giaodiem copyright
          posted: 03.5.2006
      NHÂN ĐỌC “ĐI TÌM THỜI GIAN ĐÁNH MẤT (VIII)” Của: NGUYỄN VĂN LỤC

Trần Chung Ngọc

Các bạn tôi biết là tôi không có nhiều thì giờ đọc trong Internet cho nên thường thấy bài nào mà muốn tôi để ý đến bèn gửi cho tôi.   Ngày hôm qua, 2 tháng 5, 2006, có anh bạn gửi cho tôi bài Ði tìm thời gian đánh mất (VIII) của Nguyễn Văn Lục đăng trên Đàn Chim Việt. Tôi không đọc nên không biết trong 7 bài trước ông Lục viết những gì.  Nhưng trong bài này, chỉ đọc vài đoạn đầu tôi đã thấy ý đồ của tác giả: đưa ra những luận điệu cũ kỹ để xuyên tạc, phê bình bôi bác Phật Giáo, đồng thời đề cao vai trò của một số lớn linh mục Công Giáo sau 1975: thà làm nô lệ Vatican còn hơn là làm linh mục quốc doanh.  Chúng ta còn nhớ, linh mục Hoàng Quỳnh đã dẫn giáo dân vác gậy gộc làm loạn ở Saigon trước đây và tuyên bố : “Thà mất nước chứ chẳng thà mất Chúa”.

Tôi không có nhiều thì giờ và thực ra bài của Nguyễn Văn Lục cũng chẳng đáng để mất thì giờ phê bình dài dòng.  Cho nên tôi chỉ nêu vài điểm về những sự hoang tưởng của ông Lục về Phật Giáo.  Còn những luận điệu cũ kỹ của Nguyễn Văn Trung và mượn danh Như Hạnh để bôi bác Phật Giáo thì trước đây tôi đã có bài phê bình chi tiết rồi.  Tôi yêu cầu Giao Điểm đăng lại bài phê bình này để cho vấn đề được sáng tỏ.

Trước hết, chúng ta hãy đọc đoạn sau đây của ông Lục:

“Sau biến cố Phật giáo 1963, người ta có nhiều hy vọng Phật giáo đang trở mình, dần dần hiện đại hoá, có được những ảnh hưởng trên giới Phật tử về phạm vi tôn giáo và trên lãnh vực văn hoá, xã hội và chính trị đối với chính quyền. Tham vọng một giải pháp Phật Giáo và dân tộc không phải là không có. Ấy là chưa nói tham vọng đó có nên hay không, bởi vì tham vọng thế quyền bao giờ cũng đi ngược lại yếu tính của bất cứ tôn giáo nào.”

Phật Giáo chủ trương đoạn diệt tham, sân, si.  Vậy nói đến tham vọng của Phật Giáo là nói đến lông rùa sừng thỏ.  Phật Giáo đã từng nắm thế quyền trong thời đại Lý Trần và Phật Giáo đã chỉ đạo quần chúng ba lần đánh đuổi quân xâm lăng.  Ảnh hưởng của Phật Giáo đã có trên mọi lãnh vực văn hóa của Việt Nam.  Ước vọng (không phải là tham vọng) của Phật Giáo là Việt Nam được sống trong hòa bình trong tinh thần Tam Giáo Đồng Nguyên.  Lịch sử đã chứng tỏ Phật Giáo chưa bao giờ có tham vọng thế quyền.   Trong bài phê bình Nguyễn Văn Trung và Như Hạnh tôi đã đưa ra những chi tiết để chứng minh điều này.  Nếu muốn nói đến một tôn giáo có nhiều, rất nhiều, tham vọng thế quyền, thì đó chính là Công Giáo.  Lịch sử Công Giáo cho thấy, Công Giáo rất cần thế quyền để truyền đạo hay cưỡng ép người dân vào đạo. 

Sau đó ông Lục nhắc lại một luận điệu cũ rích của ông anh Nguyễn Văn Trung viết cách đây đã trên 10 năm:

Trước mắt, để có được những ảnh hưởng trên, giới Phật Giáo cần tăng cường đội ngũ trí thức PG trong hàng tăng sinh. Theo bản tường trình của Hội tài trợ Á Châu vào năm 1965, trong con số 20 chục ngàn tăng ni ở VN thì chưa đầy 20 người có đi du học ở nước ngoài trong đó phải kể luôn 12 người đang đi du học. Trong nước thì có khoảng 30 người có bằng cử nhân. Những con số trên cho thấy giới trí thức Phật giáo không đáng kể và còn thiếu nhiều lắm. Phẩm chất cũng chưa dạt đủ.”

Xin quý độc giả đọc phần phê bình đoạn này của tôi trong bài “Ý Nghĩa Và Vai Trò Trí Thức Trong Phật Giáo”  trong phần cuối.

Rồi ông Nguyễn Văn Lục viện dẫn vài lời của Như Hạnh, khi “chưa đỗ ông Nghè đã đe hàng tổng”, đã lên tiếng phê bình chê bai sở học các Thầy Thích Minh Châu, Thích Nhất Hạnh v..v.. trong khi Như Hạnh chỉ là con đom đóm trước ánh sáng bao trùm thế giới của Thích Nhất Hạnh như tôi đã phê bình trong bài trên.  Thầy Minh Châu đã dịch bao nhiêu bộ Kinh?  Thầy Nhất Hạnh đã viết bao nhiêu cuốn sách và đã được dịch ra bao nhiêu thứ tiếng?  Như Hạnh viết được bao nhiêu bài, xuất bản được bao nhiêu sách, và giá trị những bài viết hay sách đã xuất bản là như thế nào.  Trên thế giới này, ngoài Nguyễn Văn Trung và Nguyễn Văn Lục, dùng Như Hạnh để bôi bác Phật Giáo, có ai biết đến Như Hạnh?

Để xuyên tạc Phật Giáo, Nguyễn Văn Lục, dựa vào một bản “tường trình mật” (nhưng không nêu rõ xuất xứ), và tài liệu của Lữ Phương viết năm 1981 ở trong nước, viết:

“Nhưng người Mỹ hơn ai hết đã nhìn nhận ra điều này và trong một bản tường trình mật nêu mục đích rõ việc tài trợ cho Phật giáo: “Phật giáo đã đảm nhận một vai trò xã hội và chính trị. Có thể biến Phật giáo thành một lực lượng ưu thế xã hội trong vòng một vài năm. Tài trợ chủ yếu nhằm , tài trợ những tăng ni trẻ tuổi khá nhất. Họ sẽ trở thành những người diễn giải chính yếu của Hoa Kỳ và chính sách của Hoa Kỳ cho Phật giáo.’’ — Tài liệu của hội đại diện Mỹ của hội Quakers là Michael và Diane Janes đã trao cho Tổng hội Sinh viên (THSV) Sài Gòn, 1974. “

Lại có một anh thợ giầy nữa muốn đi lên trên nơi giầy dép.  Quakers là một hệ phái Ki-tô chủ trương hòa bình. Cả thế giới chỉ có chưa đầy 1 triệu tín đồ. Ngày 2 tháng 11, 1965, một tín đồ Quaker là Norman Morrison đã bồng đứa con gái nhỏ đến trước văn phòng của Bộ Trưởng Quốc Phòng McNamara ở Ngũ Giác Đài tự thiêu để phản đối chiến tranh Việt Nam.  Đứa bé đã được cứu sống không hề hấn gì. Quaker không thể là đại diện Mỹ để diễn giải chính sách hiếu chiến, cường quyền thắng công lý của Mỹ cho Phật Giáo.  Mỹ tài trợ cho Phật Giáo?  Tài trợ nhằm mục đích đào tạo giới lãnh đạo Phật giáo, nghĩa là đi học Phật ở các trường đại học, hay là đi học chính sách của Mỹ rồi về diễn giải chính sách của Mỹ cho Phật Giáo?  Viết như vậy mà cũng viết được thì thật là tài, nhưng hình như hơi xuẩn thì phải.  Phật Giáo cũng chưa bao giờ hợp tác với chính sách Mỹ như Nguyễn Văn Lục đã trích dẫn từ một tài liệu của Lữ Phương ở trong nước.  Cuộc dẹp Phật Giáo miền Trung năm 1966 cũng do bàn tay Mỹ.   Sinh viên Phật tử Huế xuống đường chống Mỹ, đốt thư viện Mỹ chẳng phải là để hợp tác với chính sách Mỹ.  Thầy Nhất Hạnh ở ngoại quốc vận động hô hào chấm dứt chiến tranh là hợp tác với chính sách Mỹ hay sao? 

Tôi nghĩ có phê bình thêm Nguyễn Văn Lục cũng bằng thừa.  Cho nên sau đây tôi xin Giao Điểm đưa lên một bài phê bình Nguyễn Văn Trung và Như Hạnh tôi đã viết cách đây trên 10 năm.   Bài này đã được đăng trên tờ Giao Điểm, và nay tôi có edit lại chút ít.

*

Ý NGHĨA VÀ VAI TRÒ TRÍ THỨC TRONG PHẬT GIÁO

Trần Chung Ngọc

I.  Nguyễn Văn Trung (Và Nguyễn Văn Lục): 

Gần đây tôi được một người bạn ở miền cực Nam Cali gửi cho hai bài viết bởi hai đại trí thức: một Gia-Tô và một Phật Giáo.  Bài thứ nhất của nhà trí thức Gia-Tô Nguyễn Văn Trung (xin viết tắt: NVT), một giáo sư tên tuổi quen thuộc ở miền Nam, trước 75 cũng như sau 75, viết về đề tài "Gia-Tô Giáo, Phật Giáo Qua Một Số Sách Báo Của Cộng Đồng Người Việt ở Miền Nam Hoa Kỳ", bài này chưa được phổ biến.   Bài thứ hai của nhà trí thức Phật Giáo Như Hạnh (viết tắt: NH) viết về "Vai trò và Sự Biến Dạng của Tỳ Sa Môn Thiên Vương Trong Tôn Giáo Việt Nam Thời Trung Cổ", đã được đăng trong tập san Triết, do Luật sư Nguyễn Hữu Liêm chủ truơng.  Tuy được yêu cầu là tạm thời đừng nên phổ biến bài của ông NVT nhưng tôi đành phải phụ lòng ông bạn một chút: không phổ biến toàn bài nhưng không thể không luận về một vài điểm trong bài, bởi vì đó là những điểm nhức nhối trong lòng dân tộc cần phải làm sáng tỏ.  Đối với tôi, cá nhân các tác giả không phải là điều tôi muốn bàn luận, mà tôi chỉ muốn luận trên nội dung vài điểm nêu  trong hai bài trên, những điểm liên hệ tới lịch sử Gia Tô giáo ở Việt Nam, ý nghĩa và vai trò trí thức trong Phật Giáo, và vài ngộ nhận về Thiền Tông Việt Nam.

Tuy hai bài trên hoàn toàn độc lập, không liên hệ gì tới nhau, nhưng hai tác giả thì đã từng gặp nhau và trao đổi ý kiến cùng nhau, khi ông NVT từ Việt Nam sang Mỹ một tháng vào mùa hè 1994 và một tháng vào mùa hè 1995 để tìm hiểu quan hệ Gia Tô - Phật Giáo - Cộng sản trong cộng đồng người Việt, theo như ông kể trong bài.  Và nhà trí thức Gia Tô này đã để ra một đoạn dài trong bài để nhắc đến nhà trí thức Phật Giáo Như Hạnh.  Có một điểm chung trong cả hai bài: cả hai tác giả đều đề cao vai trò của người trí thức, nhìn mọi sự việc theo định nghĩa về trí thức của họ, và đặt nặng vấn đề khảo cứu dựa vào tư liệu.  Và tất nhiên, dưới nhãn quan này, Tăng Ni Việt Nam trở thành những người ngu dốt, vì không phải là các bậc trí thức theo tiêu chuẩn trên.

Đặc biệt là trong bài viết của mình, ông NVT tán tụng ông NH là "một niềm hãnh diện thực sự của Phật Giáo Việt Nam,"  có lẽ chỉ vì NH có cái bằng Ph.D. về tôn giáo tỷ giảo của một đại học Hoa-Kỳ nổi tiếng, và vì NH đã nói với ông là "..chỉ cảm thấy gần gũi, được hiểu biết khi ngồi với mấy ông tu sĩ Ki-Tô giáo hơn là mấy ông Thầy đồng đạo" , nếu câu này thực sự là của NH nói.  Rồi ông NVT kể NH chê cuốn Việt Nam Phật Giáo Sử Luận của Nguyễn Lang (Nhất Hạnh) ra sao, chê các tác giả miền Bắc là "chẳng có một chút kiến thức nào về Phật Giáo" , và NH tự hỏi "tại sao người ta có thể trơ tráo đến mức hạ bút viết về một vấn đề mà mình chưa bao giờ nghiên cứu" v..v.., nếu những lời chê bai ngạo mạn này đúng là của NH, và viết: "Tôi nhắc và trích dẫn anh (NH) khá nhiều để đề cao một thái độ trí thức, tuy nhiên phải nhận rằng nếu anh khiêm tốn hơn (nghĩa là chê anh có vẻ huênh hoang. TCN) , nhìn nhận vai trò của những người đi trước, lúc mà chưa thể có những người như anh (nghĩa là, anh là một bậc Vô Thượng Thiên Tài, bằng cấp cao ngất trời, từ trước tới nay chưa có ai bằng anh cả. TCN), thì công bằng hơn."

   Đọc những lời viết trên, cái nghiệp "dính vào những chuyện không đáng dính" của tôi lại thúc đẩy tôi viết vài lời luận về Ý Nghĩa và Vai Trò Trí Thức Trong Phật Giáo.  Bài viết này dựa trên hiểu biết cá nhân, mà hiểu biết cá nhân thì bao giờ cũng hạn hẹp, thiếu sót, cho nên, xin quý vị độc giả lượng thứ cho những điều sai sót.

   Trước hết, chúng ta hãy đọc đoạn sau đây của ông Nguyễn Văn Trung:

   "Trong bản tường trình của hội tài trợ Á Châu hồi 1965, có nói đến "con số 20000 tăng ni ở Việt Nam thì chưa đầy 20 người có học ở nước ngoài, kể cả 12 người đang du học, trong đó có 4 ở Hoa Kỳ và không hơn 30 người được cấp bằng cử nhân ở Việt Nam".  Như vậy số trí thức trong giới tăng ni kể là quá ít."   [Ngày nay, Nguyễn Văn Lục nhắc lại tài liệu này, sửa lại “kể là quá ít” thành “không đáng kể và còn thiếu nhiều lắm”, và còn thêm vào câu : “Phẩm chất chưa đạt đủ”.   Ý đồ của Nguyễn Văn Lục đã quá rõ]

Chắc hẳn ông NVT quan niệm rằng phải có bằng cử nhân trở lên mới được gọi là trí thức?  Và như vậy, ông NVT và ông NH nhất định phải là các bậc "đại trí thức" vì có bằng cấp cao hơn cử nhân?  Tôi là một Phật tử thấp kém, hẳn nhiên không phải là một bậc trí thức, nhưng tôi biết Phật Giáo có một quan niệm khác về trí thức.   Theo tôi hiểu thì trí thức trong Phật Giáo không phải là những người có bằng cử nhân, lại càng không phải những người có bằng cấp cao hơn như Master hay Ph.D, mà là những người có chánh kiến, chánh tư duy, và làm theo lời nói, nói theo việc làm, tất cả đều chân thật, không hư dối, hiểu Đạo, sống với Đạo, và luôn luôn hành động để mang phúc lợi đến cho toàn thể chúng sanh.  Phật Giáo quan niệm rằng bằng cấp ở ngoài đời càng cao thì cái "Ngã" càng lớn, và đây chính là một trở ngại cho những người muốn đi theo vết chân Phật.  Cho nên Phật Giáo, khi đặt trọng tâm vào vấn đề tu tập, không coi trọng bằng cấp ở ngoài đời, kể cả các bằng cấp về Phật Học.  Bởi vì, có bằng cấp cao không phải là một bảo đảm để có thể hiểu được Phật Pháp nếu không tu tập, khoan nói đến chuyện giác ngộ mau chóng hơn những người không có bằng cấp.

Còn đối với các Phật tử như tôi thì sao? Vấn đề có thể tóm lược như sau: nếu tôi muốn học Đạo thì tôi đến học với mấy Tăng Ni đạo cao đức trọng; nếu tôi muốn có bằng cấp, thí dụ bằng cấp về Phật Giáo, thì tôi xin vào học phân khoa Phật Học trong các trường đại học, trong đó có các giáo sư rất giỏi về Phật Học, biết những phương pháp khảo cứu hiện đại nhất, biết dùng và phân tích các tư liệu chính xác nhất,  nhưng chưa bao giờ thực hành Phật Pháp.  Tỳ Kheo Sangharakshita đã xếp những người này thuộc loại "Khẩu Thiền", nghĩa là chỉ nói suông, viết sách hay những bài khảo cứu về Thiền mà không bao giờ biết Thiền là gì (Mouth Ch'an:  This is the Ch'an of people who merely talk about Zen, or write books and articles about it, and never do any practice.  "The Essence of Zen"  By The Ven. Maha Sthavira Sangharakshita.), và nếu tôi muốn đọc sách Phật Giáo thì tôi có thể đọc thẳng Kinh điển Phật Giáo, hay đọc những tác phẩm của các bậc tu hành đạo cao đức trọng trong đó có những kinh nghiệm tu chứng, chứ tôi không đọc sách của các học giả luận giải về tu chứng. 

Nhưng có điều chắc là những gì mà tôi học được từ các vị Tăng Ni đạo cao đức trọng sẽ giúp tôi có một đời sống lành thiện và an lạc trên cõi đời này; còn cái bằng cấp mà tôi lấy được ở đại học, với những phương pháp khảo cứu tiến bộ nhất, với đầy đủ tư liệu nhất, thì nhiều lắm là giúp tôi kiếm được một công ăn việc làm để tôi có một đời sống vật chất thoải mái, nghĩa là giúp tôi kiếm ăn bằng "hý luận", nếu bằng cấp của tôi là về Phật Giáo.  Trong Phật Giáo, "hý luận" chỉ để mà chơi, thực sự nó vô dụng, nó như bàn về thực đơn mà không ăn, hay đếm tiền của thiên hạ trong ngân hàng.  Khi tôi tìm tới các vị Tăng Ni để học Đạo thì điều tôi quan tâm là tác phong đạo đức của họ ra sao, đời sống Đạo của họ như thế nào, họ diễn giải Phật Pháp ra sao, tôi có thể học được những gì từ họ v..v.. chứ tôi không quan tâm đến chuyện họ có biết rõ Đức Phật sinh ngày nào giờ nào hay không, Kinh này viết bao giờ, ai viết; nhân vật Bồ Đề Đạt Ma có hay không có thật, hay là Việt Nam có hay không có dòng Thiền của Tỳ Ni Đa Lưu Chi hay Thiền của Vô Ngôn Thông v...v...

Những hiểu biết này, chỉ có một giá trị tương đối trong môi trường thuần trí thức, và có thể tạo cho tôi một chỗ đứng trong giới học giả, nhưng không dùng gì được trong vấn đề tu tập Phật Pháp.  Phật Giáo không phản đối những nghiên cứu hay luận giải thuần trí thức này nhưng Phật Giáo chú trọng đến vấn đề tu tập, thực hành Phật Pháp hơn là đến   những khảo luận trí thức.  Cho nên, tôi không quan tâm đến việc kiếm xem họ có bao nhiêu bằng cấp treo trên tường.  Trong Phật Giáo, vấn đề là hiểu Đạo và hành Đạo, chứ không phải là có bằng cấp với một mớ kiến thức ở ngoài đời.  Những câu chuyện  quen thuộc sau đây sẽ cho chúng ta rõ về quan điểm của Phật Giáo đối với những kiến thức mà chúng ta thường cho là của người trí thức.

1. Một vị sư già tu đã lâu, khảo cứu kinh điển rất tường tận, nhưng vẫn không cảm thấy đạt được kết quả gì.  Người bèn tìm đến một Cao Tăng để xin học Đạo, hi vọng có thể ngộ Đạo trước khi từ giã cõi đời.  Vị Cao Tăng ra ngoài cổng Chùa đón và bảo vị sư già "hãy để lại mọi hành trang ngoài cổng Chùa".  Vị sư già là bậc chân tu, suốt đời chỉ có vài bộ quần áo và cái bình bát, làm gì có hành trang gì khác.  Nhưng người hiểu ý vị Cao Tăng và theo vị Cao Tăng trên tu học: chẳng bao lâu sau, đắc đạo.

2.  Một học giả thông bác kim cổ đến học đạo với một vị Cao Tăng.  Trong lúc đàm đạo vị học giả này tỏ ra biết rất nhiều và biết đủ mọi chi tiết.  Vị Cao Tăng rót trà mời vị học giả, và dù chén trà đã đầy người vẫn tiếp tục rót, tràn cả ra ngoài.  Vị học giả bèn kêu: chén trà đã đầy rồi, sao còn rót vào được nữa.   Vị Cao Tăng trả lời:  Cũng như chén trà đã đầy, đầu óc ông đã đầy những kiến thức, đâu còn chỗ để mà học cái gì khác nữa.

 3.  Và gần đây, ở Vạn Phật Trấn, Talmage, California, cố Hòa Thượng Tuyên Hóa còn đi xa hơn và tàn nhẫn hơn nữa.  Trước một đám đệ tử phần lớn là Mỹ có bằng cấp cao Người nói: "Có cái gì đáng gọi là vĩ đại ở cái bằng Ph.D.?   Ph.D.., mèo cũng có thể là Ph.D., chó cũng có thể là Ph.D.  Vì sao?  Vì nó chẳng có giá trị gì.  Nếu anh/chị có Ph.D. thì là anh/chị có Ph.D.  Chẳng cần phải tự cao tự đại, khoe khoang.  Hãy để cho người ta coi anh/chị là Ph.D..."

Tuy đã hiểu Ngài muốn nói gì, nhưng cách đây vài năm, khi Tam Tạng Pháp Sư Tuyên Hóa tới Madison thuyết Pháp, để kiểm chứng sự hiểu của tôi, tôi có đứng lên hỏi Ngài về lời phát biểu trên.  Ngài trả lời (qua thông ngôn vì Ngài không nói tiếng Anh mà tôi thì không biết tiếng Tàu): "không có ý phủ nhận giá trị tương đối của cấp bằng Ph.D. mà chỉ muốn nhắc nhở cho các đệ tử hạnh khiêm cung, và rằng đi vào cửa Phật mà còn đội cấp bằng lên đầu thì cấp bằng đó trở thành vô giá trị.  "Cái Ngã"   do những thành kiến tự cao tự đại liên kết với những bằng cấp được gọi là cao đó còn có thể là một trở ngại lớn trong vấn đề học Phật."

Cho nên, đặt vấn đề bằng cấp để thẩm định vấn đề trí thức trong Phật Giáo, và coi NH như là khuôn vàng thước ngọc trí thức, niềm hãnh diện thực sự của Phật Giáo Việt Nam, không ai hơn, không ai bằng, thì ông NVT đã đứng ngoài cổng Chùa để phê bình những kiến trúc ở trong Chùa.  Ngoài ra trong bài viết, ông NVT còn đưa ra nhiều luận cứ đặc thù Gia Tô để bênh vực và biện minh cho những lỗi lầm  của Gia Tô Giáo VN.  Chúng ta hãy lược qua vài điểm trong bài của ông NVT:

a).  Ông khuyên "..người Gia-Tô cũng nên có một thái độ mà chính đức Giáo Hoàng Phao Lồ đệ nhị khuyến cáo: sám hối, nhận lãnh trách nhiệm về phần mình những lầm lỗi đã gây ra trong lịch sử.." và khuyến cáo "Hội đồng Giám Mục VN nên lên tiếng xin lỗi Phật Giáo VN, và các tôn giáo khác như Gia-Tô Giáo và Tin Lành Châu Âu đã làm trong khuôn khổ "đại kết"."

Từ trước tới nay, giáo hội Gia Tô Việt Nam đã nổi tiếng là nhất cử nhất động đều tùy thuộc Vatican.  Khi Giáo Hoàng cấm thờ cúng tổ tiên thì giáo hội dẹp bỏ hay xếp bàn thờ tổ tiên vào xó.  Sau mấy trăm năm, khi Giáo Hoàng cho phép thờ cúng tổ tiên lại, thì giáo hội, tuy không khuyến khích vì gần đây vẫn còn có vị Linh mục gọi đó là "làm chay cúng ruồi", nhưng cũng không ngăn cấm việc thờ cúng tổ tiên nữa.  Khi Giáo Hoàng bắt phải làm lễ bằng tiếng La Tinh thì giáo hội vẫn thản nhiên làm lễ bằng tiếng La-Tinh.  Sau vài trăm năm, khi giáo hoàng cho phép làm lễ bằng tiếng địa phương thì các lễ mới được chuyển một phần sang tiếng Việt.  Cuối năm 1945, Việt Nam giành lại được độc lập từ tay người Pháp, lòng yêu nước của người Gia Tô VN bùng lóe lên với những cuộc biểu tình của hàng chục ngàn giáo dân mang biểu ngữ và hô khẩu hiệu "Giáo Hoàng Muôn Năm",  "Giáo Hội Việt Nam của Người Việt Nam", "Việt Nam Độc Lập Muôn Năm" ( "Dieu et César" của Linh Mục Trần Tam Tĩnh: "Vive le Pape", L'Église Vietnamienne aux Vietnamiens", "Vive le Vietnam Indépendant".).  Nhưng rồi  Cha Tĩnh viết: "Vậy, với các giám mục và linh mục dẫn đầu, dân Gia Tô muốn phá bỏ hình ảnh của một giáo hội đã cộng tác với quân xâm lăng, một giáo hội phục vụ nước Pháp, một giáo hội đã sống ngoài lề sự tranh đấu cho chủ quyền và tự do của dân tộc.  Một trang sử đã lật qua nhưng khốn thay chẳng được bao lâu" (Ainsi, avec les évêques et les prêtres en tête, les catholiques voulaient détruire l'image d'une église collaboratrice avec les agresseurs, d'une église au service de la France, d'une église qui avait vécu en marge d'un peuple en lutte pour sa souvenaineté et sa liberté.   Une page est tournée.  Mais, malheureusement pas pour longtemps.)  Tại sao?  Vì theo một sắc lệnh của Giáo Hoàng Pie XII ban hành ngày 1 tháng 7 năm 1949, tuyên bố "dứt phép thông công" bất cứ người nào cộng tác với Cộng sản, tuyên truyền cho CS, đọc sách báo CS v...v.. nên giáo hội Gia Tô lại hợp tác với quân đội Pháp, được Pháp trang bị vũ khí để lập những chiến khu "tự trị" như Bùi Chu, Phát Diệm..., lại đứng ngoài lề công cuộc kháng chiến để bảo vệ nền độc lập mới thu hồi của dân tộc Việt Nam.  Và, bây giờ, việc xưng tội với dân tộc, nếu xét thấy cần thiết, đáng lẽ phải làm từ lâu rồi,  nhưng giáo hoàng chưa nhúc nhích thì giáo hội Gia Tô VN cũng "án binh bất động".  Khi Giáo Hoàng khởi xướng việc sám hối các tội ác trong quá khứ và xin lỗi các nạn nhân của Gia Tô Giáo trong gần 2000 năm nay thì giáo hội Gia tô VN cũng dục dịch làm theo.  Vậy là giáo hội chỉ làm theo lệnh của Giáo hoàng chứ đâu có phải là thành tâm và đứng trên cương vị dân tộc, vì nếu thành tâm và đặt dân tộc trên hết thì chuyện này đã phải làm từ lâu rồi đâu cần chờ lệnh của Giáo hoàng? [Nhưng nay tôi lại có một câu hỏi:   Tại sao giới lãnh đạo Gia Tô, bằng cấp đầy mình, mà lại phạm nhiều tội ác với nhân loại như thế, trong khi các Tăng Ni Phật Giáo chẳng có bằng cấp gì cả mà lại không hề phạm tội ác đối với nhân loại??  Mong rằng có ai đó trả lời cho câu hỏi này.]

Xét cho cùng, chuyện sám hối hay lãnh trách nhiệm về những lầm lỗi của giáo hội Gia Tô trong quá khứ là chuyện nội bộ của Giáo hội.  Nhưng tôi, và tôi tin rằng đa số người dân Việt Nam,  không bao giờ quy trách cho thế hệ những người Gia Tô hiện nay về những việc làm của những thế hệ Gia Tô trong quá khứ.  Chuyện tội của Cha Ông mà con cháu phải gánh chịu là chuyện của một số người có đầu óc của thời bán khai, man rợ, không phải là chuyện của thời văn minh hiện đại.  Vả chăng, về phương diện lý luận, nếu Giáo hội hiện tại tự cho cái tư cách đại diện các Giáo hội trong quá khứ để sám hối và xin lỗi các quốc gia đã bị Giáo hội xâm lăng, tàn sát, và phá hủy các nền văn hóa và tôn giáo của những quốc gia này, thì ai là những người có đủ tư cách để đại diện cho bao nhiêu triệu người chết, người bị tra tấn, thiêu sống, người bị cưỡng bách cải đạo v...v... trong những cuộc Thánh Chiến, trong 400 năm xử dị giáo với những tòa hình án, trong những chính sách thực dân diệt chủng diệt nền văn hóa địa phương v...v... để mà nhận lời sám hối hay tha tội cho Giáo hội?  Cho nên, cách sám hối thực tế nhất là đền bù, mang của cải của Giáo hội ra để xây dựng lại đền, Chùa, các nơi thờ phượng của tôn giáo  khác trên thế giới đã bị Gia Tô giáo phá hủy, trả lại đất đai, tài sản mà ngày xưa Giáo hội đã chiếm hữu hoặc bằng võ lực, hoặc dựa trên quyền thế thực dân ở các địa phương, hoặc do các tín đồ tay sai địa phương cống hiến cho Giáo hội, chứ vài lời xin lỗi đầu môi chót lưỡi rồi vẫn chứng nào tật ấy thì thật quả là vô ích.  Hãy chứng tỏ bằng hành động thay vì lời nói.  Cho nên, Giám Mục Emile de Smedt đã đặt câu hỏi: "Tại sao lại nói đến đối thoại với những người Ki-Tô khác, với người Do Thái, với tất cả những người phi-Ki-Tô khi thực ra về lý thuyết cũng như thực hành, Giáo hội Gia Tô La Mã không tôn trọng sự tự do của các tôn giáo phi Gia-Tô."  (Why speak about dialogue with other Christians, with Jews, with all non-Christians, if, in theory and in fact, the Roman Catholic Church does not respect the freedom of non-Catholic religions?) 

Và ngay gần đây, trong một chuyến công du sang châu Mỹ La Tinh, John Paul II đã lên tiếng chỉ trích nặng nề giáo hội Tin Lành và gọi họ là "những con chó sói đói mồi, gây bất hòa và chia rẽ trong những cộng đồng Gia Tô của chúng ta"  (John Paul denounces them (the Protestants) as "ravenous wolves...causing discord and division in OUR communities," Newsweek, February 12, 1996) chỉ vì mỗi ngày có tới 8000 người bỏ đạo Gia Tô La Mã để theo Tin Lành..  John Paul II có nghĩ tới những giáo sĩ Gia Tô tới Việt Nam trong những thế kỷ trước, gây chia rẽ và bất hòa trong xã hội Việt Nam, góp phần đưa nước Việt Nam vào vòng nô lệ Pháp v..v.. hay không, và Ngài khuyên dân Việt Nam chúng tôi phải gọi những giáo sĩ thừa sai đó bằng những danh từ nào?   Vậy có ai mà tin được những lời nói đãi bôi về sám hối cũng như xin lỗi của Giáo hoàng hay giáo hội Gia Tô La Mã là thành thực trong khi về tư tưởng cũng như về hành động, tất cả đều trái ngược với lời nói?

Về hội đồng Giám Mục Việt Nam, vấn đề không phải là ở chỗ nhìn nhận những sai lầm trong quá khứ hay xin lỗi Phật Giáo và các tôn giáo khác, mà là đưa ra một đường lối bảo đảm không tái phạm những sai lầm quá khứ nữa.  Sự hòa hợp tôn giáo ở Việt Nam chỉ có thể xảy ra khi những người phi Gia-Tô được bảo đảm bằng những hành động cụ thể của Giáo hội Gia Tô Việt Nam về tính cách độc lập của Giáo hội trên thế giới và với điều tiên quyết là đặt tổ quốc lên trên hết.  Nếu giáo hội Gia Tô Việt Nam ra thông cáo chính thức tuyên bố đặt quyền lợi quốc gia trên hết, nêu cao khẩu hiệu "Giáo hội Gia Tô Việt Nam của người Việt Nam", khẳng định sự độc lập của giáo hội, bình đẳng đối với mọi giáo hội Gia-Tô trên thế giới, kể cả đối với Tòa Thánh Vatican, và chính thức tuyên cáo rộng rãi trong khắp các giáo xứ bỏ những đòi hỏi phi lý như bắt phải học đạo trong vấn đề hôn phối, bắt đứa con sinh ra phải rửa tội và theo đạo Gia Tô v...v.., chấm dứt xuyên tạc lịch sử,  chấm dứt những âm mưu xuyên tạc và phá ngầm Phật Giáo cũng như các tôn giáo khác ở Việt Nam v...v...thì lo gì mà không có sự hòa hợp tôn giáo ở Việt Nam.  Người Việt Nam bản chất vốn hiền hòa và dễ tha thứ, trừ trường hợp phải đối phó với sự xâm lăng của ngoại bang và với những người theo gót ngoại bang, phản bội dân tộc.  Lịch sử đã chứng minh như vậy.

b).  Sau đó ông NVT viết: "Điểm mấu chốt của sám hối tôn giáo là nhìn nhận tội ác đã phạm ngay trên bình diện ý định, mục đích.  Thay vì nói: mục đích biện minh phương tiện, và hiểu mục đích tốt về phương diện đạo đức biện minh những phương tiện xấu, phải nói chính mục đích ở đây xấu trong trường hợp ý định thực hiện một điều tốt (sự cứu rỗi, giải phóng) bao hàm cách sử dụng những phương tiện chính trị (quyền bính, áp lực chính trị) nghĩa là dùng bạo lực... Giáo hội Ki-Tô trong lịch sử, cũng như chế độ Stalinit gần đây và hiện nay đều rơi vào điều mà một nhà triết học Pháp (H. Duméry) gọi là "chước cám dỗ làm điều thiện".  Thường người ta chỉ bị cám dỗ làm điều xấu, nhưng ở đây chước cám dỗ muốn làm điều thiện (tentation de faire le bien) đã đưa đến phạm tội ác.  Phạm điều ác trong trường hợp bị cám dỗ làm điều thiện bằng cưỡng ép bạo lực."

Tôi thấy câu trên có vẻ mập mờ, ý nghĩa không rõ ràng, nhất là câu "phải nói chính mục đích ở đây xấu trong trường hợp ý định thực hiện một điều tốt (cứu rỗi, giải thoát) bao hàm cách sử dụng các phương tiện chính trị (quyền bính, áp lực chính trị) nghĩa là dùng bạo lực.."  Mục đích ở đây xấu là mục đích nào?  Trong ý định thực hiện một điều tốt?  Những phương tiện chính trị, dùng bạo lực là phương tiện hay mục đích?  Nhưng theo tôi hiểu thì có lẽ ông NVT muốn nói là ý định thực hiện một điều tốt (cứu rỗi, giải phóng) nhưng dùng các phương tiện xấu (chính trị, bạo lực) và viện dẫn triết thuyết của  H. Duméry cho rằng đó chỉ là "chước cám dỗ muốn làm điều thiện đã đưa đến phạm tội ác."  Có nhiều điều không suôi trong cái triết thuyết này:

Nếu người ta muốn làm điều thiện với một tâm thiện thì người ta không thể phạm tội ác.  Phật giáo ra đời trước Gia Tô giáo cả hơn 500 năm, và trong suốt hơn 2500 truyền đạo trên khắp thế giới, không hề làm đổ một giọt máu vì lý do truyền đạo.  Phật Giáo mang cái thiện và tâm thiện đến cho chúng sanh., và lịch sử cho thấy các Tăng Ni Phật Giáo cũng bị cái "chước cám dỗ muốn làm điều thiện" nhưng lại không bao giờ phạm tội ác.  Cho nên, cái triết thuyết của H. Duméry có lẽ bắt nguồn từ những kinh nghiệm tôn giáo ở Tây phương, và đó là một triết thuyết dùng để biện minh cho những tội ác của tôn giáo Tây phương, khoan xét đến thực chất ý nghĩa của những từ như "cứu rỗi" hay "giải phóng".   Cứu rỗi là một quan niệm đặc thù của Ki-Tô Giáo, đặt căn bản trên một niềm tin vào những thuyết như "Sáng Tạo", sự "Sa Ngã của Người", "Tội Tổ Tông", và "Đấng Cứu Thế".  Đây là một niềm tin tôn giáo, một niềm tin không có căn bản vững chắc dưới ánh sáng của khoa học và trước sự văn minh tiến bộ của loài người, như nhiều học giả và ngay cả nhiều nhà Thần Học đã công nhận, không phải là một khuôn mẫu đạo đức, và nhất là chưa được kiểm chứng bằng bất cứ sự kiện nào.  Ngay chính Giáo hoàng John Paul II, trước sự tiến bộ trí thức của nhân loại, nhất là về khoa học, đã phải lên tiếng công nhận trước thế giới thuyết Big Bang về nguồn gốc vũ trụ, thuyết Tiến Hóa về nguồn gốc con người, do đó đã đương nhiên bác bỏ thuyết Sáng Tạo cũng như Tội Tổ Tông, vậy làm gì còn có những thứ như là Đấng Cứu Thế hay là Cứu rỗi. Như vậy, cứu rỗi không phải là một điều thiện hay điều tốt vì nó không có tính phổ quát, và cũng không phải là một tiêu chuẩn đạo đức mà toàn thể thế giới công nhận.  Còn "giải phóng" thì giải phóng khỏi cái gì?  Khỏi những khó khăn vật chất để rơi vào vòng nô lệ cả phần hồn lẫn phần xác của một ý thức hệ mà lịch sử đã chứng minh là đã gây ra không biết bao nhiêu tội ác?  Hay là giải phóng khỏi sự áp bức của chính quyền quân chủ?  Một câu hỏi được đặt ra: nước VN là một nước nông nghiệp, kỹ thuật thô sơ,  đa số  là nông dân hay dân chài lưới nghèo khổ, bị áp bức, vậy mà trong mấy trăm năm truyền đạo, kể cả gần 100 năm Pháp thuộc và 9 năm dưới chính thể Ngô Đình Diệm ở miền Nam, trong những thời gian này Gia Tô giáo được tự do, toàn quyền, và các nhà lãnh đạo gia tô, ngoại quốc cũng như quốc nội, dùng đủ mọi cách để gia tô hóa Việt Nam, từ cách dùng các bả vật chất cho tới cưỡng bức cải đạo, mà tuyệt đại đa số dân Việt Nam vẫn từ chối không muốn được cứu rỗi hay giải phóng?  Nhìn vào những con số thống kê thì tỉ số trên dân số của các tín đồ Gia Tô bao giờ cũng chỉ quanh quẩn ở mức từ 5 tới 7 phần trăm.  Như vậy có phải là những điều mà Gia Tô giáo cho là tốt như cứu rỗi, giải phóng chỉ là hữu danh vô thực, không thể mang ra mà lừa dối ngay cả đại đa số người dân Việt Nam chất phác?

c).  Sau đó, ông NVT đưa ra một đề nghị với người "ngoài Gia Tô" , đưa ra vài thí dụ để biện minh cho những lỗi lầm của Gia-Tô giáo VN trong quá khứ.  Ông viết: 

  "Trước hết, đề nghị người ngoài Gia-Tô (danh từ phi-Gia-Tô có lẽ đúng hơn) cũng phải sám hối trong việc nhìn nhận trách nhiệm (giới lãnh đạo chính trị, nho sĩ)  đã để cho thực dân lợi dụng được Gia-Tô Giáo.  Gần đây, trong trường hợp VN "giải phóng" Cambot, không ai nghĩ đến kết án người dân Cam bốt chạy theo người VN, mà chỉ kết án Polpot đã đẩy người dân phải chạy theo người VN, mặc dù họ chẳng ưa hay thù ghét người VN.  Ngoài ra cần phân biệt đánh giá một tôn giáo, ý thức hệ du nhập VN với sự kiện có những người VN chấp nhận theo những tôn giáo, ý thức hệ đó.  Anh có thể thích hay không thích để tóc dài, mặc quần bò.  Nhưng khi có những người VN để tóc dài hay quần bò thì đó là sự kiện VN và anh phải chấp nhận, tôn trọng sự lựa chọn kể trên, trừ trường hợp dùng quyền lực buộc anh phải theo...vậy nếu có những người VN theo đạo Gia Tô và bị cấm đoán, xử tử chỉ vì theo một đạo không phù hợp với đạo của nhà Vua (như nhiều vụ án đã chứng minh) thì có thể coi là những vi phạm nhân quyền không?"

Tôi có cảm tưởng là đọc một cái gì quen thuộc.   Nguyên trong nước Mỹ, cho tới nay có hơn 4000 ông linh mục Gia Tô, toàn là các bậc trí thức cả vì ít ra trình độ của các linh mục cũng tương đương với cử nhân, dù phần lớn trong chương trình huấn luyện là về thần học để bảo vệ các tín lý thuộc loại mê tín của gia tô,  bị đưa ra Tòa về tội cưỡng bách tình dục trẻ con và nữ tín đồ.  Giáo hội đã phải bỏ ra hơn 1 tỷ đô-la để bồi thường và dàn xếp ngoài Tòa một số lớn các vụ này. (Xin đọc A Gospel of Shame: Children, Sex Abuse and the Catholic Church của Elinor Burkett & Frank Bruni; Lead Us Not Into Temptation: Catholic Priests and the Sexual Abuse of Chidren của Jason Berry; Sex, Priests, and Power: An Anatomy of a Crisis của A. W. Richard Sipe).  Nhưng ở một số các cộng đồng nhỏ thì Giáo hội lại thuê luật sư để quấy nhiễu (harass) và tố ngược (sue back) các bậc cha mẹ không biết chăm sóc con cái, để cho các ông linh mục lợi dụng.  Nếu không có báo chí và TV phanh phui và chỉ trích thì chắc sách lược này đã thành công vì ở các cộng đồng nhỏ, giáo dân nào mà dám tố các ông linh mục là có thể bị coi như phản đạo, mọi người khinh rẻ.   Và bây giờ tôi lại thấy một đại trí thức Gia Tô VN đưa ra luận cứ là những người VN phi Gia-Tô phải sám hối và nhìn nhận trách nhiệm đã để cho thực dân lợi dụng những người VN theo Gia Tô Giáo.  Ông vào nhà tôi, gây chia rẽ và bất hòa trong đám con cái tôi, khuyến dụ một số theo ông để cướp nhà tôi, và bây giờ ông muốn tôi phải sám hối và lãnh trách nhiệm vì đã không đủ sức chăm nom con cái để cho ông lợi dụng một số?  Tôi thấy đây là một kiểu lý luận kỳ lạ nếu không muốn nói là có tính cách mạ lỵ khả năng suy luận của con người, nhất là của những người được gọi là trí thức.

 Ông NVT lại đưa ra trường hợp Việt Nam can thiệp vào Cam Bốt gần đây và những người Cam Bốt chạy theo VN để so sánh, ngụ ý các vua triều Nguyễn cũng ác, cũng dùng chính sách diệt chủng đối với chính dân của mình như Pol Pot ở bên Cam Bốt, cho nên những người Gia Tô chạy theo thực dân Pháp là chuyện phải thôi, có gì đáng trách đâu.  Rồi ông lại mang chuyện để tóc dài và mặc quần bò ra làm thí dụ để nói lên quyền tự do theo đạo Gia-Tô của người Việt và trách các Vua triều Nguyễn là cấm đạo và tàn sát giáo dân chỉ vì họ theo một đạo không phù hợp với đạo của nhà Vua.  Là bậc trí thức như ông,  ông không thể không biết đến lịch sử Việt Nam.  Việt Nam có bao giờ có truyền thống cấm đạo hay tàn sát người theo đạo chỉ vì họ theo đạo?  Tinh thần Tam Giáo Đồng Nguyên kéo dài suốt từ đời Lý Trần tới thời cận đại, và chính Linh Mục Lương Kim Định cũng phải thú nhận là Thiên Chúa Giáo du nhập Việt Nam đã làm cho khối người Việt Nam đang sống hòa thuận với nhau trở thành chia rẽ làm hai khối Lương Giáo đầy e dè nghi kỵ.  Dưới thời các triều Nguyễn, Nho sĩ cầm quyền và Phật Giáo cũng bị những khó khăn hạn chế như mọi tôn giáo khác, nhưng tại sao lại chỉ có mình Gia Tô Giáo bị cấm đạo và giáo dân bị tàn sát?   Các nhà khảo sử không ai phủ nhận việc cấm đạo và chính sách khắc nghiệt của các triều Nguyễn đối với Gia Tô Giáo, nhưng tất cả đều phải có nguyên nhân.  Những nguyên nhân này không bao giờ được các nhà viết sử thực dân hay Gia-Tô nhắc tới.  Những nguyên nhân này là gì, hiện nay tài liệu có khá đầy đủ,  tôi tin rằng ông có thể kiếm ra một cách dễ dàng.   Nếu ông vì quá bận chưa có thì giờ đọc về lịch sử Việt Nam và các tài liệu hiện hữu về vấn đề cấm đạo thì tôi xin trích dẫn vài tài liệu sau đây để cho vấn đề được sáng tỏ:

1. Ông Lý Chánh Trung, một nhà trí thức Gia Tô, trong cuốn Tôn Giáo và Dân Tộc nhận định rằng:

"Tuy nhiên lịch sử đã cho thấy rằng từ khi Giáo hội (La Mã) đã trở thành quốc giáo thì cây gươm tinh thần của Thánh Phao-Lồ đã luôn luôn bị cám dỗ để biến thành cây gươm thép thực sự.   Kể từ dạo ấy, mỗi khi hoàn cảnh cho phép, giáo hội đã không ngần ngại để dùng thế lực tiêu diệt các tôn giáo khác, đập phá các đền thờ "Tà Thần", đốt sách vở ngoại đạo, và đốt luôn bọn người bị xem là "lạc đạo" nếu không chịu sửa sai.

...Ngày nay mọi người đều đồng ý rằng việc cấm đạo dưới các Vua triều Nguyễn là một hành động bất nhân và sai lầm.   Nhưng nếu chúng ta tự đặt mình vào địa vị các vị Vua ấy, và cái khung cảnh tâm lý thời đó, thì có lẽ chúng ta khó có thể làm khác hơn"  (Ông Lý Chánh Trung đã không xét đến những khung cảnh xã hội, chính trị đã tạo ra cái khung cảnh tâm lý đó. TCN)

2. Trong cuốn Đạo Thiên Chúa và Chủ Nghĩa Thực Dân tại Việt Nam, Tiến sĩ Cao Huy Thuần viết như sau:

   "Những người viết sử "thực dân" và những người viết sử của Phái Bộ Truyền Giáo đã cho xuất bản rất nhiều sách về điểm mà họ gọi là "sự đàn áp tôn giáo" ở Việt Nam.  Một tác giả Thiên Chúa Giáo VN cũng đã có viết một tập giáo khoa - được giải thưởng Hàn Lâm Viện Pháp - để dùng cho các học sinh Trung học Pháp, trong đó y giải thích cho các độc giả trẻ rằng các Vua VN, vào thế kỷ thứ 19, đã "đàn áp" các tín đồ đạo cao quí của Tây Phương như thế nào.  Chúng tôi hi vọng rằng các tài liệu công bố trong thiên khảo cứu này cũng đủ khá hùng hồn để chấm dứt các ngụy tạo đó.  Thật vậy, cái gọi là "đàn áp tôn giáo" đó sự thực chỉ là những biện pháp tự vệ mà mọi nước bị ngoại xâm và nội loạn đe doạ đều bị buộc phải dùng đến nếu không muốn nhận chịu nguy cơ sụp đổ.  Nếu đạo Thiên Chúa VN bị bài xích, thì việc đó, chính yếu là do các người đại diện cho đạo; những người này, bằng những hoạt động tai hại và ý muốn thống trị của họ, rút cục đã làm cho người VN thấy Chúa Christ là tay sai của xâm lăng thuộc địa và văn hóa".

3. Trong cuốn “L'Empire Vietnamien Face à la France et à la Chine", bản dịch ra tiếng Việt của Nguyễn Đình Đầu, Yoshiharu Tsuboi viết như sau:

   "Linh mục Louvet gợi lại việc phái bộ Montigny đã tới Đà Nẵng năm 1847 để diệu võ dương oai rồi thảm bại rút lui để lại bao khó khăn cho thừa sai và tín hữu.  Theo Louvet, phái bộ Montigny đã gây chuyển hướng trong tính cách của sự bách hại như sau: "...từ phạm vi tôn giáo chuyển sang phạm vi chính trị, người công giáo không chỉ nguyên thuần là một kẻ theo tà đạo, tự mình tách rời ra khỏi đời sống công dân và gia đình do chối từ việc thờ cúng tổ tiên, mà còn là bạn bè của người ngoại quốc, là kẻ phản bội và phản nghịch từng kêu gọi quân xâm lăng đến chiếm lĩnh nước mình."   Sự thật Louvet chỉ nhắc lại một lập luận mà giám mục Pellerin đã quảng diễn từ trước...

   Một lập luận như vậy đánh dấu thật rõ ràng sự thay đổi trong não trạng các thành viên hội Thừa Sai của Paris, vì lập luận ấy đã cho biết sự thật lịch sử: tại Việt Nam, nơi mà tinh thần hòa đồng tôn giáo đã thấm sâu vào xã hội, không có lý do gì, nhất là khi vẫn có trật tự xã hội, lại đi bách hại đạo công giáo với tính cách là một đạo giáo.  Đã từ lâu, điều làm cho người ta e ngại là sự hiện diện và hoạt động của các thừa sai bị coi như là những tác viên của Tây phương có nhiệm vụ phá hại nền đạo đức và chính trị của nước Việt Nam.  Chúng tôi đã xem xét kỹ hoạt động của các thừa sai, bởi vì chúng tôi tin là hội thừa sai Paris và các giáo sĩ của hội này đã là những kẻ "dẫn đường" chính cho chính quyền Pháp tại Việt Nam"

4.  Trong cuốn Việt Nam Pháp Thuộc Sử,  Giáo sư Phan Khoang viết:

   "Những người đề xướng cuộc chinh phục nước Nam là mấy sĩ quan hải quân của hạm đội Pháp ở biển Trung Quốc..nhưng hoạt động hăng hái hơn cả để làm cho chính phủ Pháp quyết định là các giáo sĩ, nhứt là giáo sĩ   Huc, Giám mục Retord, Giáo sĩ Libois và Giám Mục Pellerin..

   Vì các giáo sĩ ngoại quốc truyền giáo phản đối kịch liệt ý kiến châm trước việc thờ cúng tổ tiên nên năm 1742 giáo hoàng Benoit XIV ra sắc lệnh kết án sự thờ cúng tổ tiên, và vì thế, từ đó người ta thấy những sự cấm đoán, những hình phạt các vua, chúa nước ta thi hành với giáo sĩ, giáo đồ càng xảy ra nhiều, nghiêm ngặt, nặng nề hơn."

5.  Trong cuốn Việt Nam Chiến Sử, tác giả Phạm Văn Sơn viết:

 "Dưới mắt Vua Minh Mạng các tu sĩ Tây phương ngoài việc truyền giáo còn là những gián điệp lợi hại nhất của  đế quốc và các tàu buôn cùng sứ thần của họ cũng có những công tác bí mật, vậy "kính nhi viễn chi" là hơn."

6.  Trong cuốn Les Missions Étrangères et la Pénétration Francaise au Viet-Nam Nicole-Dominique Lê viết như sau:

"Theo quan điểm của những nhà lãnh đạo VN thì các thừa sai đã phạm tội thúc đẩy giáo dân bất tuân luật lệ quốc gia.  Từ bỏ những thờ phượng tôn giáo, những giá trị xã hội đã khiến cho họ sống ở ngoài lề của xã hội truyền thống.  Nhưng nghiêm trọng hơn là, người ta trách cứ các giáo sĩ và giáo dân đã tạo nên sự phân chia quốc gia thành 2 khối tôn giáo đối nghịch nhau."

  (Les missionaires, selon l'optique des dirrigeants Vietnamiens, étaient coupables de pousser les Chrétiens à rejeter les lois de leur pays.  Rejet des cultes religieux, des valeurs sociales qui les faisaient vivre en marge de la société traditionnelle.  Mais chose plus grave, on reprochait aux prêtres et aux chrétiens la scission du pays en deux clans religieux opposés.)

   "Được thành lập một cách cuồng tín, những người Thiên Chúa Giáo VN đã có một ý thức giai cấp; họ tự cảm thấy tách biệt khỏi đại khối dân tộc, khác biệt và cao quý hơn, vì họ đã nhận được ánh sáng của Thượng Đế.  Họ khinh miệt những người phi-TCG, những người đã theo những nghi lễ mọi rợ và mê tín.  Nhưng những người phi-TCG cũng khinh miệt không kém những kẻ theo đạo, thường là xuất thân từ giai cấp hạ tiện, những người chẳng mất mát gì khi theo một tôn giáo khác, một tôn giáo từ chối gia tài của xứ sở.  Nhất là giai cấp văn thân càng ghét họ hơn, vì, không những họ từ bỏ những truyền thống tổ tiên, mà tệ hơn nữa, kêu gọi ngoại nhân đến với họ, xin ngoại nhân che trở và cho họ việc làm, hầu hạ và phục tùng ngoại nhân như là các ông chủ duy nhất.  Về phía Gia-Tô giáo, họ không làm gì để xóa bỏ hay ít ra là làm giảm bớt cái tiếng xấu của họ, trái lại, khi chắc rằng người Pháp sẽ ngự trị ở ngoài Bắc, và tin rằng thời cơ của họ đã tới, họ đã phạm nhiều sự lạm dụng không thể tha thứ được."

   (Formés fanatiquement, les chrétiens Vietnamiens ont acquis une conscience de classes; ils se sentaient à part du reste de la nation, différents et supérieurs, car ils avaient recu la lumière du Dieu.  Ils méprisaient les non-chrétiens, qui pratiquaient des rites barbares et superstitieux.  Mais les non-catholiques ne méprisaient pas moins les convertis qui, le plus souvent de basse extraction, n'avaient rien à perdre en suivant une autre religion qui niait à elle seule l'héritage du pays.  La classe lettrée surtout les détestait car, non seulement ils reniaient leurs traditions ancestrales, mais pire encore, ils appelaient à eux les étrangers, leur demandant protection et emploi, les servant et leur obéissant comme à des maitres incontestés.  Du côté catholique, rien ne fut entrepris pour effacer ou tout au moins atténuer la mauvaise réputation qui leur était faite.  Bien au contraire, lorsqu'ils furent certains que la France allait désormais s'installer au Nord, ils commirent d'impardonable abus, croyant leur heure est arrivée.)

7. Trong cuốn Annam-Tonkin 1885-1896, Charles Fourniaux viết:

"Căn bản của lực lượng này (với mục đích đồng hóa toàn phần dân chúng để tạo một "Đông Dương của Pháp", bằng cách phá hoại văn minh cổ truyền và những văn thân gìn giữ nền văn minh này) nằm trong 600,000 giáo dân Thiên Chúa Giáo mà các thừa sai là những ông chủ tuyệt đối.  Họ sống trong các làng mạc hoặc phần làng mạc riêng biệt, vì các thừa sai nhất định bảo vệ họ để khỏi bị ảnh hưởng xấu của người "Lương" và người Âu châu.  Nhưng nhất là vì niềm tin và tác phong của họ đã làm cho đồng bào của họ coi họ như là những kẻ bội giáo và phản bội quốc gia.  Họ không còn trung thành với sự thờ cúng tổ tiên, không tôn trọng những lễ lạc cổ truyền và phong tục tập quán.  Thật vậy, có phải là từ những năm 70 họ đã chẳng là những "nội ứng của Pháp", làm tình báo cho kẻ thù và giúp đỡ kẻ thù, và cung cấp đa số trợ quân cùng những kẻ phản bội quốc gia khát máu như tên Trần Bá Lộc?"

   (La base de cette force (visant à l'assimilation complète de la population pour construire une "France Indochinoise", en détruisant la civilisation traditionnelle et ses gardiens que sont les Lettrés) réside dans les 600,000 chrétiens sur lesquels règnent en maitres absolus les missionnaires.  Ils vivent en villages ou quartiers de villages séparées, car les missionnaires tiennent à les protéger des influences néfastes des "paiens" et des européens.  Mais surtout leur foi et leur comportement les fait apparaitre à leurs compatriotes comme des rénégats et des traitres.  Ils sont infidèles aux pratiques du culte des ancêtres, ne respectent ni les fêtes traditionnelles ni les coutumes.  Enfin n'ont-ils pas été depuis le début des années 70 les "Francais de l'intérieur", renseignent et aident l'ennemi, fournissant le gros des recrues de forces supplétives et des traitres sanglants comme Trần Bá Lộc?) 

[Trần Bá Lộc là tên tay sai Gia-Tô đắc lực nhất của Pháp trong sự đàn áp các cuộc khởi nghĩa ở miền Nam, nổi tiếng là tàn bạo và tham lam.  Leo từ lính cơ của Pháp lên tới tri phủ (1886) hắn đã "chặt nhiều đầu" kháng chiến quân, chính hắn viết như thế, và còn bắt bớ những người có liên hệ với kháng chiến để tống tiền dưới hình thức "bồi thường", được Pháp khen thưởng Bắc Đẩu Bội Tinh hạng 3: theo tài liệu A30 (75), hộp 19, Thư Khố Bộ Pháp Quốc Hải Ngoại.]

8.  Trong cuốn La Place du Catholicisme dans les Relations Entre la France et le Vietnam, de 1851 à 1870, nhà trí thức Gia Tô Étienne Võ Đức Hạnh viết:

 "Dưới triều Vua Tự Đức, một số lớn người Thiên Chúa Giáo VN làm tình báo cho Pháp...Dưới triều Tự Đức, do sự xúi dục của các giáo sĩ, người TCG và phi-TCG, âm thầm hoặc công khai, chống đối lại vị Vua tại vị hơn là nhà Nguyễn vì nhiều lý do...Chỉ có một điều khác biệt: người TCG có cùng chung mục tiêu với nước Pháp, còn người phi-TCG thì không."

   (Sous Tu Duc, un grand nombre de catholiques Vietnamiens sont d'intelligence avec les Francais... Au jours de Tu Duc, Chrétiens et non-chrétiens, à l'instigation des missionnaires, résistent ici sourdement, là ouvertement au roi régnant mieux à la dynastie des Nguyen pour plusieurs motifs.. Une seule différence: les chrétiens font cause commune avec la France, les non-chrétiens les combattent)

9.  Trong cuốn The Vietnam Response to French Intervention, 1862-1874 Mark W. McLeod viết:

   "Sau đó, những đạo dụ khắc nghiệt hơn được ban hành mỗi khi Vua Tự Đức phải đối diện với bằng chứng là các giáo sĩ Gia Tô và các giáo dân dính líu vào những cuộc nội loạn hay đứng về phía một quyền lực ngoại quốc."

   (Subsequent, more severe edicts were issued whenever Tu Duc was confronted with evidence that the Catholic missionaries or the indigeneous Catholics were involved in internal rebellions or were in league with a foreign power.)

   "Nguyên tắc của Vua Minh Mạng để đối phó với những người Gia Tô VN như sau: trước hãy giáo dục sau mới dùng đến hình phạt.  Như vậy, các viên chức trước hết phải khuyên hóa những người Gia Tô để cho họ tỉnh ngộ và hối cải những tội ác của họ.."

   (Minh Menh's principle for dealing with the Vietnamese Catholics was the following: "first we must educate; only afterward do we punish".  Accordingly, officials were first to "advise and instruct" the Catholics so that they would "awaken" and repent their crimes."

10.  Trong cuốn Vietnam's Will to Live, Helen B. Lamb viết châm biếm như sau:

"Những công tác của những giáo sĩ như là Cha Retord gồm có thu thập tin tức về vùng bờ biển, sông ngòi, và  sự phòng vệ Huế.  Ngoài  việc là một nguồn tin tức chủ yếu cho hải quân Pháp, những giáo sĩ còn làm những sách-động viên, nhân danh 450,000 giáo dân mà họ tuyên nạp vào giữa thế kỷ thứ 19, sẵn sàng đưa một quốc gia 10 triệu người vào vòng chết chóc và tàn phá toàn diện - lẽ dĩ nhiên là để cứu quốc gia này."

   (The labors of such missionaries as Father Retord had included intelligence on coastal areas, rivers, and the defense of Hue.  Besides being a vital source of information for the French navy, the missionaries played the role of outside agitators who, in the name of 450,000 Vietnamese converts they claimed by the mid-19th century, were willing to plunge a country of 10 million people into wholesale death and destruction - in order, of course, to save it.)

11.  Trong cuốn Catholicisme et Sociétes Asiatiques, Alain Forrest và Yoshiharu Tsuboi trích dẫn tài liệu sau đây trong cuốn Vie de Mgr. Puginier:

"Giám Mục Puginier viết rằng: "Không có các thừa sai và giáo dân TCG thì người Pháp cũng giống như những con cua đã bị bẻ gẫy hết càng.  Thí dụ như vậy, tuy tầm thường mộc mạc nhưng không kém phần chính xác và mạnh mẽ.   Thật vậy, không có các thừa sai và giáo dân TCG, người Pháp sẽ bị bao vây bởi toàn là kẻ thù; họ sẽ không thể tin cậy vào một ai; họ sẽ chỉ nhận được những tin tức tình báo sai lầm, cung cấp với ác ý để phá hoại tình thế của họ; họ sẽ bị đẩy vào tình trạng không thể hoạt động được gì và sẽ phải hứng chịu những thảm họa thực sự một cách nhanh chóng.  Địa vị của họ ở đây sẽ không giữ nổi được nữa, và họ sẽ bị buộc phải rời khỏi xứ, nơi đây quyền lợi và ngay cả sự hiện diện của họ sẽ bị nguy hại."

   (Sand les missionnaires et les chrétiens, écrit Mgr. Puginier, les Francais seraient comme les crabes auxquels on aurait cassé toutes les pattes.  La comparaison, pour être triviale, ne manque pas de justesse et de force.  En effet, sans les missionnnaires et les chrétiens, les Francais se verraient entourés d'ennemis; ils ne pouraient se fier à personne; ils ne recevraient que de faux renseignements, méchamment donnés pour compromettre leur situation; ils se trouveraient donc réduits à l'impossibilité d'agir et seraient rapidement exposés à des vrais désastres.  Leur position ici ne serait plus tenable, et ils ne verraient forcés de quitter un pays où leurs intérêts et leur existence même serait compromis.)

12.  Trong cuốn Dieu et César, Linh mục Trần Tam Tĩnh viết như sau:

“Cho tới khi chết ngày 25 tháng 4/1892, giám mục Puginier đã hoạt động không ngưng nghỉ ngày nào để củng cố địa vị của nước Pháp tại xứ ông đã nhận là quốc gia mới.  Người ta còn giữ được mấy chục bản ghi chú và những tin tức tình báo có mang chữ ký của ông trong những Văn Khố của Bộ Thuộc Địa.  Một phần nhờ vào các tin tức tình báo của giám mục mà quân Pháp có thể dẹp tan quân đội kháng chiến của Việt Nam.  Trung tâm kháng chiến khốc liệt nhất là ở Ba Đình, Thanh Hóa, dưới sự chỉ huy của Đinh Công Tráng.  Đó là một làng được tăng cường bởi một vòng đai lũy tre, những ụ kháng chiến, những hầm trú ẩn, và một hệ thống hầm giao thông được xếp đặt một cách tinh vi.  Để "bình định" làng này, quân đội Pháp đã kéo tới 2,250 binh sĩ với 25 khẩu đại bác, 4 tàu chiến dưới sự chỉ huy của đại tá Metzinger.  Cuộc tấn công của Pháp ngày 18 tháng 12/1886 bị đẩy lui.  Quân Pháp bao vây để tìm kiếm một chiến thuật mới.  Sung sướng thay cho họ, một sĩ quan trẻ, đại úy Joffre (sau này trở thành thống chế nổi tiếng của Pháp trong đệ nhất Thế Chiến), đã nghĩ đến việc cầu sự trợ giúp của Cha Trần Lục, cha xứ Phát Diệm và là Phó Tướng đặc trách bình định các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tịnh.  Trần Lục, được giám mục Puginier ban phước lành, và mang 5000 giáo dân TCG đến giúp quân Pháp.  Và Ba Đình bị thất thủ."

   (Jusqu'à sa mort le 25 Avril 1892, Mgr Puginier ne restait pas une journée sans travailler à affermir la position de la France dans son pays d'adoption.  On conserve des dizaines de Notes et renseignements portant sa signature dans les Archives du Ministère des Colonies.  Et en partie grâce à ses renseignements, les Francais purent écraser la résistance armée des Vietnamiens.  La résistance la plus farouche étai menée à Ba Đình, Thanh Hóa, sous la direction de Đinh Công Tráng.   C'était en apparence un village fortifié avec une ceinture de bambous, des remparts, des tranchées et boyaux de communication savamment disposés.  Le moral des combattants était très haut.  Pour le "pacifier", les Francais envoyèrent une force de 2500 soldats, 25 canons, 4 canonnières sous le commandement du colonel Metzinger.  L'attaque du 18 Décembre 1886 fut repoussée.  Les francais durent l'assiéger et cherchant une nouvelle tactique.  Heureusement pour eux, un jeune officier,  le capitaine Joffre (qui deviendra le fameux maréchal de France pendant la première guerre mondiale), pensa à demander l'aide du père Trần Lục, curé de Phát Diệm et vice-roi pour la pacification des provinces de Thanh Hoa, Nghe An et Ha Tinh.   Celui ci avec la bénédiction de Mgr Puginier vint à la rescousse des Francais avec 5000 chrétiens.  Et Ba Đinh fut pris.)

   Trên đây chỉ là vài tài liệu trong kho tàng tài liệu rất phong phú hiện hữu.  Từ những trích dẫn tài liệu trên chúng ta có thể thấy rõ nguyên nhân của việc cấm đạo trong thế kỷ thứ 19 tại Việt Nam.  Những nguyên nhân đó có thể tóm tắt trong mấy điểm chính:

i). Các giáo sĩ thừa sai Gia Tô Giáo khi tới Việt Nam truyền đạo đã không giữ đúng vai trò truyền giáo thuần túy của mình.  Họ có những thái độ ngạo mạn, khinh rẻ chính quyền địa phương vì tự cho là văn minh tiến bộ trong khi bản chất của họ thật là hẹp hòi và chậm tiến, và cuồng tín vì cho rằng đạo của mình là đạo chân thật duy nhất, do đó đã dùng những phương pháp truyền đạo mạ lỵ,xâm phạm tới toàn bộ tín ngưỡng, đạo đức, và cấu trúc truyền thống của xã hội Việt Nam.   Họ đã trắng trợn can thiệp vào chính trị nội bộ của Việt Nam và trong nhiều trường hợp đã xúi dục và gây nên sự chia rẽ, bất hòa, xáo trộn trong xã hội Việt Nam.

ii). Các giáo sĩ thừa sai Gia Tô đã giữ những vai trò then chốt trong việc vận động chính quyền Pháp xâm lược Việt Nam, tích cực đóng góp cho việc xâm lược Việt Nam, và sau đó có nhưng âm mưu phá hủy nền văn hóa cổ truyền Việt Nam.

iii).  Một số không nhỏ giáo dân VN đã hợp tác, tiếp tay với thực dân Pháp, đem nước ta vào vòng nô lệ Pháp để được hưởng những quyền lợi đặc biệt tôn giáo của một thiểu số cam phận làm thân trâu ngựa, phục tùng tuyệt đối các giáo sĩ ngoại quốc, bất kể đến sự đau thương của cả một dân tộc bị nô lệ ngoại bang.

   Và, những tài liệu trên cũng chứng tỏ là không thể có chuyện cấm đạo hay tàn sát những người theo đạo CHỈ VÌ họ theo một tôn giáo không phù hợp với tôn giáo của nhà Vua.  Tôi hi vọng ông Nguyễn Văn Trung hãy đọc lại lịch sử, nghiên cứu thêm những tài liệu ngày nay đã được mở cho công chúng, do đó có thể đưa ra một nhận định khách quan về vấn đề này.

   Ngoài ra, thật là mâu thuẫn, ở trên thì ông muốn Giáo hội sám hối và xin lỗi Phật Giáo và các tôn giáo khác ở Việt Nam, gián tiếp công nhận Gia Tô Giáo đã mang lại nhiều bất hạnh cho Việt Nam, ở đây ông lại dùng những luận cứ xuyên tạc lịch sử để biện minh cho những tội ác của Gia Tô Giáo ở Việt Nam, tôi không hiểu là ông có thực tâm đề nghị giáo hội sám hối và xưng tội với dân tộc, hay lại chỉ là những lời đầu môi chót lưỡi để chờ cơ hội?

   Còn nhiều điểm trong bài của ông NVT cần phải thảo luận nhưng tôi nghĩ sự phân tích mấy điểm ở trên cũng đủ để cho chúng ta có một ý niệm về giá trị của toàn bài.

II. Như Hạnh:

Bây giờ tôi xin sang bài của nhà trí thức Phật Giáo Như Hạnh.  NH nghiên cứu về sự biến dạng của Tỳ Sa Môn Thiên Vương bên Ấn Độ thành Phù Đổng Thiên Vương ở Việt Nam.  Đây là một bài khảo cứu thuộc lãnh vực chuyên môn của NH, mà tôi thì không phải là một học giả nghiên cứu về đề tài này, nên tôi không đủ tư cách và khả năng để luận bàn về nội dung bài viết của NH..  Tuy nhiên, trong phần kết luận và trong phần chú thích, NH đã đưa ra vài nhận định về Thiền Tông Việt Nam mà tôi cho là chưa tiêu hóa được cái học khoa cử, cho nên tôi xin được góp vài ý kiến về những nhận định này.

   Trong phần kết luận, NH viết như sau: "Đáng tiếc là kể  từ giữa đời Lý trở đi giới lãnh đạo Phật giáo VN bị lôi cuốn bởi phong trào "Tổ Sư Thiền" của Trung Hoa.  Tôi cho đây là một mê hoặc văn chương hơn là một phát triển tôn giáo" , và trong phần chú thích, NH viết:

   36. Phong trào làm "thơ Thiền"  này bắt đầu từ giữa đời Lý.  Trong truyền thống Phật Giáo Việt Nam kể từ sau đó nhà sư nào cũng có thể làm "thơ Thiền" mặc dù trên thực tế họ thực tập những pháp tu gần Tịnh Độ hơn.  Những danh tác của Thiền Tông Trung Hoa như Bích Nham Lục chẳng hạn, chỉ hàm chứa nhiều chữ nghĩa bay bổng thỏa mãn cái thú yêu thích thơ văn của người Trung Hoa và Việt Nam.  Hơn nữa chuyện Lục Tổ Huệ Năng không biết đọc mà "ngộ" cũng củng cố cái tinh thần phản-trí-thức (anti-intellectual) tai hại bao phủ giới tăng sĩ Phật Giáo.  Hiện giờ ở hải ngoại cũng như trong nước đã có những phong trào phục hưng "Tổ Sư Thiền," có người thậm chí còn truyền cả "tâm ấn", không biết là lấy ở đâu ra.

   37.  Điều mỉa mai là các vua nhà Trần tuy là ưa chuộng đạo Phật, song chính họ lại gạt bỏ đạo Phật ra khỏi khuôn khổ chính trị.  Đa số những "Thiền Sư" đời Trần, ngoại trừ Trần Thái Tông, cũng chỉ để lại một số văn thơ ít ỏi và một vài trước tác phỏng theo "ngữ lục" của Thiền Trung Hoa, song nội dung rất là luộm thuộm. 

  Tôi hi vọng có một "Thiền Sư" nào đó có thể bình luận về những nhận định trên của NH, nhưng tôi tin rằng, nếu là một Thiền sư thật thì họ sẽ không phí thì giờ để làm cái công việc lãng xẹt này.  Nhưng tôi thì vì lòng trần chưa dứt, mà thì giờ thì lại có dư, cho nên tôi cũng liều mạng đánh trống qua cửa nhà sấm để bày tỏ vài ý kiến với bậc vô thượng thiên tài đại trí thức Như Hạnh.

 Trước hết, phong trào "Tổ Sư Thiền" của Trung Hoa kể từ giữa đời nhà Lý, nếu sự thực là có phong trào này,  có phải là một mê hoặc văn chương không? và thế nào là phát triển tôn giáo? có lẽ chúng ta cũng nên luận một chút về những vấn đề này.  Tôn chỉ của Thiền Tông là "Giáo ngoại biệt truyền, Bất lập văn tự, Trực chỉ nhân Tâm, Kiến tánh thành Phật" ,  vậy có cái gì là mê hoặc văn chương ở đây?  Có lẽ đối với những học giả, những người chỉ có thể nhìn Thiền qua các tư liệu thành văn, thì đó chỉ là những mê hoặc văn chương, nhưng đối với những người hành Thiền thì Thiền đâu có phải nằm trong thơ văn Thiền, nhạc Thiền?   Các Thiền sư, có ai dùng văn chương để truyền đạo?  Hay là họ chỉ truyền đạo qua những kinh nghiệm tu chứng?    

Hòa thượng Quảng Tri, anh của Hoàng Hậu Chương Phụng, từ bỏ chức cao, lộc trọng, về tu nơi núi cao rừng thẳm; Trần Thái Tông, tác giả "Thiền Tông Chỉ Nam", "Khóa Hư Lục" v..v.., bỏ ngai vàng như bỏ đôi dép rách; Vạn Hạnh Thiền Sư tham gia chánh sự nhưng không tham gia chánh quyền; Tuệ Trung Thượng Sĩ thời bình thì tu ở Chùa, thời chiến thì khoác chiến bào chống xâm lăng, đuổi xong ngoại xâm rồi lại trở về Chùa sống thung dung tự tại; Trần Nhân Tông cũng bỏ ngôi xuất gia tu ở núi Yên Tử làm Trúc Lâm Đầu Đà v...v... phải chăng họ hành Thiền chỉ vì mê hoặc văn chương?  Bất kể có bị mê hoặc văn chương hay không, nhưng "Thiên hạ Lý Trần bán vi tăng" thì không là phát triển tôn giáo thì là cái gì?   Phát triển tôn giáo là dạy cho dân hội nhập và thực hành Tâm Kinh Bát Nhã hay là dạy họ viết những bài khảo luận về Tâm Kinh Bát Nhã xem xuất xứ từ đâu? từ Tàu hay từ Ấn Độ sang? ai dịch và dịch bao giở, ảnh hưởng Tàu nhiều hay ảnh hưởng Ấn độ nhiều v...v...?  Cho nên, cái nhìn của những “học giả” như Như Hạnh quả có khác với cái nhìn của những người “học thật”, nghĩa là những người thật sự tu tập theo Phật Pháp.

NH có vẻ châm biếm những nhà sư là ai cũng có thể làm thơ Thiền mặc dù trên thực tế họ thực hành Pháp tu gần Tịnh độ hơn.  Vậy là những người tu theo Tịnh độ không có tư cách làm thơ Thiền?  Tịnh độ khác Thiền ở chỗ nào?  Phật giáo Việt Nam là sự pha trộn của nhiều tông phái như cố Hòa Thượng Thích Thiên Ân viết trong cuốn Buddhism & Zen in Vietnam: