giaodiem copyright
          posted: 17.4.2006

       Giao điểm và… tiếp theo.

Trần Chung Ngọc

Tại Sao Tôi “Chống” Ki-tô Giáo?.

Đúng là tôi có viết trên Giao Điểm nhiều bài nghiên cứu về Ki-tô giáo, Công Giáo cũng như Tin Lành, đặc biệt là về Công Giáo Việt Nam, nhưng cho rằng đưa ra những sự thực lịch sử về Công Giáo hoàn vũ nói chung, Công Giáo Việt Nam nói riêng, là “chống” Công Giáo thì tôi e rằng vừa không đúng, vừa có ý xâm phạm vào quyền tự do của tôi.  Không đúng vì bản chất của những sự kiện lịch sử là vô tư, là phi phe phái. Xâm phạm vào quyền tự do vì không ai có quyền lên án vì tôi viết ra những sự thực về Công Giáo.  Từ trước tới nay, có ai thấy một luận cứ nào đưa ra để phản bác những sự kiện lịch sử về Công Giáo mà tôi đưa ra?   Nhiều nhất là chỉ có thể nói là tôi đọc Kinh Thánh mà không hiểu, nhưng không bao giờ viết ra là họ đã hiểu Kinh Thánh như thế nào.  Như vậy, chống Công Giáo không phải là một tội, mà theo quan điểm của tôi, đó là trách nhiệm của những người đã biết khá nhiều về lịch sử của Công Giáo. Hàng trăm tác giả trí thức ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Ki-tô đã xuất bản những cuốn sách nghiên cứu về đủ mọi khía cạnh của Ki-tô Giáo nhưng không ai trong giới trí thức lên án họ là những người chống Ki Tô Giáo.  Những tài liệu tôi dùng để đưa ra những sự thật về Ki-tô Giáo đều là của các tác giả trên, không có môt tài liệu nào của Giao Điểm, của Phật Giáo, hay của Cộng Sản.  Mấy người có hiểu được như vậy không?  Mấy người to tiếng tự cho là tranh đấu cho tự do, nhân quyền, nhưng thực sự mấy người không hiểu thế nào là tự do, nhân quyền.  Cái tự do, nhân quyền của các người chỉ ở trên đầu môi chót lưỡi chứ không ở trong những hành động thực sự tôn trọng tự do và nhân quyền.

Cũng có người ở trong nước hỏi tôi tại sao lại “Chống Công Giáo, Tin Lành”, gây chia rẽ giữa các tôn giáo dân tộc, trái với chủ trương đại đoàn kết dân tộc để xây dựng đất nước của Nhà Nước v..v..?   Tôi cười và trả lời: 

Thứ nhất, đưa ra những tài liệu về sự thật của Công Giáo, Tin Lành như hàng trăm nhà trí thức Tây phương, ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Công Giáo, Tin Lành đã làm suốt mấy thế kỷ nay mà gọi là “chống Công Giáo” hay “chống Tin Lành” thì tôi xin nhận là đã “chống Công Giáo” hay “chống Tin Lành”.  Người ta lên án tôi chống Ki-tô Giáo chẳng qua chỉ vì sợ sự thật;

Thứ nhì, bản chất Công Giáo cũng như Tin Lành không phải là những tôn giáo dân tộc, nên không có vấn đề chia rẽ giữa các tôn giáo dân tộc.

Thứ ba, chủ trương đại đoàn kết của Nhà Nước là của … Nhà Nước, chứ Công giáo, Tin Lành chưa bao giờ chủ trương đoàn kết dân tộc.  Dân tộc của họ là dân Chúa, dân của nước Trời, không phải là dân Việt Nam.  Quê thật của họ là quê của David [Xin đọc Kinh Nhựt Khóa của Công Giáo] chứ không phải là Việt Nam.  Hãy tìm hiểu kỹ sách lược “cải đạo Á Châu” của Công Giáo, hãy đọc kỹ những “thông điệp phước lành” của mục sư Trần long thì có thể thấy rõ Ki-tô Giáo có bao giờ có chủ trương đoàn kết dân tộc hay không.  Đoàn kết dân tộc đối với họ là mọi người dân Việt Nam phải quỳ phục dưới chân Chúa Jesus như họ, phải làm con chiên để được dìu dắt làm đầy tớ, hầu hạ việc Chúa, như họ thường tự nhận. 

Thứ tư, với trách nhiệm của một “sĩ phu Bắc Hà” [tôi sinh ra ở Hà Nội, di cư vào Nam năm 1954, di cư sang Mỹ năm 1975],  hoặc của bất cứ một “sĩ phu Việt Nam”  nào khác, người nào đã đọc về lịch sử của một tôn giáo như Công Giáo, nhất là lịch sử du nhập của Công Giáo vào Việt Nam và những gì Công Giáo đã làm đối với nhân loại nói chung, đối với dân tộc Việt Nam nói riêng, từ ngày đầu cho đến ngày nay, thì tôi chắc cũng phải đi vào con đường như tôi mà thôi.  Lẽ dĩ nhiên, tôi không thể chỉ viết vu vơ, mà tôi sẽ cố gắng chứng minh từng nhận định như trên, và xin quý độc giả hiểu cho rằng, tôi không có cách nào có thể trình bày đầy đủ các chi tiết liên quan đến các điểm trên của một tôn giáo đã có 2000 tuổi đời.

Trước hết, tôi muốn đặt vài câu hỏi: Nếu thực sự tôi muốn chống Ki-tô Giáo thì sao?  Chống Ki-tô Giáo là một tội hay là một điều cấm kỵ?  Tôi hi vọng những người lên án tôi là chống Ki-tô Giáo hãy trả lời những câu hỏi này.  Nhưng thực ra thì, câu trả lời đã nằm trong sự hiện hữu của hàng trăm tác phẩm của chính các giới chức cao cấp trong Ki-tô Giáo: trong Công giáo như Tổng Giám Mục, Giám Mục, Linh Mục, Giáo sư đại học, chuyên gia về tôn giáo, và nhiều trí thức Công giáo, trong Tin Lành như các Giám mục, Mục sư và giới trí thức.  Lẽ dĩ nhiên, trong số này không có người Việt Nam vì người Công Giáo Việt Nam chỉ biết “quên mình trong vâng phục”, chủ trương “Giáo hội mẹ hát, Giáo hội con khen hay” một cách tuyệt đối, trừ một số hiếm hoi trí thức như Charlie Nguyễn, Phạm Hữu Tạo, đã công khai, và một số tín đồ đã âm thầm, thoát ra khỏi sự mê hoặc tôn giáo, thoát xác con chiên để trở lại làm người cho đúng nghĩa người.., và những người Việt Nam tân tòng Tin Lành, như mục sư Trần Long chẳng hạn, thì còn mê muội và cuồng tín hơn những người Tin Lành Âu Mỹ rất nhiều. 

Thứ đến, tôi cần có vài khẳng định.  Tôi không chống những người Ki Tô chỉ vì họ tin vào một Thượng đế hay một người mà họ gọi là Chúa Jesus.  Nếu họ tin rằng tất cả những gì tốt đẹp xảy ra cho họ đều là do Thượng đế ban cho họ, nếu họ tin rằng sau khi chết sẽ được lên thiên đường để sống đời đời bên cạnh Chúa Jesus của họ, thì tôi không có gì để nói hay để chống.  Vì đây là quyền tự do của mỗi cá nhân.  Con người có quyền tin vào bất cứ cái gì: một thiên chúa, một đấng siêu nhiên, một thần cây đa, một bình vôi, một chú cuội trên cung Hằng, hoặc không tin vào bất cứ đấng thiêng liêng nào.  Nhưng vấn đề chính là ở chỗ, từ những niềm tin này, Ki-tô giáo đã làm gì đối với nhân loại và khi du nhập vào Việt Nam, đã làm gì đối với tổ quốc và đồng bào Việt Nam?  Như vậy, cái mà tôi chống không phải là niềm tin của bất cứ ai, mà là những hành động của họ bắt nguồn từ niềm tin đó.   Ở đây, tôi chỉ xin nêu ra hai lý do tại sao tôi chống Ki Tô Giáo:  a) vì cái lịch sử tội ác của Ki-tô Giáo nói chung, Công Giáo nói riêng, đối với nhân loại, và b) vì những tác hại mà Công Giáo đã mang đến cho đất nước Việt Nam. 

a)  Vài Nét Về Lịch Sử Những Tội Ác Của Công Giáo.

Theo định nghĩa tôn giáo (Religion) của Tây phương trong Tự Điển thì đó là một “Niềm tin và tôn kính vào một quyền lực siêu nhiên được biết là đấng sáng tạo và cai quản vũ trụ” (Belief in and reverence for a supernatural power recognized as the creator and governor of the universe);   hoặc “thái độ tâm linh và tình cảm của một người chấp nhận sự hiện hữu của một quyền lực siêu nhân” (The spiritual or emotional attitude of one who recognizes the existence of a superhuman power).  Ki Tô Giáo là tôn giáo đúng như định nghĩa này. 

Một tôn giáo thường có ba mục đích chính. “Thứ nhất, tôn giáo là để dạy và khuyến khích đạo đức cho con người.” (First, religion is there to teach and encourage morality.)  “Thứ nhì, tôn giáo hiện hữu như là một gia đình thứ hai để hỗ trợ cho nhóm người có cùng đức tin trong cách sống lành thiện” (Second, it exists as a extra familiar support group of people with similar, or at least compatible, beliefs in how to live life correctly.) Và “Thứ ba, tôn giáo giúp chúng ta khai sáng tâm linh” (Third, it helps us achieve spiritual enlightenment.)

Ki Tô Giáo không những không thực hiện ba mục đích trên mà còn làm trái lại. Thật vậy, Lịch sử đẫm máu của Công Giáo đã chứng tỏ hơn gì hết Công Giáo, thay vì dạy và khuyến khích đạo đức con người, đã khuyến khích con người làm những việc đại ác như thiết lập những Tòa Án Xử Dị Giáo để tra tấn, giết chóc và cướp của của các nạn nhân, cùng chiến dịch săn lùng phù thủy thiêu sống vô số người vô tội, thiêu sống luôn cả khoa học gia Bruno, nạn nhân của sự ngu xuẩn của Giáo hội Công Giáo về vũ trụ học, nhưng lại nắm quyền sinh sát trong tay.   Tất cả những việc đại gian, đại ác như trên đều được thực hiện nhân danh đức tin vào một Thiên Chúa của Do Thái mà nền thần học Công Giáo đôn lên làm Thiên Chúa của cả loài người.  Thứ đến, Khi Công Giáo du nhập vào Việt Nam, tôn giáo này đã mê hoặc được một lớp tín đồ nổi tiếng là “đã phi dân tộc thì thể nào cũng phản dân tộc.”   Và sau cùng, một tôn giáo mà các con chiên phải tuyệt đối tuân phục các “bề trên” và được dạy để mà tin không cần biết, không cần hiểu, có nghĩa là một tôn giáo trong đó lý trí trở nên thừa thãi, thì không thể gọi là một tôn giáo giúp tín đồ khai sáng tâm linh. Và bây giờ, tôi xin đi vào vài chi tiết.

Ngày Chủ Nhật 12 tháng 3, 2000,  trong một cuộc “Thánh lễ” công cộng tại "Thánh đường" Phê-rô, trước nhiều chục ngàn con chiên, người Chủ Chiên, Đức “Thánh cha” John Paul II, đại diện cho "hội Thánh" Công Giáo gồm gần một tỷ tín đồ, trong đó có khoảng 5 triệu tín đồ Việt Nam, đã chính thức “xưng thú 7 núi tội lỗi” đối với nhân loại của Công Giáo, một tôn giáo tự nhận là “thiên khải”, “duy nhất”, “thánh thiện”, “mầu nhiệm”, “tông truyền”, “vương quốc của Thiên Chúa”, “cao quý”, “ánh sáng của nhân loại” v…v…, và xin thế giới tha thứ cho những hành động tàn bạo đối với nhân loại của những con cái giáo hội Công Giáo "thánh thiện".  Những hành động này, như được nhắc tới hết sức đại cương trong những lời xưng thú 7 núi tội lỗi của Công Giáo như sau:

1.  Xưng thú “tội lỗi chung”.

2.  Xưng thú “tội lỗi trong khi phục vụ “chân lý”” [Xin hiểu là đã gây ra những cuộc Thánh Chiến, những Tòa Hình Án Xử Dị Giáo, Săn Lùng Phù Thủy, làm tiền phong hay đồng hành với các thế lực thực dân Âu Châu để truyền đạo v..v.., tất cả đều nhân danh phục vụ “chân lý” của Công Giáo]

3.  Xưng thú “tội lỗi đưa đến sự chia rẽ giữa các tín đồ Ki Tô”.

4.  Xưng thú “tội lỗi trong sách lược bách hại dân Do Thái”.

5.  Xưng thú “tội lỗi trong những hành động với ý muốn thống trị kẻ khác, với thái độ thù nghịch đối với các tôn giáo khác, không tôn trọng truyền thống văn hóa và tôn giáo của các dân tộc nhỏ, kém phát triển”.

6.  Xưng thú “tội lỗi trong sự kỳ thị phái nữ, coi thường phẩm giá phụ nữ”.

7.  Xưng thú “tội lỗi trong việc vi phạm những quyền căn bản của con người”.

Các tín đồ Công Giáo, nhất là tín đồ Công Giáo Việt Nam, bèn tung hô hành động “xưng thú 7 núi tội lỗi” trên của Giáo Hoàng là một hành động can đảm chưa từng có trong giáo hội, theo luận điệu diễn giải của giới chăn chiên dạy các con chiên. Nhưng dù giáo hội có giải thích hành động xưng thú tội lỗi của giáo hoàng như thế nào đi chăng nữa, là hành động can đảm hay theo đúng tinh thần tự kiểm ăn năn thống hối của Công Giáo, là để thanh tẩy ký ức hay để tiến tới sự hòa hợp tôn giáo v…v…, các tín đồ Công Giáo vẫn không thể nào giải đáp được thỏa đáng những câu hỏi như:

Tại sao một giáo hội do chính Chúa thành lập, thường tự xưng là "thánh thiện", là "ánh sáng của nhân loại", là quán quân về "công bằng và bác ái", được "thánh linh hướng dẫn" v...v... lại có thể phạm những tội ác vô tiền khoáng hậu trong suốt 2000 năm nay đối với nhân loại như vậy?  trong khi các đạo khác, thí dụ như đạo Phật, thường bị Ki Tô Giáo,  và ngay chính Giáo hoàng John Paul II trong cuốn “Bước Qua Ngưỡng Cửa Hi Vọng”,  chụp cho cái mũ vô thần lên đầu, lại không hề làm đổ một giọt máu hoặc gây nên bất cứ một phương hại nào cho con người trong quá trình truyền bá trải dài hơn 2500 năm, từ trước Ki Tô Giáo hơn 500 năm? 

Những vô thượng thiên tài thuộc tầng lớp trí thức Công Giáo, như anh học trò đã tốt nghiệp Trung Học Phổ Thông Trần Mạnh Hảo, hay các giáo sư như Nguyễn Gia Kiểng, Đỗ Mạnh Tri v..v.., hay các linh mục nổi tiếng ở trong nước như linh mục Têphanô Chân Tín, Phêrô Nguyễn Hữu Giải, Tađêô Nguyễn Văn Lý và Phêrô Phan Văn Lợi, và ngay cả Giáo hoàng Benedict XVI đâu?  hãy trả lời trước thế giới và trước quốc dân Việt Nam những câu hỏi trên.  Tại sao và tại sao??

Những câu hỏi này sẽ luôn luôn ám ảnh những tín đồ Công Giáo có đầu óc, còn đôi chút lương tri và óc suy luận.  Vì một tôn giáo mà gây ra nhiều tội đại ác như tra tấn, tù đầy, thiêu sống v..v.., giết hại hàng chục triệu sinh mạng vô tội, gồm cả đàn bà và trẻ con, bất cứ vì lý do nào, thì không thể được coi là  một tôn giáo nữa.  Đó chẳng qua chỉ là một tổ chức núp sau bình phong tôn giáo, mượn danh thần thánh để mê hoặc đám tín đồ yếu kém, nhưng thực chất chỉ để duy trì những quyền lực thế tục và vơ vét của cải thế gian.  Lương tâm trí thức của họ bắt họ phải trực diện với sự thực này.  Phải chăng họ đã bị lừa dối từ bao thế kỷ nay bởi một cái bánh vẽ trên trời mà không cần đếm xỉa gì tới vấn đề đạo đức, luân lý?  Phải chăng họ đã bị nhào nặn từ nhỏ để có một tâm cảnh vô cùng ích kỷ, chỉ ham hố một sự “cứu rỗi” tưởng tượng cho riêng mình mà không cần biết đến cái cộng đồng tôn giáo của mình ra sao? Phải chăng họ đã bị nhồi sọ từ nhỏ đến độ chỉ còn có thể tin một cách mù quáng, không còn khả năng suy nghĩ để tìm ra lẽ thật? v..v..

Ở đây, hiển nhiên là tôi không thể đi vào chi tiết của tất cả 7 núi tội ác của Công Giáo.  Tôi chỉ xin trích dẫn một tài liệu của Tổng Giám Mục Peter de Rosa trong cuốn “Vicars of Christ, The Dark Side Of The Papacy”, Crown Publishers, Inc., New York, 1988, trg.162-166, nói về chỉ đạo của “Tòa Thánh” cho những Tòa Hình Án Xử Dị Giáo:

Tòa hình án trong thời Trung Cổ có thể làm bất cứ điều gì . Những phán quan của tòa hình án [ những Linh Mục] thuộc dòng tu Đa Minh, được giáo hoàng bổ nhiệm, không ở dưới quyền bất cứ một ai ngoài Thượng Đế và giáo hoàng. Họ đứng ngoài vòng xét xử của các giám mục và luật dân sự. Trong những quốc gia thuộc quyền giáo hoàng họ chính là luật lệ, vừa đóng vai công tố viên vừa đóng vai quan toà xử án.  Nguyên lý chỉ đạo của họ là : Thà giết oan 100 người vô tội còn hơn là để cho một kẻ dị giáo được tự do."

Tra tấn được dùng thả dàn. Mới một trăm năm trước đây, người ta trưng bày trong cái nhà ở góc đường của giáo hoàng Cuốn Sổ Đen dùng làm chỉ đạo cho những quan tòa hình án. Cuốn sổ có đánh số trang này thuộc trách nhiệm của Đại Phán Quan. Cái tên phổ thông của nó là Cuốn Sổ của Thần Chết. Sau đây là một phần được trích dẫn từ đó:

" Hoặc bị cáo thú tội và như vậy là có tội theo sự thú tội của chính hắn, hoặc hắn không thú tội nhưng vẫn là có tội dựa theo chứng cớ của các nhân chứng. Nếu một người nhận tất cả các tội đã gán cho hắn, đương nhiên hắn hoàn toàn có tội; nhưng nếu hắn chỉ thú nhận có một phần các tội trạng, hắn vẫn phải bị coi như là phạm tất cả các tội, vì phần mà hắn đã thú tội chứng tỏ rằng hắn có khả năng phạm tất cả các điểm khác trong bản cáo trạng...
Sự tra tấn thân xác đã chứng tỏ đó là phương cách có ích và hữu hiệu đưa tới sự sám hối tinh thần. Cho nên, sự lựa chọn một hình cụ tra tấn thích hợp nhất là trách nhiệm của quan toà hình án, ông ta sẽ quyết định dựa trên tuổi tác, phái nam hay nữ, và sự cường tráng thân thể của tội nhân. Nếu, trong trường hợp đã dùng đủ mọi cách mà con người xấu số kia vẫn không chịu nhận tội, phải coi hắn như là một nạn nhân của quỷ; và, như vậy, không được hưởng sự thương xót từ các kẻ tôi tớ của Thượng Đế ( các linh mục xử án ), hoặc sự thương hại hay khoan hồng nào của giáo hội Mẹ Thánh Thiện. Hắn là đứa con của sự đày đọa. Hãy để cho hắn chết rục cùng với những kẻ đã bị đày đọa vĩnh viễn xuống địa ngục."
Thật khó mà có thể kiếm được một văn kiện nào mà trái với những nguyên tắc công lý tự nhiên như vậy. Theo cuốn Sổ Đen, một đứa con phải phản bội cha mẹ, một bà mẹ phải phản bội đứa con. Không làm như vậy là một " tội lỗi đối với Toà Án Thánh" và đáng bị tuyệt thông, nghĩa là, không được hưởng các bí tích và, nếu không có tu chính án, không được lên thiên đàng."

[To the medieval Inquisition, everything was permitted.  The Dominican Inquisitors, being the pope's appointees, were subject to no one but God and his Holiness.  They were outside the juridiction of bishops and of civil law.  In the Papal States they were a law unto themselves, acting as prosecutors and judges.  Their guiding principle was: "Better for a hundred innocent people to die than for one heretic to go free."

Torture was freely used.  Only a hundred years ago, there was on display in the pope's House on the Corner the   Black Book,  or  Libro  Nero,  for  the  guidance  of  inquisitors.  This manuscript in folio form was the charge of the Grand Inquisitor.  Its popular name was the Book of the Death.  This is part of what it said:

Either the person confesses and he is proved guilty from his own confession, or he does not confess and is equally guilty on the evidence of witnesses.   If a person confesses the whole of what he is accused of, he is  unquestinably guilty of the whole; but if he confesses only a part, he ought still to be regarded as guilty of the whole, since what he has confessed proves him to be capable of guilt as to the other points of the accusation...

   Bodily torture has ever been found the most salutary and efficient means of leading to spiritual repentance.  Therefore, the choice of the most befitting mode of torture is left to the Judge of the Inquisition, who determines according to the age, the sex, and the constitution of the party...If, notwithstanding all the means employed,  the unfortunate wretch still denies his guilt, he is to be considered as a victim of the devil: and, as such, deserves no compassion from the servants of God, nor the pity and indulgence of Holy Mother Church: he is a son of perdition.  Let him perish among the damned.

   It would be hard to find any document so contrary to the principles of natural justice.  According to  the Black Book, a child must betray his parents, a mother betray her child.  Not to do so is a "sin against the Holy Office" and merits  excommunication, that is, exclusion from the sacraments and, if there is no amendement, exclusion from heaven...]

 Chúng ta thấy, “con cái phải tố cáo cha mẹ, cha mẹ phải tố cáo con, thà giết oan 100 người còn hơn là để cho một kẻ dị giáo được tự do, và dùng các hình cụ khủng khiếp nhất trong lịch sử để tra tấn các nạn nhân, nhiều khi đến chết, để cưỡng bách họ phải thú tội dù họ không có tội v..v..”   chính là “đặc sản” của Công Giáo trong thời Trung Cổ, đưa đến số nạn nhân bị chết vì tra tấn, vì thiêu sống v..v.. lên tới khoảng 10 triệu người.  Ai phủ nhận những sự kiện lịch sử này, xin lên tiếng.  Đó là những “sự thật lịch sử” của Công Giáo, và những sự thật này đã chống Công Giáo hơn gì hết.  Những tín đồ Công Giáo, nhất là những tín đồ sống trong các ốc đảo ngu dốt (từ của Linh Mục Trần Tam Tĩnh) ở Việt Nam, bị bịt mắt bịt tai, nên không hề biết đến cái lịch sử đẫm máu này của Giáo hội Công Giáo.  Nhưng ngày nay, tuyệt đại đa số người dân Việt Nam có quyền biết đến những sự thật lịch sử này hay không?  Ai nói không, xin lên tiếng và cho biết tại sao không?

Tưởng chúng ta cũng nên biết rằng, khi Giáo hoàng John Paul II chính thức xưng thú 7 núi tội ác của Công Giáo và xin thế giới tha thứ cho những tội ác của Công Giáo bằng những lời lẽ rất đại cương, thì ký giả Lewis Weinstein đã viết trong tờ Chicago Tribune ngày 16 tháng 3, 2000,  như sau:

"Hầu hết các tín đồ Công Giáo  không biết đến cái lịch sử (chứa đầy tội ác của Công Giáo) mà Giáo hoàng nói đến, và nếu, theo lời của Hồng Y John O'Connor, tổng giám mục địa phận New York, tín đồ Công Giáo phải "được sự thật giải phóng", thì họ phải biết sự thật đó như thế nào."

(Most Catholics are unaware of the history to which the pope alluded, an if, in the words of Cardinal John O'Connor, archbishop of New York, Catholics are to be "liberated by the truth", then they must know what that truth is.)

Sự thật đó như thế nào?  Đọc kỹ lịch sử truyền đạo của Công Giáo, chúng ta có thể tóm tắt sự thật đó trong một câu ngắn gọn: 7 núi tội ác của Công Giáo đối với nhân loại nói chung, Việt Nam nói riêng,  có thể mô tả như sau, mượn lời của Nguyễn Trãi trong bài Bình Ngô Đại Cáo:

Quyết Đông hải chi thủy, bất túc dĩ trạc kỳ ô;

Khánh Nam sơn chi trúc, bất túc dĩ thư kỳ ác.

(Độc ác thay, trúc rừng không ghi hết tội;

Dơ bẩn thay, nước bể không rửa sạch mùi.)

bởi vì, trong gần 20 thế kỷ, cả trăm triệu sinh mạng gồm già, trẻ, lớn, bé, nam, nữ, vô tội đã bị giáo hội, nhân danh phúc âm, chân lý của Chúa, bắt bớ, giam cầm, tù đầy, bạo hành, tra tấn cực hình, cắt cổ, chôn sống, thiêu sống v…v… chưa kể đến những hành động phá hủy đền thờ miếu mạo của các tôn giáo khác, hoặc những hành động nhằm tiêu diệt các nền văn hóa phi Ki-Tô v..v… theo sách lược truyền đạo của Công Giáo trên thế giới.

Một cá nhân theo một tôn giáo nào đó có thể vì bản tính, cho nên đã có những hành động ác, vô đạo đức v.. v.. .  Nhưng một tôn giáo,  đúng nghĩa là một tôn giáo, như một tập thể, thì không thể có những chủ trương tàn ác, phi luân, vô đạo đức v..v.. trong kinh điển, giáo lý của mình.  Những tôn giáo Đông phương như Phật Giáo, Khổng Giáo, Lão Giáo, tuy không phải là những tôn giáo theo đúng định nghĩa tôn giáo của Tây Phương, đều chủ trương hòa bình, nâng cao phẩm giá, thăng tiến trí tuệ của con người.  Phật Giáo có “thiên kinh, vạn quyển”, nhưng chúng ta không thể tìm thấy trong đó bất cứ một lời lẽ độc ác nào, tất cả đều là “khuyến thiện, răn đe việc ác” và đề ra những phương pháp tu tập với mục đích phát triển trí tuệ, khai sáng tâm linh, đưa con người đạt tới một cảnh giới cao hơn.  Do đó, lịch sử truyền bá Đạo Phật trong hơn 25 thế kỷ không hề cưỡng bách bất cứ ai phải theo đạo Phật, không hề làm đổ một giọt máu vì truyền đạo, không hề có ý đồ xâm lăng văn hóa, và không hề khuyến khích con người đi vào một niềm tin mù quáng, không cần biết, không cần hiểu. Trái lại, trong Kinh Thánh của Ki-tô Giáo mà người Ki-tô cho đó là những lời mạc khải của Thiên Chúa của họ, lại chứa đầy những điều ác độc, vô luân, mâu thuẫn, sai lầm về thần học cũng như về khoa học.   Nhưng khổ thay, chính vì tin vào những điều trên trong Kinh Thánh mà Ki-tô Giáo đã trở thành một tôn giáo phạm nhiều tội ác nhất đối với nhân loại.  Ai không đồng ý, xin lên tiếng.  Tôi sẽ chỉ dẫn cho những đoạn không thể đọc được trong Kinh Thánh, những đoạn làm ô nhiễm đầu óc con người, những đoạn huyền hoặc mê tín mà vì tin vào chúng mà mà những người Ki-tô đã tạo nên một lịch sử đẫm máu của Ki-tô Giáo, và đã để lại cho nhân loại những dấu vết kinh hoàng nhất..  Đây là những sự kiện lịch sừ bất khả phủ bác.

b).   Những Tác Hại Công Giáo Mang Đến Việt Nam.

Chúng ta cũng không nên quên Công Giáo đã giữ một vai trò then chốt quyết định trong việc đưa Việt Nam vào vòng nô lệ của Pháp.  Lịch sử đã chứng minh: Sách lược truyền giáo của Công Giáo La Mã là một sách lược chủ trương xóa bỏ mọi nền văn hóa phi Ki-Tô, dùng bạo lực thắng công lý, dùng gian xảo, dối trá để lừa dối dân gian, dùng bả vật chất và mê tín dị đoan để chiêu dụ và giữ tín đồ, dùng những phép lạ ngụy tạo để huyễn hoặc làm mê mẩn đầu óc tín đồ v..v..  Một sắc thái đặc biệt nhất của Công Giáo là, bất cứ tôn giáo này truyền tới đâu là ở đó xảy ra những cảnh hỗn loạn, thù nghịch, chia rẽ v…v… trong gia đình, trong xã hội, thực hiện đúng lời của Chúa Giê-su trong Thánh Kinh, Matthew 10: 34-36:

Chúa Ki Tô Mang Đến Sự Chia Rẽ:

 Đừng nghĩ rằng ta xuống trần để mang lại hòa bình trên trái đất.  Ta không xuống đây để mang lại hòa bình mà là gươm giáo.

 ta xuống đây để làm cho con trai chống đối cha, con gái chống đối mẹ, và con dâu chống đối mẹ chồng.

 Và những kẻ thù của một người thì ở ngay trong nhà hắn.”

(Christ Brings Division:

Do not think that I came to bring peace on earth.  I did not come to bring peace but a sword.

For I have come to set a man against his father, a daughter against her mother, and a daughter-in-law against her mother-in-law.

And a man’s foes will be those of his own household.)

Lịch sử thế giới đã ghi rõ điều này, và kinh nghiệm cay đắng của Việt Nam đối diện với sự xâm nhập của Công Giáo còn ghi rõ trong sử sách.  Ở đây, sách lược truyền giáo của đạo Giê-su đã đưa tới những cảnh bất hòa trong những gia đình nào có người bỏ tôn giáo truyền thống của gia đình, của dân tộc, để tin theo những lời dụ dỗ huyền hoặc của Công Giáo, từ bỏ không còn tôn trọng những lễ tiết truyền thống trong gia đình.  Công Giáo cũng đưa tới những cảnh Lương Giáo nghi kỵ, thù nghịch, tàn sát lẫn nhau như lịch sử đã chứng tỏ.  Chính Linh mục Lương Kim Định cũng phải thú nhận trong cuốn  Cẩm Nang Triết Việt, trang 57:

“Sự truyền đạo Thiên Chúa vào Việt Nam…đưa đến sự chia khối dân tộc đang thống nhất thành hai phe Lương Giáo làm cho sự liên lạc giữa đôi bên trở nên nhức nhối đầy e dè nghi kỵ.  Đấy là một tai nạn lịch sử mà thời gian tuy có làm giảm đi, nhưng xem ra không sao xóa sạch được”

Sự phân biệt lương-giáo của ông cha chúng ta là có ý nghĩa sâu sắc.  Vì “lương” có nghĩa là tốt, lành, lương thiện, còn “giáo” chỉ các giáo dân, những người không “lương”.  Linh Mục Lương Kim Định đã thú nhận một ảnh hưởng tác hại của Công Giáo trên khối dân tộc Việt Nam: gây chia rẽ.  Tìm hiểu những nguyên nhân làm cho khối dân tộc đang thống nhất thành hai phe Lương Giáo,   chúng ta có thể nêu lên vài điều.  Những  nguyên  nhân  này không bao giờ được các nhà viết sử thực dân hay tay sai Công Giáo bản địa nhắc tới.  Những nguyên nhân này là gì, hiện nay tài liệu có khá đầy đủ,  tôi có thể tóm tắt những nguyên nhân đó trong ba điều sau đây:

i). Các giáo sĩ thừa sai Công Giáo khi tới Việt Nam truyền đạo đã không giữ đúng vai trò truyền giáo thuần túy của mình.   Họ có những thái độ ngạo mạn, khinh rẻ chính quyền địa phương vì tự cho là văn minh tiến bộ trong khi bản chất của họ, ít ra là về phương diện tâm linh, luân lý, và đạo đức, thật là hẹp hòi và chậm tiến. Với tâm cảnh cuồng tín, tổng hợp của ngu dốt và huênh hoang, cộng với sự kiêu căng lố bịch, cho rằng đạo của mình là đạo "thiên khải" chân thật duy nhất, họ đã dùng những phương pháp truyền đạo gian xảo, xuyên tạc sự thật để mạ lỵ, xâm phạm tới toàn bộ tín ngưỡng, đạo đức, và cấu trúc văn hóa truyền thống của xã hội Việt Nam.  Điển hình là tên thừa sai Alexandre de Rhodes, đã viết cuốn “Phép Giảng Tám Ngày” để truyền bá những điều mê tín hoang đường của Công Giáo, và trong đó hắn đã xuyên tạc mạ lỵ Đức Phật, Đức Khổng Tử và Lão Tử.  Họ đã trắng trợn can thiệp vào chính trị nội bộ của Việt Nam và trong nhiều trường hợp đã xúi dục nội loạn và gây nên sự chia rẽ, bất hòa, xáo trộn trong xã hội Việt Nam.

ii). Các giáo sĩ thừa sai Công Giáo đã giữ những vai trò then chốt trong việc thực hiện âm mưu phá hủy nền văn hóa cổ truyền Việt Nam, vận động chính quyền Pháp xâm lược Việt Nam, tích cực đóng góp cho việc xâm lược Việt Nam,  và đào tạo một  đạo quân thứ   5 bản địa, biến những kẻ  tân tòng đần độn trong tầng lớp cặn bã của xã hội Việt Nam thành một đám nô lệ cho Vatican, coi thường luật lệ quốc gia và không ngần ngại phản bội quê hương.

iii).  Một số không nhỏ giáo dân Việt Nam đã hợp tác, tiếp tay với thực dân Pháp, đem nước ta vào vòng nô lệ Pháp để được hưởng những quyền lợi đặc biệt tôn giáo của một thiểu số cam phận làm thân trâu ngựa, phục tùng tuyệt đối các giáo sĩ ngoại quốc, bất kể đến sự đau thương của cả một dân tộc bị nô lệ ngoại bang.

Đó là những gì mà các thừa sai Gia Tô La Mã Giáo đã mang đến cho dân tộc Việt Nam với kết quả là, sau khi chế độ thực dân cáo chung, là để lại cho dân tộc Việt Nam một di sản nghi kỵ nhức nhối giữa đại khối dân tộc và khoảng 5-7% dân số theo Công Giáo, trải dài từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mâu, từ Công trường Phê-rô đến Bolsa ở Little Saigon, một di sản nhức nhối, nghi kỵ trong đại khối dân tộc, không biết tới bao giờ mới xóa sạch được, như linh mục Kim Dịnh đã nhận định. 

Sau đây là phần chứng minh 3 nhận định nêu trên qua các tài liệu. 

Chúng ta đã biết sách lược truyền đạo thiếu văn hóa của giáo sĩ Alexandre de Rhodes, chúng ta đã biết việc dính vào chính trị nội bộ của Việt Nam cùng việc tuyển mộ, chỉ huy một đoàn quân lính đánh thuê để giúp Nguyễn Ánh của Giám mục Bá Đa Lộc, và chúng ta cũng đã biết những hoạt động gián điệp của các Giám mục Gauthier, Retord, Huc, Pellerin, Puginier v..v..  Những tài liệu sau đây sẽ cho chúng ta thấy rõ thực chất những hoạt động "truyền giáo" của các thừa sai Công Giáo ngoại quốc, tâm cảnh và hoạt động tiếp tay cho giặc của những giáo dân Việt Nam, và từ đó chúng ta có thể suy ra những nguyên nhân cấm đạo hay bách hại giáo dân.

Những tín đồ Công Giáo Việt Nam hợp tác và làm tay sai cho quân xâm lăng Pháp, ngay từ ngày đầu cho tới ngày cuối,  nay đã là những sự kiện lịch sử không ai có thể phủ nhận.  Một trí thức trong nước, ông Trần Xuân An, đã viết: “..trong suốt cả 131 năm chiến tranh, nước ta bị ngoại xâm và phải chống ngoại xâm (1858 – 1885 – 1930 – 1945 – 1954 – 1975 – 1989), không còn nghi ngờ gì nữa, Thiên Chúa giáo là một lực lượng phản quốc từ đầu đến cuối.”   Ông An viết không sai, chúng ta hãy đọc vài đoạn viết về vai trò của Công Giáo trong giai đoạn đầu của cuộc xâm lược của Pháp, trong cuốn The Vietnamese Response to French Intervention: 1862-1874 của Giáo sư sử học Mark L. McLeod, trg. 45-47, dựa trên những tài liệu từ văn khố Pháp:

   "Vai trò của những tín đồ Công Giáo  trong cuộc xâm lược của liên quân Pháp - Tây Ban Nha là gì?  ..Sự thực là, theo những tài liệu lưu trữ trong văn khố Pháp thì, ngay từ tháng 9, 1858, nhiều toán tín đồ Công Giáo Việt Nam đã tới liên lạc với những đoàn quân chiến đấu của Tây phương.  Rigauld de Genouilly (tướng chỉ huy liên quân Pháp - Tây Ban Nha ở Đà Nẵng; TCN) đã họp họ lại thành hai chi đội và huấn luyện họ trong một doanh trại ở Tiên Trà.  Một trong hai chi đội trên  chiến đấu sát cánh với quân Pháp - Tây Ban Nha ở Đà Nẵng, còn chi đội kia di chuyển xuống miền Nam, dự phần chiếa đấu trong cuộc xâm lược "lục tỉnh" và họ đã dự trận Kỳ Hòa.  Sau trận Kỳ Hòa, những lính chiến đấu Công Giáo Việt Nam đã phục vụ những người Tây phương ở Đà Nẵng tiếp tục phục vụ người Pháp, làm lính chiến, thông ngôn, cu-li và thám báo,  trong  những vùng chiếm được ở miền Nam.  Vì những dịch vụ này, họ được Đô Dốc - Toàn Quyền  de la Grandière ban thưởng cho một số đất quanh vùng Sài-gòn.

Trong cuộc xâm lược của liên quân Pháp - Tây Ban Nha từ 1858 đến 1862, những biện pháp cấm đạo của Vua Tự Đức càng ngày càng khắc nghiệt và dễ hiểu.  Đó chính là vì Triều đình Huế tin rằng những tín đồ Công Giáo Việt Nam đã hỗ trợ những đoàn quân xâm lăng.  Những đạo Dụ trong thời chiến này thường nhằm mục đích ngăn cản những tín đồ Công Giáo Việt Nam liên lạc với những lực lượng Pháp - Tây Ban Nha.  Thí dụ, một đạo Dụ ban hành vào tháng 5, 1859, nêu rõ rằng, khi nghe tin thành Saigon thất thủ, những tín đồ Công Giáo Việt Nam ở miền Nam đã lợi dụng tình thế để khủng bố người "lương" hay "tốt" (nghĩa là, người phi- Công Giáo) và đi làm "tay sai và mật thám cho Tây Dương "

(What was the role of the Vietnamese Catholics during the Franco-Spanish invasion?... In fact,  French  archival sources show clearly that, as early as September 1858, groups of Catholics began to reach the embattled European armies.  Rigauld de Genouilly formed the men into two indigenous detachments and trained them at a camp at Tien Cha.  One of these detachments fought alongside the Franco-Spanish soldiers at Da-nang; the other went southward to participate in the invasion of the "luc tinh" and fought in the battle of Ky Hoa.  After the battle of Ky Hoa, the indigenous Catholics militamen who entered the service of the Europeans at Da nang continued to serve the French in the occupied south as soldiers, interpreters, coolies, and guides.  They were rewarded for their services by Admiral-Governor de la Grandière, who granted them concessions of land in the Saigon area.

During the Franco-Spanish invasion of 1858-1862, the Tu Duc Emperor's interdictions of Catholicism grew increasingly severe and comprehensive.   This was primarily because the Hue court believed that the Vietnamese Catholics supported the invading armies.  The wartime edicts were thus largely directed to the problem of preventing the Vietnamese Catholics from communicating with the Franco-Spanish forces.   An edict of May 1859, for example, stated that, upon hearing of the fall of the Saigon citadel, the Vietnamese Catholics of the south were taking advantage of the situation in order to terrorize the "luong" or "good" (that is, non-Catholics) people and to serve as "lackeys and spies for the Westerners")

Đọc lại lịch sử Việt Nam trong giai đoạn Francis Garnier chiếm thành Hà Nội và các tỉnh lân cận như Phủ Lý, Nam Định, Hải Dương v..v.. chúng ta sẽ thấy sự thực về vai trò cộng tác, tiếp tay, hỗ trợ của giáo dân Gia Tô Việt Nam cho những đoàn quân xâm lăng ngoại quốc như thế nào.  Mark L. McLeod, Ibid.,  trg. 114-122:

"Bản chất và mức độ hỗ trợ những đoàn quân viễn chinh Pháp của những tín đồ Công Giáo là như thế nào?

Những thư từ liên lạc và phúc trình của Balny và Harmand, được Garnier phái đi chinh phục nhiều tỉnh lỵ và những điểm trọng yếu trong miền đồng bằng, cho chúng ta thấy một kiểu hỗ trợ đáng kể của những tín đồ Công Giáo bao gồm - nhưng không chỉ giới hạn ở - những nhiệm vụ hành chánh và quân sự.  ... Để giúp chúng ta hiểu rõ hơn, chúng ta hãy xét tới những hành động của Balny tại Phủ Lý và Hải Dương và của Harmand ở Nam Định, và nhấn mạnh đến sự liên hệ giữa Bộ Truyền Giáo Công Giáo và các lực lượng quân sự Pháp.   Sự phân tích những hành động này cho thấy, trong những cuộc tấn công vào những cứ điểm của chính quyền Việt Nam, quân đội Pháp đã nhận được một mức độ hỗ trợ rất đáng kể từ những thừa sai và những tín đồ Công Giáo Việt Nam.  Hơn nữa, những phương pháp mà các sĩ quan Pháp và những cộng tác viên Công Giáo [Việt Nam] dùng tuyệt đối không thể coi là có đạo đức cao theo những tiêu chuẩn đương thời của ngay chính họ, vì những phái bộ truyền giáo Công Giáo đã dùng sức lao động (của tín đồ Công Giáo bản xứ; TCN), tài nguyên, và tin tức tình báo, đổi lấy hậu thuẫn của Pháp để thực hiện sự tàn sát liên miên người "lương", mạo phạm những công trình xây dựng của Phật Giáo, thiêu hủy những làng mạc phi-Gia Tô, và cướp bóc những thành phố của nhà Vua.  Sự cộng tác với chủ nghĩa đế quốc Pháp của những tín đồ Công Giáo [Việt Nam]  thường không được các sử gia nhận biết đầy đủ, nhưng đó chính là một yếu tố đáng kể góp phần thắng lợi cho Pháp ở Bắc Kỳ."

(What was the nature and extent of the assistance that the Catholics brought to the French expedition?

The correspondence and reports of Balny and Harmand, who were dispatched by Garnier to obtain the submission of many of the provincial citadels and strongpoints of the delta, reveal pattern of significant Catholic assistance that included - but not limited to - formal administrative and military duty.  ...It is useful to consider Balny's actions at Phu Ly and Hai-duong and Harmand's at Nam-dinh with an emphasis on the relationship between Catholic Missions and the French forces.  The analysis reveals that the French were far from alone in their attacks on the loci of Vietnamese authority because the invaders received a significant level of support from the missionaries and the Vietnamese Catholics.  Moreover, the methods of the French officers and their Catholic collaborators could hardly be considered as evidence of a superior morality even by their own contemporary standards, for the Catholic Missions exchanged labor, resources, and information in return for French assistance in perpetuating summary executions, desecreations of Buddhist religious edifices, burning of non-Catholic villages, and pillaging of imperial citadels.  This Catholic collaboration with French imperialism has not been adequately recognized by historians, but it was a significant contributing factor to the French success in Tonkin.)

Trên đây là tài liệu nghiên cứu từ văn khố Pháp của Giáo sư sử học Mark L. McLeod.  Hiện nay, có rất nhiều tài liệu, rất nhiều chi tiết về sự cộng tác với thực dân Pháp của những tín đồ Công Giáo Việt Nam. Tuy nhiên, sau đây tôi chỉ xin trích dẫn hai tài liệu của chính những bậc lãnh đạo trong Công Giáo, một Việt và một Pháp. 

Tại sao trung tâm kháng chiến Ba Đình của Đinh Công Tráng bị thất thủ?  Tài liệu sau đây là của Linh Mục Trần Tam Tĩnh viết trong cuốn Thập Giá và Lưỡi Gươm:

"Cho tới khi chết ngày 25 tháng 4/1892, giám mục Puginier đã hoạt động không ngưng nghỉ ngày nào để củng cố địa vị của nước Pháp tại xứ ông đã nhận là quốc gia mới.  Người ta còn giữ được mấy chục bản ghi chú và những tin tức tình báo có mang chữ ký của ông trong những Văn Khố của Bộ Thuộc Địa.  Một phần nhờ vào các tin tức tình báo của giám mục mà quân Pháp có thể dẹp tan quân đội kháng chiến của Việt Nam.  Trung tâm kháng chiến khốc liệt nhất là ở Ba Đình, Thanh Hóa, dưới sự chỉ huy của Đinh Công Tráng.  Đó là một làng được tăng cường bởi một vòng đai lũy tre, những ụ kháng chiến, những hầm trú ẩn, và một hệ thống hầm giao thông được xếp đặt một cách tinh vi.  Để "bình định" làng này, quân đội Pháp đã kéo tới 2,250 binh sĩ với 25 khẩu đại bác, 4 tàu chiến dưới sự chỉ huy của đại tá Metzinger.  Cuộc tấn công của Pháp ngày 18 tháng 12/1886 bị đẩy lui.  Quân Pháp bao vây  để  tìm  kiếm  một chiến thuật mới.  Sung sướng thay cho họ, một sĩ quan trẻ, đại úy Joffre (sau này trở thành thống chế nổi tiếng của Pháp trong đệ nhất Thế Chiến), đã nghĩ đến việc cầu sự trợ giúp của Trần Lục, cha xứ Phát Diệm và là Phó Tướng đặc trách bình định các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tịnh.  Trần Lục, được giám mục Puginier ban phước lành, và mang 5000 giáo dân Công Giáo  đến giúp quân Pháp.  Và Ba Đình bị thất thủ."

Chúng ta đã thấy, Công Giáo Việt Nam đã giữ một vai trò tay sai quyết định để đưa nước nhà vào vòng nô lệ Pháp.  Điều này, chúng ta có thể thấy rõ ràng trong một văn kiện có tính cách  khẳng định sau đây của chính Giám mục Puginier, được trích dẫn trong cuốn Catholicisme et Sociétes Asiatiques của  Alain Forrest và Yoshiharu Tsuboi:

"Giám Mục Puginier viết rằng: "Không có các thừa sai và giáo dân Ki Tô Giáo thì người Pháp cũng giống như những con cua đã bị bẻ gẫy hết càng.  Thí dụ như vậy, tuy tầm thường mộc mạc nhưng không kém phần chính xác và mạnh mẽ.   Thật vậy, không có các thừa sai và giáo dân Ki Tô Giáo [xin hiểu là Công Giáo], người Pháp sẽ bị bao vây bởi toàn là kẻ thù; họ sẽ không thể tin cậy vào một ai; họ sẽ chỉ nhận được những tin tức tình báo sai lầm, cung cấp với ác ý để phá hoại tình thế của họ; họ sẽ bị đẩy vào  tình trạng không thể hoạt động  được gì và sẽ phải hứng chịu những thảm họa thực sự một cách nhanh chóng.  Địa vị của họ ở đây sẽ không giữ nổi được nữa, và họ sẽ bị buộc phải rời khỏi xứ, nơi đây quyền lợi và ngay cả sự hiện diện của họ sẽ bị nguy hại."

(Sans les missionnaires et les chrétiens, écrit Mgr. Puginier, les Francais seraient comme les crabes auxquels on aurait cassé toutes les pattes.  La comparaison, pour être triviale, ne manque pas de justesse et de force.  En effet, sans les missionnnaires et les chrétiens, les Francais se verraient entourés d'ennemis; ils ne pouraient se fier à personne; ils ne recevraient que de faux renseignements, méchamment donnés pour compromettre leur situation; ils se trouveraient donc réduits à l'impossibilité d'agir et seraient rapidement exposés à des vrais désastres.  Leur position ici ne serait plus tenable, et ils ne verraient forcés de quitter un pays où leurs intérêts et leur existence même serait compromis.)

Từ những tài liệu dẫn chứng ở trên, chúng ta không còn nghi ngờ gì nữa là, nếu không có những hành động nội ứng, tiếp tay với một mức độ đáng kể của tín đồ Công Giáo Việt Nam thì chưa chắc Pháp đã lập nổi nền đô hộ ở Việt Nam trong gần 100 năm.    Thế mà ngày nay còn có một số trí thức Công Giáo vẫn tiếp tục ngụy biện là Công Giáo Việt Nam không có hợp tác với thực dân Pháp, không phản bội quê hương v..v..  Họ cố tình lờ đi những tài liệu của các nhà nghiên cứu sử học người ngoại quốc và của chính những người trong Công Giáo như Giám Mục Puginier, Linh mục Trần Tam Tĩnh, và Linh mục Lương Kim Định, và cố nêu cao sự đóng góp của Công Giáo cho Việt Nam, điển hình là vai trò của tên thừa sai gián điệp Alexandre de Rhodes trong việc sáng tạo ra chữ Quốc Ngữ, mà không biết đến âm mưu của tập đoàn thừa sai Công Giáo, nghĩ ra loại Quốc Ngữ này để xóa bỏ nền văn hóa cổ truyền Việt Nam.  Còn ai cho rằng những tài liệu trên là của Giao Điểm hay của Cộng Sản để chống phá Ki-tô Giáo thì cứ việc lên tiếng, tôi sẽ không cãi lại. 

Đó là những chuyện tương đối xưa.  Thế còn ngày nay thì sao?  Trong thời kháng chiến chống Pháp trở lại Việt Nam, Giám mục Lê Hữu Từ cùng Linh Mục Hoàng Quỳnh, người nổi danh với câu “Thà mất nước chứ chẳng thà mất Chúa”, đã nhận lãnh vũ khí của Pháp để lập các khu tự trị (sic) Bùi Chu, Phát Diệm, săn lùng Việt Minh, chống lại kháng chiến, giết hại người “lương”.  Thời Ngô Đình Diệm, Công Giáo độc chiếm mọi quyền lợi, các linh mục, giám mục không khác gì các lãnh chúa một vùng, hà hiếp dân chúng, cướp đất của dân (Đinh Xuân Hải), cưỡng bách người ngoại đạo phải vào đạo, phá hủy đền chùa, lùng bắt giết chóc sư sãi, tiêu diệt các giáo phái ở trong Nam v..v..  vậy Công Giáo rõ ràng là một tôn giáo phản quốc từ đầu đến cuối, đâu có sai.

Trước những sự kiện lịch sử về Giáo hội Công Giáo hoàn vũ và về vai trò của Công Giáo Việt Nam trong cuộc xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp, tôi xin đặt một câu hỏi với những người thường lên án tôi là chống Công Giáo:  Vậy thì sao?  Có phải là một tội không?  Hay đó là một trách nhiệm cần phải làm của người trí thức Việt Nam đã có ít nhiều hiểu biết về bộ mặt thực của Công Giáo, hoàn vũ cũng như Việt Nam?

Mấy người phải biết rằng, ngày nay, nói năng chống Ki-tô giáo, hay đúng hơn, nói lên những sự thật về Ki-tô giáo, không còn là một điều cấm kỵ và phải chịu đựng những sự bạo hành của Ki-tô giáo như trước. Đối với giới trí thức, đây là một bổn phận của những con người hiểu biết để giải hoặc quần chúng, giữ cho xã hội được lành mạnh.  Sự xuất hiện của hàng ngàn tác phẩm mà Ki-tô giáo mà những tín đồ Ki-tô cuồng tín liệt vào loại “chống Ki-tô giáo” là một bằng chứng cụ thể nhất về sự tiến bộ trí thức của nhân loại.  Tác giả những cuốn sách này, trong đó có những giới cao cấp trong Ki-tô giáo, những giáo sư đại học, học giả, chuyên gia về tôn giáo v..v.. là những người đã nhận lãnh trách nhiệm dẫn dắt quần chúng thoát ra khỏi những mê hoặc và xiềng xích trí tuệ cũng như vật chất của Ki-tô giáo.   Sự hiện hữu của những tác phẩm này trong những xã hội Ki-tô mà không gây ra một sự bất hòa, hỗn loạn nào trong xã hội vì lý do tôn giáo là một bằng chứng khác về sự tiến bộ trí thức của nhân loại, ít ra là ở trong những xã hội văn minh tân tiến.  Vì không hiểu được những điều trên, hay cố tình không hiểu, cho nên “người ta” vẫn tiếp tục lên án những người viết ra những sự thật về Ki-tô Giáo là chống Ki-tô Giáo, làm như Ki-tô Giáo là cái gì không nên chống hay không được chống, và chống Ki-tô Giáo là một cái tội, hay là chuyện vô đạo đức.  

Thực ra, phải dùng danh từ “giải hoặc Ki-tô giáo” thì mới đúng, bởi vì Ki-tô Giáo có truyền thống mê hoặc giáo dân và quần chúng bằng những thông tin và tuyên truyền sai sự thực.  Riêng về Việt Nam, tôi cho rằng sự hiện hữu của những tác phẩm, bài viết của Giao Điểm thực sự hết sức cần thiết để lấy lại công bằng lịch sử, để mở mang dân trí.  Những cuốn về lịch sử Công Giáo, giáo lý Công Giáo, con người Giê-su lịch sử, và đặc biệt những tác phẩm nghiên cứu với đầy đủ tài liệu về sự hợp tác của Giáo dân Công giáo với thực dân Pháp để xâm chiếm Việt Nam, về những nhân vật Công Giáo như Trần Lục, Nguyễn Trường Tộ, Pétrus Ký mà người Công Giáo thường tôn lên làm những nhà yêu nước, vĩ nhân của Việt Nam v..v.., không có mục đích gì hơn là viết lại lịch sử cho đúng với sự thật.

Xin đừng cho là những bài viết, tác phẩm trên là chia rẽ tôn giáo.   Hãy nhìn sang các nước Âu Châu và Hoa Kỳ mà Ki Tô Giáo là tôn giáo của đa số người dân, nhưng những cuốn nghiên cứu về lịch sử các giáo hội Ki Tô, về đời tư các giáo hoàng , hồng y, về những chuyện thâm cung bí sử trong Vatican, về các tín lý hoang đường đã lỗi thời, và ngay cả những chuyện hoang đường, tàn bạo độc ác, vô luân v..v.. trong Thánh Kinh Ki Tô Giáo, đều được phổ biến rộng rãi mà không gây ra một xáo trộn nào, vậy không lẽ Công giáo Việt Nam chỉ có 5-7% dân số, số tín đồ Tin Lành không đáng kể, mà lại sợ gây ra chia rẽ, xáo trộn xã hội hay sao.  Người Việt Nam lại có thể man rợ, cuồng tín đến độ không thể chấp nhận sự thật lịch sử, gây ra xáo trộn, bạo động trong xã hội hay sao?   

Điều đáng buồn là, vì hoàn cảnh đất nước từ khi Pháp xâm chiếm Việt Nam [với sự hỗ trợ đáng kể của Công Giáo Việt Nam], trí thức Việt Nam đã đi sau những trí thức Âu Mỹ cả nhiều thế kỷ trong nhiệm vụ “chống Công Giáo”, hay nói đúng hơn, theo tinh thần của Giao Điểm, “giải hoặc” Ki Tô Giáo nói chung, Công Giáo nói riêng..

à đọc tiếp

© Copyright 2006 giaodiem.com

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com