
2006 - Thăm lại Việt Trần Niệm-Từ Gần đây từ hải ngọai đến trong
nước rộ lên phong trào góp ý cho Đảng CSVN về tình hình xã hội bên lề đại hội lần thứ X, được triệu
tập vào ngày 18 tháng 4 năm 2006 tại thủ đô Hà Nội. Đảng CSVN còn cố
ý mở đại hội cùng lúc với lễ kỷ niệm thứ 136 ngày sinh của V.I.
Lê-nin (sinh ngày 22 tháng Tư năm 1870 ở Simbirsk (nay là Ulianovsk). Kẻ có lòng thì cứ làm nhiệm vụ của
mình, còn lời đệ đạt có đến được cữu trùng
hay không lại là chuyện khác, bởi xem ra với tốc độ vận hành đến chóng
mặt của nền “tư bản đỏ” hiện nay thì cán bộ đảng viên nào có dư
thì giờ để lo ba cái chuyện ruồi bu ấm ớ này. Vả lại ở thời buổi www liên mạng
tòan cầu và “a còng: @” (danh từ thời thượng trong nước), hầu như ai
cũng đua nhau viết, nhà nhà đua nhau viết, làng làng đua nhau viết, thượng
vàng hạ cám thì còn đâu người đọc. Rồi với lượng thông tin mỗi
ngày dồn dập chất như núi, internet ngày nay đã làm cho đầu óc con người
trở nên “tê dại” với mọi tin tức, không ai còn hơi sức đâu để phân
biệt đen trắng, tốt xấu. Chuyện lớn có tầm vóc quốc gia đại sự
cũng biến thành tin “xe cán chó, chó cắn xe”; ngày hôm sau nó không còn
là chuyện lớn và bị quên lãng nhanh chóng. Riêng tôi, thay lời góp ý bèn làm một
chuyến trở về thăm quê để được mắt thấy tai nghe và ghi lại “nam
du ký sự” cập nhật sự tình để bà con thưởng lãm, và cũng hy vọng rằng
có vị cán bộ đảng viên nào nhàn rỗi vào thăm trang Web này và … đọc
nhằm bài này thì cũng đáng công cho kẻ viết. Phương ngôn “trăm nghe không bằng một
thấy” quả là chân lý muôn đời. Tôi trở lại Nha-trang đầu tháng tư
để phúng viếng mộ phần của mẹ tôi và thăm nom cha tôi nay gần 90 tuổi.
Hai cụ đã quyết định trở về sống tại căn nhà cũ gần mười năm nay
với gia định cô con gái út để được “lá rụng về cội” sau năm
năm định cư tại Mỹ. Đại gia đình gồm tất cả con cháu khác khá đông
đều sinh sống ở vài tiểu bang của Hoa Kỳ. Thực buồn lòng khi nghĩ đến
hòan cảnh côi cút của những bậc lão niên Việt bị chia cách do những bước
ngoặc oan khiên của lịch sử cận đại. Nào có ai muốn thế! Chiếc phi cơ khổng lồ Boeing 747-400
đưa chúng tôi từ Đài bắc đến TP Đọc tờ khai nhập cảnh của chính
quyền Việt-nam trên phi cơ, mọi câu hỏi đều được tôi trả lời “không”
một cách nhanh chóng. Chẳng có cơ quan nhà nước nào bảo trợ, mời mọc;
chẳng có tổ chức, đòan thể hay tôn giáo nào tiếp đón cả. Tôi chẳng
về để đầu tư hợp tác cái gì hết. Tôi không mang theo vàng bạc máy móc gì, chỉ trừ dăm
ba ngàn đô-la phòng thân và cái “máy ảnh kỷ thuật số” để ghi vài tấm
lưu niệm. Quần áo thì độc có shorts và (T-) shirts. Đơn giản chỉ có thế.
Tôi chỉ là hạt bụi trên đường. Chợt nhớ: “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi. Để một
mai vươn hình hài lớn dậy. Ôi cát bụi tuyệt vời; mặt trời soi một kiếp
rong chơi… Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi. Để một mai tôi về làm cát
bụi. Ôi cát bụi mệt nhòai. Tiếng động nào gõ nhịp không nguôi…”
(Trịnh Công Sơn). Vì bấy lâu nay đọc được trên các
trang webs ca tụng về một công trình vĩ đại ở thành phố Thủ Dầu Một,
tỉnh Bình Dương gọi là Đại Nam Quốc Tự, nên tôi quyết đến thăm cho
thỏa lòng mong ước. Dù công trình ấy phải đợi đến tháng 9 mới hòan
thành và được chính thức mở cửa cho công chúng, nhưng chúng tôi có thiện
duyên nên đã được Ban Giám Đốc cho một cô hướng dẫn viên đưa đi
xem một vòng với lời thuyết trình tĩ mĩ. Thực là vạn hạnh. Tôi sẽ viết
một bài riêng về chuyến viếng thăm này.
Do đó mà hành trình của chúng tôi
trong chuyến thăm lại Việt Nam là từ Sàigòn thuê chiếc xe bảy chỗ theo
đường quốc lộ 14 để thăm Đại Nam Quốc Tự, ghé lại các thành phố
Gia Nghĩa (nay là tỉnh lỵ của tỉnh Đak Nông (đã được tách ra khỏi tỉnh
Đak Lak) và Ban Mê Thuột, nay được gọi là Buon M’Thuot ở vùng cao
nguyên, nơi tôi đã từng “trấn thủ lưu đồn” trước 1975 để xem những
đổi thay mới, rồi theo quốc lộ 21 xuống Khánh Dương, xổ đèo Phượng
Hòang đến Ninh Hòa và theo quốc lộ 1
mà về Nha-Trang. Sau chuyến viếng thăm theo kiểu “cỡi
ngựa xem hoa” ngắn ngũi hai tuần ở những chốn cũ quê xưa, tình cờ
chuyện trò với đủ lọai thành phần xã hội từ cán bộ nhà nước, tư
doanh, chủ khách sạn, đồng bào lao động, buôn thúng bán bưng, phu cyclo, tài
xế taxi vv… nhiều người là bộ đội phục viên, lính tráng chế độ
cũ, di dân từ Nghệ An, Thanh hóa, Thái Bình vv... Nghe họ kể chuyện mà
lòng ngổn ngang trăm mối, vui buồn lẫn lộn giữa tốt và xấu, giữa những
điều tích cực xen lẫn với tiêu cực, vội ghi lại những nhận xét mắt
thấy tai nghe của mình. Vai trò của Đảng CSVN: Lịch sử đã ghi nhận vai trò lãnh đạo
độc đáo và vô địch của Đảng CSVN trong việc đánh đuổi được tập
đòan thực dân đế quốc và đạo phiệt Pháp-Mỹ-Vatican ra khỏi Việt
nam, giải phóng được dân tộc, dành lại đất nước hòan tòan độc lập,
an bình và thống nhất như ngày nay. Với thành tích như thế, thực khó mà
hình dung được Đảng CSVN sẽ chia xẽ quyền lực cho bất cứ phe phái
nào; mà sự thật thì chẳng có tập đòan, lực lượng nào có đủ khả
năng đối kháng nổi. ĐCSVN nắm uy quyền tuyệt đối trong
tay, hòan tòan chỉ huy, kiểm sóat và chi phối các sinh họat chính trị
trong nước. Vai trò của Đảng còn cao hơn cả bản hiến pháp được quốc
hội lập ra. Đảng xếp đặt, chỉ định đảng viên nắm giữ tất cả
những chức vụ then chốt ở cả ba ngành của bộ máy nhà nước: lập pháp,
hành pháp và tư pháp. Như thế mọi ngành đều phục vụ cho quyền lợi của
Đảng, và Đảng chẳng bao giờ thấy mình sai cả, vì trong cái cơ cấu tổ
chức ấy Đảng không hề bị khống chế bởi luật lệ hiện hành. Điều này dễ nhận thấy qua các quan
chức công quyền, các chương trình truyền thanh, truyền hình, các cơ quan
ngôn lụân vv… Ngay ở các địa phương trong Nam, mọi vị trí then chốt
đều do người từ ngòai Bắc vào nắm giữ, kể cả xướng ngôn, điều
khiển chương trình, nói theo chính sách của Đảng. Như đã trình bày, Đảng - chứ không
phải là chính phủ - nắm giữ hai bộ máy trấn áp khổng lồ là quân đội
và công an. Chủ tịch nước, chủ tịch quốc hội hay thủ tướng chính phủ
đều là kẻ thừa hành của Đảng. Chủ nhân ông thực sự chính là mười-ba
vị trong Bộ Chính trị Trung Ương, và họ sắp xếp để bầu ra Tổng bí
thư sau mỗi đại hội để tiện bề làm việc. Do lối tổ chức sâu sát này từ
trung ương đến địa phương nên Đảng CSVN triệt để thực thi một chế
độ độc tài đảng trị không nhân nhượng. Nhờ thế nó làm được nhiều
việc dứt khóac nhưng đồng thời cũng nẩy sinh ra nhiều điều bất công
trong xã hội. Điều đáng nói thêm là trong những giai đọan đầu đầy
gian khổ, đảng đã từ đại đa số đồng bào công nông nghèo khổ vô sản
để đấu tranh lật đổ những giai cấp thống trị và các chế độ bốc
lột; nhưng một khi nắm được chính quyền thì Đảng vội quên thành phần
vô sản kia để mang dáng dấp của giai cấp áp bức mà mình vừa tiêu diệt.
Điều này càng rõ nét hơn trong xã hội Việt Giai đọan đền bù cho công thần: Hiện tại trong nước, câu nói đầu
môi của mọi người là “hy sinh đời bố,
củng cố đời con”, mà tôi muốn viết thêm cho rõ nghĩa là “bom đạn liều mình, hy sinh đời bố, củng
cố đời con, chia non xẻ nước, một bước
đến trời.” Hình như Đảng làm ngơ nếu không
nói là khuyến khích cho phép cán bộ đảng viên mọi cấp tha hồ vơ vét
làm giàu, cho bõ công sau những năm chiến tranh hy sinh gian khổ. Mãi đến
nay, tôi thấy rất nhiều vị “ngây thơ cụ” đua nhau bàn xem đảng viên
có nên làm kinh tế hay không? Chỉ có kẻ mù mới rờ rẫm kiểu đó, thưa
vì họ đã làm kinh tế độc quyền từ bao nhiêu năm rồi kể từ thời
TBT. Nguyễn Văn Linh lận. Này nhé, theo thống kê mới nhất thì
hiện Đảng CSVN có khỏang 3.1 triệu đảng viên trong một nước 82 triệu
dân, tạm cho là tỉ lệ 1/27, nghĩa là cứ 27 người dân có một đảng viên.
Rồi cứ tạm tin là từ trước đến nay đảng viên chưa làm kinh tế, bởi
vì nay Đảng còn đang bàn cãi mà lị, nhưng khốn nỗi thực tế Việt nam
cho thấy rằng một đảng viên ông kèm theo một đảng viên bà, rồi mỗi
bên có khỏang ít nhất là 5 vị thân nhân, gọi là con ông cháu cha, được
bao che để làm kinh tế từ cao chí thấp. Như thế cứ nhân 3.1 triệu cho
10 thì ta sẽ thấy là phe ta có khỏang 31 triệu nắm giữ “các phương tiện
sản xuất” trong xã hội (theo lối nói của Frederick Engels và Karl Marx). Đồng
thời khi tiền bạc rũng rĩnh liền đua nhau cho con cháu xuất dương du học
qua các nước tư bản Âu Mỹ để sau này vinh thân phì gia nếu cả nước
giả hoặc phải chịu áp lực mà theo con dường Âu Mỹ. Ai bảo là tỉ lệ
1/27 nào? Vậy thì chủ trương của Đảng đã
rõ, Đảng kỳ vọng trong thời gian nhanh nhất có thể đưa thành phần đảng
viên trung kiên lên giai cấp giàu có cao nhất của xã hội để cũng cố uy
quyền của Đảng, chuẩn bị cho trò chơi “hội nhập kinh tế thị trường”
dưới áp lực của Tây phương. Đất Nước của những khẩu hiệu: Tháng tư năm nay Việt-nam có nhiều lễ
lược. Đại hội Đảng lần thứ 10, sinh nhật Lenin lần thứ 136, kỷ niệm
31 năm ngày thống nhất đất nước vv… nên cờ xí khắp nơi. Đã thế
thôi đâu, trên các cột đèn còn treo đủ thứ bảng hiệu chính trị quá
quen thuộc của Đảng từ bao nhiêu năm. Tôi cho đó là một sự phí phạm
tài sản quốc gia không cần thiết, bởi không ai để mắt đến, và các
khẩu hiệu ấy nào có đi đôi với thực tế đất nước đâu? Lỗi thời
quá rồi! Lấy ví dụ như tiêu đề của danh
xưng quốc gia: Nước CHXHCN Việt Xin Đảng dẹp bõ những cái khẩu hiệu
khập khiễn ấy đi để tập trung năng lực vào việc tạo ra một công bằng
xã hội, chia xẽ tài sản kinh tế tương đối đồng đều cho dân nghèo
được nhờ. Những cuộc Lịch sử đất nước kể từ thế kỷ
thứ X ghi đậm nét những cuộc Trong Điều đặc biệt nữa là ở buổi ban
đầu của thời kỳ đổi mới, Đảng cho phép các bộ chủ quản của nhà
nước lăn vào làm kinh tế thị trường dưới những doanh hiệu xem ra vô hại.
Ban đầu ở những năm ‘90s là khách sạn, du lịch. Các nhà
nghỉ trước kia cho cán bộ đi công tác đồng lọat biến thành khách sạn
kinh doanh; rồi các tụ điểm nhà hàng, ăn chơi trụy lạc theo sau nhanh chóng.
Quán nhậu đũ cỡ đũ dạng, tiệm Karaoke mại dâm trá hình, tiệm cà phê
ôm, bia ôm vv… Thành thực mà nói mức độ suy đồi còn vượt các chế
độ cũ quá xa. Tôi đã thấy ở các
nhà hàng nhậu, đêm nào cũng đầy khách tấp nập từ sớm cho mãi đến sáng một cách “vô tư”.
Ở mỗi chân bàn chất nhiều kết bia 24 chai chứ chẳng phải lai rai một
hai chai như ta thường thấy ở Mỹ vào dịp cuối tuần. Ai có dư tiền để
thụ hưỡng? Bọn mại bản cấu kết với cán bộ đảng viên hủ hóa tham
nhũng vung tiền như rác, thành thử gương mặt các quan chức càng ngày
càng phì nộn tốt tướng ra. Rồi bọn tư bản trong vùng ĐNA nhào vô kiếm
ăn sớm nhất và hưỡng thụ những món ngon … vật lạ “An nam nhất thốn
thổ” rẽ không nơi nào bằng. Trong khi lương tháng của một cháu tíếp
viên khách sạn ở tuổi đôi mươi chỉ có khỏang 6 trăm ngàn đồng
(tương đương 37 đô-la theo hối giá hiện nay), mà đó là cháu may mắn
được sinh ra dưới một ngôi sao sáng mới có việc lâu dài, thì có những
quan viên cở giám đốc xài 4 ngàn đô-la một đêm ở Đại khách sạn New
World. Tôi có nói ngoa đâu, cứ đọc các bản tin trong nước hiện nay về
vụ nguyên
tổng giám đốc PMU 18 Bùi Tiến Dũng thuộc Bộ Giao thông Vận tải đã nhũng
lạm tiền Việt Nam vay của quỉ ODA (mà tập đòan 25 chủ nợ gồm mười
quốc gia và 15 tổ chức quốc tế khác) như thế nào thì các chuyện vừa
nêu chỉ là chuyện nhỏ. Mới đây báo Tuổi Trẻ số 81/2006 và nhiều báo
khác kêu lên “Làm gì để trả nợ mỗi năm 2 tỉ đô-la?” của ODA để
thấy chuyện tham nhũng của các quan chức cán bộ đảng viên nay đã trở
thành quốc nạn. Các
ngành công nghệ dân dụng có tính cách chiến lược thì đều nằm trong
tay quân đội, như viễn thông, xây dựng, xăng dầu vv... Khi nắm vững
được qui
luật kinh doanh, thì các cơ sở ấy dần được biến dạng ra tổ hợp cổ
phần. Cửa
khẩu quốc tế: Điều mà mọi Việt kiều e ngại nhất
là những ải tra vấn và … mãi lộ ở phi trường Tân Sơn Nhất. Có hai
luồng đi cho khách nhập cảnh, mà hình như chỉ riêng ở Việt nam mới
có: một dành riêng cho dân mắt xanh mũi lõ, và một cho dân da vàng mũi tẹt
– cho dù bạn có mang passport của Mỹ cũng mặc. Ai bảo là việc kỳ thị
sắc tộc chỉ xảy ra ở Hoa Kỳ? Mà ở đây họ lại kỳ thị ngay chính với
đồng bào của họ. Đó là một kinh nghiệm đầu tiên làm nãn lòng khách
viếng. Dù cái không khí và cung cách dịch vụ
ở phi trường Tân Sơn Nhất nay có khả quan và tươi màu hơn các năm trước,
nhưng các vị quan chức (công an) sau các quầy nhập cảnh hoặc hãi quan,
hành sự cứ như là các phán quan ở các tòa án nhân dân. Dưới mắt họ
hình như mọi Việt
kiều đều là tội phạm, hay
là họ vẫn còn mang mặc cảm? mặc dù chính sách
của nhà nước đã từng ra rả ca ngợi sự đóng góp to lớn của “các khúc ruột xa ngàn dặm”. Vẫn
có một khoảng cách tình cảm ngăn trở nào đó để khó mà hòa hợp vui vầy.
Thái độ của họ thực là trich thượng, môi chẳng hề nở một nụ cười
chào đón cho ấm lòng kẻ tha hương nay về cố quận; có chăng là khi có kẻ
nhét năm hay mười đồng đô-la vào trong cái passport hay lót tay để tránh
những hạch hỏi phiền phức vô tích sự kéo dài làm mất thì giờ… cho
những người chẳng hiểu được thủ tục “đầu tiên” (là “tiền đâu”).
Với những kẻ “biết điều” thì khách được qua cổng rất nhanh với
lời chúc tụng rất đẹp. Còn không, thì con cà con kê mãi đến lúc khách
cũng phải hiểu vì cớ gì mà kẻ nhanh người chậm. Phi trường Khi ra khỏi cổng phi trường lại phải
trãi qua một màn lo âu hồi hộp nữa. Bao nhiêu khách đẩy những chiếc xe
tay với đống hành lý cồng kềnh tranh nhau ra khỏi cái cổng thóat hẹp,
chẳng ai chịu nhường ai làm cho lưu thông ùn tắt mất thêm nhiều thì giờ,
rồi còn phải len lỏi qua được khỏi khối bà con đưa đón nhốn nháo
ở hành lang. Vừa hòan hồn thì liền va phải một đám tài xế các lọai
xe khách kéo co chào mời cứ như ở bến xe An Đông năm nào. Tôi chưa hề
thấy cái lề lối tổ chức tắc trách như thế này ở các phi trường nước
ngòai mà mình đã từng đi qua. May mà chúng tôi có người đón sẵn. Nghe
các ông tài xế taxi cho biết rằng sự tranh sống giữa các xe khách ở phi
trường cũng khó khăn chẳng khác gì trong một xã hội đen. Họ phải đóng
góp định kỳ phần trăm qui định cho các ông lớn có thẩm quyền thì mới
được yên thân ra vào đón khách. Sao nhọc nhằn đến thế? Giao thông vận tãi,
điện lực: Cứ lấy TP Còn các con đường quốc lộ thì tuy
có nhiều sữa sang canh tân, nhưng với tốc độ tăng trưỡng kinh tế hiện
nay thì chẳng nhằm nhò vào đâu. Lại thêm những trạm thu phí trên quốc
lộ nhiều đến độ hình như là tỉnh nào cũng có. Ở mỗi trạm lại
lập nên hai đầu, đầu bán vé và đầu thu vé cho mỗi chiều, và số nhân viên khỏang 5, 6 người
trẻ xem ra thực nhàn nhả, ngồi mát ăn bát vàng hoặc đùa giỡn vô tư với
nhau, bởi lâu lâu mới có một chiếc đến trạm. Tại sao lại có chuyện
phí phạm nhân lực đến thế? Trên quốc lộ 14, nay có thêm nhà máy
thủy điện gần Bù Đăng đủ cung cấp điện khắp cả vùng cao nguyên
trung phần. Nhờ vậy mà đời sống của đồng bào thiểu số và các vùng
kinh tế mới được nâng cao. Nhưng điện áp ở Việt nam vẫn
dùng 220 volt rất nguy hiễm trong gia dụng, vã lại nhà nước chẳng hề qui
định những biện pháp
an tòan nào cả trong việc mắc và sử dụng các mạng điện.
Tôi cứ thắc mắc tại sao Đảng và
nhà nước không đầu tư mạnh dạn vào các công trình xây dựng cơ sở hạ
tầng cơ bản làm lợi tối đa cho quốc dân, ví dụ mở rộng các quốc lộ
chính thành hai chiều, và xây nhiều trạm biến điện để tránh những thiệt
hại nhân mạng không cần thiết? Giáo dục và y tế: Người dân nào cũng than phiền về chế
độ học hành hiện nay rất khó khăn cho trẻ và tốn kém cho cha mẹ.
Không có tiền để đóng đủ thứ lệ phí mọi cấp là dễ bề thất học,
mà nạn thất học như thế ở Việt Một vấn nạn khác là ngay cả các
cháu may mắn tốt nghiệp được đại học, chuyện kiếm được việc làm
lại còn lắm nhiêu khê. Tỷ lệ thất nghiệp ở Việt nam có vẻ cao nhất
trong vùng ĐNA. Trong khi ấy các quí tử, cậu ấm cô chiêu của các đại
gia, học chưa xong mà chức vụ đã dành sẳn. Đảng và nhà nước ở đâu?
Nghe nói việc tuyển mộ ở mỗi bộ đều nằm trong tay một vài đại gia;
kẻ khác không thân thế thì chớ có hy vọng gì. Vậy chứ nền kinh tế mở cửa thị trường không giúp ích được
cho ai ư ?. Học hành đã thế, từ lâu lại còn
nghe lắm chuyện đau lòng về nền y tế nước nhà từ khâu đào tạo cho
đến việc chăm sóc bệnh nhân ở các bệnh viện. Tôi được một bác sĩ
trẻ đang ăn nên làm ra hãnh diện khoe: “Bác ạ, nhà cháu cả nhà sáu người
đều là bác sĩ cả đấy! Tòan bộ đều tốt nghiệp ở trường y cao nguyên
Buon M’Thuot, trừ ba mẹ cháu ở trong bưng ra.”
Thực là phúc cho gia đình nhà cháu, cái dù nhà cháu chắc là
to lắm, tôi thầm nghĩ. Xưa kia dưới chế độ cũ trong Khi một bệnh nhân vào viện, ngay cả
bênh viện công họ đã biết số phận sẽ ra sao nếu không có tiền sẳn
trong túi. Mọi khâu, mọi chặn đều phải chi tiền hằng ngày từ hộ lý
đến bác sĩ. Cung cách thầy thuốc đối xử với bệnh nhân cũng quan liêu
kiểu cách chẳng kém; cứ như là họ ban cho ân huệ dù bệnh nhân đã trả
tiền. Than ôi y đạo ngày nay! Vậy mà các câu khẩu hiệu “Lương y như từ
mẫu” và “Vui lòng khách đến vừa lòng khách đi” vẫn còn thấy dán
nhan nhản. Các thành phố du lịch: Lạ lắm, hình như có hai thái cực
ở Việt
Thực đáng tiếc! Chỉ ra khỏi con
đường Trần Phú xinh đẹp kia là du khách đã rơi vào một sự thật phủ
phàng rất Việt Lời kết: Dĩ nhiên đất nước hiện nay cũng có
nhiều mặt tích cực đáng khen như trong một thời gian ngắn Đảng và nhà
nước đã thi hành các chính sách sáng suốt để đưa nền kinh tế quốc dân
lên mức độ có thể tự túc được lương thực và xuất khẩu. Bộ mặt
các thành phố và nông thôn đã khởi sắc hơn nhờ đầu tư xây dựng, dẫn
điện đến vùng xa và cơ giới hóa dây chuyền sản xuất. Nhưng những chuyện tiêu cực nêu trên đã
để lại những vết đen dần to lớn hầu như che lấp đi các thành tích
đáng kể. Mà các chuyện này chỉ là một phần nhỏ, nào có phải do tôi
mới khám phá ra đâu, hay do các thế lực chống phá nhà nước bịa đặt
mà chúng đã từng được mọi tầng lớp nhân dân than phiền công khai bao
nhiêu năm nay, nhưng hình như Đảng đi vắng không hề hay biết và có phản
ứng kịp thời. Tôi vẫn đánh giá cao vai trò của Đảng CSVN trong công cuộc
giải phóng đất nước dành lại được độc lập cho dân tộc. Tôi cũng
nghĩ là đất nước mới đựợc hòan hồn trên bờ vực thẳm của
các chính sách sai lầm liên tiếp của Đảng, nên cần phải có thời gian
để hồi phục và vươn lên mạnh mẻ với vận hội mới. Chỉ có Đảng
hiện nay mới có đủ uy tín và khả năng lèo lái con thuyền quốc gia qua
những cơn sóng gió. Những nhóm chống phá tổ quốc ở hải ngọai theo
lệnh ngọai bang chỉ là những
tiếng ếch nhái kêu tuyệt vọng trước mùa khô. Dân Việt không còn muốn
thấy cảnh nồi da xáo thịt trên đất nước nữa. Nhưng không phải vì thế mà cho phép
Đảng cứ mãi say vùi trong men chiến thắng, độc tài độc tôn bao che cho
đảng viên gây nên lắm điều sai trái mất lòng dân. Một đảng cai trị
đất nước để mưu cầu an bình, công bằng và hạnh phúc cho dân không
có gì đáng chê trách cả. Nhưng Đảng phải phát huy hết tinh lực của
mình, biết nhận ra điều hay lẽ quấy để thăng tiến thêm và đáp đúng
sự kỳ vọng của đại đa số quần chúng đã ủng hộ mình trong những
thời kỳ gian khổ. Đảng phải mạnh dạn tự lột xác, biết khai trừ kỷ
luật những đảng viên hủ hóa, tham ô, biến chất dù trong quá khứ có
thành tích to lớn như thế nào để lấy lại lòng tin của dân chúng. Đảng phải học được những bài học
hưng vong vô thường của các triều đại qua lịch sử. Chỉ gần đây
thôi, tài vật vơ vét kết sù nào ai bằng hòang gia triều Nguyễn, tiền bạc
châu báu nào ai bằng gia đình họ Ngô. Họ cứ nghĩ có Pháp, có Mỹ, có Đảng phải vươn mình ra khỏi cái lối
tư duy chật hẹp của việc tranh cướp chính quyền mà phải nghĩ đến làm
sao đặt được nền móng cho một thể chế dân chủ tự do lâu dài cho đất
nước để mưu cầu hạnh phúc giàu mạnh đồng đều cho các thế hệ tương
lai, nâng cao dân trí làm cho đất nước văn minh để con dân Việt khắp thế
giới còn được hãnh diện lây. Đó mới là nhiệm vụ đích thực để
lưu vết son chói lọi trong sử sách Việt. Học lại việc trị nước khôn
khéo của các triều đại Lý Trần vàng son mà đến nay vẫn còn thơm ngát
lời khen. Mong lắm thay! Tháng Tư năm 2006 Trần Niệm Từ.
© Copyright 2006 giaodiem.com |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com