
| NHÂN ĐỌC “ĐI TÌM THỜI GIAN ĐÁNH
MẤT (VIII)” Trần Chung Ngọc Các bạn tôi biết
là tôi không có nhiều thì giờ đọc trong Internet cho nên thường thấy bài
nào mà muốn tôi để ý đến bèn gửi cho tôi.
Ngày hôm qua, 2 tháng 5, 2006, có anh bạn gửi cho tôi bài Ði
tìm thời gian đánh mất (VIII) của Nguyễn Văn Lục đăng trên Đàn Chim
Việt. Tôi không đọc nên không biết trong 7 bài trước ông Lục viết những
gì. Nhưng trong bài này, chỉ đọc vài
đoạn đầu tôi đã thấy ý đồ của tác giả: đưa ra những luận điệu
cũ kỹ để xuyên tạc, phê bình bôi bác Phật Giáo, đồng thời đề cao
vai trò của một số lớn linh mục Công Giáo sau 1975: thà làm nô lệ
Vatican còn hơn là làm linh mục quốc doanh. Chúng
ta còn nhớ, linh mục Hoàng Quỳnh đã dẫn giáo dân vác gậy gộc làm loạn
ở Tôi không có nhiều thì giờ và thực
ra bài của Nguyễn Văn Lục cũng chẳng đáng để mất thì giờ phê bình
dài dòng. Cho nên tôi chỉ nêu vài điểm
về những sự hoang tưởng của ông Lục về Phật Giáo. Còn những luận điệu cũ kỹ của Nguyễn
Văn Trung và mượn danh Như Hạnh để bôi bác Phật Giáo thì trước đây
tôi đã có bài phê bình chi tiết rồi. Tôi
yêu cầu Giao Điểm đăng lại bài phê bình này để cho vấn đề được sáng
tỏ. Trước hết, chúng ta hãy đọc đoạn
sau đây của ông Lục: “Sau biến cố Phật
giáo 1963, người ta có nhiều hy vọng Phật giáo đang trở mình, dần dần
hiện đại hoá, có được những ảnh hưởng trên giới Phật tử về phạm
vi tôn giáo và trên lãnh vực văn hoá, xã hội và chính trị đối với chính
quyền. Tham vọng một giải pháp Phật Giáo và dân tộc không phải là
không có. Ấy là chưa nói tham vọng đó có nên hay không, bởi vì tham vọng
thế quyền bao giờ cũng đi ngược lại yếu tính của bất cứ tôn giáo
nào.” Phật Giáo chủ trương
đoạn diệt tham, sân, si. Vậy nói đến
tham vọng của Phật Giáo là nói đến lông rùa sừng thỏ. Phật Giáo đã từng nắm thế quyền trong
thời đại Lý Trần và Phật Giáo đã chỉ đạo quần chúng ba lần đánh
đuổi quân xâm lăng. Ảnh hưởng của
Phật Giáo đã có trên mọi lãnh vực văn hóa của Việt Sau đó ông Lục nhắc
lại một luận điệu cũ rích của ông anh Nguyễn Văn Trung viết cách đây
đã trên 10 năm: “Trước
mắt, để có được những ảnh hưởng trên, giới Phật Giáo cần tăng
cường đội ngũ trí thức PG trong hàng tăng sinh. Theo bản tường trình của
Hội tài trợ Á Châu vào năm 1965, trong con số 20 chục ngàn tăng ni ở VN
thì chưa đầy 20 người có đi du học ở nước ngoài trong đó phải kể
luôn 12 người đang đi du học. Trong nước thì có khoảng 30 người có bằng
cử nhân. Những con số trên cho thấy giới trí thức Phật giáo không đáng
kể và còn thiếu nhiều lắm. Phẩm chất cũng chưa dạt đủ.” Xin quý độc giả đọc
phần phê bình đoạn này của tôi trong bài “Ý Nghĩa Và Vai Trò Trí Thức
Trong Phật Giáo” trong phần cuối. Rồi ông Nguyễn Văn
Lục viện dẫn vài lời của Như Hạnh, khi “chưa đỗ ông Nghè đã đe hàng
tổng”, đã lên tiếng phê bình chê bai sở học các Thầy Thích Minh Châu,
Thích Nhất Hạnh v..v.. trong khi Như Hạnh chỉ là con đom đóm trước ánh
sáng bao trùm thế giới của Thích Nhất Hạnh như tôi đã phê bình trong
bài trên. Thầy Minh Châu đã dịch bao
nhiêu bộ Kinh? Thầy Nhất Hạnh đã viết
bao nhiêu cuốn sách và đã được dịch ra bao nhiêu thứ tiếng? Như Hạnh viết được bao nhiêu bài, xuất
bản được bao nhiêu sách, và giá trị những bài viết hay sách đã xuất
bản là như thế nào. Trên thế giới
này, ngoài Nguyễn Văn Trung và Nguyễn Văn Lục, dùng Như Hạnh để bôi
bác Phật Giáo, có ai biết đến Như Hạnh? Để xuyên tạc Phật Giáo, Nguyễn Văn
Lục, dựa vào một bản “tường trình mật” (nhưng không nêu rõ xuất xứ),
và tài liệu của Lữ Phương viết năm 1981 ở trong nước, viết: “Nhưng người Mỹ hơn ai hết đã
nhìn nhận ra điều này và trong một bản tường trình mật nêu mục đích
rõ việc tài trợ cho Phật giáo: “Phật giáo đã đảm nhận một vai trò
xã hội và chính trị. Có thể biến Phật giáo thành một lực lượng ưu
thế xã hội trong vòng một vài năm. Tài trợ chủ yếu nhằm , tài trợ những
tăng ni trẻ tuổi khá nhất. Họ sẽ trở thành những người diễn giải
chính yếu của Hoa Kỳ và chính sách của Hoa Kỳ cho Phật giáo.’’ —
Tài liệu của hội đại diện Mỹ của hội Quakers là Michael và Diane Janes
đã trao cho Tổng hội Sinh viên (THSV) Sài Gòn, 1974. “ Lại có một anh thợ
giầy nữa muốn đi lên trên nơi giầy dép. Quakers là một hệ phái Ki-tô chủ trương
hòa bình. Cả thế giới chỉ có chưa đầy 1 triệu tín đồ. Ngày 2 tháng
11, 1965, một tín đồ Quaker là Norman Morrison đã bồng đứa con gái nhỏ đến
trước văn phòng của Bộ Trưởng Quốc Phòng McNamara ở Ngũ Giác Đài tự
thiêu để phản đối chiến tranh Việt Tôi nghĩ có phê
bình thêm Nguyễn Văn Lục cũng bằng thừa. Cho
nên sau đây tôi xin Giao Điểm đưa lên một bài phê bình Nguyễn Văn Trung
và Như Hạnh tôi đã viết cách đây trên 10 năm.
Bài này đã được đăng trên tờ Giao Điểm, và nay tôi có
edit lại chút ít. * Ý NGHĨA VÀ VAI TRÒ TRÍ THỨC TRONG PHẬT
GIÁO
Trần
Chung Ngọc I. Nguyễn Văn Trung (Và Nguyễn Văn Lục): Gần
đây tôi được một người bạn ở miền cực Nam Cali gửi cho hai bài viết
bởi hai đại trí thức: một Gia-Tô và một Phật Giáo. Bài thứ nhất của nhà trí thức Gia-Tô
Nguyễn Văn Trung (xin viết tắt: NVT), một giáo sư tên tuổi quen thuộc ở
miền Nam, trước 75 cũng như sau 75, viết về đề tài "Gia-Tô Giáo,
Phật Giáo Qua Một Số Sách Báo Của Cộng Đồng Người Việt ở Miền Nam
Hoa Kỳ", bài này chưa được phổ biến.
Bài thứ hai của nhà trí thức Phật Giáo Như Hạnh (viết tắt:
NH) viết về "Vai trò và Sự Biến Dạng của Tỳ Sa Môn Thiên Vương
Trong Tôn Giáo Việt Nam Thời Trung Cổ", đã được đăng trong tập
san Triết, do Luật sư Nguyễn Hữu Liêm chủ truơng. Tuy được yêu cầu là tạm thời đừng nên
phổ biến bài của ông NVT nhưng tôi đành phải phụ lòng ông bạn một
chút: không phổ biến toàn bài nhưng không thể không luận về một vài
điểm trong bài, bởi vì đó là những điểm nhức nhối trong lòng dân tộc
cần phải làm sáng tỏ. Đối với tôi,
cá nhân các tác giả không phải là điều tôi muốn bàn luận, mà tôi chỉ
muốn luận trên nội dung vài điểm nêu trong
hai bài trên, những điểm liên hệ tới lịch sử Gia Tô giáo ở Việt Nam,
ý nghĩa và vai trò trí thức trong Phật Giáo, và vài ngộ nhận về Thiền
Tông Việt Nam. Tuy
hai bài trên hoàn toàn độc lập, không liên hệ gì tới nhau, nhưng hai tác
giả thì đã từng gặp nhau và trao đổi ý kiến cùng nhau, khi ông NVT từ
Việt Nam sang Mỹ một tháng vào mùa hè 1994 và một tháng vào mùa hè 1995
để tìm hiểu quan hệ Gia Tô - Phật Giáo - Cộng sản trong cộng đồng
người Việt, theo như ông kể trong bài. Và
nhà trí thức Gia Tô này đã để ra một đoạn dài trong bài để nhắc đến
nhà trí thức Phật Giáo Như Hạnh. Có
một điểm chung trong cả hai bài: cả hai tác giả đều đề cao vai trò của
người trí thức, nhìn mọi sự việc theo định nghĩa về trí thức của họ,
và đặt nặng vấn đề khảo cứu dựa vào tư liệu. Và tất nhiên, dưới nhãn quan này, Tăng Ni
Việt Đặc
biệt là trong bài viết của mình, ông NVT tán tụng ông NH là "một
niềm hãnh diện thực sự của Phật Giáo Việt Nam," có lẽ chỉ vì NH có cái bằng Ph.D. về
tôn giáo tỷ giảo của một đại học Hoa-Kỳ nổi tiếng, và vì NH đã
nói với ông là "..chỉ cảm thấy gần gũi, được hiểu biết khi
ngồi với mấy ông tu sĩ Ki-Tô giáo hơn là mấy ông Thầy đồng đạo"
, nếu câu này thực sự là của NH nói. Rồi
ông NVT kể NH chê cuốn Việt Nam Phật Giáo Sử Luận của Nguyễn
Lang (Nhất Hạnh) ra sao, chê các tác giả miền Bắc là "chẳng có một
chút kiến thức nào về Phật Giáo" , và NH tự hỏi "tại
sao người ta có thể trơ tráo đến mức hạ bút viết về một vấn đề
mà mình chưa bao giờ nghiên cứu" v..v.., nếu những lời chê bai ngạo
mạn này đúng là của NH, và viết: "Tôi nhắc và trích dẫn anh (NH)
khá nhiều để đề cao một thái độ trí thức, tuy nhiên phải nhận rằng
nếu anh khiêm tốn hơn (nghĩa là chê anh có vẻ huênh hoang. TCN) , nhìn
nhận vai trò của những người đi trước, lúc mà chưa thể có những người
như anh (nghĩa là, anh là một bậc Vô Thượng Thiên Tài, bằng cấp cao
ngất trời, từ trước tới nay chưa có ai bằng anh cả. TCN), thì công bằng
hơn." Đọc những lời viết trên, cái nghiệp
"dính vào những chuyện không đáng dính" của tôi lại thúc đẩy
tôi viết vài lời luận về Ý Nghĩa và Vai Trò Trí Thức Trong Phật Giáo. Bài viết này dựa trên hiểu biết cá
nhân, mà hiểu biết cá nhân thì bao giờ cũng hạn hẹp, thiếu sót, cho
nên, xin quý vị độc giả lượng thứ cho những điều sai sót. Trước hết, chúng ta hãy đọc đoạn
sau đây của ông Nguyễn Văn Trung: "Trong bản tường trình của hội
tài trợ Á Châu hồi 1965, có nói đến "con số 20000 tăng ni ở Việt
Nam thì chưa đầy 20 người có học ở nước ngoài, kể cả 12 người
đang du học, trong đó có 4 ở Hoa Kỳ và không hơn 30 người được cấp bằng
cử nhân ở Việt Nam". Như vậy số
trí thức trong giới tăng ni kể là quá ít."
[Ngày
nay, Nguyễn Văn Lục nhắc lại tài liệu này, sửa lại “kể là quá
ít” thành “không đáng kể và còn thiếu nhiều lắm”, và còn
thêm vào câu : “Phẩm chất chưa đạt đủ”.
Ý đồ của Nguyễn Văn Lục đã quá rõ] Chắc
hẳn ông NVT quan niệm rằng phải có bằng cử nhân trở lên mới được gọi
là trí thức? Và như vậy, ông NVT và
ông NH nhất định phải là các bậc "đại trí thức" vì có bằng
cấp cao hơn cử nhân? Tôi là một Phật
tử thấp kém, hẳn nhiên không phải là một bậc trí thức, nhưng tôi biết
Phật Giáo có một quan niệm khác về trí thức.
Theo tôi hiểu thì trí thức trong Phật Giáo không phải là những
người có bằng cử nhân, lại càng không phải những người có bằng cấp
cao hơn như Master hay Ph.D, mà là những người có chánh kiến, chánh tư duy,
và làm theo lời nói, nói theo việc làm, tất cả đều chân thật, không hư
dối, hiểu Đạo, sống với Đạo, và luôn luôn hành động để mang phúc
lợi đến cho toàn thể chúng sanh. Phật
Giáo quan niệm rằng bằng cấp ở ngoài đời càng cao thì cái
"Ngã" càng lớn, và đây chính là một trở ngại cho những người
muốn đi theo vết chân Phật. Cho nên
Phật Giáo, khi đặt trọng tâm vào vấn đề tu tập, không coi trọng bằng
cấp ở ngoài đời, kể cả các bằng cấp về Phật Học. Bởi vì, có bằng cấp cao không phải là một
bảo đảm để có thể hiểu được Phật Pháp nếu không tu tập, khoan
nói đến chuyện giác ngộ mau chóng hơn những người không có bằng cấp. Còn
đối với các Phật tử như tôi thì sao? Vấn đề có thể tóm lược như
sau: nếu tôi muốn học Đạo thì tôi đến học với mấy Tăng Ni đạo cao
đức trọng; nếu tôi muốn có bằng cấp, thí dụ bằng cấp về Phật
Giáo, thì tôi xin vào học phân khoa Phật Học trong các trường đại học,
trong đó có các giáo sư rất giỏi về Phật Học, biết những phương pháp
khảo cứu hiện đại nhất, biết dùng và phân tích các tư liệu chính
xác nhất, nhưng chưa bao giờ thực hành
Phật Pháp. Tỳ Kheo Sangharakshita đã xếp
những người này thuộc loại "Khẩu Thiền", nghĩa là chỉ nói
suông, viết sách hay những bài khảo cứu về Thiền mà không bao giờ biết
Thiền là gì (Mouth Ch'an: This is the
Ch'an of people who merely talk about Zen, or write books and articles about it, and never
do any practice. "The Essence of
Zen" By The Ven. Maha Sthavira
Sangharakshita.), và nếu tôi muốn đọc sách Phật Giáo thì tôi có thể đọc
thẳng Kinh điển Phật Giáo, hay đọc những tác phẩm của các bậc tu
hành đạo cao đức trọng trong đó có những kinh nghiệm tu chứng, chứ
tôi không đọc sách của các học giả luận giải về tu chứng. Nhưng
có điều chắc là những gì mà tôi học được từ các vị Tăng Ni đạo
cao đức trọng sẽ giúp tôi có một đời sống lành thiện và an lạc
trên cõi đời này; còn cái bằng cấp mà tôi lấy được ở đại học, với
những phương pháp khảo cứu tiến bộ nhất, với đầy đủ tư liệu nhất,
thì nhiều lắm là giúp tôi kiếm được một công ăn việc làm để tôi
có một đời sống vật chất thoải mái, nghĩa là giúp tôi kiếm ăn bằng
"hý luận", nếu bằng cấp của tôi là về Phật Giáo. Trong Phật Giáo, "hý luận" chỉ để
mà chơi, thực sự nó vô dụng, nó như bàn về thực đơn mà không ăn, hay
đếm tiền của thiên hạ trong ngân hàng. Khi
tôi tìm tới các vị Tăng Ni để học Đạo thì điều tôi quan tâm là tác
phong đạo đức của họ ra sao, đời sống Đạo của họ như thế nào, họ
diễn giải Phật Pháp ra sao, tôi có thể học được những gì từ họ
v..v.. chứ tôi không quan tâm đến chuyện họ có biết rõ Đức Phật sinh
ngày nào giờ nào hay không, Kinh này viết bao giờ, ai viết; nhân vật Bồ
Đề Đạt Ma có hay không có thật, hay là Việt Nam có hay không có dòng Thiền
của Tỳ Ni Đa Lưu Chi hay Thiền của Vô Ngôn Thông v...v... Những
hiểu biết này, chỉ có một giá trị tương đối trong môi trường thuần
trí thức, và có thể tạo cho tôi một chỗ đứng trong giới học giả,
nhưng không dùng gì được trong vấn đề tu tập Phật Pháp. Phật Giáo không phản đối những nghiên cứu
hay luận giải thuần trí thức này nhưng Phật Giáo chú trọng đến vấn
đề tu tập, thực hành Phật Pháp hơn là đến
những khảo luận trí thức. Cho
nên, tôi không quan tâm đến việc kiếm xem họ có bao nhiêu bằng cấp treo
trên tường. Trong Phật Giáo, vấn đề
là hiểu Đạo và hành Đạo, chứ không phải là có bằng cấp với một mớ
kiến thức ở ngoài đời. Những câu
chuyện quen thuộc sau đây sẽ cho
chúng ta rõ về quan điểm của Phật Giáo đối với những kiến thức mà
chúng ta thường cho là của người trí thức. 1.
Một vị sư già tu đã lâu, khảo cứu kinh điển rất tường tận, nhưng vẫn
không cảm thấy đạt được kết quả gì. Người
bèn tìm đến một Cao Tăng để xin học Đạo, hi vọng có thể ngộ Đạo
trước khi từ giã cõi đời. Vị Cao Tăng
ra ngoài cổng Chùa đón và bảo vị sư già "hãy để lại mọi hành
trang ngoài cổng Chùa". Vị sư
già là bậc chân tu, suốt đời chỉ có vài bộ quần áo và cái bình bát,
làm gì có hành trang gì khác. Nhưng
người hiểu ý vị Cao Tăng và theo vị Cao Tăng trên tu học: chẳng bao lâu
sau, đắc đạo. 2. Một học giả thông bác kim cổ đến học
đạo với một vị Cao Tăng. Trong lúc
đàm đạo vị học giả này tỏ ra biết rất nhiều và biết đủ mọi chi
tiết. Vị Cao Tăng rót trà mời vị học
giả, và dù chén trà đã đầy người vẫn tiếp tục rót, tràn cả ra
ngoài. Vị học giả bèn kêu: chén trà
đã đầy rồi, sao còn rót vào được nữa.
Vị Cao Tăng trả lời: Cũng
như chén trà đã đầy, đầu óc ông đã đầy những kiến thức, đâu còn
chỗ để mà học cái gì khác nữa. 3. Và gần
đây, ở Vạn Phật Trấn, Talmage, California, cố Hòa Thượng Tuyên Hóa còn
đi xa hơn và tàn nhẫn hơn nữa. Trước
một đám đệ tử phần lớn là Mỹ có bằng cấp cao Người nói: "Có
cái gì đáng gọi là vĩ đại ở cái bằng Ph.D.?
Ph.D.., mèo cũng có thể là Ph.D., chó cũng có thể là Ph.D. Vì sao? Vì
nó chẳng có giá trị gì. Nếu anh/chị
có Ph.D. thì là anh/chị có Ph.D. Chẳng
cần phải tự cao tự đại, khoe khoang. Hãy
để cho người ta coi anh/chị là Ph.D..." Tuy
đã hiểu Ngài muốn nói gì, nhưng cách đây vài năm, khi Tam Tạng Pháp Sư
Tuyên Hóa tới Cho
nên, đặt vấn đề bằng cấp để thẩm định vấn đề trí thức trong
Phật Giáo, và coi NH như là khuôn vàng thước ngọc trí thức, niềm hãnh
diện thực sự của Phật Giáo Việt Nam, không ai hơn, không ai bằng, thì
ông NVT đã đứng ngoài cổng Chùa để phê bình những kiến trúc ở trong
Chùa. Ngoài ra trong bài viết, ông NVT
còn đưa ra nhiều luận cứ đặc thù Gia Tô để bênh vực và biện minh
cho những lỗi lầm của Gia Tô Giáo
VN. Chúng ta hãy lược qua vài điểm
trong bài của ông NVT: a). Ông khuyên "..người Gia-Tô cũng nên
có một thái độ mà chính đức Giáo Hoàng Phao Lồ đệ nhị khuyến cáo:
sám hối, nhận lãnh trách nhiệm về phần mình những lầm lỗi đã gây ra
trong lịch sử.." và khuyến cáo "Hội đồng Giám Mục VN nên
lên tiếng xin lỗi Phật Giáo VN, và các tôn giáo khác như Gia-Tô Giáo và
Tin Lành Châu Âu đã làm trong khuôn khổ "đại kết"." Từ
trước tới nay, giáo hội Gia Tô Việt Xét
cho cùng, chuyện sám hối hay lãnh trách nhiệm về những lầm lỗi của
giáo hội Gia Tô trong quá khứ là chuyện nội bộ của Giáo hội. Nhưng tôi, và tôi tin rằng đa số người
dân Việt Và
ngay gần đây, trong một chuyến công du sang châu Mỹ La Tinh, John Paul II đã
lên tiếng chỉ trích nặng nề giáo hội Tin Lành và gọi họ là "những
con chó sói đói mồi, gây bất hòa và chia rẽ trong những cộng đồng Gia
Tô của chúng ta" (John Paul
denounces them (the Protestants) as "ravenous wolves...causing discord and division
in OUR communities," Newsweek, February 12, 1996) chỉ vì mỗi ngày có tới
8000 người bỏ đạo Gia Tô La Mã để theo Tin Lành.. John Paul II có nghĩ tới những giáo sĩ
Gia Tô tới Việt Nam trong những thế kỷ trước, gây chia rẽ và bất hòa
trong xã hội Việt Nam, góp phần đưa nước Việt Nam vào vòng nô lệ Pháp
v..v.. hay không, và Ngài khuyên dân Việt Về
hội đồng Giám Mục Việt Nam, vấn đề không phải là ở chỗ nhìn nhận
những sai lầm trong quá khứ hay xin lỗi Phật Giáo và các tôn giáo khác,
mà là đưa ra một đường lối bảo đảm không tái phạm những sai lầm
quá khứ nữa. Sự hòa hợp tôn giáo
ở Việt Nam chỉ có thể xảy ra khi những người phi Gia-Tô được bảo đảm
bằng những hành động cụ thể của Giáo hội Gia Tô Việt Nam về tính
cách độc lập của Giáo hội trên thế giới và với điều tiên quyết
là đặt tổ quốc lên trên hết. Nếu
giáo hội Gia Tô Việt Nam ra thông cáo chính thức tuyên bố đặt quyền lợi
quốc gia trên hết, nêu cao khẩu hiệu "Giáo hội Gia Tô Việt Nam của
người Việt Nam", khẳng định sự độc lập của giáo hội, bình đẳng
đối với mọi giáo hội Gia-Tô trên thế giới, kể cả đối với Tòa
Thánh Vatican, và chính thức tuyên cáo rộng rãi trong khắp các giáo xứ bỏ
những đòi hỏi phi lý như bắt phải học đạo trong vấn đề hôn phối,
bắt đứa con sinh ra phải rửa tội và theo đạo Gia Tô v...v.., chấm dứt
xuyên tạc lịch sử, chấm dứt những
âm mưu xuyên tạc và phá ngầm Phật Giáo cũng như các tôn giáo khác ở Việt
Nam v...v...thì lo gì mà không có sự hòa hợp tôn giáo ở Việt Nam. Người Việt b). Sau đó ông NVT viết: "Điểm mấu chốt
của sám hối tôn giáo là nhìn nhận tội ác đã phạm ngay trên bình diện
ý định, mục đích. Thay vì nói: mục
đích biện minh phương tiện, và hiểu mục đích tốt về phương diện đạo
đức biện minh những phương tiện xấu, phải nói chính mục đích ở đây
xấu trong trường hợp ý định thực hiện một điều tốt (sự cứu rỗi,
giải phóng) bao hàm cách sử dụng những phương tiện chính trị (quyền
bính, áp lực chính trị) nghĩa là dùng bạo lực... Giáo hội Ki-Tô trong
lịch sử, cũng như chế độ Stalinit gần đây và hiện nay đều rơi vào
điều mà một nhà triết học Pháp (H. Duméry) gọi là "chước cám
dỗ làm điều thiện". Thường
người ta chỉ bị cám dỗ làm điều xấu, nhưng ở đây chước cám dỗ
muốn làm điều thiện (tentation de faire le bien) đã đưa đến phạm tội
ác. Phạm điều ác trong trường hợp
bị cám dỗ làm điều thiện bằng cưỡng ép bạo lực." Tôi
thấy câu trên có vẻ mập mờ, ý nghĩa không rõ ràng, nhất là câu "phải
nói chính mục đích ở đây xấu trong trường hợp ý định thực hiện một
điều tốt (cứu rỗi, giải thoát) bao hàm cách sử dụng các phương tiện
chính trị (quyền bính, áp lực chính trị) nghĩa là dùng bạo lực.." Mục đích ở đây xấu là mục đích nào? Trong ý định thực hiện một điều tốt? Những phương tiện chính trị, dùng bạo lực
là phương tiện hay mục đích? Nhưng
theo tôi hiểu thì có lẽ ông NVT muốn nói là ý định thực hiện một điều
tốt (cứu rỗi, giải phóng) nhưng dùng các phương tiện xấu (chính trị,
bạo lực) và viện dẫn triết thuyết của H.
Duméry cho rằng đó chỉ là "chước cám dỗ muốn làm điều thiện đã
đưa đến phạm tội ác." Có nhiều
điều không suôi trong cái triết thuyết này: Nếu
người ta muốn làm điều thiện với một tâm thiện thì người ta không
thể phạm tội ác. Phật giáo ra đời
trước Gia Tô giáo cả hơn 500 năm, và trong suốt hơn 2500 truyền đạo trên
khắp thế giới, không hề làm đổ một giọt máu vì lý do truyền đạo. Phật Giáo mang cái thiện và tâm thiện đến
cho chúng sanh., và lịch sử cho thấy các Tăng Ni Phật Giáo cũng bị cái
"chước cám dỗ muốn làm điều thiện" nhưng lại không bao giờ
phạm tội ác. Cho nên, cái triết thuyết
của H. Duméry có lẽ bắt nguồn từ những kinh nghiệm tôn giáo ở Tây phương,
và đó là một triết thuyết dùng để biện minh cho những tội ác của
tôn giáo Tây phương, khoan xét đến thực chất ý nghĩa của những từ
như "cứu rỗi" hay "giải phóng".
Cứu rỗi là một quan niệm đặc thù của Ki-Tô Giáo, đặt
căn bản trên một niềm tin vào những thuyết như "Sáng Tạo", sự
"Sa Ngã của Người", "Tội Tổ Tông", và "Đấng Cứu
Thế". Đây là một niềm tin tôn
giáo, một niềm tin không có căn bản vững chắc dưới ánh sáng của khoa
học và trước sự văn minh tiến bộ của loài người, như nhiều học giả
và ngay cả nhiều nhà Thần Học đã công nhận, không phải là một khuôn
mẫu đạo đức, và nhất là chưa được kiểm chứng bằng bất cứ sự
kiện nào. Ngay chính Giáo hoàng John
Paul II, trước sự tiến bộ trí thức của nhân loại, nhất là về khoa học,
đã phải lên tiếng công nhận trước thế giới thuyết Big Bang về nguồn
gốc vũ trụ, thuyết Tiến Hóa về nguồn gốc con người, do đó đã
đương nhiên bác bỏ thuyết Sáng Tạo cũng như Tội Tổ Tông, vậy làm gì
còn có những thứ như là Đấng Cứu Thế hay là Cứu rỗi. Như vậy, cứu
rỗi không phải là một điều thiện hay điều tốt vì nó không có tính
phổ quát, và cũng không phải là một tiêu chuẩn đạo đức mà toàn thể
thế giới công nhận. Còn "giải
phóng" thì giải phóng khỏi cái gì? Khỏi
những khó khăn vật chất để rơi vào vòng nô lệ cả phần hồn lẫn phần
xác của một ý thức hệ mà lịch sử đã chứng minh là đã gây ra không
biết bao nhiêu tội ác? Hay là giải
phóng khỏi sự áp bức của chính quyền quân chủ? Một câu hỏi được đặt ra: nước VN là
một nước nông nghiệp, kỹ thuật thô sơ, đa
số là nông dân hay dân chài lưới nghèo
khổ, bị áp bức, vậy mà trong mấy trăm năm truyền đạo, kể cả gần
100 năm Pháp thuộc và 9 năm dưới chính thể Ngô Đình Diệm ở miền Nam,
trong những thời gian này Gia Tô giáo được tự do, toàn quyền, và các
nhà lãnh đạo gia tô, ngoại quốc cũng như quốc nội, dùng đủ mọi cách
để gia tô hóa Việt Nam, từ cách dùng các bả vật chất cho tới cưỡng
bức cải đạo, mà tuyệt đại đa số dân Việt Nam vẫn từ chối không
muốn được cứu rỗi hay giải phóng? Nhìn
vào những con số thống kê thì tỉ số trên dân số của các tín đồ Gia
Tô bao giờ cũng chỉ quanh quẩn ở mức từ 5 tới 7 phần trăm. Như vậy có phải là những điều mà Gia
Tô giáo cho là tốt như cứu rỗi, giải phóng chỉ là hữu danh vô thực,
không thể mang ra mà lừa dối ngay cả đại đa số người dân Việt c). Sau đó, ông NVT đưa ra một đề nghị với
người "ngoài Gia Tô" , đưa ra vài thí dụ để biện minh cho những
lỗi lầm của Gia-Tô giáo VN trong quá khứ. Ông
viết: "Trước hết, đề nghị người ngoài
Gia-Tô (danh từ phi-Gia-Tô có lẽ đúng hơn) cũng phải sám hối trong
việc nhìn nhận trách nhiệm (giới lãnh đạo chính trị, nho sĩ) đã để cho thực dân lợi dụng được
Gia-Tô Giáo. Gần đây, trong trường hợp
VN "giải phóng" Cambot, không ai nghĩ đến kết án người dân Tôi
có cảm tưởng là đọc một cái gì quen thuộc.
Nguyên trong nước Mỹ, cho tới nay có hơn 4000 ông linh mục Gia
Tô, toàn là các bậc trí thức cả vì ít ra trình độ của các linh mục cũng
tương đương với cử nhân, dù phần lớn trong chương trình huấn luyện
là về thần học để bảo vệ các tín lý thuộc loại mê tín của gia
tô, bị đưa ra Tòa về tội cưỡng bách
tình dục trẻ con và nữ tín đồ. Giáo
hội đã phải bỏ ra hơn 1 tỷ đô-la để bồi thường và dàn xếp ngoài
Tòa một số lớn các vụ này. (Xin đọc A Gospel of Shame: Children, Sex Abuse
and the Catholic Church của Elinor Burkett & Frank Bruni; Lead Us Not Into
Temptation: Catholic Priests and the Sexual Abuse of Chidren của Jason Berry; Sex,
Priests, and Power: An Anatomy of a Crisis của A. W. Richard Sipe). Nhưng ở một số các cộng đồng nhỏ thì
Giáo hội lại thuê luật sư để quấy nhiễu (harass) và tố ngược (sue
back) các bậc cha mẹ không biết chăm sóc con cái, để cho các ông linh mục
lợi dụng. Nếu không có báo chí và
TV phanh phui và chỉ trích thì chắc sách lược này đã thành công vì ở
các cộng đồng nhỏ, giáo dân nào mà dám tố các ông linh mục là có thể
bị coi như phản đạo, mọi người khinh rẻ.
Và bây giờ tôi lại thấy một đại trí thức Gia Tô VN đưa
ra luận cứ là những người VN phi Gia-Tô phải sám hối và nhìn nhận
trách nhiệm đã để cho thực dân lợi dụng những người VN theo Gia Tô
Giáo. Ông vào nhà tôi, gây chia rẽ và
bất hòa trong đám con cái tôi, khuyến dụ một số theo ông để cướp nhà
tôi, và bây giờ ông muốn tôi phải sám hối và lãnh trách nhiệm vì đã
không đủ sức chăm nom con cái để cho ông lợi dụng một số? Tôi thấy đây là một kiểu lý luận kỳ
lạ nếu không muốn nói là có tính cách mạ lỵ khả năng suy luận của
con người, nhất là của những người được gọi là trí thức. Ông NVT lại đưa ra trường hợp Việt Nam
can thiệp vào Cam Bốt gần đây và những người Cam Bốt chạy theo VN để
so sánh, ngụ ý các vua triều Nguyễn cũng ác, cũng dùng chính sách diệt chủng
đối với chính dân của mình như Pol Pot ở bên Cam Bốt, cho nên những người
Gia Tô chạy theo thực dân Pháp là chuyện phải thôi, có gì đáng trách đâu. Rồi ông lại mang chuyện để tóc dài và
mặc quần bò ra làm thí dụ để nói lên quyền tự do theo đạo Gia-Tô của
người Việt và trách các Vua triều Nguyễn là cấm đạo và tàn sát giáo
dân chỉ vì họ theo một đạo không phù hợp với đạo của nhà Vua. Là bậc trí thức như ông, ông không thể không biết đến lịch sử
Việt 1.
Ông Lý Chánh Trung, một nhà trí thức Gia Tô, trong cuốn Tôn Giáo và Dân Tộc
nhận định rằng: "Tuy
nhiên lịch sử đã cho thấy rằng từ khi Giáo hội (La Mã) đã trở thành
quốc giáo thì cây gươm tinh thần của Thánh Phao-Lồ đã luôn luôn bị
cám dỗ để biến thành cây gươm thép thực sự.
Kể từ dạo ấy, mỗi khi hoàn cảnh cho phép, giáo hội đã
không ngần ngại để dùng thế lực tiêu diệt các tôn giáo khác, đập phá
các đền thờ "Tà Thần", đốt sách vở ngoại đạo, và đốt luôn
bọn người bị xem là "lạc đạo" nếu không chịu sửa sai. ...Ngày
nay mọi người đều đồng ý rằng việc cấm đạo dưới các Vua triều
Nguyễn là một hành động bất nhân và sai lầm.
Nhưng nếu chúng ta tự đặt mình vào địa vị các vị Vua ấy,
và cái khung cảnh tâm lý thời đó, thì có lẽ chúng ta khó có thể làm
khác hơn" (Ông
Lý Chánh Trung đã không xét đến những khung cảnh xã hội, chính trị đã
tạo ra cái khung cảnh tâm lý đó. TCN) 2.
Trong cuốn Đạo Thiên Chúa và Chủ Nghĩa Thực Dân tại Việt "Những người viết sử
"thực dân" và những người viết sử của Phái Bộ Truyền Giáo
đã cho xuất bản rất nhiều sách về điểm mà họ gọi là "sự đàn
áp tôn giáo" ở Việt Nam. Một
tác giả Thiên Chúa Giáo VN cũng đã có viết một tập giáo khoa - được
giải thưởng Hàn Lâm Viện Pháp - để dùng cho các học sinh Trung học
Pháp, trong đó y giải thích cho các độc giả trẻ rằng các Vua VN, vào thế
kỷ thứ 19, đã "đàn áp" các tín đồ đạo cao quí của Tây Phương
như thế nào. Chúng tôi hi vọng rằng
các tài liệu công bố trong thiên khảo cứu này cũng đủ khá hùng hồn để
chấm dứt các ngụy tạo đó. Thật vậy,
cái gọi là "đàn áp tôn giáo" đó sự thực chỉ là những biện
pháp tự vệ mà mọi nước bị ngoại xâm và nội loạn đe doạ đều bị
buộc phải dùng đến nếu không muốn nhận chịu nguy cơ sụp đổ. Nếu đạo Thiên Chúa VN bị bài xích, thì
việc đó, chính yếu là do các người đại diện cho đạo; những người
này, bằng những hoạt động tai hại và ý muốn thống trị của họ, rút
cục đã làm cho người VN thấy Chúa Christ là tay sai của xâm lăng thuộc
địa và văn hóa". 3.
Trong cuốn “L'Empire Vietnamien Face à la "Linh mục Louvet gợi lại việc
phái bộ Montigny đã tới Đà Nẵng năm 1847 để diệu võ dương oai rồi thảm
bại rút lui để lại bao khó khăn cho thừa sai và tín hữu. Theo Louvet, phái bộ Montigny đã gây chuyển
hướng trong tính cách của sự bách hại như sau: "...từ phạm vi tôn
giáo chuyển sang phạm vi chính trị, người công giáo không chỉ nguyên thuần
là một kẻ theo tà đạo, tự mình tách rời ra khỏi đời sống công dân
và gia đình do chối từ việc thờ cúng tổ tiên, mà còn là bạn bè của
người ngoại quốc, là kẻ phản bội và phản nghịch từng kêu gọi quân
xâm lăng đến chiếm lĩnh nước mình."
Sự thật Louvet chỉ nhắc lại một lập luận mà giám mục
Pellerin đã quảng diễn từ trước... Một lập luận như vậy đánh dấu thật
rõ ràng sự thay đổi trong não trạng các thành viên hội Thừa Sai của
Paris, vì lập luận ấy đã cho biết sự thật lịch sử: tại Việt
Nam, nơi mà tinh thần hòa đồng tôn giáo đã thấm sâu vào xã hội, không
có lý do gì, nhất là khi vẫn có trật tự xã hội, lại đi bách hại đạo
công giáo với tính cách là một đạo giáo. Đã
từ lâu, điều làm cho người ta e ngại là sự hiện diện và hoạt động
của các thừa sai bị coi như là những tác viên của Tây phương có nhiệm
vụ phá hại nền đạo đức và chính trị của nước Việt 4. Trong cuốn Việt Nam Pháp Thuộc Sử, Giáo sư Phan Khoang viết: "Những người đề xướng cuộc
chinh phục nước Vì các giáo sĩ ngoại quốc truyền giáo
phản đối kịch liệt ý kiến châm trước việc thờ cúng tổ tiên nên năm
1742 giáo hoàng Benoit XIV ra sắc lệnh kết án sự thờ cúng tổ tiên, và
vì thế, từ đó người ta thấy những sự cấm đoán, những hình phạt
các vua, chúa nước ta thi hành với giáo sĩ, giáo đồ càng xảy ra nhiều,
nghiêm ngặt, nặng nề hơn." 5. Trong cuốn Việt Nam Chiến Sử, tác
giả Phạm Văn Sơn viết: "Dưới mắt Vua Minh Mạng các tu sĩ Tây
phương ngoài việc truyền giáo còn là những gián điệp lợi hại nhất của đế quốc và các tàu buôn cùng sứ thần
của họ cũng có những công tác bí mật, vậy "kính nhi viễn chi"
là hơn." 6. Trong cuốn Les Missions Étrangères et la
Pénétration Francaise au Viet-Nam Nicole-Dominique Lê viết như sau: "Theo
quan điểm của những nhà lãnh đạo VN thì các thừa sai đã phạm tội
thúc đẩy giáo dân bất tuân luật lệ quốc gia. Từ bỏ những thờ phượng tôn giáo, những
giá trị xã hội đã khiến cho họ sống ở ngoài lề của xã hội truyền
thống. Nhưng nghiêm trọng hơn là, người
ta trách cứ các giáo sĩ và giáo dân đã tạo nên sự phân chia quốc gia
thành 2 khối tôn giáo đối nghịch nhau." (Les missionaires, selon l'optique des dirrigeants
Vietnamiens, étaient coupables de pousser les Chrétiens à rejeter les lois de leur
pays. Rejet des cultes religieux, des valeurs
sociales qui les faisaient vivre en marge de la société traditionnelle. Mais chose plus grave, on reprochait aux prêtres
et aux chrétiens la scission du pays en deux clans religieux opposés.) "Được thành lập một cách
cuồng tín, những người Thiên Chúa Giáo VN đã có một ý thức giai cấp;
họ tự cảm thấy tách biệt khỏi đại khối dân tộc, khác biệt và cao
quý hơn, vì họ đã nhận được ánh sáng của Thượng Đế. Họ khinh miệt những người phi-TCG, những
người đã theo những nghi lễ mọi rợ và mê tín. Nhưng những người phi-TCG cũng khinh miệt
không kém những kẻ theo đạo, thường là xuất thân từ giai cấp hạ tiện,
những người chẳng mất mát gì khi theo một tôn giáo khác, một tôn giáo
từ chối gia tài của xứ sở. Nhất
là giai cấp văn thân càng ghét họ hơn, vì, không những họ từ bỏ những
truyền thống tổ tiên, mà tệ hơn nữa, kêu gọi ngoại nhân đến với họ,
xin ngoại nhân che trở và cho họ việc làm, hầu hạ và phục tùng ngoại
nhân như là các ông chủ duy nhất. Về
phía Gia-Tô giáo, họ không làm gì để xóa bỏ hay ít ra là làm giảm bớt
cái tiếng xấu của họ, trái lại, khi chắc rằng người Pháp sẽ ngự trị
ở ngoài Bắc, và tin rằng thời cơ của họ đã tới, họ đã phạm nhiều
sự lạm dụng không thể tha thứ được." (Formés fanatiquement, les chrétiens
Vietnamiens ont acquis une conscience de classes; ils se sentaient à part du reste de la
nation, différents et supérieurs, car ils avaient recu la lumière du Dieu. Ils méprisaient les non-chrétiens, qui
pratiquaient des rites barbares et superstitieux. Mais
les non-catholiques ne méprisaient pas moins les convertis qui, le plus souvent de basse
extraction, n'avaient rien à perdre en suivant une autre religion qui niait à elle seule
l'héritage du pays. La classe lettrée
surtout les détestait car, non seulement ils reniaient leurs traditions ancestrales, mais
pire encore, ils appelaient à eux les étrangers, leur demandant protection et emploi,
les servant et leur obéissant comme à des maitres incontestés. Du côté catholique, rien ne fut entrepris pour
effacer ou tout au moins atténuer la mauvaise réputation qui leur était faite. Bien au contraire, lorsqu'ils furent certains que
la 7.
Trong cuốn Annam-Tonkin 1885-1896, Charles Fourniaux viết: "Căn
bản của lực lượng này (với mục đích đồng hóa toàn phần dân chúng
để tạo một "Đông Dương của Pháp", bằng cách phá hoại văn
minh cổ truyền và những văn thân gìn giữ nền văn minh này) nằm trong
600,000 giáo dân Thiên Chúa Giáo mà các thừa sai là những ông chủ tuyệt
đối. Họ sống trong các làng mạc hoặc
phần làng mạc riêng biệt, vì các thừa sai nhất định bảo vệ họ để
khỏi bị ảnh hưởng xấu của người "Lương" và người Âu
châu. Nhưng nhất là vì niềm tin và
tác phong của họ đã làm cho đồng bào của họ coi họ như là những kẻ
bội giáo và phản bội quốc gia. Họ
không còn trung thành với sự thờ cúng tổ tiên, không tôn trọng những lễ
lạc cổ truyền và phong tục tập quán. Thật
vậy, có phải là từ những năm 70 họ đã chẳng là những "nội
ứng của Pháp", làm tình báo cho kẻ thù và giúp đỡ kẻ thù, và cung
cấp đa số trợ quân cùng những kẻ phản bội quốc gia khát máu như tên
Trần Bá Lộc?" (La base de cette force (visant à
l'assimilation complète de la population pour construire une "France
Indochinoise", en détruisant la civilisation traditionnelle et ses gardiens que sont
les Lettrés) réside dans les 600,000 chrétiens sur lesquels règnent en maitres absolus
les missionnaires. Ils vivent en villages ou
quartiers de villages séparées, car les missionnaires tiennent à les protéger des
influences néfastes des "paiens" et des européens. Mais surtout leur foi et leur comportement les fait
apparaitre à leurs compatriotes comme des rénégats et des traitres. Ils sont infidèles aux pratiques du culte des
ancêtres, ne respectent ni les fêtes traditionnelles ni les coutumes. Enfin n'ont-ils pas été depuis le début des
années 70 les "Francais de l'intérieur", renseignent et aident l'ennemi,
fournissant le gros des recrues de forces supplétives et des traitres sanglants comme Trần
Bá Lộc?) [Trần
Bá Lộc là tên tay sai Gia-Tô đắc lực nhất của Pháp trong sự đàn áp
các cuộc khởi nghĩa ở miền 8. Trong cuốn La Place du Catholicisme dans les
Relations Entre la France et le Vietnam, de 1851 à 1870, nhà trí thức Gia Tô
Étienne Võ Đức Hạnh viết: "Dưới triều Vua Tự Đức, một số
lớn người Thiên Chúa Giáo VN làm tình báo cho Pháp...Dưới triều Tự Đức,
do sự xúi dục của các giáo sĩ, người TCG và phi-TCG, âm thầm hoặc công
khai, chống đối lại vị Vua tại vị hơn là nhà Nguyễn vì nhiều lý
do...Chỉ có một điều khác biệt: người TCG có cùng chung mục tiêu với
nước Pháp, còn người phi-TCG thì không." (Sous Tu Duc, un grand nombre de catholiques
Vietnamiens sont d'intelligence avec les Francais... Au jours de Tu Duc, Chrétiens et
non-chrétiens, à l'instigation des missionnaires, résistent ici sourdement, là
ouvertement au roi régnant mieux à la dynastie des Nguyen pour plusieurs motifs.. Une
seule différence: les chrétiens font cause commune avec la 9. Trong cuốn The "Sau đó, những đạo dụ khắc
nghiệt hơn được ban hành mỗi khi Vua Tự Đức phải đối diện với bằng
chứng là các giáo sĩ Gia Tô và các giáo dân dính líu vào những cuộc nội
loạn hay đứng về phía một quyền lực ngoại quốc." (Subsequent, more severe edicts were issued
whenever Tu Duc was confronted with evidence that the Catholic missionaries or the
indigeneous Catholics were involved in internal rebellions or were in league with a
foreign power.) "Nguyên tắc của Vua Minh Mạng để
đối phó với những người Gia Tô VN như sau: trước hãy giáo dục sau mới
dùng đến hình phạt. Như vậy, các
viên chức trước hết phải khuyên hóa những người Gia Tô để cho họ
tỉnh ngộ và hối cải những tội ác của họ.." (Minh Menh's principle for dealing with the
Vietnamese Catholics was the following: "first we must educate; only afterward do we
punish". Accordingly, officials were
first to "advise and instruct" the Catholics so that they would
"awaken" and repent their crimes." 10. Trong cuốn "Những
công tác của những giáo sĩ như là Cha Retord gồm có thu thập tin tức về
vùng bờ biển, sông ngòi, và sự
phòng vệ Huế. Ngoài việc là một nguồn tin tức chủ yếu cho
hải quân Pháp, những giáo sĩ còn làm những sách-động viên, nhân danh
450,000 giáo dân mà họ tuyên nạp vào giữa thế kỷ thứ 19, sẵn sàng
đưa một quốc gia 10 triệu người vào vòng chết chóc và tàn phá toàn diện
- lẽ dĩ nhiên là để cứu quốc gia này." (The labors of such missionaries as Father
Retord had included intelligence on coastal areas, rivers, and the defense of 11. Trong cuốn Catholicisme et Sociétes
Asiatiques, Alain Forrest và Yoshiharu Tsuboi trích dẫn tài liệu sau đây
trong cuốn Vie de Mgr. Puginier: "Giám
Mục Puginier viết rằng: "Không có các thừa sai và giáo dân TCG thì
người Pháp cũng giống như những con cua đã bị bẻ gẫy hết càng. Thí dụ như vậy, tuy tầm thường mộc mạc
nhưng không kém phần chính xác và mạnh mẽ.
Thật vậy, không có các thừa sai và giáo dân TCG, người Pháp
sẽ bị bao vây bởi toàn là kẻ thù; họ sẽ không thể tin cậy vào một
ai; họ sẽ chỉ nhận được những tin tức tình báo sai lầm, cung cấp với
ác ý để phá hoại tình thế của họ; họ sẽ bị đẩy vào tình trạng
không thể hoạt động được gì và sẽ phải hứng chịu những thảm họa
thực sự một cách nhanh chóng. Địa vị
của họ ở đây sẽ không giữ nổi được nữa, và họ sẽ bị buộc phải
rời khỏi xứ, nơi đây quyền lợi và ngay cả sự hiện diện của họ sẽ
bị nguy hại." (Sand les missionnaires et les chrétiens,
écrit Mgr. Puginier, les Francais seraient comme les crabes auxquels on aurait cassé
toutes les pattes. La comparaison, pour être
triviale, ne manque pas de justesse et de force. En
effet, sans les missionnnaires et les chrétiens, les Francais se verraient entourés
d'ennemis; ils ne pouraient se fier à personne; ils ne recevraient que de faux
renseignements, méchamment donnés pour compromettre leur situation; ils se trouveraient
donc réduits à l'impossibilité d'agir et seraient rapidement exposés à des vrais
désastres. Leur position ici ne serait plus
tenable, et ils ne verraient forcés de quitter un pays où leurs intérêts et leur
existence même serait compromis.) 12. Trong cuốn Dieu et César, Linh mục Trần
Tam Tĩnh viết như sau: “Cho
tới khi chết ngày 25 tháng 4/1892, giám mục Puginier đã hoạt động không
ngưng nghỉ ngày nào để củng cố địa vị của nước Pháp tại xứ ông
đã nhận là quốc gia mới. Người ta
còn giữ được mấy chục bản ghi chú và những tin tức tình báo có mang
chữ ký của ông trong những Văn Khố của Bộ Thuộc Địa. Một phần nhờ vào các tin tức tình báo của
giám mục mà quân Pháp có thể dẹp tan quân đội kháng chiến của Việt (Jusqu'à sa mort le 25 Avril 1892, Mgr
Puginier ne restait pas une journée sans travailler à affermir la position de la France
dans son pays d'adoption. On conserve des
dizaines de Notes et renseignements portant sa signature dans les Archives du Ministère
des Colonies. Et en partie grâce à ses
renseignements, les Francais purent écraser la résistance armée des Vietnamiens. La résistance la plus farouche étai menée à Ba
Đình, Thanh Hóa, sous la direction de Đinh Công Tráng.
C'était en apparence un village fortifié avec une ceinture de bambous, des
remparts, des tranchées et boyaux de communication savamment disposés. Le moral des combattants était très haut. Pour le "pacifier", les Francais
envoyèrent une force de 2500 soldats, 25 canons, 4 canonnières sous le commandement du
colonel Metzinger. L'attaque du 18 Décembre
1886 fut repoussée. Les francais durent
l'assiéger et cherchant une nouvelle tactique. Heureusement
pour eux, un jeune officier, le capitaine
Joffre (qui deviendra le fameux maréchal de France pendant la première guerre mondiale),
pensa à demander l'aide du père Trần Lục, curé de Phát Diệm et vice-roi pour la
pacification des provinces de Thanh Hoa, Nghe An et Ha Tinh.
Celui ci avec la bénédiction de Mgr Puginier vint à la rescousse des
Francais avec 5000 chrétiens. Et Ba Đinh fut
pris.) Trên đây chỉ là vài tài liệu trong
kho tàng tài liệu rất phong phú hiện hữu. Từ
những trích dẫn tài liệu trên chúng ta có thể thấy rõ nguyên nhân của
việc cấm đạo trong thế kỷ thứ 19 tại Việt i).
Các giáo sĩ thừa sai Gia Tô Giáo khi tới Việt ii).
Các giáo sĩ thừa sai Gia Tô đã giữ những vai trò then chốt trong việc vận
động chính quyền Pháp xâm lược Việt Nam, tích cực đóng góp cho việc
xâm lược Việt Nam, và sau đó có nhưng âm mưu phá hủy nền văn hóa cổ
truyền Việt Nam. iii). Một số không nhỏ giáo dân VN đã hợp
tác, tiếp tay với thực dân Pháp, đem nước ta vào vòng nô lệ Pháp để
được hưởng những quyền lợi đặc biệt tôn giáo của một thiểu số
cam phận làm thân trâu ngựa, phục tùng tuyệt đối các giáo sĩ ngoại quốc,
bất kể đến sự đau thương của cả một dân tộc bị nô lệ ngoại
bang. Và, những tài liệu trên cũng chứng
tỏ là không thể có chuyện cấm đạo hay tàn sát những người theo đạo
CHỈ VÌ họ theo một tôn giáo không phù hợp với tôn giáo của nhà Vua. Tôi hi vọng ông Nguyễn Văn Trung hãy đọc
lại lịch sử, nghiên cứu thêm những tài liệu ngày nay đã được mở
cho công chúng, do đó có thể đưa ra một nhận định khách quan về vấn
đề này. Ngoài ra, thật là mâu thuẫn, ở trên
thì ông muốn Giáo hội sám hối và xin lỗi Phật Giáo và các tôn giáo
khác ở Việt Nam, gián tiếp công nhận Gia Tô Giáo đã mang lại nhiều bất
hạnh cho Việt Nam, ở đây ông lại dùng những luận cứ xuyên tạc lịch
sử để biện minh cho những tội ác của Gia Tô Giáo ở Việt Nam, tôi
không hiểu là ông có thực tâm đề nghị giáo hội sám hối và xưng tội
với dân tộc, hay lại chỉ là những lời đầu môi chót lưỡi để chờ
cơ hội? Còn nhiều điểm trong bài của ông
NVT cần phải thảo luận nhưng tôi nghĩ sự phân tích mấy điểm ở trên
cũng đủ để cho chúng ta có một ý niệm về giá trị của toàn bài. II.
Như Hạnh: Bây
giờ tôi xin sang bài của nhà trí thức Phật Giáo Như Hạnh. NH nghiên cứu về sự biến dạng của Tỳ
Sa Môn Thiên Vương bên Ấn Độ thành Phù Đổng Thiên Vương ở Việt Trong phần kết luận, NH viết như
sau: "Đáng tiếc là kể từ giữa
đời Lý trở đi giới lãnh đạo Phật giáo VN bị lôi cuốn bởi phong
trào "Tổ Sư Thiền" của Trung Hoa. Tôi
cho đây là một mê hoặc văn chương hơn là một phát triển tôn giáo"
, và trong phần chú thích, NH viết: 36. Phong trào làm "thơ Thiền" này bắt đầu từ giữa đời Lý. Trong truyền thống Phật Giáo Việt 37. Điều
mỉa mai là các vua nhà Trần tuy là ưa chuộng đạo Phật, song chính họ lại
gạt bỏ đạo Phật ra khỏi khuôn khổ chính trị. Đa số những "Thiền Sư" đời Trần,
ngoại trừ Trần Thái Tông, cũng chỉ để lại một số văn thơ ít ỏi
và một vài trước tác phỏng theo "ngữ lục" của Thiền Trung Hoa,
song nội dung rất là luộm thuộm. Tôi hi vọng có một "Thiền Sư" nào
đó có thể bình luận về những nhận định trên của NH, nhưng tôi tin rằng,
nếu là một Thiền sư thật thì họ sẽ không phí thì giờ để làm cái
công việc lãng xẹt này. Nhưng tôi
thì vì lòng trần chưa dứt, mà thì giờ thì lại có dư, cho nên tôi cũng
liều mạng đánh trống qua cửa nhà sấm để bày tỏ vài ý kiến với bậc
vô thượng thiên tài đại trí thức Như Hạnh. Trước hết, phong trào "Tổ Sư Thiền"
của Trung Hoa kể từ giữa đời nhà Lý, nếu sự thực là có phong trào
này, có phải là một mê hoặc văn
chương không? và thế nào là phát triển tôn giáo? có lẽ chúng ta cũng nên
luận một chút về những vấn đề này. Tôn
chỉ của Thiền Tông là "Giáo ngoại biệt truyền, Bất lập văn tự,
Trực chỉ nhân Tâm, Kiến tánh thành Phật" , vậy có cái gì là mê hoặc văn chương ở
đây? Có lẽ đối với những học giả,
những người chỉ có thể nhìn Thiền qua các tư liệu thành văn, thì đó
chỉ là những mê hoặc văn chương, nhưng đối với những người hành Thiền
thì Thiền đâu có phải nằm trong thơ văn Thiền, nhạc Thiền? Các Thiền sư, có ai dùng văn chương
để truyền đạo? Hay là họ chỉ truyền
đạo qua những kinh nghiệm tu chứng?
Hòa
thượng Quảng Tri, anh của Hoàng Hậu Chương Phụng, từ bỏ chức cao, lộc
trọng, về tu nơi núi cao rừng thẳm; Trần Thái Tông, tác giả "Thiền
Tông Chỉ Nam", "Khóa Hư Lục" v..v.., bỏ ngai vàng như bỏ đôi
dép rách; Vạn Hạnh Thiền Sư tham gia chánh sự nhưng không tham gia chánh
quyền; Tuệ Trung Thượng Sĩ thời bình thì tu ở Chùa, thời chiến thì
khoác chiến bào chống xâm lăng, đuổi xong ngoại xâm rồi lại trở về
Chùa sống thung dung tự tại; Trần Nhân Tông cũng bỏ ngôi xuất gia tu ở
núi Yên Tử làm Trúc Lâm Đầu Đà v...v... phải chăng họ hành Thiền chỉ
vì mê hoặc văn chương? Bất kể có bị
mê hoặc văn chương hay không, nhưng "Thiên hạ Lý Trần bán vi tăng"
thì không là phát triển tôn giáo thì là cái gì?
Phát triển tôn giáo là dạy cho dân hội nhập và thực hành
Tâm Kinh Bát Nhã hay là dạy họ viết những bài khảo luận về Tâm Kinh
Bát Nhã xem xuất xứ từ đâu? từ Tàu hay từ Ấn Độ sang? ai dịch và dịch
bao giở, ảnh hưởng Tàu nhiều hay ảnh hưởng Ấn độ nhiều v...v...? Cho nên, cái nhìn của những “học giả”
như Như Hạnh quả có khác với cái nhìn của những người “học thật”,
nghĩa là những người thật sự tu tập theo Phật Pháp. NH
có vẻ châm biếm những nhà sư là ai cũng có thể làm thơ Thiền mặc dù
trên thực tế họ thực hành Pháp tu gần Tịnh độ hơn. Vậy là những người tu theo Tịnh độ không
có tư cách làm thơ Thiền? Tịnh độ
khác Thiền ở chỗ nào? Phật giáo Việt
|