
Ý chí thống nhất đất nước… tiếp theo Nguyễn Mạnh Quang 4.- CÁC CUỘC CHIẾN THỐNG NHẤT ĐẤT
NƯỚC Hơn các dân tộc nào khác, dân tộc
Việt Lần
thứ nhất xẩy ra vào thế kỷ 10, kéo dài từ năm 945 đến năm 967. Sách
sử gọi thời kỳ này là thời Thập Nhị Sứ Quân. Trong những năm đất
nước ở trong tình trạng phân chia như vậy, nhân dân ta trở thành những
nạn nhân kẹt cứng giữa trong cuộc chiến tương tàn giữa các phe phái
phong kiến ích kỷ chỉ biết đến quyền lợi riêng tư của họ và phóng
tay chém giết đối phương, tàn sát những người bị tình nghi không phải
là phe của chúng. Nhưng rồi vận nước còn may, lúc đó có người anh hùng
Đinh Tiên Hoàng nổi lên dẹp tan được
bọn lãnh chúa địa phương, đem lại thống nhất đất nước cho dân tộc
vào năm 967. Lần
thứ hai xẩy ra vào thế kỷ thứ 16 kéo dài từ năm 1533 cho đến 1592.
Sách sử gọi là thời kỳ này gọi là Nam Triều - Bắc Triều. Nam Triều
là thế lực do ông Nguyễn Kim - Trịnh Kiểm lãnh đạo mưu đồ phục hưng
nhà Lê, và Bắc triều là thế lực của Mạc Đăng Dung và con cháu của
ông. Sau này, ông vua chót của nhà Mạc là Mạc Ngọc Liễn bị đại bại
chạy sang Tầu tị nạn. Cũng may cho đất nước ta, trước khi nhắm mắt lìa
đời, Mạc Ngọc Liễn để lại di ngôn dặn con là Mạc Kính Cung như đã
nói ở trên. Vì thế mà con cháu nhà Mạc không
còn tính chuyện phục hồi cơ nghiệp nữa. Nhờ vậy mà đất nước ta
được thống nhất. Lần
thứ ba kéo dài từ năm 1627 cho đến năm 1775. Sử gọi là Thời Kỳ Trịnh
Nguyễn Phân Tranh. Vào đầu thập niên 1770, anh em ông Nguyễn Nhạc, Nguyễn
Huệ và Nguyễn Lữ nổi lên đập tan chế độ phong kiến thối nát ở miền
Nam của Chúa Nguyễn, lập ra nhà Tây Sơn, rồi lợi dụng tình hình, kéo
quân ra Bắc đánh tan họ Trịnh khởi tiến cho việc thống nhất đất nước
vào cuối thập niên 1770. Lần
thứ tư gần đây nhất, xẩy ra vào giữa thập niên 1950. Đây là một
trong những một hậu quả do tình trạng Việt 1.- Tạm thời chia đôi nước Việt
2.- Vào khoảng tháng 7 năm 1955, chính
quyền hai miền sẽ thảo luận với nhau để chuẩn bị tổ chức một cuộc
tổng tuyển cử vào tháng 7 năm 1956. 3.- Trong thời gian chờ đợi đến
ngày tổng tuyển cử hai năm này (từ tháng 7 năm 1954 đến tháng 7 năm
1956) miền Bắc tạm thời thuộc quyền cai trị của Mặt Trận Việt Minh và
miền Nam tạm thời thuộc quyền cai trị của Pháp. Trong thực tế, tại miền Nam,
ngoài đạo quân viễn chinh Pháp, còn có chính quyền tay sai của Liên Minh
Pháp – Vatcian được cho ra đời vào ngày 5 tháng 6 năm 1948 với danh xưng
là chính quyền Quốc Gia do ông Bảo Đại làm Quốc Trưởng (lúc đó đang
ở Pháp). Ngày 19/6/1954, dưới áp lực của Liên Minh Thánh Mỹ - Vatican và chính quyền Pháp, Quốc Trưởng Bảo Đại
phải bổ nhậm ông Ngô Đình Diệm, một tín đồ Da-tô cuồng tín và là
tay sai của Vatican, giữ chức vụ thủ
tướng với toàn quyền quân sự và dân sự, thay thế Thủ Tướng Bửu Lộc.
Từ khi ông Diệm chính thức nhậm
chức, vai trò của người Pháp ở Đông Dương bị mất dần ảnh hưởng,
và quyền lực chuyển sang tay Hoa Kỳ và Tòa Thánh Thoạt tiên, vì lo ngại chính phủ
Ngô Đình Diệm sẽ thua chính phủ Hồ Chí Minh khi có tổng tuyển cử,
chính phủ Tổng thống Dwight Eisenhower (1953-1961) chưa hoàn toàn ủng hộ
ông Diệm. Là một siêu cường, Hoa Kỳ không muốn bị mang tiếng là yểm
trợ một con ngựa thua cuộc. Bởi thế, Hoa Kỳ đã khuyến khích chính phủ
Pháp tiếp tục duy trì quân đội viễn chinh Pháp ở lại miền Nam vĩ tuyến
17 cho tới tháng 7 năm 1956, hy vọng sẽ tìm được một giải pháp thỏa đáng.
Từ tháng 1 năm 1955, sau khi Đai Sứ Lawton Collins cùng hai vị Đại Sứ Hoa Kỳ
tại Lào và Miên đều đồng ý rằng có triển vọng để thành công trong
việc thành lập một miền Nam chống Cộng mà chỉ phải chi ra một
số tiền tương đối nhỏ về quân viện và kinh viện. Sau những chiến dịch
loại bỏ được cả Bình Xuyên và các giáo phái miền Nam, chính phủ Hoa Kỳ
lại càng lạc quan và thay đổi cái nhìn về ông Diệm, rồi công khai và
tích cực yểm trợ chính quyền của ông ta. Vì công khai và tích cực ủng hộ chính quyền
Ngô Đình Diệm, cho nên, một mặt, Hoa Kỳ quay mặt làm ngơ để (thực ra, là do Hoa Kỳ đạo diễn)
cho ông Diệm phát động phong trào chống Pháp và tổ chức trưng cầu dân
ý truất phế Quốc trưởng Bảo Đại ngày 23 tháng 10 năm 1955. (Xem Chính
Đạo, Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng, sđd, tr. 151-242). Mặt khác, Hoa Kỳ
tích cực làm hậu thuẫn cho ông Ngô Đình Diệm chống lại việc tổ chức
tổng quyền cử để thống nhất đất nước như Thỏa Hiệp Genève 1954 đã
dự trù sẽ được tổ chức vào tháng 7 năm 1956. Trong cuốn Nói Chuyện Với
Tổ Chức Việt Nam Cộng Hòa Foundation, người viết đã ghi nhận: “Mới
đây, trong tập Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng, do nhà xuất bản Văn Hóa
ấn hành vào tháng 3/2004 (tr. 127-149), tác giả Chính Đạo đã chứng minh
rõ ràng là chính phủ của Thủ tướng Ngô Đình Diệm vi phạm Hiệp định
Geneva, với sự tiếp tay "vô điều kiện" của chính phủ Mỹ.
Trên thực tế, Hiệp ước Geneva chỉ là hiệp ước đình chiến quân sự
giữa hai phe Việt Minh và Pháp ký vào đêm 20 rạng ngày 21/7/1954; với điều
kiện là sẽ tổ chức tổng tuyển cử trong vòng hai năm để quyết định
thể chế chính trị Việt Nam trong tương lai. Phe Quốc Gia Việt Nam của Quốc
trưởng Bảo Đại và Thủ tướng Ngô Đình Diệm không được quyền thảo
luận hay ký kết Hiệp định này. Bởi thế, Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ
chỉ biết yêu cầu phiên họp khoáng đại cuối cùng của Hội nghị Geneva
vào ngày 21/7/1954 ghi vào biên bản rằng chính phủ Quốc Gia Việt Nam cực
lực phản kháng việc ký Hiệp ước, và từ chối ký vào tuyên cáo chung.
Sau đó, phe chính phủ Quốc Gia Việt Nam chẳng những không nhìn nhận
Hiệp ước Geneva, mà còn công khai vi phạm điều khoản hiệp
thương, tổng tuyển cử, với lý do không ký vào Hiệp ước Geneva, và
không thể có bầu cử tự do ở miền Bắc vĩ tuyến 17, tự lập ra một
"nước" chống Cộng. Như thế, sự
khai sinh của Việt Nam Cộng Hòa chỉ là thứ luật kẻ mạnh; vì thế giới
ngán sợ sức mạnh của siêu cường Mỹ nên quay mặt làm ngơ.
…”[1]
Việc ông Ngô Đình Diệm cương quyết chống lại
việc tổ chức tổng tuyển cử thống nhất đất nước được sử gia
Avro “Được
Hoa Kỳ ngầm ủng hộ, đã từ lâu, Diệm quyết định là không có tổng
tuyển cử và tiến hành thiết lập bộ máy cảnh sát có thể tin cậy được
để chuẩn bị khi phải đối phó với cả nội loạn bùng lên ở miền
Nam và với quốc tế. Việc từ chối tổng tuyển cử như vậy đã khiến
cho miền Bắc phải sử dụng đến biện pháp quân sự; trong khi đó thì
ở miền Nam, quân du kích và các nhà
ái quốc bất mãn có thể sẽ vùng lên chống lại việc chính quyền Ngô
Đình Diệm vi phạm Thoả Hiệp Geneva 1954. Khi đến ngày tổng tuyền cử như Thoả Hiệp Geneva đã
quy định, được Hoa Kỳ ủng hộ, Diệm từ chối.” (“Diem, having
decided long ago in secret accordance with the U.S. not to have the election, had to build
a reliable police machinery, in case of trouble, not only in the domestic, but also the
international fields. The refusal might have provoked the North to take drastic military actions; while
in the South, guerrillas and discontented patriots might have risen up in revolt against
Diem’s breach of the solemn Sự kiện này được cụ Đoàn
Thêm ghi lại trong cuốn 1945-1954 Việc
Từng Ngày Hai Mươi Năm Qua với nguyên văn như sau: “16/7/1955.-
Th. T. Ngô Đình Diệm tuyên bố: Việt Nam không ký kết Hiệp Định Genève,
nên không bị ràng buộc, song vẫn trung thành với chánh sách hòa bình, và
sẵn sàng tổ chức tổng tuyển cử nếu có thể bầu được tự do.”[3]
Sách Việt “16/7/1955:
Sàigòn: Diệm tuyên bố trên đài phát thanh là không chấp nhận tổng tuyển
cử. Ngoài ra, không có bằng chứng nào cho thấy Bắc Việt đặt quyền lợi
quốc gia lên trên quyền lợi Quốc Tế Cộng Sản. (Gravel, I:287).” [4]
Ông Ngô Đình Diệm nói rằng, “không có bằng chứng nào cho thấy Bắc Việt
đặt quyền lợi quốc gia lên trên quyền lợi Quốc Tế Cộng Sản,”
nhưng chính ông đã tuyên bố với các với các chính khách Hoà Kỳ rằng
ông “tin tưởng vào quyền lực của
Vatican…” và sau đó lại cũng chính
ông cho tổ chức một buổi đại lễ cùng long trọng và mời sứ thần của Vatican là Hồng Y Agagianian đến giữ vai trò
chủ tế buổi đại lễ này để dâng nưỡc Việt Nam cho Tòa Thánh Vatican
với danh nghĩa tàng hình là “Dâng nước
Việt Nam cho Đức Mẹ Vô Nhiễm.” (Xin xem lại Chương 60.) Hành động
này cho chúng ta thấy ông Diệm đã làm một chuyện mà người Việt Một sự kiện cần phải chú ý là, cũng là tín
đồ Da-tô của Giáo Hội La Mã, tháng 11 năm 1960, Thượng Nghị Sĩ John F.
Kennedy đắc cử Tổng Thống, rồi từ khi tuyên thệ nhậm chức vào 12 giờ
trưa ngày 20 tháng 1 năm 1961, cho đến khi từ
trần vào khoảng 2 giờ chiều ngày 22/11/ 1963, Tổng Thống Kennedy không hề
tổ chức một buổi đại lễ để dâng nước Hoa Kỳ cho Đưc Mẹ Vô Nhiễm
như ông Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã làm vào tháng 2 năm 1959. Mong rằng những tín đồ Da-tô người Việt hãy
suy nghĩ kỹ điều này mà thức tỉnh, rồi từ bỏ cái đạo mà văn hào
Voltaire gọi là “cái tôn giáo ác ông” để trở về với tổ quốc và
dân tộc như các ông Bùi Văn Chấn (Charlie Nguyễn), Bác-sĩ Nguyễn Văn Thọ,
Phạm Hữu Tạo và rất nhiều người khác đã làm. Dù là chính quyền Ngô Đình Diệm
đã công khai tuyên bố chống đối tổng tuyển cử thống nhất đất nước,
chính quyền miền Bắc vẫn không bỏ cuộc, và đã hai lần gửi thư thuyết
phục chính quyền ông Diệm phải nên tiến hành tổ chức tổng tuyển cử
theo đúng như Hiệp Định Genève 1954 đã quy định, nhưng chính quyền của
ông Diệm vẫn im lặng, không trả lới. Sự kiện này được sử gia Vũ Ngự
Chiêu dưới bút hiệu Chính Đạo ghi nhận như sau: “11/5/1956: Hà Nội: Hà Nội gửi thư cho miền Vì không thể thống nhất bằng đường lối hòa
bình qua một cuộc tổng tuyển cử, vô kế khả thi, chính quyền miền Bắc
(Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa) đành phải quyết đình thống nhất đất nước
bằng lực lượng vũ trang. Đúng ra, không ai muốn có chiến tranh vì rằng chiến
tranh chỉ mang lại đau khổ cho nhân dân. Nhưng
bất kỳ dân tộc nào dù hiếu hòa đến đâu đi nữa cũng phải tổ chức
các lực lượng vũ trang để: 1.- Liều
chết chiến đấu đánh đuổi quân thù ngoại nhập ra khỏi lãnh thổ hầu
bảo toàn chủ quyền độc lập cho dân tộc, và 2.- Liều chết chiến đấu chống lại những
thế lực phong kiến phản động lãnh
chúa địa phương và thế lực ngoại nhập để thống nhất đất nước. Đây là quy luật lịch sử và từ ngàn xưa bất kỳ dân tộc nào cũng
theo đó mà hành xử. Những phần trình bày trong phần đầu của chương sách này chứng minh rõ ràng là như vậy. Vì thế mà cuộc chiến thống nhất
đất nước mới bùng nổ vào ngày 19/12/1960. Kể từ đó, miền Bắc dồn
hết nỗ lực vào cuộc giải phóng miền Nhìn lại lịch sử nước nhà,
chúng ta thấy rằng cả bốn lần đất nước bị phân chia đều do các thế
lực quân phiệt phong kiến và đế quốc thực dân xâm lược chủ trương,
nhưng rồi, lần nào cũng như lần nào, các thế lực phong kiến phản động
đều bị đánh bại và đất nước lại thống nhất. Được như vậy là
do ý chí và công lao của nhân dân toàn quốc quyết tâm chiến đấu đánh tan mọi thế lực phong kiên phản động
chủ trương chia cắt đất nước để thủ lợi. Mỗi lần phân chia là một
lần đất nước lại rơi vào tình trạng chiến tranh triền miên và dân ta
phải tiêu hao không biết bao nhiêu công của và xương máu mới thống nhất
lại được. Cuộc chiến thống nhất lần thứ
4 của dân tộc ta là cuộc chiến do miền Bắc chủ động, một cuộc chiến
chính đáng có chính nghĩa cho nên được đại khối nhân dân tích cực hướng
ứng và được toàn thể nhân dân thế giới ủng hộ nhiệt tình. Nhờ những
yếu tố này mà chính quyền miền Bắc
đã phá tan được Liên Minh Thánh Mỹ - Vatican khiến cho siêu cường Hoa Kỳ
phải rút quân về nước, chế độ đạo phiệt Da-tô Việt gian tay sai Đế
Quốc Vatican ở miền Nam cùng sụp đổ theo: Mỹ lui, đạo phiệt cũng tan, Không còn ngăn cách Bắc Dù rằng cuộc chiến 1960-1975 do miền Bắc phát động là có
chính nghĩa và đã đáp lại được khát vọng thống nhất đất nước của
dân tộc. Thế nhưng, những người có quyền lợi gắn liền với chính quyền
đạo phiệt Da-tô ở miền “VNCH
được tiếng là quốc gia dân chủ tự do nhưng lại cũng từng là căn cứ
chứa nửa triệu quân Mỹ! VNDCCH được tiếng là nô lệ Nga-Hoa nhưng lại
không hề có một căn cứ quân sự nào của Nga-Hoa trên đất liền, cũng
như trong và sau khi sau chiến tranh chấm dứt rồi, Cam Ranh, Hạ Long, hay Động
Hương Tích, Ba Vì vẫn không hề được nhường cho Nga-Hoa làm căn cứ để
gọi là cám ơn các anh lớn. Năm 1959, Ngô đình Diệm cảm thấy Miền Nam
đã trở thành nhất đái vạn đại liền đem máy chém truy lùng “VC nằm
vùng” và vô tình khai sinh Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, nhưng
ba mươi năm hận thù chém giết đã không kết thúc bằng những tòa án
Nuremberg, Tokyo treo cổ hay tử hình khiếm diện những kẻ chiến bại, hay
thả cửa chém giết như ở Rwanda, Yugoslavia…. Một số người không chịu thấy những điều
đó. Cho nên ba mươi năm nay họ cứ ngồi nguyền rủa Việt Nam, xỉ vả dân
tộc Việt Nam tồi hèn hủ lậu thoái hóa chỉ vì cái tội là sống dưới
chế độ đã xua được quân ngoại nhập khỏi cõi bờ, chấm dứt chiến
tranh huynh đệ, thống nhất đất nước. Tủi nhục, hận thù, vô minh, vọng
ngoại đã biến họ thành những con bọ hung, những con sài lang chỉ thích
những gì thối tha lầy lụa. Tổ Quốc Ăn Năn của Nguyễn gia Kiểng, Việt
Nam Chính Sử của Nguyễn văn Chức hay những bài chính luận của Lâm lễ
Trinh, Tôn thất Thiện, Sơn Điền Nguyễn viết Khánh... là những ví dụ.”[6]
Đánh bại được miền Nam và mang lại thống nhất cho đấ nước là công lao của các nhà
lãnh đạo chính quyền miền Bắc và toàn thể nhân dân cả miền Bắc lẫn
miền Nam, ngoài trừ mấy nhóm thiểu số tín đồ Da-tô cuồng tín, nhóm cựu
quan lại, nhóm phú hào và nhóm thị dân tiểu tư sản mang căn bệnh trưởng
giả học làm sang. Cũng như nhân dân Hoa Kỳ và nhân dân Ý, nhân dân Việt
Nam cũng có quy luật thưởng phạt phân minh, có suy tôn và vinh danh thì cũng
phải có lên án và nguyền rủa để “thuận lý nhân tâm” và “hoằng dương
chính khí.” Công việc suy tôn và vinh danh những người có
công trong hai Cuộc Chiến Giải Phóng Dân Tộc 1945-1954 và Thống Nhất Đất Nước 1954-1975 đã được sách sử
ghi lại rõ ràng và chính quyền Việt Thế nhưng, còn việc lên án và nguyền rủa thế
lực chủ mưu đánh chiếm Việt Về phần chính quyền Việt “Nhập
cảnh vào Việt Nam những người với bề ngoài là truyền đạo, dạy học
và săn sóc những người ốm đau, mà thực chất chỉ là những tên gián
điệp của Giáo Hoàng để phá hoại những cơ cấu chính quyền của chúng
ta, làm cho nhân dân ta mất thiện cảm với hiến pháp và luật lệ của
chúng ta, để phá hoại các trường học của chúng ta. Mục đích của họ
là làm cho đất nước chúng ta trở
thành hỗn loạn, một tình trạng vô chính phủ như họ đã làm ở Ái Nhĩ
Lan, ở Mễ Tây Cơ, ở Tây Ban Nha, và ở bất kỳ nơi nào mà nhân dân ở
đó muốn được sống đời tự do.” Ngoài ra, người viết cũng thiết tha thỉnh cầu
chính quyền Việt “Ở
Nga: Tin của "The Register" số ra ngày Thứ Bảy 20/ 9/1997 cho biết:
"Đạo luật đã chấp nhận "Chính Thống Giáo" là tôn giáo
chính, kính trọng các tôn giáo khác, như Hồi Giáo, Phật Giáo và Do Thái
Giáo. Đạo luật tạo ra một hàng rào ngăn cản đối với những giáo
phái toàn trị (Gia-tô, Tin Lành) và hạn chế sự hoạt động của những nhà
truyền giáo ngoại quốc. Các nhà phản đối cho rằng Chính Thống Giáo
cũng ủng hộ đạo luật này như là một cách để ngăn cấm những người Kitô khác như Gia-tô
và Tin Lành, không cho họ được tự do họat động ở Nga." Vào
ngày Thứ Sáu 19/9/1997, các nhà làm luật ở Hạ Viện đã bỏ phiếu chấp
thuận (đạo luật trên đây) với 358 phiếu thuận và 6 phiếu chống."
("The bill enshrines Về phần các nhà viết sử, thiết nghĩ rằng họ
có nhiệm vụ phải hoàn thành công việc này đối với người đời và hậu
thế. Phải nêu đích danh thế lực thù địch của dân tộc và nêu đích
danh những thằng Việt gian phản quốc cho người đời và hậu thế biết
rõ những người nào là những nhà ái quốc và anh hùng dân tộc, và những
người nào là Việt gian phản quốc, những phường “cõng rắn cắn gà nhà”. Làm như vậy
cũng là để khỏi bị bọn sử nô Da-tô lừa gạt hậu thế bằng cách nhập
nhằng đánh lận con đen, vo tròn bóp méo lịch sử, rồi biến những
thằng phản quốc có đến ba bốn đời tiếp nối nhau làm Việt gian bán nước cho cả Vatican, cho Pháp và cho Mỹ như Ngô Đình Diệm thành nhà ái quốc
và chí sĩ yêu nước. Lịch sử đã cho biết rõ ràng rằng thế lực chủ
mưu đánh chiếm Việt Nam và cấu kết với đế quốc Pháp xuất quân đánh
chiếm Việt Nam để nô lệ hóa nhân dân ta chính
là Tòa Thánh Vatican hay Giáo Hội La Mã. Thế lực chủ mưu và cấu
kết với Hoa Kỳ để duy trì tình trạng qua phân của đất nước ta để
hưởng lợi cũng chính là Tòa Thánh Vậy thì, theo đúng quy luật thưởng phạt phân
minh của các dân tộc có văn hiến, dân tộc Việt Nam phải cực lực lên
án, đời đời nguyền rủa và khinh bỉ Tòa Thánh Vatican hay Giáo Hội La
Mã, cũng phải lên án, nguyền rủa và đời đời khinh bỉ bọn Việt gian
bán nước cho Vatican, cho Pháp và cho Mỹ. Phần lớn bọn Việt gain này là
bọn tu sĩ và tín đồ cuồng tín của Giáo Hội La Mã, và một nhóm thiểu
số không phải là tín đồ Da-tô. Dưới đây là một số danh tính của bọn
Việt gian khốn nạn này: Trần Bá Lộc, Lê Phát Đạt (Huyện Sĩ), Đỗ Hữu
Phương, Ngô Đình Khả, Trần Lục, Lê Hoan, Nguyễn Hữu Bài, Hoàng Cao Khải,
Pét rú Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Trường Tộ, Hoàng Trọng Phu, Hoàng Gia Mô,
Ngô Đình Khôi, Cung Đình Vận, Vi Văn Định, Nguyễn Duy Hàn, Ngô Đình Diệm,
Nguyễn Bá Tòng, Ngô Đình Thục, Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Cẩn, Hồ Ngọc Cẩn, Lê Hữu Từ, Phạm Ngọc
Chi, Hoàng Quỳnh, Mai Ngọc Khuê, Trần Văn Hữu, Phan Văn Giáo, Nguyễn Văn Tâm,
và tất cả những người a tòng hay kết bè kết đảng với hai tên đại
Việt gian Da-tô Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu. NHẬN XÉT Những phần trình bày trên đây
cho chúng ta thấy rằng: A.- Giáo Hội La Mã ở hậu trường các thế lực
phong kiến phản động, luôn luôn có chủ trương ly khai, chống lại các thế
lực có chủ trương cách mạng và thống nhất. 1.- Tại
Ý cũng như tại Hoa Kỳ và tại Việt Nam, Giáo Hội La Mã đều là kẻ thù
chống lại ý chí thống nhất của ba quốc gia này và đều sử dụng đám tu sĩ và nhóm thí đồ
Da-tô cuồng tín làm tay sai để chống lại đại cuộc cách mạng và thống
nhất của ba quốc gia này. 2.- Tai Hoa Kỳ, khi Tổng Thống Hoa
Kỳ Abraham Linclon bắt buộc phải tiến hành cuộc chiến chống lại miền
Nam ly khai để thống nhất đất nước, ông không hề biết rằng Giáo Hội
và chính quyền Pháp của triều đình Hoàng Đế Napoléon III (1852-1970) đã
xúi giục các nhà lãnh đạo chính quyền miền Nam phát động cuộc chiến
chống lại miền Bắc để ly khai, rồi lại chi viện kinh tế tiếp sức cho miền Nam theo đuổi cuộc chiến.
Mãi tới khi tiến hành cuộc chiến rồi, ông mới phát hiện ra sự thật
ghê tởm này của 3.- Tại Ý Đại Lợi và tại Việt
Nam, khi phát động cuộc chiến thống nhất đất nước, các nhà lãnh đạo
Ý và các nhà lãnh đạo miền Bắc đều biết rằng cuộc chiến này rất
gay go, vì vừa phải đương đầu với
Vatican (tức là đương đầu với quân nội thù là khối tín đồ Da-tô cuồng
tín bản địa vong bản phản quốc phản dân tộc), vừa phải đương đầu
với siêu cường Hoa Kỳ liên minh với Vatican. Tại Ý, quân Cách Mạng Ý vừa phải chiến đấu chống lại Tại Việt Nam, trong thời Kháng Chiến
1945-1954, Giáo Hôi La Mã đã có chủ trương và hành động chia cắt nước
Việt Nam ra làm thành nhiều mảnh theo biên giới địa lý, sắc tộc và
tôn giáo, với dã tâm biến mỗi một mảnh nhỏ này thành một tiểu quốc, đưa những tên Việt gian tay sai đắc lực
của Giáo Hội lên nắm quyền lành đạo chính quyền các tiểu quốc này,
rồi dùng người Việt đánh người Việt và dùng tín đồ Da-tô để cai
trị những thành phần thuộc các tôn giáo khác, chuẩn bị cho kế hoạch
Ki-tô hóa nhân dân ta bằng bạo lực. Vấn đề này đã được trình bày
khá đầy đủ trong Chương 48 nói về Vatican cấu kết với Pháp và thi
hành chính sách chia để trị, và Chương 49 nói về Giải Pháp Bảo Đại. Khi phát động cuộc chiến thống
nhất đất nước, miền Bắc vừa phải chiến đấu chống lại Vatican và
đạo quân thập tự Việt Nam của miền Nam lên tới 1 triệu 100 ngàn quân,
vừa phải chiến đấu chống lại Hoa Kỳ liên minh với Vatican và các nước
đồng minh của Hoa Kỳ như Úc Đại Lợi, Tây Tây Lan, Thái Lan, Nam Hàn, v.v… 4.- Có một điểm khác biệt giữa
cuộc chiến thống nhất nước Ý và cuộc chiến thống nhất Việt 5.- Tại Hoa Kỳ và Ý Đại Lợi,
sau khi cuộc chiến thống nhất đất nước chấm dứt, khối tín đồ Da-tô
ở hai quốc gia này yên phận làm ăn. Vì thế mà Trái lại, tại Việt Nam, đặc biệt là tại miền Nam, từ năm 1862
cho đến ngày 30/4/1975. Tín đồ Da-tô được coi như là thành phần tin tưởng
nhất và là “những đứa con cưng” của
chính quyền Bảo Hộ Pháp – Vatican và các chính quyền đạo phiệt Da-tô
tay sai của Vatican. Đặc biệt là trong những năm 1954-1975, tại miền Nam Việt
Nam, tín đồ Da-tô trở thành một giai cấp thượng đẳng “untouchable” trong xã hội, được hưởng
quá nhiều đặc quyền đặc lợi. Trong chính quyền cũng như trong quân đội,
hầu hết những chức vụ chỉ huy đều được trao cho họ nắm giữ, đặc
biệt là trong các ngành công an, mật vụ, cảnh sát và an ninh quân đội.
Những tín đồ Da-tô như Ngô Thế Linh, Trần Kim Tuyến, Lê Quang Trung, Lê
Quang Triệu, Dương Văn Hiếu, Phan Quang Đông, Trần Khắc Kính, Trần Khắc
Nghiêm, Nguyễn Văn Hay, Nguyễn Khắc Bình, v.v… đều là những người nắm
giữ những chức vụ chỉ huy trong các cơ quan công an, mật vụ và cảnh
sát. Hầu hết những nhân viên cấp dưới trong các cơ quan của các ngành này đều là tín đồ Da-tô. Linh-mục Mai
Ngọc Khuê nắm giữ vai trò quan trọng trong việc đưa tín đồ Da-tô vào
làm việc trong các ngành này. Nhờ vậy, họ tha hồ hét ra lửa, mửa ra
khói, tác oai tác quái đối với nhân dân. Ngoài xã hội, mỗi xóm đạo
dưới quyền quản nhiệm của một ông linh mục đã trở thành một quốc
gia trong quốc gia, và bất kỳ lãnh vực hoạt động nào, họ cũng đều trực tiếp hay gián tiếp thao túng theo ý muốn của họ. Bằng chứng
rõ rệt nhất là việc khai thức gỗ rừng
trong các tỉnh Long Khánh, Biên Hòa, Bình Dường, việc nắm độc quyền bao
thầu các dịch vụ xây các cơ sở của
chính quyền và các cở sở của quân đội, việc nắm độc quyền phân
phát vé sổ kiến thiết, việc nắm độc quyền cung cấp văn phòng phẩm
cho các cơ quan chính quyền và quân đội, việc nắm độc quyền cung cấp
thực phẩm cho các trường Võ Bị Đà Lạt, trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ
Đức, trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tầu, Trường Biệt Động Quân, các
Trung Tâm Huấn Luyện Quân Sự 1, 2 3
và 4, v.v… Vì được quá nhiều đặc quyền
đặc lợi như vậy, từ khi đất nước được thống nhất vào ngày 30
tháng 4 năm 1975, họ luyến tiếc cái thời vàng son huy hoàng của họ, lúc nào họ cũng muốn bơi ngược thời
gian để sống lại cái thời vàng son
của những năm 1954-1975. Biết rõ cái tâm lý này, Toà Thánh Vatican đã triệt
để khai thác và lợi dụng họ bằng cách sử dụng họ để quấy phá
chính quyền Việt Nam hiện này theo sách lược “phá thối cho bõ ghét”, “không được ăn thì đạp đổ” và cũng là sách lược “quậy cho nước đục để thả câu”.
Việc Giám-mục Nguyễn Văn Thuận tuyên bố với tín đồ Da-tô người Việt
ở B.- Cả hai việc giải phóng dân tộc
và thống nhất đất nước đều là khát vọng của bất kỳ nhân dân quốc
gia nào rơi vào hai thảm họa này. Cũng vì lẽ này mà: 1.- Khi đất nước chẳng may rơi vào một trong hai
thảm họa này thì cá nhân hay thế lực nào phát động cuộc chiến đánh
đuổi người quân cướp xâm lăng hay với chủ trương thống nhất đất
nước, thì cá nhân hay thế lực đó có chính nghĩa và sẽ được tuyệt đại đa số nhân dân
quý mến, kính trọng, triệt để ủng hộ và tích cực hăng say tham gia vào
tổ chức của cá nhân hay thế lực đó để cùng chiến đấu cho đại cuộc. 2.- Cá nhân hay thế lực nào đi sát
cánh hay tiếp tay cho quân xâm lăng đánh chiếm và thống trị đất nước
hay chủ trương duy trì tình trạng đất nước bị qua phân để thủ lợi,
thì tất nhiên là không có chính nghĩa và sẽ bị nhân dân thù ghét và
nguyền rủa đời đời. 3.- Bất kỳ cá nhân hay thế lực
nào chủ động việc chia cắt đất nước hay chủ trương tình trạng qua
phân của đất nước để hưởng lợi, sớm muộn cũng sẽ bị thảm bại
trước ý chí thống nhất của dân tộc. 4.- Chỉ có những thế lực ngoại
nhập, thế lực phong kiến phản động, những hạng người vong bản phản
dân tộc, bọn người cuồng nô vô tổ quốc làm tay sai cho Vatican và các
đế quốc liên minh với Vatcian mới chủ trương chia cắt đất nước và
duy trì tình trạng qua phân để bảo vệ quyền lực, bảo vệ cái thế ăn
trên ngồi trước, ngồi mát ăn bát vàng, hét ra lửa mửa ra khói của
chúng. Dĩ nhiên là những hạng người này sẽ bị nhân dân đời đời
khinh bỉ và nguyền rủa: Sống chỉ mặt, chết chỉ mồ, Xương dù chôn nát, mặt mo hãy
còn. (Ca dao) 5.- Bất
kỳ cá nhân hay thế lực nào có công giải phóng dân tộc thoát khỏi ách
thống trị của người ngoại bang hoặc
là có công mang lại sự thống nhất cho đất nước đều được nhân dân
đời đời kính mến và tôn vinh là những nhà ái quốc hay anh hùng dân tộc.
Danh tính của họ được đặt tên cho trường học, công viên, công thự
và các đường lớn đường nhỏ tại các thành phố trong toàn quốc. Qua 5 điều nêu lên trên đây, độc
giả cho thể nhận thấy miền Bắc ở vào những trường hợp nào và miền Nam Việt Tuy nhiên, trên đây chỉ là mấy
điểm đại cương. Trong các chương sách kế tiếp, chúng tôi sẽ nêu lên
vấn đề tương quan sức mạnh của miền Bắc và miền Nam trong Cuộc Chiến
Thống Nhất Đất Nước 1954-1975 với 24 tiêu đề để độc giả có cái
nhìn rõ ràng hơn về vấn đề này TƯƠNG QUAN SỨC MẠNH CỦA MIỀN BẮC VÀ MIỀN Trong bất kỳ cuộc chiến tranh
giành ảnh hưởng hay độc chiếm quyền lực chính trị giữa hai hay nhiều
phe phái, những nhược điểm hay lỗi lầm của phe này là lợi điểm cho các
phe đối nghịch. Đây là một quy luật lịch sử về các cuộc chiến
giành chiếm ưu thế trong bất cứ phạm vi hay lãnh vực nào. Cuộc chiến
giữa hai miền Bắc và miền Nam Việt Theo quy luật lịch sử trên đây,
người viết đã phải phân vân và cân nhắc rất
nhiều về việc chọn lựa một trong ba cụm từ: (1) “Những yếu tố khiến cho miền Bắc thắng miền
Nam”, (2) “Những yếu tố khiến cho
miền Nam phải thảm bại” , và (3) “Tương
quan sức mạnh của miền Bắc và miền Nam trong cuộc chiến thống nhất đất
nước” để làm đề tài chung cho Mục XXIII này. Cuối cùng cụm từ (3) được coi là hợp lý hơn. Lý
do là vì cụm từ này dễ dàng đưa ra nhiều yếu tố hay tiêu đề để so
sánh giữa hai miền Bắc và Để giúp cho độc giả nhìn thấy
rõ những gì đã được nêu lên trên đây, người viết xin làm bảng so
sánh những yếu tố lãnh thổ (diện tích), dân số, tuởng, lãnh đạo, chính quyền, quân đội
vũ khí và hỏa lực, ngoại viện, lương bổng của nhân viên chính quyền
và quân nhân, cung cách hành xử giữa cấp trên với cấp dưới, giữa chính
quyền và quân đội đối với nhân dân (giai cấp bị trị), v.v…. Dưới
đây là bảng so sánh là từng yếu tố một trong 24 yếu tố dưới đây:
CHÚ THÍCH: [1]
Nguyễn Mạnh Quang, Nói Chuyện Với Tổ Chức
Việt [2]
[3] Đoàn Thêm, 1945-1954 Việc Từng Ngày, 20 Năm Qua (Los Alamitos, CA: Xuân Thu, 1980?), tr. 181. [4]
Chính Đạo, Việt [5] Chính Đạo, Sđd., tr. 96. [6] Hoàng Nguyên Nhuận. “Để thay lời chúc Tết: GIÃ TỪ HOA GIÁP ẤT DẬU 1945-2005.” www.chuyenluan.com Ngày 30/1/2006. [7] Trần Văn Kha, Đức Tin Và Lý Trí – Thông Điệp Thứ 13 Của Giáo Hoàng John Paul II (Westminster, Ca: Văn Nghệ, 1999), tr. 257 -258
© Copyright 2006 giaodiem.com |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com