giaodiem copyright
          posted: 22.4.2006

      2006 - Thăm lại Việt Nam

Trần Niệm-Từ

Gần đây từ hải ngọai đến trong nước rộ lên phong trào góp ý cho Đảng CSVN về tình hình xã hội  bên lề đại hội lần thứ X, được triệu tập vào ngày 18 tháng 4 năm 2006 tại thủ đô Hà Nội. Đảng CSVN còn cố ý mở đại hội cùng lúc với lễ kỷ niệm thứ 136 ngày sinh của V.I. Lê-nin (sinh ngày 22 tháng Tư năm 1870 ở Simbirsk (nay là Ulianovsk).

Kẻ có lòng thì cứ làm nhiệm vụ của mình, còn li đệ đạt có đến được cữu trùng hay không lại là chuyện khác, bởi xem ra với tốc độ vận hành đến chóng mặt của nền “tư bản đỏ” hiện nay thì cán bộ đảng viên nào có dư thì giờ để lo ba cái chuyện ruồi bu ấm ớ này.

Vả lại ở thời buổi www liên mạng tòan cầu và “a còng: @” (danh từ thời thượng trong nước), hầu như ai cũng đua nhau viết, nhà nhà đua nhau viết, làng làng đua nhau viết, thượng vàng hạ cám thì còn đâu người đọc. Rồi với lượng thông tin mỗi ngày dồn dập chất như núi, internet ngày nay đã làm cho đầu óc con người trở nên “tê dại” với mọi tin tức, không ai còn hơi sức đâu để phân biệt đen trắng, tốt xấu. Chuyện lớn có tầm vóc quốc gia đại sự cũng biến thành tin “xe cán chó, chó cắn xe”; ngày hôm sau nó không còn là chuyện lớn và bị quên lãng nhanh chóng.

Riêng tôi, thay lời góp ý bèn làm một chuyến trở về thăm quê để được mắt thấy tai nghe và ghi lại “nam du ký sự” cập nhật sự tình để bà con thưởng lãm, và cũng hy vọng rằng có vị cán bộ đảng viên nào nhàn rỗi vào thăm trang Web này và … đọc nhằm bài này thì cũng đáng công cho kẻ viết.

Phương ngôn “trăm nghe không bằng một thấy” quả là chân lý muôn đời. Tôi trở lại Nha-trang đầu tháng tư để phúng viếng mộ phần của mẹ tôi và thăm nom cha tôi nay gần 90 tuổi. Hai cụ đã quyết định trở về sống tại căn nhà cũ gần mười năm nay với gia định cô con gái út để được “lá rụng về cội” sau năm năm định cư tại Mỹ. Đại gia đình gồm tất cả con cháu khác khá đông đều sinh sống ở vài tiểu bang của Hoa Kỳ. Thực buồn lòng khi nghĩ đến hòan cảnh côi cút của những bậc lão niên Việt bị chia cách do những bước ngoặc oan khiên của lịch sử cận đại. Nào có ai muốn thế!

Chiếc phi cơ khổng lồ Boeing 747-400 đưa chúng tôi từ Đài bắc đến TP HCM (mà ký hiệu hàng không quốc tế vẫn ghi là SGN). Khi đến miền trung trên biển đông, biết được nhờ màn ảnh định vị của phi cơ, và từ trên cao mấy ngàn dặm, tôi ngậm ngùi nhìn xuống một đại dương mênh mông xanh thẩm với sóng nước sủi bọt trắng dưới ánh nắng ban trưa mà thương tiếc cho biết bao đồng bào xấu số đã bỏ mình trên đường vượt biển trốn khỏi nước trong những năm đen tối nhất của miền Nam cuối thập niên 70s. Chúng tôi là những kẻ may mắn nhất trong na số này còn sống sót để nay có được một số phận mới khả quan hơn mà có thể nhìn sự việc một cách vô tư về đất nước.

Đọc tờ khai nhập cảnh của chính quyền Việt-nam trên phi cơ, mọi câu hỏi đều được tôi trả lời “không” một cách nhanh chóng. Chẳng có cơ quan nhà nước nào bảo trợ, mời mọc; chẳng có tổ chức, đòan thể hay tôn giáo nào tiếp đón cả. Tôi chẳng về để đầu tư hp tác cái gì hết. Tôi không  mang theo vàng bạc máy móc gì, chỉ trừ dăm ba ngàn đô-la phòng thân và cái “máy ảnh kỷ thuật số” để ghi vài tấm lưu niệm. Quần áo thì độc có shorts và (T-) shirts. Đơn giản chỉ có thế. Tôi chỉ là hạt bụi trên đường. Chợt nhớ: “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi. Để một mai vươn hình hài lớn dậy. Ôi cát bụi tuyệt vời; mặt trời soi một kiếp rong chơi… Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi. Để một mai tôi về làm cát bụi. Ôi cát bụi mệt nhòai. Tiếng động nào gõ nhịp không nguôi…” (Trịnh Công Sơn).

Vì bấy lâu nay đọc được trên các trang webs ca tụng về một công trình vĩ đại ở thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương gọi là Đại Nam Quốc Tự, nên tôi quyết đến thăm cho thỏa lòng mong ước. Dù công trình ấy phải đợi đến tháng 9 mới hòan thành và được chính thức mở cửa cho công chúng, nhưng chúng tôi có thiện duyên nên đã được Ban Giám Đốc cho một cô hướng dẫn viên đưa đi xem một vòng với lời thuyết trình tĩ mĩ. Thực là vạn hạnh. Tôi sẽ viết một bài riêng về chuyến viếng thăm này.

dai nam quoc tu (Tháp 9 tầng – Đại nam Quốc Tự)

Do đó mà hành trình của chúng tôi trong chuyến thăm lại Việt Nam là từ Sàigòn thuê chiếc xe bảy chỗ theo đường quốc lộ 14 để thăm Đại Nam Quốc Tự, ghé lại các thành phố Gia Nghĩa (nay là tỉnh lỵ của tỉnh Đak Nông (đã được tách ra khỏi tỉnh Đak Lak) và Ban Mê Thuột, nay được gọi là Buon M’Thuot ở vùng cao nguyên, nơi tôi đã từng “trấn thủ lưu đồn” trước 1975 để xem những đổi thay mới, rồi theo quốc lộ 21 xuống Khánh Dương, xổ đèo Phượng Hòang đến Ninh Hòa và  theo quốc lộ 1 mà về Nha-Trang.

Sau chuyến viếng thăm theo kiểu “cỡi ngựa xem hoa” ngắn ngũi hai tuần ở những chốn cũ quê xưa, tình cờ chuyện trò với đủ lọai thành phần xã hội từ cán bộ nhà nước, tư doanh, chủ khách sạn, đồng bào lao động, buôn thúng bán bưng, phu cyclo, tài xế taxi vv… nhiều người là bộ đội phục viên, lính tráng chế độ cũ, di dân từ Nghệ An, Thanh hóa, Thái Bình vv... Nghe họ kể chuyện mà lòng ngổn ngang trăm mối, vui buồn lẫn lộn giữa tốt và xấu, giữa những điều tích cực xen lẫn với tiêu cực, vội ghi lại những nhận xét mắt thấy tai nghe của mình.

Vai trò của Đảng CSVN:

Lịch sử đã ghi nhận vai trò lãnh đạo độc đáo và vô địch của Đảng CSVN trong việc đánh đuổi được tập đòan thực dân đế quốc và đạo phiệt Pháp-Mỹ-Vatican ra khỏi Việt nam, giải phóng được dân tộc, dành lại đất nước hòan tòan độc lập, an bình và thống nhất như ngày nay. Với thành tích như thế, thực khó mà hình dung được Đảng CSVN sẽ chia xẽ quyền lực cho bất cứ phe phái nào; mà sự thật thì chẳng có tập đòan, lực lượng nào có đủ khả năng đối kháng nổi.

ĐCSVN nắm uy quyền tuyệt đối trong tay, hòan tòan chỉ huy, kiểm sóat và chi phối các sinh họat chính trị trong nước. Vai trò của Đảng còn cao hơn cả bản hiến pháp được quốc hội lập ra. Đảng xếp đặt, chỉ định đảng viên nắm giữ tất cả những chức vụ then chốt ở cả ba ngành của bộ máy nhà nước: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Như thế mọi ngành đều phục vụ cho quyền lợi của Đảng, và Đảng chẳng bao giờ thấy mình sai cả, vì trong cái cơ cấu tổ chức ấy Đảng không hề bị khống chế bởi luật lệ hiện hành.

Điều này dễ nhận thấy qua các quan chức công quyền, các chương trình truyền thanh, truyền hình, các cơ quan ngôn lụân vv… Ngay ở các địa phương trong Nam, mọi vị trí then chốt đều do người từ ngòai Bắc vào nắm giữ, kể cả xướng ngôn, điều khiển chương trình, nói theo chính sách của Đảng.

Như đã trình bày, Đảng - chứ không phải là chính phủ - nắm giữ hai bộ máy trấn áp khổng lồ là quân đội và công an. Chủ tịch nước, chủ tịch quốc hội hay thủ tướng chính phủ đều là kẻ thừa hành của Đảng. Chủ nhân ông thực sự chính là mười-ba vị trong Bộ Chính trị Trung Ương, và họ sắp xếp để bầu ra Tổng bí thư sau mỗi đại hội để tiện bề làm việc.

Do lối tổ chức sâu sát này từ trung ương đến địa phương nên Đảng CSVN triệt để thực thi một chế độ độc tài đảng trị không nhân nhượng. Nhờ thế nó làm được nhiều việc dứt khóac nhưng đồng thời cũng nẩy sinh ra nhiều điều bất công trong xã hội. Điều đáng nói thêm là trong những giai đọan đầu đầy gian khổ, đảng đã từ đại đa số đồng bào công nông nghèo khổ vô sản để đấu tranh lật đổ những giai cấp thống trị và các chế độ bốc lột; nhưng một khi nắm được chính quyền thì Đảng vội quên thành phần vô sản kia để mang dáng dấp của giai cấp áp bức mà mình vừa tiêu diệt. Điều này càng rõ nét hơn trong xã hội Việt Nam ngày nay với giai cấp chủ ông mới “tư bản đỏ”đặc quyền đặc lợi. Rốt lại chỉ có khối quần chúng bần cùng qua các thời đại lúc nào cũng bị các thế lực chính trị lợi dụng rồi bị bỏ quên nhanh chóng và bị thiệt thòi nhiều nhất đành phải nhẩn nhục mà sinh tồn.

Giai đọan đền bù cho công thần:

Hiện tại trong nước, câu nói đầu môi của mọi người là “hy sinh đời bố, củng cố đời con”, mà tôi muốn viết thêm cho rõ nghĩa là “bom đạn liều mình, hy sinh đời bố, củng cố đi con, chia non xẻ nước, một bước đến trời.”

Hình như Đảng làm ngơ nếu không nói là khuyến khích cho phép cán bộ đảng viên mọi cấp tha hồ vơ vét làm giàu, cho bõ công sau những năm chiến tranh hy sinh gian khổ. Mãi đến nay, tôi thấy rất nhiều vị “ngây thơ cụ” đua nhau bàn xem đảng viên có nên làm kinh tế hay không? Chỉ có kẻ mù mới rờ rẫm kiểu đó, thưa vì họ đã làm kinh tế độc quyền từ bao nhiêu năm rồi kể từ thời TBT. Nguyễn Văn Linh lận.

Này nhé, theo thống kê mới nhất thì hiện Đảng CSVN có khỏang 3.1 triệu đảng viên trong một nước 82 triệu dân, tạm cho là tỉ lệ 1/27, nghĩa là cứ 27 người dân có một đảng viên. Rồi cứ tạm tin là từ trước đến nay đảng viên chưa làm kinh tế, bởi vì nay Đảng còn đang bàn cãi mà lị, nhưng khốn nỗi thực tế Việt nam cho thấy rằng một đảng viên ông kèm theo một đảng viên bà, rồi mỗi bên có khỏang ít nhất là 5 vị thân nhân, gọi là con ông cháu cha, được bao che để làm kinh tế từ cao chí thấp. Như thế cứ nhân 3.1 triệu cho 10 thì ta sẽ thấy là phe ta có khỏang 31 triệu nắm giữ “các phương tiện sản xuất” trong xã hội (theo lối nói của Frederick Engels và Karl Marx). Đồng thời khi tiền bạc rũng rĩnh liền đua nhau cho con cháu xuất dương du học qua các nước tư bản Âu Mỹ để sau này vinh thân phì gia nếu cả nước giả hoặc phải chịu áp lực mà theo con dường Âu Mỹ. Ai bảo là tỉ lệ 1/27 nào?

Vậy thì chủ trương của Đảng đã rõ, Đảng kỳ vọng trong thời gian nhanh nhất có thể đưa thành phần đảng viên trung kiên lên giai cấp giàu có cao nhất của xã hội để cũng cố uy quyền của Đảng, chuẩn bị cho trò chơi “hội nhập kinh tế thị trường” dưới áp lực của Tây phương.

Đất Nước của những khẩu hiệu:

Tháng tư năm nay Việt-nam có nhiều lễ lược. Đại hội Đảng lần thứ 10, sinh nhật Lenin lần thứ 136, kỷ niệm 31 năm ngày thống nhất đất nước vv… nên cờ xí khắp nơi. Đã thế thôi đâu, trên các cột đèn còn treo đủ thứ bảng hiệu chính trị quá quen thuộc của Đảng từ bao nhiêu năm. Tôi cho đó là một sự phí phạm tài sản quốc gia không cần thiết, bởi không ai để mắt đến, và các khẩu hiệu ấy nào có đi đôi với thực tế đất nước đâu? Lỗi thời quá rồi!

Lấy ví dụ như tiêu đề của danh xưng quốc gia: Nước CHXHCN Việt Nam. Tại sao không nói gọn là Việt Nam cho đẹp mắt để mọi thành phần dân tộc đều chấp nhận một cách hài hòa? Có một nước Việt Nam nào khác chế độ nữa để mà phân biệt? Còn bảo là Xã Hội Chủ nghĩa thì thực là “hiếp dâm danh từ”. Việt Nam ngày nay đã quay trở lại chế độ tư sản của miền Nam trước 1975 với mức độ giàu có hơn nhiều lần, lôi theo cảnh người bốc lột người càng lúc càng trầm trọng bởi hố ngăn cách giữa hai giai cấp giàu và nghèo đi quá xa. Vì thế bảo Đảng là đội quân tiên phong của giai cấp công nông vô sản thì lại càng khó nghe hơn. Lại nữa các khẩu hiệu “Cán bộ đảng viên là đầy tớ thật trung thành của nhân dân” hay “Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” ngày nay lại là một sự sĩ nhục nhân dân. Ở đâu cũng nhìn thấy “ông chủ” nhân dân lao động âm thầm nhẫn nhục chịu đựng sự sai khiến của “đầy tớ trung thành” cả. vv… và vv…

Xin Đảng dẹp bõ những cái khẩu hiệu khập khiễn ấy đi để tập trung năng lực vào việc tạo ra một công bằng xã hội, chia xẽ tài sản kinh tế tương đối đồng đều cho dân nghèo được nhờ.

Những cuộc Nam tiến:

Lịch sử đất nước kể từ thế kỷ thứ X ghi đậm nét những cuộc Nam tiến liên tục để bành trướng lãnh thổ tránh áp lực từ Trung quốc khổng lồ phương bắc. Cứ thế qua các thời kỳ những đợt di dân bắc kỳ mới cai trị những dân bắc kỳ cũ. Hình ảnh ấy vẫn còn tái diễn đến ngày nay. Qui luật của thiên nhiên là thế, một khi thỏa mãn được mọi nhu cầu ăn mặc thì sức phấn đấu của con người bị thui chột. Ta đã thấy đợt bắc kỳ Bùi Chu Phát Diệm vào làm nát miền Nam như thế nào ở đầu thập niên ‘50s thì nay lại có đợt bắc kỳ mới hồ hỡi chẳng khác.

Trong Nam ngày nay, đa số mọi ngành tư doanh xem ra đều do con cháu cán bộ đảng viên từ ngòai bắc vào nắm giữ. Qua các cuộc đổi tiền và hóa giá nhà cửa tịch thu rồi bán lại giá hời cho cán bộ đảng viên trước đây, Đảng đã đánh sập giai cấp tư sản giàu có cũ trong Nam để tạo một sân chơi không đối thủ mới cho cán bộ đảng viên và con ông cháu cha làm giàu. Bởi giai cấp mới này mới có những đặc quyền đặc lợi và ưu tiên trong những cuộc vay mượn và tài trợ của các ngân hàng nhà nước. Nhãn hiệu đảng viên bây giờ là bùa hộ mạng không gì quí bằng.

Điều đặc biệt nữa là ở buổi ban đầu của thời kỳ đổi mới, Đảng cho phép các bộ chủ quản của nhà nước lăn vào làm kinh tế thị trường dưới những doanh hiệu xem ra vô hại. Ban đầu ở những năm ‘90s là khách sạn, du lịch. Các nhà nghỉ trước kia cho cán bộ đi công tác đồng lọat biến thành khách sạn kinh doanh; rồi các tụ điểm nhà hàng, ăn chơi trụy lạc theo sau nhanh chóng. Quán nhậu đũ cỡ đũ dạng, tiệm Karaoke mại dâm trá hình, tiệm cà phê ôm, bia ôm vv… Thành thực mà nói mức độ suy đồi còn vượt các chế độ cũ quá xa.  Tôi đã thấy ở các nhà hàng nhậu, đêm nào cũng đầy khách tấp nập t sm cho mãi đến sáng một cách “vô tư”. Ở mỗi chân bàn chất nhiều kết bia 24 chai chứ chẳng phải lai rai một hai chai như ta thường thấy ở Mỹ vào dịp cuối tuần. Ai có dư tiền để thụ hưỡng? Bọn mại bản cấu kết với cán bộ đảng viên hủ hóa tham nhũng vung tiền như rác, thành thử gương mặt các quan chức càng ngày càng phì nộn tốt tướng ra. Rồi bọn tư bản trong vùng ĐNA nhào vô kiếm ăn sớm nhất và hưỡng thụ những món ngon … vật lạ “An nam nhất thốn thổ” rẽ không nơi nào bằng. Trong khi lương tháng của một cháu tíếp viên khách sạn ở tuổi đôi mươi chỉ có khỏang 6 trăm ngàn đồng (tương đương 37 đô-la theo hối giá hiện nay), mà đó là cháu may mắn được sinh ra dưới một ngôi sao sáng mới có việc lâu dài, thì có những quan viên cở giám đốc xài 4 ngàn đô-la một đêm ở Đại khách sạn New World. Tôi có nói ngoa đâu, cứ đọc các bản tin trong nước hiện nay về vụ nguyên tổng giám đốc PMU 18 Bùi Tiến Dũng thuộc Bộ Giao thông Vận tải đã nhũng lạm tiền Việt Nam vay của quỉ ODA (mà tập đòan 25 chủ nợ gồm mười quốc gia và 15 tổ chức quốc tế khác) như thế nào thì các chuyện vừa nêu chỉ là chuyện nhỏ. Mới đây báo Tuổi Trẻ số 81/2006 và nhiều báo khác kêu lên “Làm gì để trả nợ mỗi năm 2 tỉ đô-la?” của ODA để thấy chuyện tham nhũng của các quan chức cán bộ đảng viên nay đã trở thành quốc nạn.

Các ngành công nghệ dân dụng có tính cách chiến lược thì đều nằm trong tay quân đội, như viễn thông, xây dựng, xăng dầu vv... Khi nắm vững được qui luật kinh doanh, thì các cơ sở ấy dần được biến dạng ra tổ hợp cổ phần.

Cửa khẩu quốc tế:

Điều mà mọi Việt kiều e ngại nhất là những ải tra vấn và … mãi lộ ở phi trường Tân Sơn Nhất. Có hai luồng đi cho khách nhập cảnh, mà hình như chỉ riêng ở Việt nam mới có: một dành riêng cho dân mắt xanh mũi lõ, và một cho dân da vàng mũi tẹt – cho dù bạn có mang passport của Mỹ cũng mặc. Ai bảo là việc kỳ thị sắc tộc chỉ xảy ra ở Hoa Kỳ? Mà ở đây họ lại kỳ thị ngay chính với đồng bào của họ. Đó là một kinh nghiệm đầu tiên làm nãn lòng khách viếng.

Dù cái không khí và cung cách dịch vụ ở phi trường Tân Sơn Nhất nay có khả quan và tươi màu hơn các năm trước, nhưng các vị quan chức (công an) sau các quầy nhập cảnh hoặc hãi quan, hành sự cứ như là các phán quan ở các tòa án nhân dân. Dưới mắt họ hình như mọi Việt kiều đều là tội phạm, hay là họ vẫn còn mang mặc cảm? mặc dù chính sách của nhà nước đã từng ra rả ca ngợi sự đóng góp to lớn của “các khúc ruột xa ngàn dặm”. Vẫn có một khoảng cách tình cảm ngăn trở nào đó để khó mà hòa hợp vui vầy. Thái độ của họ thực là trich thượng, môi chẳng hề nở một nụ cười chào đón cho ấm lòng kẻ tha hương nay về cố quận; có chăng là khi có kẻ nhét năm hay mười đồng đô-la vào trong cái passport hay lót tay để tránh những hạch hỏi phiền phức vô tích sự kéo dài làm mất thì giờ… cho những người chẳng hiểu được thủ tục “đầu tiên” (là “tiền đâu”). Với những kẻ “biết điều” thì khách được qua cổng rất nhanh với lời chúc tụng rất đẹp. Còn không, thì con cà con kê mãi đến lúc khách cũng phải hiểu vì cớ gì mà kẻ nhanh người chậm.

Phi trường TSN đang được xây dựng thêm, khuếch trương rộng ln hơn bên cánh phải. Nhưng lời đồn là trong tương lai gần thì TSN chỉ dành cho các chuyến bay trong nước, còn hải ngọai thì sẽ dời lên Long Bình.

Khi ra khỏi cổng phi trường lại phải trãi qua một màn lo âu hồi hộp nữa. Bao nhiêu khách đẩy những chiếc xe tay với đống hành lý cồng kềnh tranh nhau ra khỏi cái cổng thóat hẹp, chẳng ai chịu nhường ai làm cho lưu thông ùn tắt mất thêm nhiều thì giờ, rồi còn phải len lỏi qua được khỏi khối bà con đưa đón nhốn nháo ở hành lang. Vừa hòan hồn thì liền va phải một đám tài xế các lọai xe khách kéo co chào mời cứ như ở bến xe An Đông năm nào. Tôi chưa hề thấy cái lề lối tổ chức tắc trách như thế này ở các phi trường nước ngòai mà mình đã từng đi qua. May mà chúng tôi có người đón sẵn. Nghe các ông tài xế taxi cho biết rằng sự tranh sống giữa các xe khách ở phi trường cũng khó khăn chẳng khác gì trong một xã hội đen. Họ phải đóng góp định kỳ phần trăm qui định cho các ông lớn có thẩm quyền thì mới được yên thân ra vào đón khách. Sao nhọc nhằn đến thế?

Giao thông vận tãi, điện lực:

Cứ lấy TP HCM mà bàn ra thì ta thấy giao thông trên các đường sá tòan nước chẳng có gì khả quan sau bao nhiêu năm nhà nước thi hành đủ mọi biện pháp. Xe cộ đủ lọai từ xe đạp, xe hai bánh có động cơ, xe cyclo, xe búyt, xe hành khách, xe taxi, xe tư nhân vv… hằm bà lằng tranh nhau dành đường một cách vô trật tự và vô luật lệ làm cho giao thông luôn ứ nghẽn sinh ra càng thêm ô nhiễm môi trường với khói và bụi khắp nơi. Các cô các bà ra đường mà mặt mũi bịt kín cứ như xứ Hồi giáo. Vài góc đường đông đão cũng có đèn hiệu thế nhưng chẳng ai tuân thủ cả. Mạnh ai nấy chạy, và việc khách bộ hành băng qua đường là cả một cuộc đánh cá với tử thần. Tôi thực xấu hổ khi nghĩ đến cảm nghĩ của du khách ngọai quốc đối với đất nước … anh hùng mà lạc hậu này.

Còn các con đường quốc lộ thì tuy có nhiều sữa sang canh tân, nhưng với tốc độ tăng trưỡng kinh tế hiện nay thì chẳng nhằm nhò vào đâu. Lại thêm những trạm thu phí trên quốc lộ nhiều đến độ hình như là tỉnh nào cũng có. Ở mỗi trạm lại lập nên hai đầu, đầu bán vé và đầu thu vé cho mỗi chiều, và số nhân viên khỏang 5, 6 người trẻ xem ra thực nhàn nhả, ngồi mát ăn bát vàng hoặc đùa giỡn vô tư với nhau, bởi lâu lâu mới có một chiếc đến trạm. Tại sao lại có chuyện phí phạm nhân lực đến thế?

Trên quốc lộ 14, nay có thêm nhà máy thủy điện gần Bù Đăng đủ cung cấp điện khắp cả vùng cao nguyên trung phần. Nhờ vậy mà đời sống của đồng bào thiểu số và các vùng kinh tế mới được nâng cao. Nhưng điện áp ở Việt nam vẫn dùng 220 volt rất nguy hiễm trong gia dụng, vã lại nhà nước chẳng hề qui định những biện pháp an tòan nào cả trong việc mắc và sử dụng các mạng điện.

cho BMT (Cảnh chợ BMT)

Tôi cứ thắc mắc tại sao Đảng và nhà nước không đầu tư mạnh dạn vào các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng cơ bản làm lợi tối đa cho quốc dân, ví dụ mở rộng các quốc lộ chính thành hai chiều, và xây nhiều trạm biến điện để tránh những thiệt hại nhân mạng không cần thiết?

Giáo dục và y tế:

Người dân nào cũng than phiền về chế độ học hành hiện nay rất khó khăn cho trẻ và tốn kém cho cha mẹ. Không có tiền để đóng đủ thứ lệ phí mọi cấp là dễ bề thất học, mà nạn thất học như thế ở Việt Nam ngày càng gia tăng. Tại sao lại không có chính sách trợ cấp giáo dục bắt buộc cho hết bậc trung học nhỉ?  Tôi đã ngạc nhiên khi thấy ở ngay TP HCM có một ngôi trường to lớn còn nhộn nhịp cảnh cha mẹ chờ đón các cháu bậc tiểu học vào lúc 9 giờ đêm. Hỏi anh tài xế taxi mới biết đó là lớp học thêm, và nếu các cháu không đi học thêm thì khó mà lên lớp. Tình trạng này xảy ra ở các cấp khắp tòan quốc. Ai bày ra kiểu học này hay lương tiền thầy cô không đũ nên giở trò để kiếm ăn thêm? 

Một vấn nạn khác là ngay cả các cháu may mắn tốt nghiệp được đại học, chuyện kiếm được việc làm lại còn lắm nhiêu khê. Tỷ lệ thất nghiệp ở Việt nam có vẻ cao nhất trong vùng ĐNA. Trong khi ấy các quí tử, cậu ấm cô chiêu của các đại gia, học chưa xong mà chức vụ đã dành sẳn. Đảng và nhà nước ở đâu? Nghe nói việc tuyển mộ ở mỗi bộ đều nằm trong tay một vài đại gia; kẻ khác không thân thế thì chớ có hy vọng gì. Vậy chứ nền kinh tế m cửa thị trường không giúp ích được cho ai ư ?.

Học hành đã thế, từ lâu lại còn nghe lắm chuyện đau lòng về nền y tế nước nhà từ khâu đào tạo cho đến việc chăm sóc bệnh nhân ở các bệnh viện. Tôi được một bác sĩ trẻ đang ăn nên làm ra hãnh diện khoe: “Bác ạ, nhà cháu cả nhà sáu người đều là bác sĩ cả đấy! Tòan bộ đều tốt nghiệp ở trường y cao nguyên Buon M’Thuot, trừ ba mẹ cháu ở trong bưng ra.”   Thực là phúc cho gia đình nhà cháu, cái dù nhà cháu chắc là to lắm, tôi thầm nghĩ. Xưa kia dưới chế độ cũ trong Nam không ai có thể nằm mơ được như thế cả.

Khi một bệnh nhân vào viện, ngay cả bênh viện công họ đã biết số phận sẽ ra sao nếu không có tiền sẳn trong túi. Mọi khâu, mọi chặn đều phải chi tiền hằng ngày từ hộ lý đến bác sĩ. Cung cách thầy thuốc đối xử với bệnh nhân cũng quan liêu kiểu cách chẳng kém; cứ như là họ ban cho ân huệ dù bệnh nhân đã trả tiền. Than ôi y đạo ngày nay! Vậy mà các câu khẩu hiệu “Lương y như từ mẫu” và “Vui lòng khách đến vừa lòng khách đi” vẫn còn thấy dán nhan nhản.

Các thành phố du lịch:

Lạ lắm, hình như có hai thái cực ở Việt Nam. Bạn sẽ nhìn thấy ở những thành phố biển hoặc du lịch những tòa nhà khách sạn và công sở đồ sộ đẹp đẻ tân kỳ không thua gì ở các nước tân tiến. Ví dụ dọc con đường cạnh biển của Nha-trang tên là Trần Phú, ngày xưa là Duy Tân, thì một bên đường là các tòa cao ốc hòanh tráng với tiền ngọai quốc đầu tư đang đua nhau mọc lên, mặt hướng ra một bải biển danh tiếng thế giới với đại dương xanh màu điểm xuyết những hòn đão con đen thẩm xa xa. Suốt con đường cây cối với bóng phủ tươi mát được chăm bón rất kỷ. Có cả một đội quét dọn phụ nữ trong đồng phục xanh làm việc suốt ngày để con đường sạch sẻ đến nổi tôi phải lên tiếng đùa: “Ngay cả một chiếc lá rụng còn không kịp chạm đất.” Dân cư của Nha thành quả là may mắn và khỏe mạnh, bởi mỗi sáng sớm mọi người mọi giới mọi tuổi tụ tập nhộn nhịp và hài hòa suốt con đường này để đua nhau tập thể dục hít thở không khí trong lành trời ban rồi tắm biển. Đến khi mặt trời hơi lên cao thì con đường trở nên vắng vẻ vì mọi người giải tán trở về công việc hằng ngày của mình. Ngày nào cũng thế. Tôi mừng thầm cho một nơi an bình tốt đẹp như vậy trên đất nước thân yêu này nếu … giá mà mọi con đường trong thành phố đều được chăm sóc đồng bộ như nhau. Tôi thắc mắc hay là đội ngủ quét dọn kia được thuê bởi các chủ nhân ông ngọai quốc của các khách sạn sang trọng trên đường?

Nha Trang Hotel (Khách Sạn Sunrise-Nha-Trang)

Thực đáng tiếc! Chỉ ra khỏi con đường Trần Phú xinh đẹp kia là du khách đã rơi vào một sự thật phủ phàng rất Việt Nam. Trên những con đường khác, tương tự như ở thành phố Buon M’Thuột và Sàigòn, mùi cống rãnh hôi thối cùng với rác rưỡi khắp nơi chẳng ai buồn quan tâm. Lề đường thì cao thấp loang lổ đầy miểng chai vở vật nhọn nếu vô ý là bị thương ngay. Hàng quán bên đường không ngay thẳng, người bán nhiều hơn người mua nên nom rất vắng vẻ, Mọi người sống có vẻ tạm bợ qua ngày, nhẫn nhục âm thầm, không có một lấy một kế họach làm ăn kinh tế lâu dài, bởi chẳng có sức đẩy khuyến khích và vốn đầu tư to lớn nào.

Lời kết:

Dĩ nhiên đất nước hiện nay cũng có nhiều mặt tích cực đáng khen như trong một thời gian ngắn Đảng và nhà nước đã thi hành các chính sách sáng suốt để đưa nền kinh tế quốc dân lên mức độ có thể tự túc được lương thực và xuất khẩu. Bộ mặt các thành phố và nông thôn đã khởi sắc hơn nhờ đầu tư xây dựng, dẫn điện đến vùng xa và cơ giới hóa dây chuyền sản xuất. Nhưng những chuyện tiêu cực nêu trên đã để lại những vết đen dần to lớn hầu như che lấp đi các thành tích đáng kể. Mà các chuyện này chỉ là một phần nhỏ, nào có phải do tôi mới khám phá ra đâu, hay do các thế lực chống phá nhà nước bịa đặt mà chúng đã từng được mọi tầng lớp nhân dân than phiền công khai bao nhiêu năm nay, nhưng hình như Đảng đi vắng không hề hay biết và có phản ứng kịp thời. Tôi vẫn đánh giá cao vai trò của Đảng CSVN trong công cuộc giải phóng đất nước dành lại được độc lập cho dân tộc. Tôi cũng nghĩ là đất nước mới đựợc hòan hồn trên bờ vực thẳm của các chính sách sai lầm liên tiếp của Đảng, nên cần phải có thời gian để hồi phục và vươn lên mạnh mẻ với vận hội mới. Chỉ có Đảng hiện nay mới có đủ uy tín và khả năng lèo lái con thuyền quốc gia qua những cơn sóng gió. Những nhóm chống phá tổ quốc ở hải ngọai theo lệnh ngọai bang chỉ là những tiếng ếch nhái kêu tuyệt vọng trước mùa khô. Dân Việt không còn muốn thấy cảnh nồi da xáo thịt trên đất nước nữa.

Nhưng không phải vì thế mà cho phép Đảng cứ mãi say vùi trong men chiến thắng, độc tài độc tôn bao che cho đảng viên gây nên lắm điều sai trái mất lòng dân. Một đảng cai trị đất nước để mưu cầu an bình, công bằng và hạnh phúc cho dân không có gì đáng chê trách cả. Nhưng Đảng phải phát huy hết tinh lực của mình, biết nhận ra điều hay lẽ quấy để thăng tiến thêm và đáp đúng sự kỳ vọng của đại đa số quần chúng đã ủng hộ mình trong những thời kỳ gian khổ. Đảng phải mạnh dạn tự lột xác, biết khai trừ kỷ luật những đảng viên hủ hóa, tham ô, biến chất dù trong quá khứ có thành tích to lớn như thế nào để lấy lại lòng tin của dân chúng.

Đảng phải học được những bài học hưng vong vô thường của các triều đại qua lịch sử. Chỉ gần đây thôi, tài vật vơ vét kết sù nào ai bằng hòang gia triều Nguyễn, tiền bạc châu báu nào ai bằng gia đình họ Ngô. Họ cứ nghĩ có Pháp, có Mỹ, có Vatican chống lưng thì sẽ được hưng thịnh muôn đời. Ôi thôi, một sớm một chiều còn lại được gì khi đã mất lòng dân? Vậy cán bộ đảng viên biến chất cố vơ vét mọi thứ cho đầy túi tham xem có giữ được mấy đời, cho dù có bắt chước kiểu cách rữa tiền dơ bẩn hay chuyển ngân vào các nhà bank nước ngòai của những tham quan các chế độ trước?

Đảng phải vươn mình ra khỏi cái lối tư duy chật hẹp của việc tranh cướp chính quyền mà phải nghĩ đến làm sao đặt được nền móng cho một thể chế dân chủ tự do lâu dài cho đất nước để mưu cầu hạnh phúc giàu mạnh đồng đều cho các thế hệ tương lai, nâng cao dân trí làm cho đất nước văn minh để con dân Việt khắp thế giới còn được hãnh diện lây. Đó mới là nhiệm vụ đích thực để lưu vết son chói lọi trong sử sách Việt. Học lại việc trị nước khôn khéo của các triều đại Lý Trần vàng son mà đến nay vẫn còn thơm ngát lời khen. Mong lắm thay!

Tháng Tư năm 2006

Trần Niệm Từ.

 

© Copyright 2006 giaodiem.com

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com