình Bắc Kinh (Nha
Thanh) đã ký cho nước Anh thuê trong một thời hạn 99 năm và có hiệu lực kể từ ngày
1/7/1898. Thế nhưng, sau khi quân xâm lăng Nhật đầu hàng, hàng ngũ Quốc Quân Trung Hoa lại rơi vào
tình trạng sứ quân, mỗi ông thủ lãnh hùng cứ một phương như một thứ
lãnh chúa trong vùng, tự tung tự tác, tác oai, tác quái, và quân lính thì hà hiếp nhân dân, không có kỷ cương gì
cả. Cũng vì thế mà khi hai phe Quốc Dân Đảng và Cộng Sản phải nói
chuyện vơi nhau bằng súng đạn, thì Quốc
Quân Trung Hoa không thể nào đương đầu được với Hồng Quân Trung Hoa. Hồng
Quân tiến tới đâu thì Quốc Quân vội vã vơ vét tiền bạc và cuốn gói
bỏ chạy để thoát thân. Có nhiều nơi, Hồng Quân chưa tới, Quốc Quân
đã bỏ chạy rồi. Tới cuối tháng 9
năm 1949, toàn bộ cơ quan đầu não của ông Tưởng Giới Thạch cuốn gói
hối hả chạy ra hải đảo Đài Loan ẩn náu,
đám đàn em và quân sĩ dưới
quyền ở lại như rắn mất đầu trước sức tiến quân như vũ bão của
Hồng Quân Trung Hoa. Nhờ vậy mà đất nước Trung Hoa lại được thống nhất
thực sự kể từ đó. 2.- CUỘC CHIẾN THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC CỦA DÂN TỘC HOA KỲ Vì bất đồng chính kiến về vấn đề nô lệ
và quyền lợi kinh tế, cho nên sau khi ông Abraham Lincoln (1809-1865) vừa mới
đắc cử tổng thống trong kỳ bầu cử tháng 11 năm 1860, thì ngày 1 tháng
2 năm 1961, bẩy tiểu bang miền Nam tuyên
bố ly khai, thành lập một liên bang mới với danh xưng là “The Confederate
States of America”, rồi đưa ông Jefferson Davis thuộc tiểu bang Mississippi
lên làm tổng thống và Tướng Robert E. Lee làm tổng tư lệnh quân đội miền
Nam chống lại Liên Bang Hoa Kỳ (cũng gọi
là miền Bắc). Đứng trước hành động phản quốc này, Tổng Thống
Lincoln đã phải hành động vô cùng khôn kéo để trình bày cho nhân dân
toàn quốc thấy rằng ông không bao giờ có ý định bắt ép ai phải theo
quan niệm chính trị của ông, nhưng mọi người cũng phải nên hiểu rằng
quyền lợi tối thượng của đất nước Hoa Kỳ phải được đặt lên
trên mọi quyền lợi của cá nhân hay phe nhóm. Sách This Is America’ s Story
ghi lại cung cách ứng xử của Tổng
Thống Lincoln trong giờ phút nghiêm trọng này như sau: “Khi trở thành Tổng Thống Hoa Kỳ vào ngày 4
tháng 3 năm 1861, ông Abraham Lincoln phải đương đầu với một vấn đề vô
cùng khó khăn. Ông phải làm gì với các tiểu bang ly khai này? Ông
không muốn chiến tranh, khi tuyên thệ nhậm chức, ông nói: “Giả thử
các bạn tiến đến chiến tranh, các bạn cũng không phải chiến đấu mãi
mãi! Sau khi cả hai bên cùng bị tổn thất nặng nề, các bạn phải ngưng
chiến đấu, những vấn đề xưa cũ vẫn còn lại với các bạn.” Vấn
đề nô lệ ở miền Nam không nguy hiểm, vì rằng Tổng Thống “Chúng ta không phải là kẻ thù mà là bạn.
Chúng ta nhất định không phải là kẻ thù. Tiếng vọng huyền bí của
trí nhớ bao trùm từ những nấm mồ của các nhà ái quốc cho đến hết
thảy mọi trái tim của những người còn sống ở trong khắp đất nước
này sẽ trờ thành bài ca đồng điệu của toàn thể quốc gia, và khi xúc
động thì chắc chắn sẽ là những thiên thần lộng lẫy trong vũ trụ của
chúng ta.” [Nguyên
văn: “When Abraham Lincoln became President of the “We are not enemies, but friends. We
must not be enemies… The mystic chords of memory, streching from every… patriot grave
to every living heart and hearthtone all over this broad land, will yet swell the chorus,
as surely they will be, by the better angels of our nature.”][ii]
Chiến tranh thực sự bùng nổ vào 4:30 sáng ngày
12/4/1861, kéo dài gần 4 năm trời và thực sự chấm dứt vào ngày 9/4/1865
khi Tướng Robert E. Lee, tổng chỉ huy quân đội miền Nam, đầu hàng Tướng
Ulysses Grant, tư lệnh chiến truởng của quân đội miền Bắc. Bàn tay của Giáo
Hội La Mã trong cuộc nội chiến Hoa Kỳ: Bốn năm chiến tranh đã gây
ra không biết bao đau thương khốn khổ, tổn thất rất nhiều về nhân mạng
và tài sản cho nhân dân của cả hai miền Nam và Bắc. Đây là điều không
thể nào tránh được khi đã có chiến tranh xẩy ra. Tuy nhiên, có một điều
làm cho nhân dân thế giới phải hết sức kinh tởm là trong khi tiến hành
chiến tranh, Tổng Thống Lincoln phát hiện
được việc Giáo Hội La Mã đã xúi giục miền Nam đẩy mạnh chiến tranh
chống miền Bắc để đóng vai trò ngư ông thủ lợi. Lời tuyên bố của
Tổng Thống Abraham Linclon được sách Smokescreens ghi lại dưới đây cho
chúng ta thấy rõ sự kiện này: "Cuộc
nội chiến này sẽ chẳng bao giờ xẩy ra nếu không có ảnh hưởng ác độc
của Dòng Tên. Vì chính sách (xâm thực) của Giáo Hội La Mã mà giang sơn
chúng ta đã nhuộm đầy máu của
chính những người con cao quý nhất của chúng ta. Dù rằng giữa miền Nam
và miền Bắc có nhiều khác biệt lớn lao về vấn đề nô lệ, nhưng cả
Tổng Thống Jeff Davis (của miền Nam) cũng như tất những nhân vật lãnh đạo
khác trong chính quyền miền Nam, không có ai dám nghĩ đến việc tấn công
miền Bắc nếu họ không trông cậy vào những lời hứa hẹn của Dòng
Tên rằng nếu miền Nam tấn công miền Bắc thì Giáo Hội La Mã, và ngay cả
nước Pháp nữa, sẽ gửi tiền bạc và vũ khí đến tiếp viện cho họ. Khi nhân dân Hoa Kỳ nhận thức được rằng
chính các ông giám mục và tất cả các tu sĩ khác của Giáo Hội La Mã ở
Hoa Kỳ phải chịu trách nhiệm về cuộc chiến đẫm máu và đầy nước mắt
này, tôi cảm thấy thương xót cho họ. Từ sự hiểu biết tình hình của
đất nước, tôi phải giấu kín những gì tôi biết về vấn đề này; vì
rằng nếu nhân dân Hoa Kỳ biết hết sự thật (về chuyện này) cuộc
chiến sẽ biến thành cuộc chiến tranh tôn giáo, sẽ trở nên tàn khốc với
tất cả đặc tính của một cuộc chiến tranh tôn giáo và máu của người dân Hoa Kỳ sẽ đổ ra gấp
mười lần. Ở vào trường hợp này, cả miền "Tổng Thống Abraham Lincoln nói tiếp: "Có
phải là một sự vô lý hay không, nếu đem cho một người một cái gì mà
chính họ đã thề thù ghét, nguyền rủa và hủy diệt? Và vào bất kỳ khi nào có thể làm được
một cách an toàn, Giáo Hội La Mã có thù ghét, nguyền rủa và hủy diệt tự
do lương tâm hay không? Tôi là người
đứng về phía tự do của lương tâm theo ý nghĩa
cao thượng nhất, rộng rãi nhất và cao cả nhất. Nhưng tôi
không thể nào lại trao tự do lương tâm cho Giáo Hoàng và những người tín
đồ của ông ta khi mà qua các công đồng của họ, qua các nhà thần học
của họ và qua luật thánh của họ, tôi vẫn còn nghe thấy tiếng nói lương
tâm của họ ra lệnh cho họ phải thiêu đốt và bóp cổ vợ con tôi cho đến
chết, và cắt cổ tôi khi mà họ có cơ hội!.
Nhân dân ta ngày nay hình như chưa hiểu được điều này.
Nhưng rồi sớm hay muộn, ánh sáng của
công lý sẽ làm sáng tỏ điều này, và khi đó tất cả mọi người sẽ
hiểu rằng không thể nào trao tự do lương tâm cho những người đã thề
phải tuân phục một ông Giáo Hoàng tự phong cho chính mình cái quyền được
sát hại những người khác biệt niềm tin tôn giáo với ông ta." [Nguyên
văn: "This war would never been possible
without the sinister influence of the Jesuits. We owe it to the popery that we now see our
land reddened with the blood of her noblest sons. Though there were great differences of
opinion between the South and the North on the question of slavery, neither Jeff Davis nor
anyone of the leading men of the Confederacy would have dared to attack the North, had
they not relied on the promises of the Jesuits, that, under the mask of Democracy, the
money and the arms of the Roman Catholic, even the arms of France were at their disposal,
if they would attack us. I pity the priests, the bishops and monks of "And then President Abraham Lincoln went on to say:
"Is it not an absurdity to give a man a thing which is sworn to hate, curse, and
destroy? And does not the Church of Rome hate, curse and destroy liberty of conscience
whenever she can do it safely? I am for liberty of conscience in its noblest, broadest,
highest sense. But I cannot give librerty of conscience to the Pope and to his followers,
the Papists, so long as they tell me, through all their councils, theologians, and canon
laws, that their conscience orders them to burn my wife, strange my children, and cut my
throat when they find their opportunity! This does not seem to be understood by the people
today. But sooner or later, the light of common sense will make it clear to every one that
no liberty of conscience can be granted to men who are sworn to obey the Pope, who
pretends to have right to put death those who differ from him religion."].[iii]
Việc Giáo Hội La Mã xúi giục các tiểu bang miền Nam ly khai, viện trợ tài chánh cùng nhân sự và tích
cực tiếp tay cho miền Nam tiến hành chiến tranh chống lại miền Bắc khiến
cho chính quyền Hoa Kỳ cắt đứt quan hệ ngoại gia với Tòa Thánh Vatican kể
từ đó. Sự kiện này được ông Lương Minh Sơn ghi lại sự kiện này như sau: "Đối
với Hoa Kỳ, mặc dầu là đất nước được
gây dựng trên nền tảng luân lý và đạo đức của niềm tin nơi Thiên
Chúa (Judeo-Christian), tổ tiên của người Mỹ là những người Âu Châu đã
từng bỏ chạy qua đây để tránh sự ruồng bắt của Tòa Thánh La Mã
trong thời kỳ "Inquisition" . Thành thử, Hiến Pháp Hoa Kỳ nghiêm cấm
và tách rời mọi sự liên hệ về quyền
lực chính trị giữa chính quyền và tôn giáo, không phải chỉ vì trình
độ ý thức chính trị cao mà còn là vì những kinh nghiệm đau đớn có thật
lúc trước. Nếu Hoa Kỳ đã cấm bang giao với Cộng Sản Trung Quốc trong
23 năm (1949-1972), với Cộng Sản Việt Nam trong 19 năm (1975-1994) vì không tương quan trên chính kiến
và quyền lợi, thì Hoa Kỳ cũng đã từng cấm bang giao với Vatican trong
117 năm (1867-1984). Điều này cho thấy, trong thập niên 1950, Ngô Đình Diệm được Đức Hồng Y Spellman và các Ủy
Viên Chính Trị Tôn Giáo của một số nhà thờ
Mỹ đưa đi gặp một số giới chức Hoa Kỳ
chẳng những phải bằng trường hợp bí mật để che dấu nhân
dân Hoa Kỳ mà còn không thể nào hợp pháp được với hiến pháp của Hiệp
Chủng Quốc. Trong khi ông Diệm cho giới chức Hoa Kỳ biết rằng ông "tin
tưởng vào Vatican và ông chống Cộng cực lực" thì năm 1960, Thượng
Nghị Sĩ John F. Kennedy đã phải khẳng định với Phó Tổng Thống Richard Milhous Nixon và hàng chục triệu người
Mỹ rằng mọi quyết định của ông trên cương vị của một Tổng Thống
Hiệp Chủng Quốc sẽ không thể nào bị chi phối bởi tôn giáo của ông. Lý do là vì ông Kennedy
đang tranh cử để trở thành tổng thống, đầu tiên và duy nhất của Hoa
Kỳ cho đến ngày hôm nay là người Thiên Chúa Giáo La Mã, trong một quốc
gia mà gần 80% dân số không phải là những người có cùng giáo phái, và không
có quyền bang giao với Vatican, {WAR. Census of Religious Groups in Richard
M. Nixon và dư luận người Mỹ thắc mắc về trường hợp tín ngưỡng của
John F. Kennedy không phải vì tôn giáo nhưng là vì chính trị. Hoa Kỳ là một
quốc gia chấp nhận đa tôn giáo với hơn 180 hệ phái từ đủ mọi tôn giáo, trong đó có khoảng
60 triệu là người Thiên Chúa La Mã. Vatican vừa là Tòa Thánh với nhiệm vụ
phát huy và bảo tồn giáo luật, vừa là một quốc gia có nhiệm vụ phát
biểu và khẳng định quan điểm chính trị để bảo vệ quyền lợi đối
với các quốc gia khác trong cộng đồng thế giới. Và Kennedy muốn trở
thành tổng thống của một quốc gia đang bị cấm bang giao với quốc gia mà
tâm linh ông tin tưởng là điều mà nhân dân Hoa Kỳ có quyền biết trong năm
1960. Nỗi thắc mắc này đã hiện ra trong cuộc bỏ phiếu với sự kiện
Kennedy được trội hơn Nixon chỉ có 113.067 dân phiếu trong tổng số 69 triệu
phiếu đi bầu, có nghĩa là chưa được 2 phần ngàn số phiêu [6], [TRA,
"Political Events - 1960". Thành thử, nếu Ngô Đình Diệm đã trở
thành một "Spanish Inquisitor" thì ngay cả Kennedy cũng không thể nào
có thẩm quyền để tiếp tục dung túng ông. Và nếu vấn đề
"Inquisition" đã từng có thật ở miền Đánh bại được miền Trong bất kỳ một xã hội văn
minh nào cũng đều có quy luật thưởng phạt phân minh, có suy tôn và vinh danh, thì
phải có lên án và nguyền rủa. Trong cuộc chiến thống nhất đất nước
này, nhân dân Hoa Kỳ đã vinh danh và suy tôn Tổng Thống Abraham Lincoln và Tướng
Ulysses S. Grant, chỉ huy quân đội miền Bắc đánh bại quân đội miền
Nam, thì tất nhiên cũng phải lên án và nguyền rủa những kẻ chủ mưu và
xúi giục các nhà cầm quyền các tiểu bang miền Nam ly khai và phát động
chiến tranh chống lại chính quyền Liên Bang Hoa Kỳ. Như đã trình bày ở trên, “những âm mưu tiêu hủy chế độ Cộng Hòa
Hoa Kỳ được hoạch định ở ngay trong Tòa Thánh Lý do là
vì họ đã “nhập cảnh vào Hoa Kỳ những
người với bề ngoài là truyền đạo, dạy học và săn sóc những người
ốm đau, mà thực chất chỉ là những tên gián điệp của Giáo Hoàng, của
Napoleon (Đệ III của nước Pháp) và của những tên bạo chúa khác ở Âu châu đến đây để phá
hoại những cơ cấu chính quyền của chúng ta, làm cho nhân dân ta mất thiện
cảm với hiến pháp và luật lệ của chúng ta, để phá hoại các trường
học của chúng ta. Mục đích của họ là làm cho đất nước chúng ta trở thành hỗn loạn, một
tình trạng vô chính phủ như họ đã làm ở Ái Nhĩ Lan, ở Mễ Tây Cơ,
ở Tây Ban Nha, và ở bất kỳ nơi nào mà nhân dân ở đó muốn được sống
đời tự do.” Một trong những bằng chứng của
hành động lên án và khinh bỉ này là Hoa Kỳ đã cắt đứt quan hệ ngoại
giao với Tòa Thánh 3.- CUỘC CHIẾN CHỐNG LẠI VÀ THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC CỦA DÂN
TỘC Ý Ý Đại Lợi thường được gọi
vắn tắt là nước Ý. Ý là một trong những nước Âu Châu nằm trên ven bờ
Địa Trung Hải. Hoàn cảnh chính trị của quốc gia này khá phức tạp hơn
các nước Âu Châu khác vì có Đế Quốc Vatican chiếm một phần lớn lành
thổ tại Kinh Thành Rome và một số tiểu quốc gọi là Papal States. Cho tới
thập niên 1840, nước Ý vừa là một tập hợp các tiểu quốc không
cùng một chính quyền vừa nằm trong vùng tranh chấp ảnh hưởng của ba thế lực Pháp, Áo và
Tòa Thánh Vào đầu thâp niên 1830, nước Ý
còn bao gồm nhiều tiểu quốc riêng rẽ. Một số nằm dười quyền thống
trị của
Vatican và một số nằm dưới quyền thống trị của các ông hoàng tay sai
của Pháp, hay tay sai của Áo, hoặc là tay sai của Một phần vì địa thế núi non lởm
chởm làm trở ngại cho việc thống nhất
đất nước, một phần khác khá quan trọng là do yếu tố lịch sử. Từ
khi Đế Quốc La Mã sụp đổ vào nửa cuối thế kỷ thứ 5, bán đảo Ý
Đại Lợi đã trở thành một miếng mồi béo bở cho các thế lực Âu
Châu tranh giành ảnh hường và muốn
làm chủ nhân ông bán đảo này. Nước Ý không những đã không có đất
đai phì nhiêu thuận lợi cho nông nghiệp mà còn thiếu cả những tài
nguyên và nguyên liệu cần thiết cho việc mở mang kỹ nghệ. Hai yếu tố
này là những nguyên nhân gây khó khăn cho nước Ý trở thành một quốc
gia hùng mạnh để có thể chống lại các cường lân xâm chiếm. Ngoài ra,
còn phải kể đến yếu tố lòng tham lam và lòng ích kỷ của nhóm thiểu số quý tộc và tu sĩ Da-tô.
Hai nhóm thiểu số ăn hại sống bám xã hội này sợ rằng nếu thống nhất
đất nước thì quyền lực chính trị sẽ thuộc về phe nhóm khác và họ
sẽ là những người thua thiệt, mất hết cả quyền lực chính trị và địa
vị ăn trên ngồi trước đã có sẵn của họ. Vì thế, họ luôn luôn khư khư ôm lấy quan niêm: Triều đình riêng một góc trời, Thiếu gì cô quả, thiếu gì
bá vương. (Nguyễn Du) Những yếu tố trên đây đã khiến cho nước Ý vào đầu thập niên
1870 vẫn còn ở trong tình trạng của một tập họp hổ lốn với nhiều
tiểu quốc, hỗn quân hỗn quan giống như tình trạng nước Trung Hoa trong
thời Đông Châu Liệt Quốc và Việt Nam trong thời Thập Nhị Sứ Quân, nhưng
còn tồi tệ và khốn nạn hơn nước Trung Hoa trong thời Đông Châu Liệt
Quốc và Việt Nam trong thời Thập Nhị Sứ Quân. Tại sao lại như vậy? Dưới đây
là lời gỉai thích: Nhân dân nước Trung Hoa trong thời
Đông Châu Liệt Quốc và nhân dân Việt Nam trong thời Thập Nhị Sứ Quân chỉ áp đặt dưới ách thống trị
của bọn lãnh chúa địa phương mà thôi. Trong khi đó, thì nhân dân Ý trước
năm 1870 ở vào cái thế một cổ hai tròng: Thứ nhất là cái tròng của bọn lãnh
chúa quý tộc địa phương. Thứ hai là
cái tròng của Phần trình bày trên đây cho chúng
ta thấy rõ thảm cảnh của người dân Ý trong thời kỳ từ năm 1870 trở
về trước. Nhân dân càng khốn khổ thì họ càng bất mãn với chính quyền
và bất mãn với thế lực quyền thế đương thời. Càng bất mãn thì họ
càng khao khát được giải thoát và sẵn sàng đi theo thế lực nào đáp
ứng được khát vọng của họ. Cũng vì thế mà phong trào quần
chúng mong muốn đất nước được thống nhất và giải thoát cái ách
Vatican càng ngày càng trở nên mãnh lịệt, nhất là từ khi Cách Mạng
Pháp bùng nổ vào tháng 7 năm 1789. Năm 1830, Phong
Trào Cách Mạng lại bùng lên ở Âu Châu nhưng
bị dập tắt, rồi lại bùng lên vào năm 1848, tiếp theo là Ba Lê Công Xã
ra đời với cuộc chiến đẫm máu chống lại bọn phong kiến phản động
ở ngay Kinh Thành Paris. Phong trào này đã làm cho tập đoàn phong kiến phản
động ở Âu Châu phải khiếp sợ. Các phong trào này đã làm cho các thế
lực phong kiến phản động ở Pháp,
ỏ Áo và Tòa CÁC PHONG TRÀO THỐNG NHẤT TIÊN KHỞI Đúng ra phong trào thống nhất nước
ở Ý cũng là tinh thần quốc gia Ý, nghĩa là chủ trương muốn hợp nhất
các tiểu quốc Ý thành một quốc gia duy nhất đủ lớn mạnh để có thể
đương đầu với các cường lân tham
lam hiếu chiến ở phương Bắc là hai đế quốc Pháp và Áo. Người viết
chưa có đủ tài liệu để có thể khẳng định phong trào này manh nha từ
bao giờ. Tuy nhiên, hầu như các nhà viết sử đều đồng ý rằng phong
trào này trở nên mãnh liệt từ cuối thế kỷ 18, sau khi Cách Mạng Pháp
1789 ít năm. Phong trào quốc gia có chủ đích vừa giải phóng nhân dân các
tiểu quốc Ý thóat khỏi ách thống trị của ba thế lực là bọn lãnh
chúa, bọn tu sĩ Da-tô phong kiến và các thế lực ngoại bang. Sau khi chính
quyền của Hoàng Đế Napoléon I hoàn toàn bị đánh bại vào năm 1815, thế
lực phong kiến phản động trở lại làm chủ lục địa Âu Châu và quyết
tâm tận diệt các phong trào cách mạng. Vì thế, các phong trào này phải tổ
chức thành những hội đoàn hay tổ chức bí mật giống như các đảng phái
cách mạng chính trị tại Việt Nam trong thời Liên Minh Pháp - Vatican thống
trị Việt Nam 1885-1954 và ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1963 dưới
ách thống trị của chế độ đạo phiệt Da-tô Ngô Đình Diệm. Một trong
những nhân vật lãnh đạo nổi tiếng của phong trào này là nhà ái quốc Giuseppe Mazzini. Chào đời vào năm 1805, ngày từ
khi vừa mới bước vào tuổi trưởng thành, Mazzini đã coi việc thống nhất nước Ý như là một
thứ tôn giáo đối với ông và ông quyết tâm hiến trọn cuộc đời cho
đại cuộc. Vì quyết tâm theo đuổi lý tưởng này mà ông phải vào tù ra khám nhiều lần rồi bôn đào sống lưu vong ở nơi xứ lạ quê
người trong nhiều năm. Năm 1831, ông kêu
gọi các nhà ái quốc Ý gia nhập tổ chức "Nước Ý Trẻ" (Young
Italy) để phổ biến rộng rãi lý tưởng "giải phóng và thống nhất
nước Ý" (Risorgimento). Ông gọi phong trào này là "Những người
anh em Ý tin tưởng vào Tiến Bộ và Nhiệm Vụ" (A Brotherhood of Italians
who believe in Progress and Duty.) Các cuộc Cách Mạng Pháp 1789, 1830
và 1848 đã ảnh hưởng mạnh mẽ vào
tâm hồn nhân dân Ý và làm nẩy sinh
phong trào tranh đấu cho nước Ý được
tự do và thống nhất, lật đổ chính quyền phong kiến Áo ở Lombardy và
Venetia. Thấy tình thế đã biến đổi do Cách Mạng Pháp 1848 gây nên,
chính quyền của các vương quốc Two Sicilies và Tuscany phải ban hành hiến
pháp để xoa dịu lòng căm phẫn của nhân dân khiến cho họ không cần phải
vùng lên làm cách mạng, nhưng đã quá muộn. Năm 1849, quân cách mạng tiến
chiếm kinh thành Rome, thành lập chính quyền Cộng Hòa, Mazzini cùng với hai đồng chí của ông
được đưa lên lãnh đạo tân chính quyền. Nhưng rồi vừa mới cầm quyền
chưa được bao lâu, chưa ổn định
được tình thế thì cách mạng bị quân đội của thế lực phong kiến và phản
động đè bẹp, Mazzini phải chạy trốn thoát thân và các bản hiến pháp
do cách mạng ban hành tại các tiểu quốc này lại bị hủy bỏ, chỉ còn
có tiểu quốc Sardinia còn giữ lại hiến pháp cách mạng mà thôi. Dù là bị thất bại, các nhà ái
quốc Ý vẫn kiên tâm tiếp tục tranh đấu cho lý tưởng thống nhất đất
nước và giải phóng nhân dân Ý thóat khỏi
ách thống trị của các thế lực phong kiến phản động. Họ
cùng đồng ý với nhau về đối tượng và mục tiêu tranh đấu để hoàn
thành đại cuộc thống nhất đất nước và thể chế chính trị (hình thức
chính quyền) sau khi đất nước đã
được thống nhất vì rằng lúc bấy giờ có ba nhóm có những ý kiến
khác biệt nhau về thể chế chính trị. Ba nhóm này là: 1.- Thứ nhất là nhóm tu sĩ và tín đồ Da-tô
ngoan đạo muốn rằng sau khi hoàn thành công cuộc thống nhất, nước Ý phải được tổ chức thành một
liên bang và đặt dưới quyền lãnh đạo của Giáo Hoàng. 2.- Thứ hai là nhóm Tự Do muốn thành lập một
nước Ý theo chế độ cộng hòa, chống lại chủ trương của giới tu sĩ
và tín đồ Da-tô. 3.- Thứ ba là một nhóm muốn theo chế độ
quân chủ lập hiến và đưa vua Victor Emmanuel của tiểu quốc Như vậy, rõ ràng là lập trường
chính trị của hai nhóm thứ nhất và nhóm thứ hai như nước với lửa, tất
nhiên không thể nào dung hòa được. Cuối cùng, đa số các nhà ái quốc
Ý tạm thời ngả về nhóm thứ ba tức là nhóm "Quân Chủ Lập Hiến".
NHÀ ÁI QUỐC CAVOUR TRONG CÔNG CUỘC THỐNG NHẤT NƯỚC Ý Phong trào thống nhất nước Ý
được gọi là phong trào Risorgimento. Vì các nhà ái quốc muốn dùng vương
quốc Sardinia làm căn cứ cách mạng, cho nên triều đình vương quốc
Sardinia được các nhà ái quốc hướng về để nuôi hy vọng, giống như
nhân dân Việt Nam trong thời gian từ năm
1941 đến mùa thu năm 1945 hướng về Việt Bắc như đã trình bày ở Chương 43, Phần II của bộ sách này. Như đã nói trên, Camillo Benso Cavour sinh ngày 10 tháng
8 năm 1810 tại Turin trong một gia đình
quý tộc. Tuy là xuất thân từ một gia đình quý tộc, nhưng vì gia đình
ông gắn bó với chế độ của Hòang Đế Napoléon I, cho nên ông bị ảnh
hường của tư tưởng Voltaire và Cách Mạng Pháp 1789. Năm 1847, ông cho xuất
bản một tờ báo với chủ trương truyền bá tư tưởng quốc gia (thống
nhất). Năm 1848, ông trở thành một trong những người lãnh đạo phong trào
Cách Mạng, và năm 1852 ông trở thành thủ tướng của vương quốc
Sardinia. Cũng nặng lòng ái quốc như
Mazzini, nhưng khác với Mazzini, ông nặng về thực tế trong khi Mazzini thiên về lý tưởng. Nhờ
ở vào tư thế có quyền lực trong tay, Cavour dồn hết nố lực vào việc
canh tân xứ sở, cải tổ quân đội,
thiết lập các nhà ngân hàng, khuếch trương kỹ nghệ, mở mang các đường
giao thông, đặc biệt là hệ thống đường xe lửa, khuyến khích việc đóng
tầu, gửi người đi thương thuyết với các quốc gia khác để mở rộng
nền ngoại thương. Đặc biết nhất là ông nêu lên khẩu hiệu "Giáo Hội tự
do trong một quốc gia tự do" vởi chủ
đích giảm bớt ảnh hưởng của Giáo Hội La Mã trong chính quyền và trục
xuất bọn tu sĩ Dòng Tên ra khỏi đất nước.” ("Under "a free church in a Việc nước Áo thống
trị hai tiểu quốc Lombardy và Venetia ở
phía bắc nước Ý là một trở ngại vô cùng lớn lao cho việc thống nhất
nước Ý. Vì thế, Cavour phải tìm cách liên minh với các nước khác để
chống lại nước Áo, và ông đã liên
kết được với nước Pháp (trong thời
Hoàng Đế Napoléon III) để chống lại nước Áo. Thực ra, lúc đầu Hoàng Đế Napoléon
III rất miễn cưỡng vì sợ rằng
liên minh với Sardinia chống lại nước Áo, có nghĩa là chống lại Giáo Hội
La Mã, tức là chống lại khối giáo dân Da-tô ở Pháp. Sau đó, ông lại
nghĩ rằng liên minh với Sardinia là để
triệt hạ thế lực của nước Áo ra khỏi bán đảo Ý. Như vậy, nước
Pháp có cơ may bành trướng ảnh hưởng trên đất Ý. Về phần Cavour, ông tin rằng nếu
nước Áo không còn ảnh hưởng ở Ý nữa thì các tiểu quốc khác ở
trên bán đảo Ý sẽ gia nhập Liên Bang Ý. Như vậy, nước Ý sẽ trở nên
hùng mạnh và có thể đương đầu với cả Pháp và Áo. Năm 1858, chính quyền Cavour của Ký xong mật ước với Pháp, năm
1859, Thủ Tướng Cavour của vương quốc Cuộc chiến Áo - Ý bủng nổ vào
tháng 4 năm 1859, khởi đầu liên quân Pháp - Sardinia đại thắng, và quân
Áo bị quét sạch ra khỏi lành thổ tiểu
quốc Lombardy. Thừa thắng, Liên Quân Pháp – Sardinia tiến vào lãnh thổ tiểu quốc Liên quân Pháp - Sardinia đang trên đà chiến thắng
và giữa khi khát vọng thống nhất toàn thể lãnh thổ nước Ý gần như sắp
được toại nguyện, thì đột nhiến, tháng 7 năm đó, triều đình
Napoléon III trở mặt với Sardinia, đơn phương ký mật ước ngưng chiến với
Áo. Theo mật ước này, Lombardy sẽ được sáp nhập vào Sardinia, và Áo sẽ
được quyền chiếm Venetia, Tuscany, Modena và Parma.
Cũng nên biết rằng vào thời điểm
này, chính quyền Áo nằm trong tay phe bảo thủ phong kiến liên kết chặt
chẽ với Tòa Thánh Việc trở mặt của Hòang Đế
Napoléon III khiến cho cuộc chiến thống
nhất nước Ý của nhà ái quốc Cavour phải
khựng lại và hầu như đứng trên bờ
vực thẳm nguy hiểm mà kẻ thù chính ở hậu trường sân khấu chính trị
trong cuộc chiến này là Giáo Hội La Mã đang tìm đủ mọi cách để huỷ
diệt công trình thống nhất của nhân dân Ý. Tuy rằng trở mặt với Sardinia,
Napoléon III cũng vẫn đòi Sardinia phải thi hành lời hứa nhường hai thị
trấn Nice và Savoy cho Pháp như đã cam kết trong mật ước 1858. Sợ rằng
già néo đứt giây, làm găng với kẻ mạnh chỉ là lãnh thêm những thiệt
thòi, rồi lại mất cả chì lẫn chài, vua Victor Emmanuel II đành phải nhường
hai thị trấn Nice và Tuy nhiên, nhân dân Ý vẫn chưa chịu
bỏ cuộc. Các lực lượng ái quốc tại Thế nhưng, Hoàng Napoléon III của
nước Pháp lại chống lại việc Romagna sáp nhập vào Đến đây, con đường thống nhất
đất nước Ý đã đi qua một giai đọan khởi đầu. Phần còn lại hết sức
gay go và vô cùng khó khăn vì kẻ thù nguy
hiểm của dân tộc Ý là Vatican đóng đô ở ngay trên các ngọn đồi
Vatican nằm trong lãnh thổ nước Ý và đã dùng chiêu bài tôn giáo để mê
hoặc dân Ý chống lại khát vọng thống nhất tự do của dân tộc Ý. Khát vọng thống nhất đất nước chưa hoàn thành thì ngày 6 tháng 6 năm 1861,
Cavour qua đời để lại đại cuộc còn dang dở cho thế hệ đàn em của
ông nối tiếp. Đọan đường còn dang dở đó là Tòa Thánh Vatican còn nằm
chềnh ềnh trong lòng nước Ý vẫn cương quyết chống lại ý chí thống
nhất đất nước của dân tộc Ý, và vướng quốc Lưỡng Sicilies vẫn còn nằm dưới ách thống trị của
ông vua Da-tô bảo thủ Francis II thuộc dòng họ Bourbon của các vua Louis
XIII (1601-1643) Louis XIV (1643-1715), XV (1715-1774), XVI (1774-1792), XVIII
(1814-1824), Charles X (1824-1830) và Louis Philippe (1830-1848) của nước Pháp. NHÀ ÁI QUỐC GIUSEPPE GARIBALDI VÀ ĐÒAN QUÂN CÁCH MẠNG ÁO ĐỎ Giuseppe Garibaldi sinh tại Nice ngày 4 tháng 7 năm 1807 tại Nice. Lớn lên, ông gia nhập Phong
trào Nước Ý Trẻ của nhà ái quốc Mazzani. Năm 1834, ông phải trốn ra ngọai
quốc sống lưu vong vi lúc đó phong trào ái quốc này đang bị chính quyền
đương thời đàn áp dữ dội. Trong thời kỳ lưu vong này, ông phiêu bạt
lang thang từ Châu Mỹ La Tinh tới Hoa Kỳ.
Mãi tới năm 1854, ông mới trở về nước Ý. Nhờ được tiền tài trợ của Thủ
Tướng Cavour, Garibaldi chiêu mộ nghĩa sĩ thành lập một lực lượng võ
trang có tới hơn một ngàn quân (tương đương một trung đoàn) với quân
phục màu đỏ. Vi vây mà đạo quân
cách mạng của ông được mệnh danh là "Đoàn Quân Áo Đỏ". Mùa
xuân năm 1860, Garibaldi cùng Đòan Quân Cách Mạng Áo Đỏ của ông đổ
bộ lên đảo Garibaldi dự tính sẽ tiếp tục tiến
lên đánh chiếm Mùa thu năm 1860, Cavour thân hành đến
CHẶNG ĐƯỜNG CHÓT PHẢI HOÀN
THÀNH Năm 1860, chính quyền Sardinia tổ
chức tổng tuyển cử trên toàn thể lãnh thổ để thống nhất nước Ý,
ngọai trừ Venetia và Đến đây, ta thấy rằng, trên lý
thuyết, nước Ý đã được thống nhất, nhưng trong thực tế Venitia vẫn
còn nằm dưới ách thống trị của người Áo, và phần miền Tây của
các tiểu quốc kế cận kinh thành Rome vẫn còn nằm trong tay của Tòa
Thánh Vatican. Sự kiện này khiến cho các nước Âu Châu ở vào thế phải
chọn lựa: Hoặc là nhìn nhận tân quốc gia Ý mới thống nhất, tức là
chống lại Giáo Hội La Mã, hoặc là
ủng hộ Giáo Hội La Mã và chiến đấu chống lại nước Ý mới thống nhất.
Tình thế này làm cho Hòang Đế Napoleon III của nước Pháp phải băn khoăn
suy nghĩ. Cuối cùng, ông đã nghĩ ra được một biện pháp vừa
không phải tuyên chiến với tân quốc gia Ý mới thống nhất, vừa làm hài lòng Giáo Hội La Mã. Biện
pháp đó là gửi một đạo quân đến trú đóng tại kinh thành Như vậy là vào năm 1861, công cuộc
thống nhất nước Ý chưa được hoàn thành. Năm 1866, chiến tranh Phổ -
Áo bùng nổ. Lợi dụng Áo đang phải bận tâm đối phó với nước Phổ
ở phương Bắc, Ý đem quân tiến chiếm "Ngày 19 tháng 8 năm 1970, quân đội Pháp lo bảo
Vệ Tòa Thánh Cháu
yêu quý: Tất
cả đã hết rồi. Không có tự do, không thể nào quản lý được Giáo Hội.
Hãy cầu nguyện cho ta và cho tất cả các con. Ta chúc phúc cho các con." Nguyên văn:"On August 19,
1870, the protecting French troops withrew definitely. With the battle of Dear
Nephew: All
is over. Without liberty, it is impossible to govern the Church. Pray for me, all of you.
I bless you. Pius P. IX."[vi]
Đến đây, cuộc chiến của nhân
dân Ý chống lại Tòa Thánh Vatican, chống lại hai cường lân là đế quốc
Pháp và đế quốc Áo để thống nhất đất nước đã hoàn thành. Cũng như chính quyền và nhân dân
Hoa Kỳ, chính quyền Cách Mạng 1870 và nhân Ý cũng áp dụng chính sách thưởng
phạt phân minh dể “hoằng dương chính
khí”. Vì thế, những người có chiến công lớn nhất của đại
cuộc này là các nhà ái quốc Giuseppe Mazzini, Camillo Benso Cavour và Giuseppe Garibaldi đều được nhân dân
Ý tôn vinh và đặt tên cho các trường học, công viên, công thự và các
đường phố trong các thành phố trên toàn quốc nước Ý. Đồng thời, chính
quyền Cách Mạng Ý 1870 cũng thẳng tay trừng trị Tòa Thánh Vatican bằng
cách “chiếm đoạt hết tất cả của cải
trong đó, chỉ có Ngọn Đồi Vatican là họ không rớ tới. Quốc Gia của
Giáo Hoàng không còn tồn tại nữa. Diện tích của quốc gia này từ 16
ngàn dặm vuông bị cắt xén, còn lại
chỉ có 480 ngàn mét vuông.” Và cũng
từ đó, những thằng Ý gian làm tay sai cho Tòa Thánh Vatican, cho Pháp và cho
Áo đề bị nhân dân ý căm thù, đời đời nguyền rủa và khinh bỉ gọi
là những thằng Ý gian, những thằng Ý “cõng rắn cắn gà nhà”. Chú thích: |