|
- Giao điểm có thể nào đồng nghĩa
với “chỉ điểm” ?
- (Góp ý thêm với tác giả Trần Chung
Ngọc)
Thường Đức
Trước khi web Giao
điểm đăng bài “Giao Điểm Đối Diện Với Cuồng Tín và Vô Minh” của
tác giả Trần Chung Ngọc, tôi đã dự trù sẽ viết một đôi lời giới
thiệu với độc giả theo lời yêu cầu của ông. Với tính cách đặc biệt
của bài viết, lời yêu cầu đó là cần thiết, vì lẽ hơn 5 năm qua, nhiều
lần chúng tôi đã minh định tác giả họ Trần không phải là người
trong nhóm GĐ, nhưng có người vẫn cứ muốn gộp ông với nhóm GĐ. Xin nhắc lại lần nữa: ông T.C.N. chỉ là
người hợp tác. Điều đó còn có nghĩa ông có tự do thênh thang lựa chọn
đề tài viết những gì mình muốn, không nhất thiết phải theo chủ trương
của chúng tôi.
Thế nhưng, theo “lẽ
phải thông thường”, tôi có ý chờ đợi các vị trong nhóm có tuổi đời
cao, dày dạn kinh nghiệm sống lên tiếng trước. Không
may, ai cũng đa đoan với những công việc trọng đại hơn như việc nhận
và phân phối hàng tấn quà từ thiện: thuốc men, sữa… về giúp bà con
nghèo đang gặp cảnh tai ương trong nước, cho nên tôi đành phải gánh việc
bút mực vậy.
Trong 5 năm qua, nhìn
lại các phản ứng mơ hồ của những người chống Giao điểm, tôi chỉ
thấy những điện thư chửi vu vơ gởi tới hộp thư Gđ, những tiếng vo
ve nằm ngoài văn bản, vài lời khuyên lơn… thôi bớt phê bình Công giáo
lại chứ chưa hề đón nhận thật sự một bài viết “phản hồi” nào cho ra hồn để chúng tôi được có dịp
học hỏi. Tiếc thay. Tuy vậy, trong những lời lập ngôn cho tiếng nói của
chủ trương Giao điểm, chúng tôi đã nhiều lần làm rõ khái niệm thế
nào là tinh thần “giải hoặc Ki-tô giáo”, khai thông con đường nhân bản
mà chúng tôi hướng tới. Những ai có quan tâm, có đọc nội dung của web
Gđ không thể không thấy điều đó. Nên, chẳng lẽ cứ mỗi lần có một
bài viết nào đó “tấn công” Giao điểm là chúng tôi phải lên tiếng
!? Dĩ nhiên, có trường hợp cần mở lời đối thoại, có trường hợp phải
cung kính cảm ơn kẻ phê bình, hoặc chỉ cần đáp bằng sự im lặng, nhưng
có khi cần phải phản bác để vạch ra sự sai trái, âm mưu của những kẻ
dùng “ngụy ngữ” tấn công chúng tôi. Phản ứng của tác giả Trần
Chung Ngọc qua bài viết nằm trong trường hợp này.
Cách đây gần hai năm,
trước cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ 4 ngày, tôi có viết bài cho trang web
tháng 11/2004: “Tú Gàn (Lữ Giang) với Tôn Thất Thiện nhân ngày ‘Giỗ Cụ’”,
có đoạn kết luận:
“Còn mấy ngày nữa là đến ngày ‘giỗ Cụ
Ngô’ (2 tháng 11), cũng là ngày bầu cử Tổng Thống thứ 44 của Mỹ.
Tình hình chính trị bầu cử trong mấy tháng qua cho đến hôm nay, có nhiều
dấu hiệu cho thấy ông Bush-con này sẽ đắc cử Tổng thống một lần nữa.
Nhưng ông Tổng thống này lại là người có khuynh hướng ủng hộ kín đáo
chính quyền CS Việt Nam. Họ ủng hộ một chế độ độc tài. Có lẽ những
nhà lãnh đạo chính trị Hoa Kỳ nghĩ rằng: chẳng thà ủng hộ một chế
độ độc tài, nhưng rất có hiệu quả trong liên minh, hợp đồng chống bọn
khủng bố, giữ vững hòa bình để phát triển thịnh vượng chung trong vùng,
còn hơn là ủng hộ một chế độ dân chủ bắt chước, non nớt mà lại
bất ổn chính trị. Biết làm sao đây ?
Dân chủ rồi
cũng sẽ đến trên đất nước VN thôi, nhưng phải chờ vài thập niên nữa.
Với tình hình quốc tế hiện nay, hiện trạng của Việt Nam là phải đối
đầu với hai “họa lớn” : Chính sách xâm lăng của Ki-tô giáo bằng văn
hóa độc thần và bọn khủng bố quốc tế bằng lựu đạn và chất nổ. Việc trước mắt cho bất cứ một chế độ
yêu nước nào là phải biết củng cố và phát huy mạnh nền văn hóa dân
tộc, nâng cao dân trí bằng cách để cho dân chúng mọi thành phần trong nước
được tự do đọc website Giao Điểm. Thứ hai là phải đập tan bọn cán bộ
tham những hối lộ các cấp, bọn ăn cắp vặt – ăn cắp hệ thống, ăn
cắp của công – ăn cắp vật tư. Tương lai Việt Nam sẽ sáng lạn thôi.” (Thường
Đức Friday, October 29, 2004 )
Dù tôi không phải
làm nghề ‘thầy bói’ chính trị, nhưng lời tiên đoán trên đã xảy ra
đúng với sự thật. Thêm nữa, mấy dòng cuối tôi đã thẳng thắn cảnh
giác chính quyền VN muốn tương lai sáng lạn phải quyết tâm “đập tan bọn
cán bộ tham nhũng hối lộ các cấp…” Nếu
Giao điểm là một tập hợp nhân sự làm tay sai cho chế độ Hà Nội,
không ai lại dùng những lời lẽ chính trực hùng hồn như thế. Vả lại,
giá như chính quyền Hà Nội biết nghe lời chúng tôi để thẳng tay thực
hiện các biện pháp mạnh dứt điểm nạn tham nhũng, hối lộ vào lúc đó,
thì đã không xảy ra những thực trạng tồi tệ như ngày hôm nay. Vậy mà
những nhà mang danh là tranh đấu cho “dân chủ, đa nguyên đa đảng” lại
vu khống chúng tôi là “cánh tay trái của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam”
như Lê Nhân đã viết:
“…Viết đến đây, nghe trong gió, có vị tín hữu
dòng Thông Luận, có vị tăng già dòng Quê Mẹ mới cắc cớ mà vặn Lê
Nhân rằng: Ta hỏi mi lần chót nghe thằng nhóc Lê Nhân, rằng “bọn GIAO
ĐIỂM” có tính Phật không? Thưa quý anh, sao quý anh hỏi gì kỳ vậy, lại
hỏi rằng Phật có tính Phật hay không ư? Chẳng là trang nhà “Giao
Điểm” tuy là cánh tay trái ở hải ngoại của Mặt trận Tổ Quốc Việt
Nam do ông cựu Uỷ viên Bộ chánh trị đảng cộng sản VN Phạm Thế Duyệt
lãnh đạo, vẫn trưng biển “Phật giáo và Dân tộc”, do hai ông sư tại
gia Hồng Quang và Nguyễn Văn Hoá điều hành, đang tấn công mãnh liệt vào
phong trào dân chủ trong nước của ông Hoàng Minh Chính, của hòa thượng
Huyền Quang, Thích Quảng Độ, của cha Nguyễn Văn Lý, cha Chân Tín…” ( “Mừng
Chúa Giáng Sinh, bàn thêm về vấn đề tôn giáo”, Lê Nhân, ngày
24/12/05, website Đàn Chim Việt.) *
Cũng có thể là Lê
Nhân dựng chuyện để khích tướng chúng tôi, phải nổi máu “anh hùng”
vì lời vu khống, tự thanh minh bằng cách vạch trần, tố cáo ông Phạm Thế
Duyệt tạo mâu thuẫn và hận thù giữa Giao điểm và một bộ phận tổ
chức của đảng Cộng Sản VN, đưa tới hậu quả web GĐ bị nhà nước chận,
không cho số độc giả đông đảo trong nước được tiếp tục đọc, gián
tiếp cứu vãn cho thanh danh Hội đồng Giám mục VN, một tổ chức tôn
giáo đặt dưới sự chỉ đạo của Vatican đã bị Giao điểm phê phán tới
nơi tới chốn. Nhưng, chúng tôi không mắc mưu Lê Nhân. Nếu cần phải
phê bình ông Phạm Thế Duyệt về một vài tắc trách, thiếu sự đối xử
công bằng với Giáo hội Phật giáo VN Thống nhất, hay công bố quá trình
có dính líu tới hành động tham nhũng của ông, chúng tôi sẽ thẳng thắn
lên tiếng, nhưng không phải trong trường hợp này.
Ở một đoạn khác,
ông Lê Nhân còn bộc lộ bản chất “đá cá lăn dưa” khi dựng chuyện
Thủ tướng Phan Văn Khải thời còn chia cắt đất nước, ở ngoài Bắc
có lần ông phụ trách chào cờ trước các quan chức cán bộ cao cấp, ông
Khải vì “quen miệng” đã hô : “Đ.M. chào cờ, chào.” Tôi là người sinh trưởng ở phía Nam,
nên tôi biết Đ.M. là “Đụ Má”, Lê Nhân không cần phải viết tắt,
và người miền Nam vẫn hay dùng chữ “đụ má” trong những lúc trao đổi
giữa bạn bè, nhưng không ai tin trong một buổi chào cờ, ông Khải lại
có thể buột miệng với từ ngữ phố-chợ ấy. Mặc dù tiếng chửi thề
“đụ má” nó cũng thông thường như người Mỹ nói “F… YOU” vẫn
dùng hằng ngày trong chỗ trao đổi với bạn bè, hay những lúc bực mình,
nóng giận. Nhưng, ông Lê Nhân dùng trong trường hợp này là có ẩn ý móc
lò, chửi xéo những người miền Nam là thiếu tư cách, dù cho họ có vị
thế cao trong xã hội. Đó là hành động
dễ gây sự chia rẽ một cách vô ý thức! Thế
mà dưới bài viết, Lê Nhân còn kèm thêm biệt danh “Người-Hà-Nội”,
như có ẩn dụ ta đây nếu không là dân “sang đứt đuôi” thì cũng là
dân có văn hóa – ngàn năm văn vật! Không
may cho Lê Nhân, tính-cách-Hà-Nội của ông đã bị một người Hà Nội ‘chính
danh’ chỉnh giáo dùm : “Hà Nội! Đất ngàn năm văn vật mà từ xưa tới
nay tôi biết có nhiều bậc cao nhân văn hóa, không hiểu sao lại sản sinh
ra một Lê Nhân, không hiểu gì về văn hóa dân tộc, mà cũng chẳng hiểu
gì về văn hóa Ki-Tô Giáo, nhưng lại bất cần đến liêm sỉ, viết bậy
về cả hai. Thật đáng buồn.” ( “Vài Ý
Kiến Về Một Bài Viết của Lê Nhân –Hànội – VN”, Trần Chung Ngọc, web GĐ, 29.12.05 )
Dựng đứng hay vu khống
những chuyện không có bằng cớ, nhằm vào mục đích hạ thấp người “đối
lập, khác quan điểm” còn là đồng-bản-chất của những người đang đấu
tranh cho “dân chủ, nhân quyền” hiện nay. Thật thế, chúng ta hãy đọc
một đoạn khác của ông Hoàng Thái Du viết về chúng tôi như sau :
“Trần
Chung Ngọc và nhóm Giao Điểm nhận được chỉ thị của thượng cấp Nguyễn
Phú Trọng, Nguyễn Khoa Điềm là phải tấn công triệt để vào nhóm đòi
dân chủ tự do, đòi đa nguyên đa đảng như Hoàng Minh Chính, Hà Sĩ Phu,
Dương Thu Hương, Trần Khuê, Phạm Quế Dương, Nguyễn Đan Quế, H.T. Thích
Huyền Quang, H.T. Thích Quảng Độ…Trên web Giao Điểm, Hồng Quang,
Nguyễn Văn Hoá đã thực hiện triệt để chỉ thị này ( sau khi Nguyễn Văn
Hoá về Đà Nẵng hè 2005, nói là đi dự hội nghị về trí thức và đổi
mới do Võ Văn Kiệt chủ trì – nhưng thực ra là đi nhận chỉ thị của
Đảng ), đã cho in trên G.Đ. hàng chục bài bịa chuyện vu cáo, bôi nhọ
hàng chục nhà đấu tranh cho dân chủ trong nước, tấn công, nói xấu, mạ
lị, chửi rủa hết lời Phật giáo Việt Nam thống nhất của H.T. Thích
Huyền Quang, H.T. Thích Quảng Độ. Nay, G.Đ. cử “đại tướng” là
GS. Trần Chung Ngọc, kẻ suốt đời được Pháp và Mỹ nuôi để làm nghề
chửi Pháp và Mỹ, chửi Ki Tô giáo xông ra quyết đánh một đòn trí mạng
cho chết tươi cụ Đặng Văn Việt và Trần Mạnh Hảo.” ( “Từ
Giao điểm tới “chỉ điểm”, Hoàng Thái Du, web: take2tango.com ngày
5.4.06) *
Đọc đoạn văn trên,
không phải chỉ một phía -những người của chế độ ở trong nước phì
cười, mà ngay cả số đông người Việt nước ngoài cũng nhận ra ngay sự
lố bịch của những lời dựng chuyện, vu khống. Riêng tôi, trong khi đọc
đã bật cười thành tiếng, nhưng lại ngạc nhiên nhớ ra quả thật là
tôi có ý định về VN trong dịp đó, đã đặt mua vé máy bay, nhưng sau đó
lại hủy bỏ chuyến đi vì vài lý do cá nhân. Như thế là ông Hoàng Thái
Du chỉ dựng đứng có 2 phần câu chuyện thôi. Phần kia, tôi có ý định
đi VN dự hội nghị ấy là đúng đấy. Mà sao ông H.T. Du biết được ý
định của tôi? Văn phòng bán vé máy bay tôi đặt mua ở bên Mỹ là thuộc
cơ sở thương mại của nhà nước VN, chỉ có họ mới biết tôi đã đặt
mua vé máy bay thôi. Hay là H.T. Du có liên hệ mật thiết với hệ thống
kinh tài du lịch của nhà nước VN? Nếu không phải thì đúng là ông có
thuật “thần giao cách cảm” đấy! Thế
còn, sự dựng đứng chúng tôi nhận chỉ thị của Đảng (CS) thì quả là
sự vu khống tồi tệ. Bởi, hẳn khi viết những dòng chữ này ông đã nghĩ
tới tác dụng ngôn ngữ nhằm gây sự nghi kị, thù ghét của những người
chống cộng ở nước ngoài đối với những kẻ làm “tay sai cho cộng sản.” Nếu bản chất này chưa đủ để gọi là
độc ác, thì dùng danh từ như tác giả Trần Chung Ngọc đã đánh giá về
ông là “hạ cấp” thì thật là chính xác. Tôi thật thông cảm cho giáo
sư họ Trần, ông vốn rất cẩn trọng trong việc dùng ngôn từ nặng nề
để phê phán cá nhân khác, nhưng trong trường hợp đối với ông H.T. Du
là một việc chẳng đặng đừng.
Nhìn lại chặng đường
hành sự của những nhóm người được xưng tụng là “những nhà dân chủ”,
nếu ai tinh ý sẽ nhận ra trong diễn biến thời gian của những bài viết
“tấn công” Giao điểm, đều có sự chuẩn bị và sắp đặt trước, đặc
biệt sau khi web GĐ tung ra loạt bài phân tích các điều lợi và hại cho đất
nước VN trong việc bang giao với Vatican và “Lá thư ngỏ của Hòa Thượng
Thích Chơn Tế gởi Giáo Hoàng Bênêđícto XVI”. Phản
ứng tiên khởi là bài “Mừng Chúa Giáng Sinh, bàn thêm về vấn đề tôn
giáo” của Lê Nhân ngày 24/12/05 đăng trên website Đàn Chim Việt. Nhưng, tại
sao Đàn Chim Việt là “bệ phóng” đầu tiên của Lê Nhân ?. Để cho độc
giả biết về gốc gác của Đàn Chim Việt, chúng tôi xin gợi lại bài phỏng
vấn của nhà văn Hoàng Khởi Phong “Câu chuyện của Ðàn Chim Việt”,
trong “Lời tòa soạn” đã cho biết như sau:
“Trong thời gian gần đây, trên hệ thống
Internet toàn cầu người ta hay bắt gặp các bài viết và những bản tin
liên quan tới tạp chí Ðàn Chim Việt, một cơ quan ngôn luận phát xuất từ
Ba Lan, và có thể coi như tiếng nói đối lập duy nhất ở Ðông Âu đối
với nhà cầm quyền Hà Nội. Sự khác biệt giữa tạp chí Ðàn Chim Việt
và những tờ báo xuất bản ở Mỹ là xuất xứ của những người làm
báo. Nếu như chúng ta, những người làm báo ở Mỹ xuất thân từ miền
Nam, thì những người chủ trương tờ Ðàn Chim Việt ra đi từ miền Bắc,
và có thể nói ngay là đa số những người này nếu như chịu nghe ngoan số
phận của mình, thì chắc chắn khi về nước họ có một chỗ đứng khả
quan trong chế độ...” ( Nhật báo
Người Việt, ngày 22.7.2003 )
Lạ thật, tại sao
ông Hoàng Khởi Phong lại gọi họ là những.. “số phận”, khi đã “chắc
chắn khi về nước họ có một chỗ đứng khả quan trong chế độ.”? Số
phận ấy là số phận “con quan thì lại làm quan”, và nếu có muốn đối
lập thì về nước vẫn là những “ông quan” đối lập, cớ gì phải khăn
gói qua Mỹ để làm “đối lập” ?. Có phải là mục tiêu đối lập của
họ còn mang một sứ mạng “Armaggedon” cho Vatican trên đất nước Việt Nam?
Cụ thể là xây dựng một lực lượng chính trị đối lập Thiên Chúa
Giáo, và buộc chế độ cộng sản Việt Nam phải chấp nhận thực thể chính
trị này ? Nếu vậy thì trò chơi chính trị dân chủ của họ là của một
nhóm, một tôn giáo thiểu số trong vai trò bung xung cho một mục tiêu của
Công giáo quốc tế thôi, có đúng vậy không ? Điều ấy không liên hệ
gì tới chúng tôi –những người chủ trương website Giao điểm, nhưng điều
chúng tôi muốn nhấn mạnh là họ -một thiểu số, không thể đại diện
cho nguyện vọng dân chủ của toàn thể dân tộc Việt Nam. Cũng như đại
đa số nhân dân Việt Nam, chúng tôi mong muốn Việt Nam sẽ có những cải
thiện về chính trị. Chúng tôi mong muốn chế độ cộng sản Việt Nam sẽ
chủ động từng bước dân chủ hóa chế độ, chuẩn bị một vận hội mới
cho sự thay thế của thế hệ trẻ hơn, đúng với giá trị xương máu và
sự đấu tranh kéo dài hơn thế kỷ để mang lại sự độc lập và thống
nhất quốc gia như ngày hôm nay. Giá trị đó không thể là sự rập khuôn,
là sự bắt chước, là sự áp đặt một mô hình của Ba Lan, của các quốc
gia Đông Âu, Nga, hay của Trung Quốc. Những người yêu nước chân chính của
dân tộc Việt Nam chủ động và vạch ra hướng đi riêng của đất nước
mình. Đây là thời cơ để dân tộc Việt Nam thoát ly khỏi mọi chủ nghĩa
ngoại lai, mọi ý hệ tôn giáo quốc tế ràng buộc không cần thiết cho sự
phát triển đi lên của đất nước.
Những diễn tiến
chung quanh chuyến đi ra nước ngoài chửa bệnh của ông Hoàng Minh Chính, với
tiền hậu bất toàn về nhân sự và đường lối của đảng Nhân dân
Hành động của Bác sĩ Nguyễn Xuân Ngãi ở San Jose, của Đàn Chim Việt, của
những “nhà dân chủ” giáo sĩ, giáo dân Công giáo ở trong nước –là
những mắc xích nối liền với nhau. Và, vì họ là một thiểu số manh động
với thời thế, nên những mắc xích dân chủ, rốt ráo đã vỡ ra từng mảng.
Bằng chứng là họ đang chống nhau về sự chủ tể, ai lãnh đạo, ai nắm
ngọn cờ dân chủ ! Trong số những nhà dân chủ chừng một nắm bằng hai
bàn tay 5 ngón, giờ có thêm một nhà dân chủ tân tòng là nhà thơ Trần Mạnh
Hảo. Anh Trần Mạnh Hảo trước đây đã từng gởi bài đăng trên web GĐ.
(bắt đầu từ tháng 9/2004). Sau các loạt bài của tác giả Trần Chung Ngọc
nhận xét về “mấy bài ý kiến đóng góp với Đảng” của Trần Mạnh
Hảo, có nhiều tác giả đã viết thư thắc mắc với chúng tôi, tại sao một
nhân cách như ông T.M. Hảo mà GĐ. phải đăng bài cho mang tiếng ? Nhân đây,
chúng tôi xin nói một lần cho rõ. Nhân vật T.M. Hảo chúng tôi đã biết
rõ tông tích của ông từ hơn 10 năm trước. Nhân
một điện thư vào tháng 8/2004 ông T.M. Hảo muốn làm quen và gởi bài nhờ
chúng tôi đăng. Trong thư ông còn cẩn thận tự giới thiệu mình là một
người quen thân với nhà văn N.Đ. Xuân –mà ông này là thân hữu và cộng
tác viên với web GĐ. Chúng tôi không cần phải thắc mắc T.M. Hảo là ai,
là người “yêu đảng” hay “chống đảng”, có niềm tin tôn giáo khác
với chúng tôi không… Thường chúng tôi đón nhận những bài vở văn
chương, văn nghệ phi chính trị tính với sự cảm tình, nhưng do bởi lời
“tự giới thiệu” của anh Hảo, làm chúng tôi đâm ra tò mò và muốn người
“quen thân” của anh xác nhận mối “tương lân” đó. Nhận được thư
trả lời với những “hảo ý” của nhà văn NĐ. Xuân, nên chúng tôi thấy
tin tưởng anh hơn. Việc phê bình một số nhà chức sắc văn hóa, văn nghệ
trong nước, theo chúng tôi là điều nên làm, nên bài của T.M. Hảo đã
được phổ biến không hạn chế. Trong một số bài viết cuả ông Hảo về
các nhà thơ, văn nước ngoài, có khi chúng tôi phát hiện vài điểm sai lầm,
ngay cả tên tác giả nước ngoài có khi ông cũng không viết đúng nữa.
Vì đã sống một thời gian đủ dài để nhận biết thực trạng về sự
hạn chế khả năng ngoại ngữ ở trong nước, nên chúng tôi đã tự ý sửa
chữa với lòng cảm thông.
Trong suốt thời gian
có diễn biến của các nhà dân chủ trong-ngoài nước nói trên, tháng
12/2005, anh Trần Mạnh Hảo bỗng nhiên ngưng hẳn gởi bài cho GĐ., nhưng chúng
tôi không cần phải thắc mắc tại sao. Những người ở ngoài tự nguyện
cộng tác với web Giao điểm, việc đến và ra đi là quyền của họ. Nếu
sự cộng tác với những bài viết hay, giá trị để đóng góp thức ăn
tinh thần cho độc giả, chúng tôi thấy hãnh diện và “thơm” lây. Nhưng,
giả như vì một vài lý do cá nhân nào đó, họ không thể sáng tác hay tiếp
tục gởi bài nữa, chúng tôi chẳng có thiệt thòi gì cả…
Chừng vài tháng trước
ngày Đại hội đảng CSVN X, đảng đã phát động phong trào đóng góp ý
kiến của quần chúng, bỗng dưng cái tên của Trần Mạnh Hảo xuất hiện
tràn đầy trên các websites có tiếng là chống cộng ồn ào ở hải ngoại.
Bài thứ nhất, thứ hai… rồi lần lượt trên mười bài. Vì tính chất
ồn ào bất thường của các bài viết đó, cái tên Trần Mạnh Hảo trở
thành một hiện tượng. Và, đúng như một độc giả có tên Hoàng Vũ đã
nhận xét : Trần Mạnh Hảo là một nhà dân chủ tân tòng (‘novice’). Có
thể sự ồn ào của Trần Mạnh Hảo là có chủ định tự quảng cáo
mình, và đồng thời tạo sự xác tín và lập thành tích với các nhà dân
chủ “lão thành” (‘senior’) khác. Qua đó, Trần Mạnh Hảo không những
được cấp thời kết nạp, mà những bi lụy cuộc đời do nhân cách của
ông tạo ra trong quá khứ, phần nào được cải thiện. Chúng tôi có theo
dõi các loạt bài của Trần Mạnh Hảo, tựu trung văn vẻ có lửa, dù phô
bày vụng về của kiến thức, có khi hụt hẫng, nên anh cố nhét một sự
hiểu biết như mớ bòng bong vào cho đầy. Sự phô trương của Trần Mạnh
Hảo có chỗ trở thành lố bịch –thí dụ như anh tự nhận mình đã bỏ
ra “30 năm để nghiên cứu về chủ nghĩa Mác-Lê”, dễ làm một trò cười
cho một số thức giả ở nước ngoài từng dày công học hỏi, suy nghiệm
cả một đời về Marxisme. Có thể Trần Mạnh Hảo không biết được điều
này, nên “mục hạ vô nhân”. Nhưng, một vài khía cạnh khác cũng nên
nghĩ tới, sự hụt hẫng ngộ nhận về kiến thức một lẽ xuất phát từ
con người Việt Nam, một dân tộc ai cũng biết làm thơ. Có một số cấu
tạo về cá tính và cuộc sống nào đó, biến họ làm những bài thơ hay,
dùng chữ, dùng từ mẫn cảm. Họ được khen tặng. Và qua những lời khen
tặng đó, họ say sưa tiếp tục để rồi được phong hai chữ “thiên
tài”. Mang một dáng vóc “thiên tài” đầy trừu tượng, họ cảm thấy
mình “cao lớn”, vĩ đại… từ những xung động tâm lý giữa thực và
giả, giữa có và không, biến họ trở thành những kẻ “cuồng vĩ” (một tâm bệnh lý: ‘grandiose delusion’).
Từ sự “cuồng vĩ”, họ tự so sánh mình với tha nhân –“Hắn” làm
thơ, Ta cũng làm thơ, nhưng Ta làm thơ hay hơn và tài Hắn không bằng Ta, cớ
sao Hắn làm tới chức Bộ trưởng, Tổng Giám đốc, hay Chủ tịch Hội nhà
văn v.v… mà không phải là Ta. Từ đó, “Ta” mang sân hận trong người,
cơn tam bành nổi lên từng chặp, từng hồi, trong từng chuỗi thời sự mỗi
ngày. Phải rồi, bọn “Hắn” độc tài, phản dân chủ, “phản thiên
tài” v.v… Có phải hoàn cảnh anh Trần Mạnh Hảo rơi vào phạm trù tâm
bệnh này không? Dù đúng hay không,
mong rằng những nhà thơ “tài năng” Việt Nam nên hiểu rằng, những nhà
thơ của thế giới là những kẻ đầy tự trọng, họ luôn luôn học hỏi,
trau dồi kiến thức, và những nhà thơ lớn quốc tế thường mang một kiến
thức mênh mông, một sở học cao, nhưng họ chỉ muốn chọn lựa làm thơ
như một lẽ sống của đời mình.
Khía cạnh thứ hai
trong trường hợp của Trần Mạnh Hảo có thể xuất phát từ chế độ giáo
dục của nhà nước Việt Nam. Đó là chiều dài của một chế độ giáo dục
nhằm đào tạo những công cụ phục vụ cho tổ chức, một guồng máy phục
vụ chiến tranh, tiến tới xây dựng một thành phần xã hội giác ngộ và
ý thức về giai cấp để giữ vững sự trung thành với Đảng. Đảng là
hiện thực đại diện cho giai cấp của bản thân mình. Từ đó, giáo dục
không còn là mục tiêu phục vụ cho con người, xã hội. Kiến thức rộng
mở trở nên không cần thiết, và có thể bị quan niệm là tai hại, ngoại
trừ một số kiến thức, hiểu biết chuyên môn được kiểm soát chừng mực.
Do đó, dưới chế độ cộng sản những nhà khoa học tài giỏi, những cá
nhân có những thiên tư đặc biệt thường rất ít, nhưng được ưu đãi
và sống biệt lập với xã hội bên ngoài.
Tiện đây, tôi xin kể
lại một câu chuyện.
Chừng 30 năm về
trước (1977), chúng tôi được bổ nhiệm về làm việc ở Ty Giáo dục Tiền
Giang (Mỹ Tho). Một dạo vào sau mùa
xuân năm 1979, sau khi Trung quốc đánh qua biên giới ở phía Bắc, chúng tôi
được phân nhiệm đi chấm thi tốt nghiệp cấp 3 phổ thông của một trường
thuộc gia đình cán bộ, liệt sĩ (trước 1975, hình như là một trường nữ
trung học tư thục Thiên Chúa giáo -Regina Pacis?). Trước khi đi, có ông cán
bộ đảng ủy của Ty Giáo dục (người gốc miền Bắc) đến nói nhỏ
hãy chấm điểm châm chước vì các em là con gia đình có công với cách mạng.
Nghe nói chừng đó, chúng tôi đã mường tượng ra hiện trạng ngay. Và, quả
là may, nếu không có những lời nhỏ to của anh đảng ủy kia, tôi không
biết phải dựa vào tiêu chuẩn nào để cho điểm bài làm của các em. Phần
lớn, đọc các bài làm tôi không hiểu các em muốn viết cái gì, chữ nghĩa
lạ lùng, viết lách cẩu thả, có chỗ đoán không ra ý. Thế rồi, cứ nhắm mắt mà cho điểm tối
đa thôi, bài làm nào trông sạch sẽ thì điểm cao –qua đó dùng làm một
tiêu chuẩn để thêm bớt một hai điểm cho các bài khác. Kết quả, 100%
có điểm trên trung bình rất xa. Chừng
vài tuần lễ sau có kết quả, dĩ nhiên tất cả đều tốt nghiệp. Một
buổi sáng tôi đứng ở tựa ở bao lơn tầng hai, có một nhóm chừng bốn,
năm em đến chào tôi và nói lời từ giả lên đường. Tôi hỏi: “Các em
đi đâu?.” Một em trả lời: “Thưa thầy, tụi em đi nghĩa vụ quân sự
qua Campuchia !.” Tôi ngạc nhiên: “Ủa, tại sao không chờ vài tháng hè
qua mau là các em vào đại học, cả một tương lai dài đang đón chờ, sao
lại đi bộ đội làm gì ?”. Một cậu khác trả lời: “Thưa thầy, khi tổ
quốc cần thì tụi em phải đáp tiếng gọi của tổ quốc chứ !.” Tôi hơi “dội” trước câu trả lời
bài bản này, nhưng vẫn cố mạnh dạn nói ra ý nghĩ của mình, “Phải rồi,
các em yêu nước là điều tốt, nhưng mình có nhiều cách yêu nước khác
nhau. Cố gắng học cho thật giỏi để về sau trở thành những người hữu
dụng, đóng góp cho sự phát triển của đất nước, cũng là một cách
yêu nước. Không nhất thiết phải đi bộ đội qua nước Cămpuchia mới là
yêu nước.” Đàng sau câu nói của
tôi là khoảnh khắc im lặng nặng nề, câu chuyện liền chuyển qua đề tài
khác. Thế rồi chúng tôi chia tay.
Một thời gian không
lâu sau đó, tôi làm đơn xin từ chức gởi đến Phòng Tổ chức, rồi
không đợi sự trả lời được chấp thuận hay không, một ngày cuối tuần
đẹp trời tôi cuốn gói về Sài-gòn thăm nhà, rồi chuồn luôn. Về
Sài-gòn đi bán chợ trời. Nói là buôn bán cho oai, chứ thật ra gom góp những
đồ đạc trong nhà để bán dần. Thỉnh thoảng nhận được một thùng
quà từ nước ngoài gởi về là như một ngày trúng số. Nhờ thời gian
giang hồ ở chốn ta bà này mà tôi mới có cơ hội tìm mối xuống ghe vượt
biển khơi… chừng một năm sau đó.
Những em học sinh
kia, sau gần 30 năm trời, tôi tin nếu còn sống từ chiến trường
Cămpuchia trở về, giờ đây có thể có em đang giữ các chức vụ lớn,
quan trọng. Có thể có em giờ này đã trở thành những kẻ tài giỏi hơn
tôi nhiều, cũng có thể có em chỉ có nhà cao cửa lớn, xe ngựa thênh
thang nhưng vốn liếng học hành và kiến thức chẳng ra gì. Điều đó chẳng
phải lỗi ở mấy em mà ở ngay chính sách và cơ chế giáo dục, ở nơi kế
hoạch đào tạo –nhà nước phải biết tôn trọng, ưu đãi nhà giáo và
làm cho nhà giáo biết ý thức nhận lãnh thiên chức cao quý của giáo dục
là gương cao đức tính hy sinh trong sự kết hợp tài và đức của mình.
Những ngày tháng nghỉ
việc lang thang ở Sài-gòn, tôi có theo học một vài lớp huấn luyện cho
cán bộ, công nhân viên chức (tổ chức ở Hội Trí thức Yêu nước) muốn
có kiến thức mới về kỹ thuật điện tử, do một vài kỹ sư điện toán
đã tốt nghiệp từ nước ngoài và đã có kinh nghiệm làm việc cho các
dàn máy IBM của chế độ miền Nam để lại dạy. Quan sát trong lớp học
chừng mươi người, đa số đều lớn tuổi. Như phần lớn học viên trong
những lớp học đêm “bổ túc văn hóa” tôi từng đi dạy trước đây,
họ xuất thân là những du kích trong Mặt Trận GP, không có cơ hội học hành,
nay trong thời hòa bình họ chịu khó ngày đi làm, tối đến cắp sắp đến
lớp mỗi đêm để trau dồi năng lực và tạo cơ hội đi lên đại học.
Họ học những bài học về cách tính cơ bản của đại số Boolean
Algebra, trong ánh mắt họ có người ngớ ra một cách thích thú tự hỏi
vì sao mà 1 cộng 1 bằng 1, hay 0 trừ 1 vẫn bằng 1. Các kết quả này nếu
đem áp dụng vào logíc dòng điện sẽ như thế nào. Đấy, có những gương
hiếu học rất đáng kính trọng, và có những người thầy nhìn trước viễn
tượng hữu ích để huấn luyện cho những cán bộ này về sau có thể điều
khiển những dàn máy tính IBM cỡ lớn (mainframe computer) vẫn còn chạy ngon
lành ở một số cơ quan nào đó.
Nhưng, trong trường
hợp của ông Trần Mạnh Hảo, có lẽ ông là nạn nhân của những sách
kinh điển bài bản của chủ nghĩa Mác-Lê qua chính sách của Đảng CSVN,
đã bị đẽo gọt, cắt xén, thêm thắt, xào nấu cho phù hợp não trạng
và đường lối của Đảng, nên ông đã bị nhiều nhầm lẫn đáng sợ,
cho nên ông dám viết ẩu tả Darwin đã ảnh hưởng Marx về ‘thuyết tiến
hóa” về “đấu tranh sinh tồn: cá lớn nuốt cá bé” như tác giả Trần
Chung Ngọc đã vạch ra cái sai của Trần Mạnh Hảo, do không nắm vững kiến
thức nhưng lại mang tinh thần nói khoác kiểu anh Lý Toét nhà quê trong
sách Quốc Văn Giáo khoa thư : anh ta khoe đã nhìn thấy trái bí to bằng cái
đình làng!
Giả như, Trần Mạnh
Hảo nói khóac Marx bị ảnh hưởng của Erasmus Darwin là ông nội của
Charles Darwin về “Những quy luật của đời sống hữu cơ” ( ‘the Laws
of Organic Life’, xuất bản năm 1794 ) thì có thể làm một số
người trong nước băn khoăn tự hỏi: chứ ông Erasmus là ai vậy cà !.
Trong khi Tuyên Ngôn Đảng Cộng Sản (
‘Communist Manifesto’), xuất bản năm 1848, là đã nói những
vấn đề căn bản của đấu tranh giai cấp trong xã hội rồi; trong khi đến
năm 1859, “Về Nguồn gốc của Những Giống loài qua sự Chọn
lọc Tự nhiên” (‘On the Origin of Species by Natural Selection’) của C. Darwin
mới xuất bản, đồng năm xuất bản của Marx “Phê bình Kinh tế Chính trị”
( ‘Critique of Political Economy’), là khởi đầu của Marx cho đến 3 ấn bản
(I, II, III) về “Tư Bản” ( Das Kapital) về sau, Marx đi sâu vào phê phán về
lý thuyết kinh tế tư bản.
9 năm sau (1868),
C. Darwin cho ra đời tác phẩm đi sâu vào chi tiết hơn về sự “chọn lọc
tự nhiên” : “Những biến dạng của Động vật và Thực vật dưới Môi
trường Thuần hóa” (‘the Variations of Animals and Plants under Domestication’);
3 năm sau nữa (1871), C. Darwin mới đi tới những kết luận
cơ bản về “Nguồn gốc của Loài người” (‘The Descent of Man’). F.
Engels có sử dụng những công trình của C. Darwin, Engels đã viện dẫn vừa
phải và lập luận một cách dè dặt trong chương 9 của “Biện Chứng của
Tự Nhiên” (‘Dialectics of Nature’). Một
đoạn lập luận của Engels lấy từ những khám phá của C. Darwin đã được nhà xuất bản Sự Thật,
Hànội dịch như sau:
“Tác dụng của Lao động trong Quá trình Chuyển
biến từ Vượn thành Người”
Các nhà kinh tế chính trị khẳng định
rằng lao động là nguồn gốc của mọi của cải. Lao động đúng là như
vậy, khi đi đôi với giới tự nhiên là cái cung cấp những ‘vật liệu
cho lao động biến thành của cải. Nhưng lao động còn là một cái gì vô
cùng lớn lao hơn thế nữa. Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của
toàn bộ đời sống loài người, và như thế đến một mức mà trên một
ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói : lao động đã sáng tạo ra bản thân
con người.
Hàng chục vạn năm về trước, ở
một thời kỳ mà ngươi ta chưa có thể xác định được một cách chắc
chắn trong kỷ nguyên của lịch sử quả đất, kỷ nguyên mà các nhà địa
chất học gọi là kỷ nguyên thứ ba, có lẽ vào cuối kỷ nguyên ấy cũng
nên, có một loài vượn-người đã đạt tới một trình độ phát triển
đặc biệt cao, sinh sống ở một nơi nào đó trong vùng nhiệt đới, -chắc
là trên một vùng lục địa mênh mông, ngày nay đã chìm sâu xuống Ấn Độ
dương. Đác-uyn đã miêu tả
cho chúng ta thấy đại khái hình dáng gần giống của loài vượn-người tổ
tiên của chúng ta ấy. Loài vượn đó mình đầy lông, có râu và tai nhọn,
sống từng đàn trên cây.
Chắc rằng trước hết, do ảnh hưởng
của lối sống đã bắt buộc là trong khi leo trèo, hai tay của vượn-người
phải nhận những chức năng khác với chức năng của hai chân, cho nên nó
bắt đầu bỏ mất thói quen dùng hai tay để bò dưới đất, rồi dần dần
biết đi thẳng người. Như vậy là bước quyết định trong sự chuyển biến
từ vượn thành người đã được thực hiện.” (
‘Biện chứng của Tự nhiên’,
Dialectics of Nature’, by C. Darwin, bản dịch của nhà xb S.T. 1976, Hànội,
trang 253-54. ) **
Năm 1883,
‘Biện chứng của Tự nhiên’ của Engels ra đời, cũng là năm Marx từ trần.
Như vậy, Marx hoàn toàn không ảnh hưởng gì từ C. Darwin cả. Trong thời kỳ xuất bản “The Laws
of Organic Life” của Erasmus Darwin hay “Zoonomia” (1794) của Lamarck hay
"Essays on the Principle of Population" của T.R. Malthus, khái niệm về danh từ “tiến
hóa” (‘evolution’) chưa xuất hiện. Danh từ “evolutio” trong tiếng
La-tin lúc đó để chỉ tới hành vi mở ra cuốn sách được cuộn tròn
theo kiểu sách thời cổ đại (‘Evolutio’ : refers to the act of unrolling, as
in the unrolling of the ancient type of books). Phải đợi sau sự ra đời của “On
the origin of scpecies…” -1859- của C. Darwin, lúc ấy danh từ “tiến
hóa” (‘evolution’) mới được phổ biến với khái niệm sự ‘đột biến
của các giống loài’ (‘transmutation of species’) . Về Engels, mặc dù có chú dẫn
C. Darwin, nhưng chỉ là những nét cơ bản. Sự kiện vượn-người biến thành
người trải qua một chặng đường dài về chọn lọc và thích nghi với
môi trường sống, không phải là kết quả quan trọng đối với Engels; sự
lao động và “giá trị của lao động” mới là vấn đề quan trọng :
Lao động là nguồn gốc của mọi của cải. Bàn tay không chỉ là cơ phận
của lao động, mà còn là sản phẩm của lao động. (‘Thus the hand is not
only the organ of labour, it is also the product of labour.’)
Vấn đề chính trong
mưu đồ chính trị của Trần Mạnh Hảo là ở chỗ này : Ông ta muốn chứng
minh (một cách vụng về) rằng : Chủ nghĩa Marx là chủ nghĩa ảnh hưởng
từ “thuyết tiến hóa” của Darwin –có nghĩa là “đấu tranh sinh tồn
: cá lớn nuốt cá bé” chỉ là chủ nghĩa vô nhân đạo và vô thần, và
chủ nghĩa đó đối nghịch với tinh thần xiển dương “thiết kế thông
minh” (‘intelligent design’) của Tổng thống Bush hiện nay, cho nên Ki-tô
giáo hay Công giáo La mã nói riêng là “đồng minh của Tổng thống” Bush,
của nước Mỹ; còn chế độ Việt Nam đi theo chủ nghĩa vô thần, vô
nhân đạo là “kẻ thù” của Mỹ. Nếu, thêm râu ria vào ý đồ của Trần
Mạnh Hảo – và các đồng chí Hoàng Thái Du, Lê Nhân, thì nhóm Giao Điểm
làm “tay sai cho cộng sản Hànội” nên Giao Điểm cũng là “kẻ thù” của
Mỹ luôn.
Mặc dù, Trần Mạnh
Hảo (và các đồng chí) không dám lộ liễu đưa ra lập luận như thế, hoặc
giả chúng tôi nghĩ quá xa chứ thật tế, Trần Mạnh Hảo chưa đạt tới
trình độ thông minh đến thế… [ Quý độc giả cần ghi nhận: tất cả
những thông tin về “thuyết tiến hóa” hay “thiết kế thông minh” đều
do một website độc nhất của người Việt ở nước ngoài –là Giao điểm,
đưa ra.] nhưng vô
hình trung, tác giả Trần Chung Ngọc đã làm cho trình độ non nớt, hụt hẫng
của Trần Mạnh Hảo như cảnh của một bà mẹ quê thấy con mình ở dơ lâu ngày, bỗng có một trận mưa
giông lớn xối xả, bà bắt con mình phải tụt quần tồng ngồng ra sân tắm
mưa để rửa sạch đi chất ghét bẩn tồn đọng trên da thịt của con
mình.
Để kết luận bài
góp ý này, tôi xin được bộc vài điểm : Trong hơn hai thập niên đổi mới
vừa qua, Đảng CSVN đã vi phạm những điều xấu, đáng trách. Nhưng để
có sự công bằng, những gì họ làm đúng, làm hay thì phải khen. Lời kêu
gọi “góp ý” trước tiền Đại hội Đảng mở rộng tới đa số công
dân từ trong nước ra hải ngoại là một ưu điểm. Qua đó, họ có thể
rút tỉa một số sự kiện cụ thể về lòng mong ước dân chủ và trình
độ tiến hành dân chủ của người dân tới đâu. Không may, sự sôi nổi
đòi hỏi dân chủ chỉ xuất phát từ một thiểu số xem chừng được chuẩn
bị, dàn cảnh của những người trong cộng đồng Công giáo La mã dưới sự
lãnh đạo của các tu sĩ áo đen. Trong một cộng đồng quốc gia, thiểu số là một khuyết điểm về chính trị.
Chính vì vậy mà trong lý thuyết, ông Marx luôn luôn đề cao, cổ súy đến
đại đa số quần chúng ('majority's class') –là giai cấp công nhân và lao
động trong xã hội tư bản đã phát triển. Marx không hề nói ‘tiêu diệt
quyền tư hữu’ như anh Trần Mạnh Hảo đã hiểu, mà ý hướng của Marx
là chuyển giao quyền tư hữu của một thiểu số tư bản chiếm ngự
phương tiện sản xuất thành công hữu
của đại đa số nhân dân lao động. Trong lịch sử hình thành tư tưởng,
chính nhà tư tưởng xã hội chủ nghĩa vô chính phủ Pierre Joseph Proudhon mới
chủ trương cực đoan về quyền tư hữu. 1840, Proudhon tự đặt
câu hỏi trong tác phẩm “Quyền tư hữu là gì ?”, và đã trả lời : “Quyền
tư hữu là sự ăn cắp !”, và về
sau ông kêu gọi tái tổ chức một xã hội hiện đại dưới hình thức
công xã, triệt bỏ tất cả những bẩy sập của đời sống – trong đó
bao gồm tiền bạc và bản thân nhà nước. Ông cho rằng “thiện ý” của
con người sẽ cấu tạo một cách tự nhiên một khi cấu trúc xã hội
không còn. ( To his own question,
"What is property?", Proudhon answered famously, "Property is theft!". Ask in the treatise of the same name the
question “Qu’est ce que la propriété ?”, answer it: “La propriété, c’
est le vol”). 7 năm sau (1847), Proudhon đã bị
Marx phê phán trong “Triết học của sự khốn cùng” (‘Philosophy of
Poverty’).
Nhưng bởi các quốc
gia đang phát triển vừa thoát ra khỏi chiến tranh thực dân hay thuộc địa,
nền kinh tế tư bản chưa thể phát triển, cho nên sự hình thành một đại
đa số nhân dân trên phương diện kinh tế chỉ là viễn cảnh. Hiện thực
của các quốc gia đang phát triển chỉ có một đại đa số nhân dân –chính
là giai cấp dân tộc. Sự thi triển
tinh thần dân chủ qua hiện tượng của các ông Hoàng Minh Chính, hay đảng
Nhân dân Hành động của Bác sĩ Nguyễn Xuân Ngãi, trống đánh xuôi kèn thổi
ngược của nhóm 118 người trong Tuyên ngôn Dân chủ của các ông Trần
Khuê và Linh mục Nguyễn Văn Lý… trong các ngày vừa qua là hình ảnh họ
công kích lẫn nhau. Bằng chứng khác nằm ngay trước mắt tôi : là chỉ
vì bài góp ý của tác giả Trần Chung Ngọc với tư cách của một công
dân ở nước ngoài có đưa ra một vài nhận xét hơi ủng hộ chế độ, tức
là ông bị một số công dân khác trong nhóm thiểu số công kích và lên
án ngay. Từ nhu cầu của công dân đòi
hỏi chế độ như một đối tượng phải làm vai trò chủ động để từng
bước dân chủ hóa chính trị, trở thành dân chửi dân, dân chủ chống
dân chủ, phe này chống phe kia, loạn cả lên. May mà chưa có sự tham gia của
tôn giáo dân tộc đa số là Phật giáo, nếu không sẽ có những đấu tố
của những kẻ chỉ biết ‘bác ái’ bằng miệng. Bằng chứng: Linh mục
Nguyễn Văn Lý trong bài trả lời phỏng vấn của Đàn Chim Việt ngày 20.4.06,
để phân trần cho lý do ông không đồng ý với ‘Tuyên ngôn dân chủ’ của
Trần Khuê vừa qua, Linh mục Lý đã lên tiếng chận họng trước các đối
thủ tôn giáo khác, “Ở VN, không có tôn giáo nào ảnh hưởng quyết
định trên toàn đất nước được, nhưng nếu 6 tôn giáo lớn biết liên
kết lại với nhau thì không một chế độ độc tài nào tồn tại nổi cả.”
Tôi thấy thật buồn
và đáng tiếc cho tinh thần diễn tập dân chủ chưa trưởng thành của người
Việt. Những người ở vai vế lãnh tụ tinh thần như Linh mục Lý mà còn
vụng về, ấu trĩ đến thế, huống gì đối lập cỡ nhà thơ Trần Mạnh
Hảo thì chế độ đâu còn coi ra thể thống gì. Tôi tin chính quyền không
làm gì anh Hảo đâu, xin những người “thân ái” của anh Hảo ở hải
ngoại đừng lo dùm cho anh ấy đâm mất ăn mất ngủ. Anh Hảo sẽ phây
phây đi uống cà-phe mỗi ngày, cuối tuần nếu có tiền thì anh cứ thả
dàn đi nhậu nhẹt, nhảy nhót, và thơ của anh chắc sẽ tuôn chảy như nước
hồ bơi Kỳ Hòa thôi…
Cuối cùng, xin đại
diện cho nhóm Giao Điểm, chân thành cảm ơn tác giả Trần Chung Ngọc đã
đóng góp một bài viết công phu.
- Thường Đức
- Monday, April 24, 2006
* các
chữ đậm là nhấn mạnh của người viết
* * Nguyên
tác đoạn văn bằng Anh ngữ : Engels' Dialectics of Nature
“IX: The Part Played by Labour in the
Transition from Ape to Man LABOUR is the source of all wealth, the economists assert. It
is this next to nature, which supplies it with the material that it converts into wealth.
But it is also infinitely more than this. It is the primary basic condition for all human
existence, and this to such an extent that, in a sense, we have to say that labour created
man himself.
Many hundreds of thousands of years ago,
during an epoch, not yet definitely determined, of that period of the earth's history
which geologists call the Tertiary period, most likely towards the end of it, a specially
highly-developed race of anthropoid apes lived somewhere in the tropical zone - probably
on a great continent that has now sunk to the bottom of the Indian Ocean. Darwin has given
us an approximate description of these ancestors of ours. They were completely covered
with hair, they had beards and pointed ears, and they lived in bands in the trees.
Almost certainly as an immediate
consequence of their mode of life, for in climbing the hands fulfil quite different
functions from the feet, these apes when moving on level ground began to drop the habit of
using their hands and to adopt a more and more erect posture in walking. This was the
decisive step in the transition from ape to man.”
© Copyright 2006 giaodiem.com |