giaodiem copyright
          posted: 25.4.2006
BỐN PHÚC ÂM 
[By Judith Hayes]

Trần Chung Ngọc

Trong bài “Thiết Kế Thông Minh & Khoa Học”, đăng trên Giao Điểm tháng 12, 2005, tôi có dịch phần cô đọng sách Sáng Thế Ký trong 3 trang giấy của tác giả Judith Hayes trong cuốn The Happy Heretic, Prometheus Books, New York, 2000.  Tân Ước là phần tiếp nối của Cựu Ước cho nên trong bài này tôi xin dịch phần cô đọng 4 Phúc Âm trong Tân Ước trong vài trang giấy của Judith Hayes, cũng ở trong cuốn sách trên.  Tác giả đã cô đọng 4 Phúc Âm Matthew, Mark, Luke, và John trong Tân ước vào trong 7 trang, từ trang 149-155.  Thật ra, tác giả không hoàn toàn tóm tắt 4 Phúc Âm trong Tân Ước mà trong đó chúng ta còn thấy những ý kiến, nhận định của tác giả trên những điều viết trong 4 Phúc Âm.

Chúng ta đã biết qua bài cô dọng sách Sáng Thế Ký, Judith Hayes là một người lạc đạo, theo nghĩa đã theo đạo rồi lại bỏ đạo.   Ông nội của Judith Hayes cũng như bố của Judith Hayes là những người mộ đạo thuần thành.  Nhưng Judith Hayes giải thích tại sao bà lại mất đức tin trong Ki Tô Giáo, trang 36.  Bà có người bạn trẻ, Susan, theo Phật Giáo.  Người bạn trẻ chết làm bà ta rất buồn, và theo giáo thuyết của Ki-tô Giáo, thì Susan, sẽ phải xuống hỏa ngục [của Chúa lòng lành!!].  Judith Hayes liền đọc kỹ Kinh Thánh từ đầu đến cuối để tìm ra một giải thích hợp lý.  Bà viết:  “Không phải là tôi buồn vì mất đi người bạn Susan, mà là chính là vì đọc cuốn Kinh Thánh từ đầu đến cuối đã phá hủy đức tin của tôi.  Chính cuốn Kinh Thánh, khi nghiên cứu kỹ, đã chứng tỏ là quá man rợ, sơ khai, và mâu thuẫn, làm cho đức tin ngây thơ của tôi bị tắt ngấm.  Đức tin của tôi đặt căn bản trên sự ngu dốt về những lời viết trong Kinh Thánh (sự ngu dốt ám ảnh hầu hết các tín đồ Ki-tô),  và chính là sự khảo sát kỹ càng những lời đó đã chấm dứt đức tin của tôi.” [But it was that reading (the Bible cover-to-cover), not my worry over Susan, that destroyed my faith. The Bible itself, upon close scrunity, proved so barbaric, primitive, and contradictory, that my naïve faith was extinguished.   My faith had been based on ignorance of the Bible’s real words (an ignorance possessed by most Christians), and it was a careful examination of those words that ended my faith.]

Trước khi đi vào nội dung bài dịch, tôi xin báo cùng quý độc giả một tin vui về Giao Điểm, nhưng xin quý độc giả hãy đón nhận với tất cả sự dè dặt..  Số là, hôm trước có người bạn gọi giây nói cho tôi cho biết đã đọc trên một website nào đó, một bạn trẻ có viết là ông Tòa Smith và tác giả Dan Brown đều thuộc tổ chức Giao Điểm và là tay sai của CS cả.  Tôi tò mò vào Đàn Chim Việt theo dõi bài viết của Hoàng Thái Du và những ý kiến của độc giả về bài này thì lượm được thêm khá nhiều thành viên mới của Giao Điểm như sau, nguyên văn:

-        3 Tổng Thống Giao Điểm Mỹ, 1 Hoàng Đế Giao Điểm Pháp:  Thomas Jefferson, James Madison, Abraham Lincoln, Napoléon Bonaparte.

-        1 đại văn hào Giao Điểm Pháp: Voltaire.

-        Tổng Giám Mục Giao Điểm Peter de Rosa, tác giả cuốn “Vicars of Christ”.

-        Đài truyền hình Giao Điểm Discover Mỹ.

-        Đài phát thanh Giao Điểm BBC Anh.

-        Nhà xuất bản Giao Điểm xuất bản cuốn The Da Vinci Code

-        Hãng làm phim Giao Điểm làm phim The Da Vinci Code, có tài tử Giao Điểm đóng phim.

-        Khán giả Giao Điểm sẽ ùn ùn đi coi cuốn phim này.

-        Bọn Giao Điểm da trắng mới, bọn Luật sư Mỹ đại diện cho các con chiên bị linh mục hiếp dâm.

-        Sử gia Giao Điểm Pháp Georges Coulet.

-        Sử Gia Giao Điểm Patrick J. N. Tuck

Tôi có thể thêm vào danh sách trên rất nhiều danh nhân trí thức có tên tuổi, nhưng chừng đó kể ra cũng đủ.  Nhưng ít ra, tôi muốn thêm vào một “Giao Điểm” cỡ bự:   Khách sạn Hyatt.  Vì tôi vừa đọc ở phi trường IAH của ông Bush bảng quảng cáo sau đây của khách sạn Hyatt về ý nghĩa của tội lỗi (sin) và cứu rỗi (salvation):  Tội Lỗi: Thực Đơn Ăn Sáng Mới Của Hyatt” (Sin: The New Hyatt Breakfast Menu); Cứu Rỗi: Phòng Tập Mới Của Hyatt” (Salvation: The New Hyatt Stay Fit Gym). [“salvation” đi kèm với “sin” có nghĩa là cứu rỗi]

Lẽ dĩ nhiên, tác giả của những ý kiến trên Đàn Chim Việt chỉ là viết chơi, chỉ có ý chọc quê những người chụp mũ bừa bãi Giao Điểm, nhưng cũng đã nói lên một điều:  đó là giới trẻ ngày nay sáng suốt chứ không ngu như những người chụp mũ Giao Điểm là chống Ki-tô Giáo hay là tay sai của Cộng Sản, và thực chất những luận điệu chụp mũ là vô giá trị, vì tất cả chỉ là sự vu khống vô căn cứ của một số người không có mấy đầu óc.  Có bạn trẻ còn viết:  “Những người chống Giao Điểm là những người chưa từng đọc những bài trên Giao Điểm, chỉ phản ứng theo tiếng chuông, nghe tiếng chuông là xông ra ”chống [từ mà tác giả đó dùng nghe không mấy êm tai: (xông ra “cẩu sực”) nên tôi sửa lại là “chống” cho nó nhẹ bớt đi].  Điều này quả thật đúng, y chang như những người tin vào cuốn Kinh Thánh là những người chưa từng đọc Kinh Thánh.  Và sau đây là phần dịch bài cô đọng 4 Phúc Âm của tác giả Judith Hayes.

*

*       *

TÂN ƯỚC:

Matthew, Mark, Luke, John:

4 sách này đều như nhau (all the same) vì người ta cho rằng chúng cùng kể một câu chuyện về cuộc đời của Jesus, nhưng chúng lại kể quá khác nhau, bất đồng ý kiến với nhau trên nhiều điểm, lớn cũng như nhỏ, cho nên thực sự chúng chẳng như nhau chút nào, và dù có nhiều người cho rằng chúng như nhau, không phải vậy – chúng rất khác nhau.  Nếu điều này nghe có vẻ hoang mang, chúng ta hãy thử đọc chúng.

Chúng mở đầu cho cái gọi là Tân ước, nhưng chúng tung ra một tác phẩm cẩu thả, bừa bãi (they do a haphazard, slipshod job of it).  Đọc chúng cũng giống như là nghe một ban tứ ca (a quartet) hát lạc giọng với nhau.

Chúng ta đọc Matthew và nghĩ rằng, đó là một câu chuyện hấp dẫn, thu hút.  Rồi đọc Mark và nghĩ rằng đó cũng là một câu chuyện hấp dẫn, nhưng Mark bỏ đi hầu hết những điều thu hút trong đó (left out almost all the spectacular stuff).  Rồi đọc tiếp Luke, đến đây thì phải giơ hai tay lên than trời, chẳng có gì là giống bất cứ Phúc Âm nào ở trên.  Đọc đến John thì chúng ta đành bỏ cuộc và bắt đầu nghĩ rằng có lẽ để thì giờ đọc, cuốn Treasure Island chẳng hạn, thì tốt hơn.

Mark, được mọi người đồng thuận là đã được viết trước hết, không nói gì đến sự sinh ra của John the Baptist, đến gia phả của Jesus, các thiên thần loan báo sự sinh ra của Jesus cho các mục đồng, 3 nhà thông thái đến chầu Jesus, Jesus cắt bì, Herod giết những đứa trẻ vô tội, hay Jesus bắt đầu giảng đạo từ năm 12 tuổi trong một đền thờ Do Thái.  Còn nữa, Mark không nói gì về sự sinh ra của Jesus.

Chúng ta hãy suy nghĩ một chút về điểm này.  Chúng ta đi kể một câu chuyện về Đấng Cứu Thế (Saviour of the world), được gửi từ trên trời xuống để cứu nhân loại khỏi sự trừng phạt vĩnh viễn (eternal damnation), nhưng lại chẳng buồn nói gì đến sự sinh ra của ông ta.  Chúng ta có cho rằng nhân loại tất nhiên phải rất quan tâm đến điều này không?   Đơn giản chỉ là ông ta từ trên trời rơi xuống, hay phụt ra từ miệng núi lửa, hay sinh ra trong một hang, hay bị đặt trong một cái giỏ và để ở ngưỡng cửa một nhà nào đó..?   Chúng ta có nghĩ rằng sự sinh ra của ông ta chẳng có gì là quan trọng không?  Điều duy nhất mà Mark nói về Jesus  là khi ông ta đã 30 tuổi (Mark 1: 9).

Vì những sự bất phù hợp trong 4 Phúc Âm, các học giả thường bất đồng ý kiến về ngày sinh của Jesus (nếu thực sự đã có một Jesus lịch sử sinh ra).  Ngày sinh đó có thể là bất cứ ngày nào trong khoảng từ 17 TTL (Trước Tây Lịch) đến 7 TL, theo lịch của Gregory.  Do đó, Jesus đã sinh ra nhiều năm hoặc trước hoặc sau ngày sinh của ông ta.  Thật là một điều khôi hài khá thú vị.

Có nhiều phép lạ được cho là Jesus làm.  Thí dụ, trong John (nhưng không có trong Matthew, Mark, và Luke) Jesus biến nước thành rượu trong một tiệc cưới (John 2: 1-11).  Về phép lạ này, thế giới thực sự cần đến một Đấng Cứu Thế.  Người ta đã uống nhiều rượu trong tiệc cưới nhưng còn muốn uống thêm nữa.  Tôi (Judith Hayes) tự hỏi phải chăng Jesus tự nhủ: “Ta sẽ lo đến những đứa trẻ đang chết đói sau này, nhưng hiện nay, mấy tên say kia đang cần thêm rượu.”

Trong Matthew, Mark, và Luke (nhưng không có trong John) Jesus đi trên sóng nước.  Đây phải chăng là một phép lạ vị tha và từ bi?  (This is one compassionate altruistic miracle?)   Hãy khoan cảm động đế ứa nước mắt trước hành động nhân từ, từ thiện này.  Chúng ta hãy nói đến những lưới đánh cá.  “Và Jesus nói với họ: Hãy đi theo Ta và Ta sẽ làm cho các ngươi trở thành những ngư phủ tung lưới đánh người (fishers of men).  Và ngay lập tức mấy dân đánh cá [Judith Hayes quên không nhắc tới những địa danh Bùi Chu, Phát Diệm] bỏ lưới và đi theo ông ta [Mark 1: 17-18].”

Còn nữa, “Nước thiên đường giống như một cái lưới, quăng xuống biển có thể vớt lên mọi thứ (Matthew 13: 47)”  “Và Jesus nói với họ: Hãy quăng lưới bên tay phải của thuyền, và các ngươi sẽ tìm thấy (John 21: 6) v..v.. và v..v..

Chỉ có một điểm mà 4 Phúc Âm phù hợp với nhau là về các bàn chân (The one thing that all four gospels do agree on is – feet).  Chúng ta thấy những cảnh rửa chân, rửa chân mình, rửa chân cho người khác, và xức dầu lên chân, nhiều cảnh hôn chân (a great deal of kissing of feet), lau chùi chân v..v… thật là không bao giờ hết.   Luke 7:38: “Và đứng khóc dưới chân và đàng sau Jesus và bắt đầu rửa chân ông ta bằng nước mắt, dùng tóc của mình chùi chân ông ta, và hôn chân ông ta, xức dầu chân ông ta”..

Nhưng thôi, chúng ta hãy đi sang chuyện khác, như vậy đã quá đủ rồi (enough is enough already).

Trong những năm giảng đạo, Jesus nói vài ẩn dụ.  Một trong những ẩn dụ này, trong Matthew (nhưng không có trong Mark, Luke và John), kể về chuyện 10 trinh nữ (Matthew 21: 5), tất cả đều dự định hưởng một đêm tân hôn với cùng một người trong cùng một đêm.  Tân lang ra lệnh cho họ phải mặc những bộ quần áo lót của Victoria Secret và Frederick of Holywood [những bộ quần áo lót có mặc trông cũng như không]  Hắn ta dự tính một đêm tân hôn đặc biệt.  Nhưng phá trinh 10 trinh nữ trong một đêm? (Vow) [He is planning himself one heck of an evening.  But ten virgins to deflower?] 

Trong khi hắn đang dự tiệc, thì những vị hôn thê đang thử quần áo, và dùng tốn khá nhiều dầu cho đèn để có thể thấy rõ họ đang làm gì.   Năm trong số trinh nữ mặc quần áo nhanh hơn là năm người kia, vì thế tiết kiệm được nhiều dầu.  Do đó khi đến lúc đi gặp vị hôn phu thì năm người không còn đủ dầu trong đèn để soi đường, và không được hưởng đêm tân hôn.

Tuy nhiên khi anh ta xuất hiện, trên người không có gì ngoài cái mặt nạ đen của Zorro và đôi ủng bằng da đen, thì vài trinh nữ hoảng sợ.   Đây là điều dễ hiểu.  Dù sao thì chúng ta cũng thấy rõ luân lý của câu chuyện này.  Vậy luân lý đó là gì?  Nên chắc rằng mình có đủ dầu trong đèn để có thể đến với tân lang trong đêm tân hôn.

Một ẩn dụ khác trong Luke (nhưng không có trong Matthew, Mark, và John), nói về đứa con lạc mất (prodigal son).  Có hai đứa con trai, và thằng em đòi cha phải chia cho nó gia tài – ngay bây giờ.  Ông bố bèn cho nó phần gia tài nó đòi, và nó mang hết phần gia tài đó đến một nơi xa và tiêu sài phung phí hết trong những cuộc ăn chơi trác táng (Luke 15:13).   Trở thành đói rách, cực khổ, nó bèn trở về nhà, nghĩ rằng người cha sẽ quở trách nó nặng nề.  Nhưng thật là ngạc nhiên, ông bố không những không hề trách mắng mà còn sai đầy tớ lấy những bộ quần áo đẹp nhất mặc cho nó, giầy dép cho nó đi, và cả nhẫn cho nó đeo tay, và còn ra lệnh giết một con bê mập, mở tiệc ăn mừng: vì con ta đã chết, nay lại sống lại, nó đã đi mất, nay lại tìm lại được (Luke 15: 22-24). 

Người con lớn, trong suốt thời gian qua, ở lại giúp cha làm việc nặng nhọc.  Nghe tiếng đàn hát bèn hỏi tên đầy tớ có chuyện gì?  Người đầy tớ cho biết là tiệc mửng em hắn đã trở về.  Người con lớn nổi sùng, bất mãn, phàn nàn với cha là: tôi ở lại làm việc nặng nhọc trong khi nó đi tiêu hết tiền của cha với các gái điếm thế mà khi nó trở về lại giết bê để ăn mừng? (Luke 15: 30:  But as soon as thy son was come, which had devoured thy living with harlots, thou hast killed for him the fatted calf).

Rồi người cha giải thích cái chuyện tầm phào “đứa con đã mất nay lại trở về”, và mọi sự đều tốt đẹp, mọi người đều vui mừng v..v..  Trừ con bê mập. [and everything is fine, everyone’s happy.  Except the fatted calf]  (Lời bình của TCN:  Luân lý của ẩn dụ này là, theo tinh thần của câu chuyện và không xa với lời giải thích của các “bề trên”:  Cứ tha hồ làm mọi chuyện tội lỗi, chỉ cần “trở lại đạo” dù người ta chưa bao giờ ở trong đạo, về với Thiên Chúa là Thiên Chúa sẽ “hoan nghênh giáng lâm”)

Một trong những phép lạ mà Jesus làm, được ghi trong Matthew, Mark, và Luke (nhưng không có trong John), là về một người bị quỷ ám.  Cả đám quỷ ám.  Jesus ra lệnh cho mấy con quỷ ra khỏi tên kia và nhập vào một đàn heo [vài con quỷ nhập vào đàn heo 2000 con ??]  Các con quỷ tuân lệnh Chúa lòng lành [Le bon Dieu] và đàn heo nhào xuống biển chết đuối hết [để diệt mấy con quỷ].  Này!  Tôi (Judith Hayes) không có bịa chuyện đâu đấy!  Hãy đọc Matthew 6: 30, Mark 5:11, Luke 8:33.

Còn nhiều chuyện đại khái như trên xảy ra (More stuff like this happens)..   Nhưng chúng ta hãy đi vào phần chính của 4 Phúc Âm:

Jesus bị lính La Mã kéo vào nhà tù, rồi từ đó bị đưa đi đóng đinh trên thập giá.  Ông ta chết tốt, rồi sau 3 ngày 3 đêm [Tân Ước kể từ chiều thứ Sáu đến sáng Chủ Nhật là 3 ngày 3 đêm cho phù hợp với chuyện Jona nằm trong bụng cá 3 ngày 3 đêm trong Cựu Ước], sống lại từ cái chết, và bay lên trời.  Và không có ai còn nhìn thấy ông ta kể từ khi đó. (He dies.  Then a couple of days later he raises from the dead, and ascends into heaven.  And no one’s seen him since).

Đúng là một câu chuyện hấp dẫn, phải không?  Nhưng trước khi bị đóng đinh trên thập giá, Jesus, để sửa soạn cho số phận sau cùng của mình, đã đi vào vùng sa mạc, để bị Satan cám dỗ.  Trong 40 ngày bị quỷ cám dỗ ông ta không ăn uống gì, và sau 40 ngày, ông ta cảm thấy đói.  Các bạn hãy nghĩ xem ông ta làm gì trong 40 ngày đó?  Nói chuyện gì với Satan?  Về Football hay về Microsoft đối với Macintosh?…

Dù sao thì sau khi thành công cưỡng lại mọi cám dỗ của Satan, Jesus có một kinh nghiệm chẳng mấy vui trước khi chết.  Ông ta dự bữa ăn chiều cuối cùng với 12 tông đồ.  “Hoan nghênh giáng lâm!  Ta rất vui vì các người đã đến đông đủ ở đây.  Nhưng có một người sẽ phản bội Ta tối nay, và số còn lại sẽ chuồn gấp khi thấy Ta gặp nạn.  Nhưng thôi đủ rồi.  Simon, hãy đưa mụt tạc (mustard) sang đây.” (Matthew 26:46; Matthew 26: 56)

Bây giờ chúng ta sang tới cảnh Jesus vác cây thập giá đi lên đồi Sọ, nơi đây người ta sẽ đóng đinh ông ta trên cây thập giá đó.   Tại sao khi được lệnh vác cây thập giá Jesus không nói: “Đứa nào muốn vác thì vác, tao không vác, chúng mày làm gì tao nào?”  Ông ta còn gì để mất?  Chúng có thể làm gì ông hơn là cái hình phạt đóng đinh?  [Jesus không có can đảm nói như vậy vì con người ai cũng ham sống sợ chết, muốn kéo dài sự sống của mình càng lâu càng tốt, hi vọng sẽ có một phép lạ nào đo xảy ra.  Bởi vậy, trong cơn tuyệt vọng trước khi tắt hơi, Jesus mới than:  Chúa ơi, Chúa ơi, sao Ngài lại ruồng bỏ con?]

(Về chuyện này, nhà tư tưởng gia rự do (freethinker) vĩ đại nhất của Mỹ là Robert G. Ingersoll viết: 
Nhưng sau cùng, khi đối diện thần chết, Giê-su mới nhận ra là mình sai lầm và than khóc: "Chúa ơi! Chúa ơi! Sao Ngài lại ruồng bỏ con?" )

Nhưng dù sao thì cuối cùng ông ta vẫn chết.  Giả thử ông ta sống lại sau 3 ngày, vậy thì cái chết đó không phải là chết thực, có phải không?  Những nấm mồ thường là những trụ xứ vĩnh viễn rất đáng tin cậy của người đã chết.  Tuy nhiên, Matthew 28: 7 kể: “Và hãy đi mau, nói với tông đồ của ông ta là ông ta đã sống lại từ chết; và thật vậy, ông ta đã đi đến Galilee trước rồi, ở đó các người sẽ thấy ông ta.  Ta bảo với ngươi như vậy.”

Nhưng đối với tôi (Judith Hayes), đó lại là một vấn đề lớn:  “Anh đã sống lại từ chết!  Đây có phải là trường hợp xảy ra thường ngày?  Đây là một hiện tượng ngoạn mục, hấp dẫn, làm ra lịch sử.”  Bây giờ, ai là người được Jesus chọn để làm nhân chứng cho biến cố kỳ lạ này?  2 người đàn bà.  Và có thể chỉ có một.  Các Phúc Âm không nhất quán về điều này.  Trong một Phúc Âm, chỉ có một người đàn bà nhìn thấy ngôi mộ trống và rồi nhìn nhầm Jesus là người làm vườn (a gardener).  John 20: 15:  Jesus nói với bà ta:  “Người đàn bà kia!  Tại sao lại khóc?”  Người đàn bà, nhầm tưởng Jesus là người làm vườn, nói với Jesus: “Thưa ông, nếu ông đã mang Ngài (Jesus) đi thì hãy cho tôi biết đã để Ngài ở đâu, để tôi sẽ đến mang Ngài đi”.

Người đàn bà trước ngôi mộ trống nhầm Jesus với người làm vườn.  Tin tức này sẽ truyền nhanh như một làn chớp.  Tôi (Judith Hayes) có thể thấy những giòng tít lớn trên báo chí: “NGƯỜI ĐÀN BÀ Ở TRƯỚC MỒ CHÚA NHÌN NHẦM CHÚA CỦA MÌNH ĐÃ CHẾT, NAY SỐNG LẠI TỪ CHẾT, LÀ NGƯỜI LÀM VƯỜN!”  Anh không làm những phép lạ như vậy với 1 hay 2 người đàn bà.  Anh muốn họ đi loan tin trước, rồi người ta sẽ tin.  Và anh không cần phải chờ 6 hay 70 năm sau để có người viết lại chuyện này [Các Phúc Âm được viết mấy chục năm sau khi Chúa chết]

Sau chuyện sống lại, câu chuyện trở thành càng ngày càng tệ.  Jesus đặt kế hoạch bốc mình lên thiên đường.  Ông ta có nói với ai trước về kế hoạch này không?---KHÔÔNG!!  Matthew và John không hề nhắc tới biến cố kỳ lạ này.  Mark và Luke chỉ mô tả biến cố này bằng đôi câu.  Mark 16: 19:  “Sau khi Chúa nói chuyện với họ, ông ta được bốc lên thiên đường và ngồi lên trên tay phải của God.” [So then after the Lord had spoken unto them , he was received up into heaven, (yawn) and sat on the right hand of God].  Tất cả chỉ có vậy thôi sao? (That’s it?)  Đó là sự mô tả của một người tự bốc mình lên trời cho đến khi biến mất trong thiên đường?!  (That is the description of someone levilating himself up into the sky until he disappears into heaven?)

Về chuyện thăng thiên của Jesus, Robert G. Ingersoll cũng viết: “Nếu thực sự ông ta thăng thiên, tại sao ông ta không làm việc này trước công chúng, trước những người đã bạo hành ông? Tại sao cái phép lạ vĩ đại nhất trong các phép lạ này lại phải thực hiện trong bí mật, trong một xó xỉnh?...”  (If he really ascended, why did he not do so in public, in the presence of his persecutors? Why should this, the greatest of miracles, be done in secret, in a corner? )

Để kết luận, tôi xin kể một câu chuyện để cho quý độc giả đỡ nhức đầu sau khi đọc những chuyện lẩm cẩm trong 4 Phúc Âm mà Judith Hayes vừa tóm tắt ở trên.

Có một đứa trẻ, sau khi học một lớp dạy Kinh Thánh ở nhà thờ sáng chủ nhật, về khoe với Mẹ:  “Mẹ ơi!  Con biết God chỉ dùng có một tay trái để sáng tạo ra vũ trụ và muôn loài.”  Bà Mẹ ngạc nhiên: “Sao con biết vậy”.   Đứa trẻ trả lời: “Vì Chúa Jesus đã ngồi lên trên tay phải của God rồi.” [Ngày xưa, Kinh Thánh và sách bổn đều viết là “on the right hand of God”, vì vậy mới có cái Joke ở trên, ngày nay, Kinh Thánh thường được viết lại là “sat down at the right hand of God” hoặc “sat on the right hand side of God”]

Happy Crucifixtion (on Good Friday) and Happy Resurrection (on Easter Sunday) !!  To all Christians.

 

© Copyright 2006 giaodiem.com

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com