
Giao
điểm và… tiếp
theo. Trần Chung Ngọc Tại Sao Tôi “Chống” Ki-tô Giáo?. Đúng là tôi có viết
trên Giao Điểm nhiều bài nghiên cứu về Ki-tô giáo, Công Giáo cũng như
Tin Lành, đặc biệt là về Công Giáo Việt Nam, nhưng cho rằng đưa ra những
sự thực lịch sử về Công Giáo hoàn vũ nói chung, Công Giáo Việt Nam nói
riêng, là “chống” Công Giáo thì tôi e rằng vừa không đúng, vừa có ý
xâm phạm vào quyền tự do của tôi. Không
đúng vì bản chất của những sự kiện lịch sử là vô tư, là phi phe
phái. Xâm phạm vào quyền tự do vì không ai có quyền lên án vì tôi viết
ra những sự thực về Công Giáo. Từ
trước tới nay, có ai thấy một luận cứ nào đưa ra để phản bác những
sự kiện lịch sử về Công Giáo mà tôi đưa ra?
Nhiều nhất là chỉ có thể nói là tôi đọc Kinh Thánh mà
không hiểu, nhưng không bao giờ viết ra là họ đã hiểu Kinh Thánh như thế
nào. Như vậy, chống Công Giáo không
phải là một tội, mà theo quan điểm của tôi, đó là trách nhiệm của những
người đã biết khá nhiều về lịch sử của Công Giáo. Hàng trăm tác giả
trí thức ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Ki-tô đã xuất bản những
cuốn sách nghiên cứu về đủ mọi khía cạnh của Ki-tô Giáo nhưng không
ai trong giới trí thức lên án họ là những người chống Ki Tô Giáo. Những tài liệu tôi dùng để đưa ra những
sự thật về Ki-tô Giáo đều là của các tác giả trên, không có môt tài
liệu nào của Giao Điểm, của Phật Giáo, hay của Cộng Sản. Mấy người có hiểu được như vậy không? Mấy người to tiếng tự cho là tranh đấu
cho tự do, nhân quyền, nhưng thực sự mấy người không hiểu thế nào là
tự do, nhân quyền. Cái tự do, nhân
quyền của các người chỉ ở trên đầu môi chót lưỡi chứ không ở
trong những hành động thực sự tôn trọng tự do và nhân quyền. Cũng có người ở
trong nước hỏi tôi tại sao lại “Chống Công Giáo, Tin Lành”, gây chia rẽ
giữa các tôn giáo dân tộc, trái với chủ trương đại đoàn kết dân tộc
để xây dựng đất nước của Nhà Nước v..v..?
Tôi cười và trả lời: Thứ nhất, đưa ra
những tài liệu về sự thật của Công Giáo, Tin Lành như hàng trăm nhà
trí thức Tây phương, ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Công Giáo,
Tin Lành đã làm suốt mấy thế kỷ nay mà gọi là “chống Công Giáo”
hay “chống Tin Lành” thì tôi xin nhận là đã “chống Công Giáo” hay
“chống Tin Lành”. Người ta lên án
tôi chống Ki-tô Giáo chẳng qua chỉ vì sợ sự thật; Thứ nhì, bản chất
Công Giáo cũng như Tin Lành không phải là những tôn giáo dân tộc, nên
không có vấn đề chia rẽ giữa các tôn giáo dân tộc. Thứ ba, chủ trương
đại đoàn kết của Nhà Nước là của … Nhà Nước, chứ Công giáo, Tin
Lành chưa bao giờ chủ trương đoàn kết dân tộc. Dân tộc của họ là dân Chúa, dân của nước
Trời, không phải là dân Việt Thứ tư, với trách nhiệm của một
“sĩ phu Bắc Hà” [tôi sinh ra ở Hà Nội, di cư vào Nam năm 1954, di cư
sang Mỹ năm 1975], hoặc của bất cứ
một “sĩ phu Việt Nam” nào khác, người
nào đã đọc về lịch sử của một tôn giáo như Công Giáo, nhất là lịch
sử du nhập của Công Giáo vào Việt Nam và những gì Công Giáo đã làm đối
với nhân loại nói chung, đối với dân tộc Việt Nam nói riêng, từ ngày
đầu cho đến ngày nay, thì tôi chắc cũng phải đi vào con đường như tôi
mà thôi. Lẽ dĩ nhiên, tôi không thể
chỉ viết vu vơ, mà tôi sẽ cố gắng chứng minh từng nhận định như trên,
và xin quý độc giả hiểu cho rằng, tôi không có cách nào có thể trình
bày đầy đủ các chi tiết liên quan đến các điểm trên của một tôn
giáo đã có 2000 tuổi đời. Trước hết, tôi muốn
đặt vài câu hỏi: Nếu thực sự tôi muốn chống Ki-tô Giáo thì sao? Chống Ki-tô Giáo là một tội hay là một
điều cấm kỵ? Tôi hi vọng những
người lên án tôi là chống Ki-tô Giáo hãy trả lời những câu hỏi này. Nhưng thực ra thì, câu trả lời đã nằm
trong sự hiện hữu của hàng trăm tác phẩm của chính các giới chức cao
cấp trong Ki-tô Giáo: trong Công giáo như Tổng Giám Mục, Giám Mục, Linh Mục,
Giáo sư đại học, chuyên gia về tôn giáo, và nhiều trí thức Công giáo,
trong Tin Lành như các Giám mục, Mục sư và giới trí thức. Lẽ dĩ nhiên, trong số này không có người
Việt Nam vì người Công Giáo Việt Nam chỉ biết “quên mình trong vâng phục”,
chủ trương “Giáo hội mẹ hát, Giáo hội con khen hay” một cách tuyệt
đối, trừ một số hiếm hoi trí thức như Charlie Nguyễn, Phạm Hữu Tạo,
đã công khai, và một số tín đồ đã âm thầm, thoát ra khỏi sự mê hoặc
tôn giáo, thoát xác con chiên để trở lại làm người cho đúng nghĩa người..,
và những người Việt Nam tân tòng Tin Lành, như mục sư Trần Long chẳng hạn,
thì còn mê muội và cuồng tín hơn những người Tin Lành Âu Mỹ rất nhiều. Thứ đến, tôi cần
có vài khẳng định. Tôi không chống
những người Ki Tô chỉ vì họ tin vào một Thượng đế hay một người mà
họ gọi là Chúa Jesus. Nếu họ tin rằng
tất cả những gì tốt đẹp xảy ra cho họ đều là do Thượng đế ban
cho họ, nếu họ tin rằng sau khi chết sẽ được lên thiên đường để sống
đời đời bên cạnh Chúa Jesus của họ, thì tôi không có gì để nói hay
để chống. Vì đây là quyền tự do của
mỗi cá nhân. Con người có quyền tin
vào bất cứ cái gì: một thiên chúa, một đấng siêu nhiên, một thần
cây đa, một bình vôi, một chú cuội trên cung Hằng, hoặc không tin vào bất
cứ đấng thiêng liêng nào. Nhưng vấn
đề chính là ở chỗ, từ những niềm tin này, Ki-tô giáo đã làm gì đối
với nhân loại và khi du nhập vào Việt Nam, đã làm gì đối với tổ quốc
và đồng bào Việt Nam? Như vậy, cái
mà tôi chống không phải là niềm tin của bất cứ ai, mà là những hành
động của họ bắt nguồn từ niềm tin đó.
Ở đây, tôi chỉ xin nêu ra hai lý do tại sao tôi chống Ki Tô
Giáo: a) vì cái lịch sử tội ác của
Ki-tô Giáo nói chung, Công Giáo nói riêng, đối với nhân loại, và b) vì những
tác hại mà Công Giáo đã mang đến cho đất nước Việt Nam. a) Vài Nét Về Lịch Sử Những Tội Ác Của
Công Giáo. Theo định nghĩa tôn
giáo (Religion) của Tây phương trong Tự Điển thì đó là một “Niềm
tin và tôn kính vào một quyền lực siêu nhiên được biết là đấng sáng
tạo và cai quản vũ trụ” (Belief in and reverence for a supernatural power
recognized as the creator and governor of the universe);
hoặc “thái độ tâm linh và tình cảm của một người chấp
nhận sự hiện hữu của một quyền lực siêu nhân” (The spiritual or
emotional attitude of one who recognizes the existence of a superhuman power). Ki Tô Giáo là tôn giáo đúng như định
nghĩa này. Một tôn giáo thường
có ba mục đích chính. “Thứ nhất, tôn giáo là để dạy và khuyến
khích đạo đức cho con người.” (First, religion is there to teach and
encourage morality.) “Thứ nhì, tôn
giáo hiện hữu như là một gia đình thứ hai để hỗ trợ cho nhóm người
có cùng đức tin trong cách sống lành thiện” (Second, it exists as a extra
familiar support group of people with similar, or at least compatible, beliefs in how to
live life correctly.) Và “Thứ ba, tôn giáo giúp chúng ta khai sáng tâm linh”
(Third, it helps us achieve spiritual enlightenment.)
Ki Tô Giáo không những
không thực hiện ba mục đích trên mà còn làm trái lại. Thật vậy, Lịch
sử đẫm máu của Công Giáo đã chứng tỏ hơn gì hết Công Giáo, thay vì
dạy và khuyến khích đạo đức con người, đã khuyến khích con người làm
những việc đại ác như thiết lập những Tòa Án Xử Dị Giáo để tra tấn,
giết chóc và cướp của của các nạn nhân, cùng chiến dịch săn lùng
phù thủy thiêu sống vô số người vô tội, thiêu sống luôn cả khoa học
gia Bruno, nạn nhân của sự ngu xuẩn của Giáo hội Công Giáo về vũ trụ
học, nhưng lại nắm quyền sinh sát trong tay.
Tất cả những việc đại gian, đại ác như trên đều được
thực hiện nhân danh đức tin vào một Thiên Chúa của Do Thái mà nền thần
học Công Giáo đôn lên làm Thiên Chúa của cả loài người. Thứ đến, Khi Công Giáo du nhập vào Việt
Ngày Chủ Nhật 12
tháng 3, 2000, trong một cuộc “Thánh
lễ” công cộng tại "Thánh đường" Phê-rô, trước nhiều
chục ngàn con chiên, người Chủ Chiên, Đức “Thánh cha” John Paul
II, đại diện cho "hội Thánh" Công Giáo gồm gần một tỷ
tín đồ, trong đó có khoảng 5 triệu tín đồ Việt Nam, đã chính thức “xưng
thú 7 núi tội lỗi” đối với nhân loại của Công Giáo, một tôn
giáo tự nhận là “thiên khải”, “duy nhất”, “thánh thiện”, “mầu
nhiệm”, “tông truyền”, “vương quốc của Thiên Chúa”, “cao quý”,
“ánh sáng của nhân loại” v…v…, và xin thế giới tha thứ cho những
hành động tàn bạo đối với nhân loại của những con cái giáo hội
Công Giáo "thánh thiện". Những
hành động này, như được nhắc tới hết sức đại cương trong những lời
xưng thú 7 núi tội lỗi của Công Giáo như sau: 1. Xưng thú “tội lỗi chung”. 2. Xưng thú “tội lỗi trong khi phục vụ
“chân lý”” [Xin hiểu là đã gây ra những cuộc Thánh Chiến, những
Tòa Hình Án Xử Dị Giáo, Săn Lùng Phù Thủy, làm tiền phong hay đồng hành
với các thế lực thực dân Âu Châu để truyền đạo v..v.., tất cả đều
nhân danh phục vụ “chân lý” của Công Giáo] 3. Xưng thú “tội lỗi đưa đến sự chia
rẽ giữa các tín đồ Ki Tô”. 4. Xưng thú “tội lỗi trong sách lược
bách hại dân Do Thái”. 5. Xưng thú “tội lỗi trong những hành động
với ý muốn thống trị kẻ khác, với thái độ thù nghịch đối
với các tôn giáo khác, không tôn trọng truyền thống văn hóa và tôn giáo
của các dân tộc nhỏ, kém phát triển”. 6. Xưng thú “tội lỗi trong sự kỳ thị
phái nữ, coi thường phẩm giá phụ nữ”. 7. Xưng thú “tội lỗi trong việc vi phạm
những quyền căn bản của con người”. Các tín đồ Công
Giáo, nhất là tín đồ Công Giáo Việt Nam, bèn tung hô hành động “xưng
thú 7 núi tội lỗi” trên của Giáo Hoàng là một hành động can đảm
chưa từng có trong giáo hội, theo luận điệu diễn giải của giới chăn
chiên dạy các con chiên. Nhưng dù giáo hội có giải thích hành động xưng
thú tội lỗi của giáo hoàng như thế nào đi chăng nữa, là hành động
can đảm hay theo đúng tinh thần tự kiểm ăn năn thống hối của Công
Giáo, là để thanh tẩy ký ức hay để tiến tới sự hòa hợp tôn giáo v…v…,
các tín đồ Công Giáo vẫn không thể nào giải đáp được thỏa đáng những
câu hỏi như: Tại sao một giáo
hội do chính Chúa thành lập, thường tự xưng là "thánh thiện",
là "ánh sáng của nhân loại", là quán quân về "công bằng và
bác ái", được "thánh linh hướng dẫn" v...v... lại có thể
phạm những tội ác vô tiền khoáng hậu trong suốt 2000 năm nay đối với
nhân loại như vậy? trong khi các đạo
khác, thí dụ như đạo Phật, thường bị Ki Tô Giáo, và ngay chính Giáo hoàng John Paul II trong cuốn
“Bước Qua Ngưỡng Cửa
Hi Vọng”, chụp cho cái mũ vô thần
lên đầu, lại không hề làm đổ một giọt máu hoặc gây nên bất cứ một
phương hại nào cho con người trong quá trình truyền bá trải dài hơn 2500
năm, từ trước Ki Tô Giáo hơn 500 năm? Những vô thượng
thiên tài thuộc tầng lớp trí thức Công Giáo, như anh học trò đã tốt
nghiệp Trung Học Phổ Thông Trần Mạnh Hảo, hay các giáo sư như Nguyễn
Gia Kiểng, Đỗ Mạnh Tri v..v.., hay các linh mục nổi tiếng ở trong nước
như linh mục Têphanô Chân Tín, Phêrô Nguyễn Hữu Giải, Tađêô Nguyễn Văn
Lý và Phêrô Phan Văn Lợi, và ngay cả Giáo hoàng Benedict XVI đâu? hãy trả lời trước thế giới và trước
quốc dân Việt Những câu hỏi này
sẽ luôn luôn ám ảnh những tín đồ Công Giáo có đầu óc, còn đôi chút
lương tri và óc suy luận. Vì một tôn
giáo mà gây ra nhiều tội đại ác như tra tấn, tù đầy, thiêu sống
v..v.., giết hại hàng chục triệu sinh mạng vô tội, gồm cả đàn bà và
trẻ con, bất cứ vì lý do nào, thì không thể được coi là một tôn giáo nữa. Đó chẳng qua chỉ là một tổ chức núp
sau bình phong tôn giáo, mượn danh thần thánh để mê hoặc đám tín đồ yếu
kém, nhưng thực chất chỉ để duy trì những quyền lực thế tục và vơ
vét của cải thế gian. Lương tâm trí
thức của họ bắt họ phải trực diện với sự thực này. Phải chăng họ đã bị lừa dối từ bao
thế kỷ nay bởi một cái bánh vẽ trên trời mà không cần đếm xỉa gì
tới vấn đề đạo đức, luân lý? Phải
chăng họ đã bị nhào nặn từ nhỏ để có một tâm cảnh vô cùng ích kỷ,
chỉ ham hố một sự “cứu rỗi” tưởng tượng cho riêng mình mà không
cần biết đến cái cộng đồng tôn giáo của mình ra sao? Phải chăng họ
đã bị nhồi sọ từ nhỏ đến độ chỉ còn có thể tin một cách mù
quáng, không còn khả năng suy nghĩ để tìm ra lẽ thật? v..v.. Ở đây, hiển nhiên
là tôi không thể đi vào chi tiết của tất cả 7 núi tội ác của Công
Giáo. Tôi chỉ xin trích dẫn một tài
liệu của Tổng Giám Mục Peter de Rosa trong cuốn “Vicars of Christ, The
Dark Side Of The Papacy”, Crown Publishers, Inc., Tòa hình án trong thời Trung Cổ có thể
làm bất cứ điều gì . Những phán quan của tòa hình án [ những Linh Mục] thuộc dòng tu
Đa Minh, được giáo hoàng bổ nhiệm, không ở dưới quyền bất cứ một
ai ngoài Thượng Đế và giáo hoàng. Họ đứng ngoài vòng xét xử của các
giám mục và luật dân sự. Trong những quốc gia thuộc quyền giáo hoàng họ
chính là luật lệ, vừa đóng vai công tố viên vừa đóng vai quan toà xử
án. Nguyên lý chỉ đạo của họ là
: Thà giết oan 100 người vô tội còn hơn là để
cho một kẻ dị giáo được tự do." Tra tấn được dùng thả dàn. Mới một
trăm năm trước đây, người ta trưng bày trong cái nhà ở góc đường của
giáo hoàng Cuốn Sổ Đen dùng làm chỉ đạo
cho những quan tòa hình án. Cuốn sổ có đánh số trang này thuộc
trách nhiệm của Đại Phán Quan. Cái tên phổ thông của nó là Cuốn Sổ của Thần Chết. Sau đây là một phần
được trích dẫn từ đó: " Hoặc bị cáo thú tội và như vậy
là có tội theo sự thú tội của chính hắn, hoặc hắn không thú tội nhưng vẫn là có tội dựa theo chứng
cớ của các nhân chứng. Nếu một người nhận tất cả các tội đã gán
cho hắn, đương nhiên hắn hoàn toàn có tội; nhưng nếu hắn chỉ thú nhận
có một phần các tội trạng, hắn vẫn phải bị coi như là phạm tất cả
các tội, vì phần mà hắn đã thú tội chứng tỏ rằng hắn có khả năng
phạm tất cả các điểm khác trong bản cáo trạng... [To
the medieval Inquisition, everything was permitted. The
Dominican Inquisitors, being the pope's appointees, were subject to no one but God and his
Holiness. They were outside the juridiction of
bishops and of civil law. In the Torture
was freely used. Only a hundred years ago,
there was on display in the pope's House on the Corner the
Black Book, or Libro Nero, for the guidance of inquisitors. This
manuscript in folio form was the charge of the Grand Inquisitor. Its popular name was the Book of the Death. This
is part of what it said: Either
the person confesses and he is proved guilty from his own confession, or he does not
confess and is equally guilty on the evidence of witnesses.
If a person confesses the whole of what he is accused of, he is unquestinably guilty of the whole; but if he
confesses only a part, he ought still to be regarded as guilty of the whole, since what he
has confessed proves him to be capable of guilt as to the other points of the
accusation... Bodily torture has ever been found the most
salutary and efficient means of leading to spiritual repentance. Therefore, the choice of the most befitting mode of
torture is left to the Judge of the Inquisition, who determines according to the age, the
sex, and the constitution of the party...If, notwithstanding all the means employed, the unfortunate wretch still denies his guilt, he
is to be considered as a victim of the devil: and, as such, deserves no compassion from
the servants of God, nor the pity and indulgence of Holy Mother Church: he is a son of
perdition. Let him perish among the damned. It would be hard to find any document so
contrary to the principles of natural justice. According
to the Black Book, a child must betray his parents, a mother betray her child. Not to do so is a "sin against the Holy
Office" and merits excommunication, that
is, exclusion from the sacraments and, if there is no amendement, exclusion from
heaven...] Tưởng
chúng ta cũng nên biết rằng, khi Giáo hoàng John Paul II chính thức xưng thú
7 núi tội ác của Công Giáo và xin thế giới tha thứ cho những tội
ác của Công Giáo bằng những lời lẽ rất đại cương, thì ký giả Lewis Weinstein đã viết trong tờ
Chicago Tribune ngày 16 tháng 3, 2000, như
sau: "Hầu hết các
tín đồ Công Giáo không biết đến cái
lịch sử (chứa đầy tội ác của Công Giáo) mà Giáo hoàng nói đến,
và nếu, theo lời của Hồng Y John O'Connor, tổng giám mục địa phận New
York, tín đồ Công Giáo phải "được sự thật giải phóng", thì họ
phải biết sự thật đó như thế nào." (Most Catholics are
unaware of the history to which the pope alluded, an if, in the words of Cardinal John
O'Connor, archbishop of Sự thật đó như thế
nào? Đọc kỹ lịch sử truyền đạo
của Công Giáo, chúng ta có thể tóm tắt sự thật đó trong một câu ngắn
gọn: 7 núi tội ác của Công Giáo đối với nhân loại nói chung, Việt Nam
nói riêng, có thể mô tả như
sau, mượn lời của Nguyễn Trãi trong bài Bình Ngô Đại Cáo: Quyết Đông hải
chi thủy, bất túc dĩ trạc kỳ ô; Khánh Nam sơn chi
trúc, bất túc dĩ thư kỳ ác. (Độc ác thay, trúc
rừng không ghi hết tội; Dơ bẩn thay, nước
bể không rửa sạch mùi.) bởi vì, trong gần
20 thế kỷ, cả trăm triệu sinh mạng gồm già, trẻ, lớn, bé, nam, nữ,
vô tội đã bị giáo hội, nhân danh phúc âm, chân lý của Chúa, bắt bớ,
giam cầm, tù đầy, bạo hành, tra tấn cực hình, cắt cổ, chôn sống,
thiêu sống v…v… chưa kể đến những hành động phá hủy đền thờ miếu
mạo của các tôn giáo khác, hoặc những hành động nhằm tiêu diệt các nền
văn hóa phi Ki-Tô v..v… theo sách lược truyền đạo của Công Giáo trên thế
giới. Một cá nhân theo một tôn giáo nào đó
có thể vì bản tính, cho nên đã có những hành động ác, vô đạo đức
v.. v.. . Nhưng một tôn giáo, đúng nghĩa là một tôn giáo, như một tập
thể, thì không thể có những chủ trương tàn ác, phi luân, vô đạo đức
v..v.. trong kinh điển, giáo lý của mình. Những
tôn giáo Đông phương như Phật Giáo, Khổng Giáo, Lão Giáo, tuy không phải
là những tôn giáo theo đúng định nghĩa tôn giáo của Tây Phương, đều
chủ trương hòa bình, nâng cao phẩm giá, thăng tiến trí tuệ của con người. Phật Giáo có “thiên kinh, vạn quyển”,
nhưng chúng ta không thể tìm thấy trong đó bất cứ một lời lẽ độc
ác nào, tất cả đều là “khuyến thiện, răn đe việc ác” và đề ra
những phương pháp tu tập với mục đích phát triển trí tuệ, khai sáng
tâm linh, đưa con người đạt tới một cảnh giới cao hơn. Do đó, lịch sử truyền bá Đạo Phật
trong hơn 25 thế kỷ không hề cưỡng bách bất cứ ai phải theo đạo Phật,
không hề làm đổ một giọt máu vì truyền đạo, không hề có ý đồ xâm
lăng văn hóa, và không hề khuyến khích con người đi vào một niềm tin
mù quáng, không cần biết, không cần hiểu. Trái lại, trong Kinh Thánh của
Ki-tô Giáo mà người Ki-tô cho đó là những lời mạc khải của Thiên
Chúa của họ, lại chứa đầy những điều ác độc, vô luân, mâu thuẫn,
sai lầm về thần học cũng như về khoa học.
Nhưng khổ thay, chính vì tin vào những điều trên trong Kinh
Thánh mà Ki-tô Giáo đã trở thành một tôn giáo phạm nhiều tội ác nhất
đối với nhân loại. Ai không đồng
ý, xin lên tiếng. Tôi sẽ chỉ dẫn
cho những đoạn không thể đọc được trong Kinh Thánh, những đoạn làm
ô nhiễm đầu óc con người, những đoạn huyền hoặc mê tín mà vì tin
vào chúng mà mà những người Ki-tô đã tạo nên một lịch sử đẫm máu
của Ki-tô Giáo, và đã để lại cho nhân loại những dấu vết kinh hoàng
nhất.. Đây là những sự kiện lịch
sừ bất khả phủ bác. b).
Những Tác Hại Công Giáo Mang Đến Việt Chúng ta cũng không
nên quên Công Giáo đã giữ một vai trò then chốt quyết định trong việc
đưa Việt “Chúa Ki Tô Mang Đến Sự Chia Rẽ: Đừng nghĩ rằng ta xuống trần để mang lại
hòa bình trên trái đất. Ta không xuống
đây để mang lại hòa bình mà là gươm giáo. Vì ta xuống đây
để làm cho con trai chống đối cha, con gái chống đối mẹ, và con dâu chống
đối mẹ chồng. Và những kẻ thù của một người thì ở
ngay trong nhà hắn.” (Christ Brings Division: Do not think that I came
to bring peace on earth. I did not come to
bring peace but a sword. For I have come to set a
man against his father, a daughter against her mother, and a daughter-in-law against her
mother-in-law. And a man’s foes will
be those of his own household.) Lịch sử thế giới
đã ghi rõ điều này, và kinh nghiệm cay đắng của Việt “Sự truyền
đạo Thiên Chúa vào Việt Sự
phân biệt lương-giáo của ông cha chúng ta là có ý nghĩa sâu sắc. Vì “lương” có nghĩa là tốt, lành, lương
thiện, còn “giáo” chỉ các giáo dân, những người không “lương”. Linh Mục Lương Kim Định đã thú nhận một
ảnh hưởng tác hại của Công Giáo trên khối dân tộc Việt i).
Các giáo sĩ thừa sai Công Giáo khi tới Việt ii).
Các giáo sĩ thừa sai Công Giáo đã giữ những vai trò then chốt trong việc
thực hiện âm mưu phá hủy nền văn hóa cổ truyền Việt Nam, vận động
chính quyền Pháp xâm lược Việt Nam, tích cực đóng góp cho việc xâm lược
Việt Nam, và đào tạo một đạo quân thứ
5 bản địa, biến những kẻ tân
tòng đần độn trong tầng lớp cặn bã của xã hội Việt Nam thành một
đám nô lệ cho Vatican, coi thường luật lệ quốc gia và không ngần ngại
phản bội quê hương. iii). Một số không nhỏ giáo dân Việt Nam đã
hợp tác, tiếp tay với thực dân Pháp, đem nước ta vào vòng nô lệ Pháp
để được hưởng những quyền lợi đặc biệt tôn giáo của một thiểu
số cam phận làm thân trâu ngựa, phục tùng tuyệt đối các giáo sĩ ngoại
quốc, bất kể đến sự đau thương của cả một dân tộc bị nô lệ ngoại
bang. Đó
là những gì mà các thừa sai Gia Tô La Mã Giáo đã mang đến cho dân tộc
Việt Nam với kết quả là, sau khi chế độ thực dân cáo chung, là để lại
cho dân tộc Việt Nam một di sản nghi kỵ nhức nhối giữa đại khối dân
tộc và khoảng 5-7% dân số theo Công Giáo, trải dài từ Ải Nam Quan đến
mũi Cà Mâu, từ Công trường Phê-rô đến Bolsa ở Little Saigon, một di sản
nhức nhối, nghi kỵ trong đại khối dân tộc, không biết tới bao giờ mới
xóa sạch được, như linh mục Kim Dịnh đã nhận định. Sau
đây là phần chứng minh 3 nhận định nêu trên qua các tài liệu. Chúng
ta đã biết sách lược truyền đạo thiếu văn hóa của giáo sĩ Alexandre
de Rhodes, chúng ta đã biết việc dính vào chính trị nội bộ của Việt
Nam cùng việc tuyển mộ, chỉ huy một đoàn quân lính đánh thuê để giúp
Nguyễn Ánh của Giám mục Bá Đa Lộc, và chúng ta cũng đã biết những hoạt
động gián điệp của các Giám mục Gauthier, Retord, Huc, Pellerin, Puginier
v..v.. Những tài liệu sau đây sẽ cho
chúng ta thấy rõ thực chất những hoạt động "truyền giáo" của
các thừa sai Công Giáo ngoại quốc, tâm cảnh và hoạt động tiếp tay cho
giặc của những giáo dân Việt Nam, và từ đó chúng ta có thể suy ra những
nguyên nhân cấm đạo hay bách hại giáo dân. Những
tín đồ Công Giáo Việt "Vai trò của những tín đồ Công
Giáo trong cuộc xâm lược của liên
quân Pháp - Tây Ban Nha là gì? ..Sự thực
là, theo những tài liệu lưu trữ trong văn khố Pháp
thì, ngay từ tháng 9, 1858, nhiều toán tín đồ Công Giáo Việt Nam đã tới
liên lạc với những đoàn quân chiến đấu của Tây phương. Rigauld de Genouilly (tướng chỉ huy liên
quân Pháp - Tây Ban Nha ở Đà Nẵng; TCN) đã họp họ lại thành hai chi đội
và huấn luyện họ trong một doanh trại ở Tiên Trà. Một trong hai chi đội trên chiến đấu sát cánh với quân Pháp - Tây
Ban Nha ở Đà Nẵng, còn chi đội kia di chuyển xuống miền Nam, dự phần chiếa đấu trong cuộc xâm lược "lục tỉnh"
và họ đã dự trận Kỳ Hòa. Sau
trận Kỳ Hòa, những lính chiến đấu Công Giáo
Việt Nam đã phục vụ những người Tây phương ở Đà Nẵng tiếp tục phục
vụ người Pháp, làm lính chiến, thông ngôn, cu-li và thám báo, trong những
vùng chiếm được ở miền Nam. Vì
những dịch vụ này, họ được Đô Dốc - Toàn Quyền de la Grandière ban thưởng cho một số đất
quanh vùng Sài-gòn. Trong cuộc xâm lược
của liên quân Pháp - Tây Ban Nha từ 1858 đến 1862, những biện pháp cấm
đạo của Vua Tự Đức càng ngày càng khắc nghiệt và dễ hiểu. Đó chính là vì
Triều đình Huế tin rằng những tín đồ Công Giáo Việt Nam đã hỗ trợ
những đoàn quân xâm lăng. Những
đạo Dụ trong thời chiến này thường nhằm mục đích ngăn cản những tín
đồ Công Giáo Việt (What
was the role of the Vietnamese Catholics during the Franco-Spanish invasion?... In fact, French archival
sources show clearly that, as early as September 1858, groups of Catholics began to reach
the embattled European armies. Rigauld de
Genouilly formed the men into two indigenous detachments and trained them at a camp at
Tien Cha. One of these detachments fought
alongside the Franco-Spanish soldiers at Da-nang; the other went southward to participate
in the invasion of the "luc tinh" and fought in the battle of Ky Hoa. After the battle of Ky Hoa, the indigenous
Catholics militamen who entered the service of the Europeans at During
the Franco-Spanish invasion of 1858-1862, the Tu Duc Emperor's interdictions of
Catholicism grew increasingly severe and comprehensive.
This was primarily because the Đọc
lại lịch sử Việt "Bản chất và
mức độ hỗ trợ những đoàn quân viễn chinh Pháp của những tín đồ Công
Giáo là như thế nào? Những thư từ liên
lạc và phúc trình của Balny và Harmand, được Garnier phái đi chinh phục
nhiều tỉnh lỵ và những điểm trọng yếu trong miền đồng bằng, cho chúng
ta thấy một kiểu hỗ trợ đáng kể của những
tín đồ Công Giáo bao gồm - nhưng không chỉ giới hạn ở - những
nhiệm vụ hành chánh và quân sự. ... Để giúp chúng ta hiểu rõ hơn, chúng ta hãy
xét tới những hành động của Balny tại Phủ Lý và Hải Dương và của
Harmand ở Nam Định, và nhấn mạnh đến sự liên hệ giữa Bộ Truyền
Giáo Công Giáo và các lực lượng quân sự Pháp.
Sự phân tích những hành động này cho thấy, trong những cuộc tấn công vào những cứ điểm
của chính quyền Việt Nam, quân đội Pháp đã nhận được một mức độ hỗ trợ
rất đáng kể từ những thừa sai và những tín đồ Công Giáo Việt Nam. Hơn nữa,
những phương pháp mà các sĩ quan Pháp và những cộng tác viên Công Giáo
[Việt Nam] dùng tuyệt đối không thể coi là có đạo đức cao theo những
tiêu chuẩn đương thời của ngay chính họ, vì những
phái bộ truyền giáo Công Giáo đã dùng sức lao động (của tín đồ Công
Giáo bản xứ; TCN), tài nguyên, và tin tức tình báo, đổi lấy hậu thuẫn của Pháp để thực hiện sự tàn
sát liên miên người "lương", mạo phạm những công trình xây dựng
của Phật Giáo, thiêu hủy những làng mạc phi-Gia Tô, và cướp bóc những
thành phố của nhà Vua. Sự cộng
tác với chủ nghĩa đế quốc Pháp của những tín đồ Công Giáo [Việt
Nam] thường không được các sử gia
nhận biết đầy đủ, nhưng đó chính là một yếu
tố đáng kể góp phần thắng lợi cho Pháp ở Bắc Kỳ." (What
was the nature and extent of the assistance that the Catholics brought to the French
expedition? The
correspondence and reports of Balny and Harmand, who were dispatched by Garnier to obtain
the submission of many of the provincial citadels and strongpoints of the delta, reveal
pattern of significant Catholic assistance that included - but not limited to - formal
administrative and military duty. ...It is
useful to consider Balny's actions at Phu Ly and Hai-duong and Harmand's at Nam-dinh with
an emphasis on the relationship between Catholic Missions and the French forces. The analysis reveals that the French were far from
alone in their attacks on the loci of Vietnamese authority because the invaders received a
significant level of support from the missionaries and the Vietnamese Catholics. Moreover, the methods of the French officers and
their Catholic collaborators could hardly be considered as evidence of a superior morality
even by their own contemporary standards, for the Catholic Missions exchanged labor,
resources, and information in return for French assistance in perpetuating summary
executions, desecreations of Buddhist religious edifices, burning of non-Catholic
villages, and pillaging of imperial citadels. This
Catholic collaboration with French imperialism has not been adequately recognized by
historians, but it was a significant contributing factor to the French success in Trên
đây là tài liệu nghiên cứu từ văn khố Pháp của Giáo sư sử học Mark
L. McLeod. Hiện nay, có rất nhiều tài
liệu, rất nhiều chi tiết về sự cộng tác với thực dân Pháp của những
tín đồ Công Giáo Việt Tại
sao trung tâm kháng chiến Ba Đình của Đinh Công Tráng bị thất thủ? Tài liệu sau đây là của Linh Mục Trần
Tam Tĩnh viết trong cuốn Thập Giá và Lưỡi Gươm: "Cho tới khi chết
ngày 25 tháng 4/1892, giám mục Puginier đã hoạt động không ngưng nghỉ ngày
nào để củng cố địa vị của nước Pháp tại xứ ông đã nhận là quốc
gia mới. Người
ta còn giữ được mấy chục bản ghi chú và những tin tức tình báo có
mang chữ ký của ông trong những Văn Khố của Bộ Thuộc Địa. Một phần nhờ
vào các tin tức tình báo của giám mục mà quân Pháp có thể dẹp tan quân
đội kháng chiến của Việt Chúng
ta đã thấy, Công Giáo Việt "Giám
Mục Puginier viết rằng: "Không có các thừa sai và giáo dân Ki Tô Giáo
thì người Pháp cũng giống như những con cua đã bị bẻ gẫy hết càng. Thí dụ như vậy, tuy tầm thường mộc mạc
nhưng không kém phần chính xác và mạnh mẽ.
Thật vậy, không có các thừa sai và
giáo dân Ki Tô Giáo [xin
hiểu là Công Giáo], người Pháp sẽ bị bao
vây bởi toàn là kẻ thù; họ sẽ không thể tin cậy vào một ai; họ sẽ
chỉ nhận được những tin tức tình báo sai lầm, cung cấp với ác ý để
phá hoại tình thế của họ; họ sẽ bị đẩy
vào tình trạng không thể hoạt động được gì và sẽ phải hứng chịu những
thảm họa thực sự một cách nhanh chóng. Địa vị của họ ở đây
sẽ không giữ nổi được nữa, và họ sẽ bị buộc phải rời khỏi xứ, nơi đây quyền
lợi và ngay cả sự hiện diện của họ sẽ bị nguy hại." (Sans les missionnaires et les chrétiens,
écrit Mgr. Puginier, les Francais seraient comme les crabes auxquels on aurait cassé
toutes les pattes. La comparaison, pour être
triviale, ne manque pas de justesse et de force. En
effet, sans les missionnnaires et les chrétiens, les Francais se verraient entourés
d'ennemis; ils ne pouraient se fier à personne; ils ne recevraient que de faux
renseignements, méchamment donnés pour compromettre leur situation; ils se trouveraient
donc réduits à l'impossibilité d'agir et seraient rapidement exposés à des vrais
désastres. Leur position ici ne serait plus
tenable, et ils ne verraient forcés de quitter un pays où leurs intérêts et leur
existence même serait compromis.) Từ
những tài liệu dẫn chứng ở trên, chúng ta không còn nghi ngờ gì nữa
là, nếu không có những hành động nội ứng, tiếp tay với một mức độ
đáng kể của tín đồ Công Giáo Việt Nam thì chưa chắc Pháp đã lập nổi
nền đô hộ ở Việt Nam trong gần 100 năm.
Thế mà ngày nay còn có một số trí thức Công Giáo vẫn
tiếp tục ngụy biện là Công Giáo Việt Đó
là những chuyện tương đối xưa. Thế
còn ngày nay thì sao? Trong thời kháng
chiến chống Pháp trở lại Việt Nam, Giám mục Lê Hữu Từ cùng Linh Mục
Hoàng Quỳnh, người nổi danh với câu “Thà mất nước chứ chẳng thà mất
Chúa”, đã nhận lãnh vũ khí của Pháp để lập các khu tự trị (sic)
Bùi Chu, Phát Diệm, săn lùng Việt Minh, chống lại kháng chiến, giết hại
người “lương”. Thời Ngô Đình Diệm,
Công Giáo độc chiếm mọi quyền lợi, các linh mục, giám mục không khác
gì các lãnh chúa một vùng, hà hiếp dân chúng, cướp đất của dân (Đinh
Xuân Hải), cưỡng bách người ngoại đạo phải vào đạo, phá hủy đền
chùa, lùng bắt giết chóc sư sãi, tiêu diệt các giáo phái ở trong Nam
v..v.. vậy Công Giáo rõ ràng là một
tôn giáo phản quốc từ đầu đến cuối, đâu có sai. Trước
những sự kiện lịch sử về Giáo hội Công Giáo hoàn vũ và về vai trò của
Công Giáo Việt Nam trong cuộc xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp, tôi
xin đặt một câu hỏi với những người thường lên án tôi là chống
Công Giáo: Vậy thì sao? Có phải là một tội không? Hay đó là một trách nhiệm cần phải làm
của người trí thức Việt Mấy người phải
biết rằng, ngày nay, nói năng chống Ki-tô giáo, hay đúng hơn, nói lên những
sự thật về Ki-tô giáo, không còn là một điều cấm kỵ và phải chịu
đựng những sự bạo hành của Ki-tô giáo như trước. Đối với giới trí
thức, đây là một bổn phận của những con người hiểu biết để giải
hoặc quần chúng, giữ cho xã hội được lành mạnh. Sự xuất hiện của hàng ngàn tác phẩm
mà Ki-tô giáo mà những tín đồ Ki-tô cuồng tín liệt vào loại “chống
Ki-tô giáo” là một bằng chứng cụ thể nhất về sự tiến bộ trí thức
của nhân loại. Tác giả những cuốn
sách này, trong đó có những giới cao cấp trong Ki-tô giáo, những giáo sư
đại học, học giả, chuyên gia về tôn giáo v..v.. là những người đã nhận
lãnh trách nhiệm dẫn dắt quần chúng thoát ra khỏi những mê hoặc và xiềng
xích trí tuệ cũng như vật chất của Ki-tô giáo.
Sự hiện hữu của những tác phẩm này trong những xã hội
Ki-tô mà không gây ra một sự bất hòa, hỗn loạn nào trong xã hội vì lý
do tôn giáo là một bằng chứng khác về sự tiến bộ trí thức của nhân
loại, ít ra là ở trong những xã hội văn minh tân tiến. Vì không hiểu được những điều
trên, hay cố tình không hiểu, cho nên “người ta” vẫn tiếp tục lên
án những người viết ra những sự thật về Ki-tô Giáo là chống Ki-tô
Giáo, làm như Ki-tô Giáo là cái gì không nên chống hay không được chống,
và chống Ki-tô Giáo là một cái tội, hay là chuyện vô đạo đức. Thực ra, phải dùng
danh từ “giải hoặc Ki-tô giáo” thì mới đúng, bởi vì Ki-tô Giáo có
truyền thống mê hoặc giáo dân và quần chúng bằng những thông tin và
tuyên truyền sai sự thực. Riêng về
Việt Xin đừng cho là những
bài viết, tác phẩm trên là chia rẽ tôn giáo.
Hãy nhìn sang các nước Âu Châu và Hoa Kỳ mà Ki Tô Giáo là
tôn giáo của đa số người dân, nhưng những cuốn nghiên cứu về lịch sử
các giáo hội Ki Tô, về đời tư các giáo hoàng , hồng y, về những chuyện
thâm cung bí sử trong Vatican, về các tín lý hoang đường đã lỗi thời,
và ngay cả những chuyện hoang đường, tàn bạo độc ác, vô luân v..v..
trong Thánh Kinh Ki Tô Giáo, đều được phổ biến rộng rãi mà không gây
ra một xáo trộn nào, vậy không lẽ Công giáo Việt Nam chỉ có 5-7% dân số,
số tín đồ Tin Lành không đáng kể, mà lại sợ gây ra chia rẽ, xáo trộn
xã hội hay sao. Người Việt Điều đáng buồn là, vì hoàn cảnh đất nước từ khi Pháp xâm chiếm Việt Nam [với sự hỗ trợ đáng kể của Công Giáo Việt Nam], trí thức Việt Nam đã đi sau những trí thức Âu Mỹ cả nhiều thế kỷ trong nhiệm vụ “chống Công Giáo”, hay nói đúng hơn, theo tinh thần của Giao Điểm, “giải hoặc” Ki Tô Giáo nói chung, Công Giáo nói riêng.. © Copyright 2006 giaodiem.com |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com