giaodiem copyright
          posted: 05.5.2006

Bùi Kha

Alexandre de Rhodes, chữ quốc ngữ và quan điểm chính trị

Một ngày sau khi bài “Ðối luận với tác giả Hoàng Hưng” của tôi xuất hiện, (talawas, 20.4.06), các ông Phạm Quang Tuấn, Nguyễn Tấn Hưng, Hòa NguyễnDương Phẩm đã có các ý kiến tranh luận đăng trên talawas. Những bài viết của các tác giả nói trên chủ yếu nhằm thảo luận về hoạt động và quan điểm chính trị của linh mục A. de Rhodes (cũng gọi là Ðắc Lộ) hơn là đề cập đến việc linh mục này có phải là người đầu tiên có sáng kiến phiên âm tiếng Việt theo mẫu tự La tinh hay không, ngoại trừ tác giả Hòa Nguyễn.

Ông Phạm Quang Tuấn dùng những định nghĩa (tổng quát) trong thông tin điện tử Google để biện luận cho nghĩa ngữ trong hai cụm từ “plusieurs soldats” & “la conquête de tout l’Orient”, thao tác này không giúp giải thích rõ quan điểm chính trị của linh mục A. de Rhodes.

Ông Nguyễn Tấn Hưng cho rằng Bùi Kha đã “quên” chú thích 35 (trang 289) của Hồng Nhuệ “Nói chiến sĩ Phúc Âm tức các nhà truyền giáo, chứ không phải binh sĩ đi chiếm cứ xâm lăng.” Thực ra, tôi không phải quên hoặc lờ đi câu chú thích này, nhưng tôi thấy chú thích như vậy là hoàn toàn sai nên tôi không công nhận (tôi có viết sơ về chú thích này trong bài trước). Trong những trang tiếp, tôi sẽ trình bày rõ hơn để ông Hưng thấy đồng quan điểm với ông còn có linh mục Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên, giáo sư Chương Thâu, nhà nghiên cứu Nguyễn Ðình Ðầu và giáo sư sử học Ðinh Xuân Lâm.[1] Vì chỉ căn cứ vào đoạn chú thích sai lầm của Hồng Nhuệ nên Nguyễn Tấn Hưng viết tiếp: “Kết tội Alexandre de Rhodes và các nhà truyền giáo Gia tô thế kỷ XVII là ‘những người mở đường cho các đạo quân xâm lăng’ thật là một sự sai lầm mù quáng, phủ nhận lịch sử và tôn giáo Âu châu thời đó.”

Ông Hòa Nguyễn cho biết trong tạp chí Ðịnh Hướng số 17, 1998 có đăng bài viết của ông Roland Jacques về Alexandre de Rhodes cũng cho rằng các cụm từ “plusieurs soldats” và “la conquête de tout l’Orient” là “một lối nói bóng bảy”, và “thế mà có những học giả cấp đại học từng giải thích các hình ảnh tỉ dụ trong ngôn ngữ sùng đạo ‘chiến sĩ’ và ‘chinh phục’ theo nghĩa đen của chúng.” Tiếp theo, ông Hòa Nguyễn dẫn vài cụm từ trong Tân Ước như mở rộng “Thiên quốc” (nước trời) để Jesus sẽ là “vua của các vua”, chỉ có ý nghĩa ẩn dụ. Theo ông, “gán cho Rhodes có ý định kêu gọi vua Pháp (đem quân) mở mang thuộc địa ở Á Ðông trong đó có Việt Nam thì e chưa đủ chứng cứ, xét theo sử liệu còn lại...”. Thí dụ của ông đưa ra chỉ đề cập một cách tổng quát về bản chất của Kitô Giáo (Christianity) hơn là bàn về hai cụm từ quan trọng (“plusieurs soldats” và “la conquête de tout l’Orient”) trong cuốn Hành trình và truyền giáo của LM. Rhodes. Tuy nhiên, Hòa Nguyễn có lẽ là người đầu tiên trong số những người bênh vực A. de Rhodes đã thừa nhận “Chuyện chữ ‘Quốc ngữ’ là công trình của nhiều người, trong đó các giáo sĩ Bồ Ðào Nha đóng vai trò tiên phong rất quan trọng, thì đã được nhiều người công nhận.” Việc xác nhận này cho thấy ông Hòa Nguyễn khách quan và được cập nhật thông tin hơn so với nhiều người trước đây như linh mục Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên, người luôn luôn gán cho Ðắc Lộ là người đầu tiên có sáng kiến phiên âm tiếng Việt bằng mẫu tự La-tinh. 

Ðể độc giả (cũng như ông Hòa Nguyễn) có thêm tư liệu, tôi xin trích nguyên văn câu viết của chính giáo sĩ Ðắc Lộ trong cuốn Từ điển Việt-Bồ-La dưới tiểu đề “Cùng độc giả”:

“...Tuy nhiên trong công việc nầy (phiên âm tiếng Việt theo mẫu tự La-tinh, BK) ngoài những điều mà tôi đã học được nhờ chính người bản xứ trong suốt gần mười hai năm thời gian mà tôi lưu trú tại Cô-sinh và Ðông-kinh, thì ngay từ đầu tôi đã học với Cha Francisco de Pina... tôi cũng sử dụng những công trình của nhiều Cha khác cùng một hội dòng, nhất là của Cha Gaspar de Amaral và Cha Antonio Barbosa, cả hai ông đều đã biên soạn mỗi ông một cuốn từ điển: ông trước bắt đầu bằng tiếng An Nam, ông sau bằng tiếng Bồ Ðào, nhưng cả hai ông đều đã chết sớm. Sử dụng công khó của hai ông, tôi còn thêm tiếng La-tinh theo lệnh các Hồng y rất đáng tôn.”[2]

Vì không thấy, hoặc thấy mà không chấp nhận, vai trò thứ yếu này của A. de Rhodes trong quá trình khai sinh chữ Việt bằng mẫu tự La-tinh này, nên vẫn có người nhầm lẫn vinh danh thay vì lên án một người mà quan điểm chính trị của ông là bước dẫn khởi cho chính sách thuộc địa của Pháp trên quê hương Việt Nam.

Tuy vậy, ông Hòa Nguyễn có vẻ vẫn còn vướng bận tình cảm với giáo sĩ Ðắc Lộ nên đã viết lại những điều sai lầm đúng ra không nên có. Trong bài viết trên talawas, tôi đã chứng minh chính giáo sĩ Ðắc Lộ, chứ không phải người nào khác, đã xác nhận ông ta chỉ thêm phần La tinh vào cuốn Từ điển Việt-Bồ và Bồ-Việt đã có sẵn mà thôi, chứ ông không phải là tác giả toàn bộ cuốn từ điển ấy như nhiều người đã hiểu nhầm qua nhiều thập niên. Rất mong ông Hòa Nguyễn lưu ý để tránh mất thì giờ trong lúc thảo luận với nhau. Cũng vì muốn bênh vực quan điểm của mình nên ông (Hòa Nguyễn) viết, “Chuyện chữ ‘Quốc ngữ’ là công trình của nhiều người, trong đó các giáo sĩ Bồ Ðào Nha đóng vai trò tiên phong rất quan trọng”, rồi cũng chính ông lại viết “Từ điển Việt-Bồ-LaPhép giảng... của tác giả Alexandre de Rhodes, và qua đó chữ viết tiếng Việt bằng mẫu tự la-tinh đã chính thức thành hình.” Chỉ trong một đoạn văn rất ngắn, ông đã đưa ra hai ý tưởng đối nghịch nhau: Một mặt, ông cho rằng chữ “Quốc ngữ” là công trình của nhiều người, trong đó các giáo sĩ Bồ Ðào Nha (ông Hòa không nhắc đến những tác phẩm của họ, BK) đóng vai trò tiên phong rất quan trọng”, nhưng lại không làm cho cách viết chữ Việt... được “chính thức thành hình”. Trong khi đó, nhờ có Alexandre de Rhodes (tuy vai trò thứ yếu hơn và chậm hơn) thì chữ Việt mới... “chính thức thành hình”. Vì lý luận thiếu nhất quán, ông Hòa Nguyễn đã đưa đến một kết luận sai lầm như bao nhiều người cố tình bênh vực A. de Rhodes trước đây.

Hai cụm từ quan trọng trong phần kết của ông Hòa Nguyễn khi đánh giá A. de Rhodes là “góp công sáng tạo” và “đại biểu xứng đáng” nhờ 2 tác phẩm Từ điển Việt-Bồ-LaPhép giảng tám ngày xuất bản năm 1651. Nhưng ông Hòa Nguyễn lại quên rằng hai tác phẩm này vốn được trước tác sau và chủ yếu nhờ công trình của Francisco de Pina, Gaspa de Amaral, và Antonio Barbosa. Hai tác phẩm này có thể xem như một cái nhà xây trên một cái nền đã có sẵn. Nhưng dứt khoát không phải chính hai tác phẩm đó đã tạo ra cái nền. Sau đó, cũng trên cái nền thô sơ này, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Hồ Biểu Chánh, Xuân Diệu, Vũ Hoàng Chương, Thanh Tâm Tuyền, Bút tre, Nguyễn Huy Thiệp, Ðỗ Hoàng Diệu,... cũng góp phần sáng tạo và đại biểu xứng đáng trong quá trình hoàn chỉnh chữ viết tiếng Việt trong từng giai đoạn biến thiên của ngôn ngữ nước ta.

Ông Dương Phẩm đề nghị: “Muốn chứng minh linh mục Hồng Nhuệ dịch sai câu trích dẫn của Alexandre de Rhodes thì trước hết phải trích dẫn nguyên văn toàn câu bằng tiếng Pháp (nên như vậy nhưng không đủ, BK). Hãy đặt câu ấy trong hoàn cảnh và văn cảnh mới hiểu thấu đáo được” (tôi tán thành quan điểm này, BK). Cũng chính vì Hồng Nhuệ, và một vài người mà tôi kể tên ở trên, đã không trích nguyên ý và theo sát tư duy trong ba đoạn văn gần nhau trong hơn một trang sách, và nhất là không lồng các đoạn văn của giáo sĩ Ðắc Lộ vào hoàn cảnh và bối cảnh thời bấy giờ (Thế kỷ XVII) mà chỉ dựa vào cảm tình tôn giáo hay khuynh hướng chính trị thời đại mình (?) nên đã dịch sai tư tưởng của Ðắc Lộ.

Phần còn lại của bài viết này, tôi muốn dành bàn về quan điểm chính trị của linh mục A. de Rhodes. Có thể nói đây là vấn đề rất quan trọng, đã từng, và có lẽ còn, cần được bàn cãi thêm để tìm hiểu đích thực tư duy chính trị của linh mục A. de Rhodes qua hai cụm từ đã và đang gây sôi nổi trong cuốn hồi ký của ông.

Alexandre de Rhodes và quan điểm chính trị

Quan điểm chính trị hay tội của A. de Rhodes được căn cứ vào một đoạn văn chính yếu của chính Alexandre de Rhodes (Ðắc Lộ) viết trong cuốn Divers voyages et missions (p. 79) như sau:

“J’ay creu que la France, eftant le plus pieux Royaume du monde, me fourniroit plufieurs foldats qui aillent à la conquefte de tout l’Orient, pour l’affuiettir à Iefus-Chrift, & particulierement que i’y trouucrois moyen d’auoir des Euefques, qui fuffent nos Peres, & nos Maiftres en ces Eglifes, ie fuis forti de Rome à ce deffein le vnziefine Septembre de l’année mil fix cens cinquante deux apres auoir baifé les pieds au Pape.”

Hồng Nhuệ dịch: “Tôi tưởng nước Pháp là một nước đạo đức nhất thế giới, nước Pháp có thể cung cấp cho tôi mấy chiến sĩ đi chinh phục toàn cõi Ðông phương (35), đưa về qui phục Chúa Kitô và nhất là tôi sẽ tìm được các giám mục, cha chúng tôi và thầy chúng tôi trong các giáo đoàn. Với ý nghĩ đó, tôi rời bỏ Rôma ngày 11 tháng 9 năm 1652 sau khi tới hôn chân Ðức Giáo hoàng.” (Hành trình và truyền giáo, Ủy ban Ðoàn kết Công giáo, Thành phố Hồ Chí Minh, 1994: tr.263).

Ðoạn văn trên, linh mục Hồng Nhuệ dịch khá rõ nghĩa, ngoại trừ (a) “J’ay creu” thì nên dịch là “Tôi tin rằng” (chứ không phải “tôi tưởng”, ít tính xác định hơn); và (b) hai chữ “plusieurs soldats” phải dịch là nhiều binh lính, Hồng Nhuệ lại dịch “mấy chiến sĩ”. Ông còn chú thích (số 35 trang 289): “Nói chiến sĩ phúc âm tức các nhà truyền giáo, chứ không phải binh sĩ đi chiếm cứ xâm lăng.”

Khoảng hai năm trước lúc có hiện tượng dịch và chú thích tùy tiện này, giáo sư Hoàng Tuệ, trong cuộc Hội thảo Quốc tế về “Nghiên cứu lịch sử và văn hóa Việt Nam”... tổ chức tại Hà Nội các ngày 3, 4, 5 tháng 12. 1992 có đọc bản tham luận “Về sự sáng chế chữ Quốc ngữ”. Trong tham luận này, giáo sư Hoàng Tuệ “nghĩ là chữ Quốc ngữ, ngoài ý nghĩa thực tiễn, còn có ý nghĩa chính trị nhất định trong phạm vi các Giáo hội khác ở Việt nam...”. Giáo sư Hoàng Tuệ đã “bị” Giáo sư Chương Thâu phê bình: “Qua đoạn vừa trích trên đây, người đọc có cảm tưởng Giáo sư Hoàng Tuệ đã ám chỉ A. de Rhodes là thân Pháp, xúi Pháp đem binh lính xâm chiếm phương Ðông và chữ Quốc ngữ còn có ý nghĩa chính trị.” và “Giáo sư Hoàng Tuệ không trích trực tiếp từ cuốn Hành trình và truyền giáo mà gián tiếp trích của De Francis mới viết năm 1977, và cũng không trích trọn câu đủ ý.”[3]

Cũng theo Gs. Chương Thâu (Hiệp Nhất, đã dẫn), nhà nghiên cứu Nguyễn Ðình Ðầu bác bỏ ý kiến của Gs. Hoàng Tuệ và đồng ý với linh mục Hồng Nhuệ nghĩa của cụm từ “plusieurs soldats” là lính thừa sai và “la conquête de tout l’Orient” là nước cha trị đến chứ không phải đến thống trị phương Ðông. Giáo sư Chương Thâu viết tiếp:

“Cũng vào thời gian cuối tháng 3.1993 tại cuộc Hội thảo “Tưởng niệm Alexandre de Rhodes, nhân 400 năm ngày sinh nhật của ông” do Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức tại Hội trường Viện Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, có nhiều nhà khoa học tham dự, đọc tham luận. Trong đó Giáo sư sử học Ðinh Xuân Lâm, một lần nữa lại đề cập “câu chữ” trên đây của A. de Rhodes và dịch lại (theo đúng văn cảnh bối cảnh lịch sử thế kỷ 17) cụm từ “plusieurs soldats” là “chiến sĩ” truyền giáo...”. Chính trong cuộc Hội thảo đó của Hội Sử học đã đưa ra nhiều kiến nghị với các cấp có thm quyền (Thủ tướng Chính phủ, Bộ Văn hóa v.v…) nhằm khôi phục vị trí xứng đáng cho linh mục A. de Rhodes”. (Chương Thâu, Hiệp Nhất, đã dẫn).

Tôi dẫn chứng dài dòng những người không đồng ý với tôi, kể cả các cấp có thẩm quyền về sử học để nhằm, một lần nữa, biện chính với tất cả những ai còn nhầm lẫn nghĩa ngữ các cụm từ “plusieurs soldats và la conquête de tout l’Orient” để đưa đến tình trạng vinh danh kẻ cần lên án. Trước lúc đưa ra 6 luận điểm để chứng minh sự dịch thuật tùy tiện vì thiếu sử liệu, vì có thể vướng mắc tình cảm tôn giáo hoặc theo chiều hướng chính trị giai đoạn, nên chúng ta đã nhìn lịch sử không phải như nó là mà muốn nó phải là, tôi xin tóm lược vài ý sau đây để tạo thêm cơ sở cho việc biện chính của chúng ta:

A. Các tôn giáo Tây Phương, nói chung, thường ít nhiều nhuốm màu sắc chính trị, thậm chí đôi khi còn gây đổ máu trong lúc truyền bá đức tin. Vì vậy, mới có những cụm từ như “đạo binh Ðức Mẹ, đạo binh của Chúa, đạo binh Thập tự giá, Thánh chiến, v.v…” như ông Phạm Quang Tuấn có nhắc đến. Các tôn giáo Ðông phương không bao giờ có các từ đạo binh của Khổng Tử, đạo binh của Lão Tử, đạo binh của Thích Ca, và cũng không có các cuộc gọi là “Thánh chiến”. Chiến tranh thì đổ máu, chết chóc, đau thương, tàn ác, dã man, chứ làm gì có thánh thiện trong đó mà gọi là thánh chiến. Một tôn giáo mà lại dùng nhiều thuật ngữ quân sự như thế thì lịch sử truyền đạo của nó (hoặc ngay cả nền thần học của nó được biểu hiện trong chính Kinh Thánh) nhiều lúc cần phải được hiểu một cách thế tục hơn.

B. Tình hình chính trị - tôn giáo trong thế kỷ XVII, những ưu đãi và khó khăn mà linh mục Alexandre de Rhodes gặp lúc truyền đạo tại Việt Nam:

a. Theo Cao Huy Thuần trong Christianisme et Colonialisme au Vietnam 1857-1914 (Ðạo Công giáo và Chủ nghĩa Thực dân Pháp tại Việt Nam 1857-1914)[4]:

“Các con tàu đó cũng đã đưa các nhà truyền giáo Châu Âu đến Việt Nam. Chiếc đầu tiên là tàu Ignatio có lẽ cập bến năm 1533 để giảng đạo ở Nam Ðịnh, Miền Bắc. Ðầu thế kỷ 17, các phái bộ truyền giáo đầu tiên được thành lập tại Việt Nam do các Tu sĩ Dòng Tên bị đuổi khỏi Nhật do lệnh trục xuất của nhà Tokugama (giữa khoảng 1612 và 1614). Ngày 18-1-1615 một người xứ Gêne tên Buzomi và một người Bồ tên là Carvalho đến Ðà Nẵng. Họ dựng lên tại Hội An Phái bộ Nam Kỳ, lúc đầu gồm nhiều nhất là Tu sĩ Dòng Tên người Ý và người Bồ. Thành công của phái Bộ đã khuyến khích cấp trên của họ mở rộng cố gắng truyền giáo ra miền Bắc. Năm 1622 họ phái Baldinotti ra đó. Liền sau báo cáo của ông ta, việc thành lập một phái bộ tại Bắc Kỳ được quyết định. Người ta giao nhiệm vụ này cho Alexandre de Rhodes người Avignon, ông được xem là người truyền giáo tiên phong có tiếng nhất tại Việt Nam vừa là người Pháp đã dẫn nước Pháp vào đây.

Ðến Bắc Kỳ năm 1627, Linh mục de Rhodes nhận được ân huệ của Chúa Trịnh Tráng ngoài Bắc, ông dâng cho Chúa một đồng hồ trái quít có bánh xe và một quyển sách toán mạ vàng đẹp đẽ. Trịnh Tráng cho ông nhiều dễ dàng khi mới bắt đầu giảng đạo ở Bắc. Linh mục đã viết trong các báo cáo gởi về cấp trên như sau: “Vua xứ Bắc cho chúng tôi xây cất nhà cửa và nhà thờ gần hoàng cung. Tại đó chúng tôi đã được giúp đỡ rất nhiều trong khi thi hành phận sự.”

Cuối năm 1629; ông rửa tội cho 6.700 người, trong số đó có một vài công nương của triều đình và ông cũng thiết lập các phái bộ Dòng Tên Bồ Ðào Nha và Tây Ban Nha mà sau đó các Linh mục Pháp của Hội Truyền giáo nước ngoài đã gia nhập vào.

Nhưng ở đây, cũng đã xảy ra những phản ứng như ở Trung Quốc và Nhật Bản. Chính phủ lo lắng khi thấy đạo mới tấn công thẳng vào các nguyên lý đạo đức và chính trị Nho giáo vốn là nền tảng của xã hội cổ truyền Việt Nam.

Thật vậy, toàn thể cơ cấu chính trị và xã hội của nước Việt Nam xây dựng trên quan niệm đạo đức của Nho giáo: lòng hiếu thảo, sự thờ cúng ông bà, lòng trung với vua. Nhưng đạo mới từ Tây Phương đến lại muốn phế truất các quy luật tín ngưỡng cũ. Không những việc thờ cúng ông bà bị kết án quyết liệt mà lòng sùng đạo của con chiên phải đứng trên lòng hiếu thảo và lòng trung với vua. Chính phủ lại càng sợ hoạt động của các nhà truyền giáo khi họ muốn tạo nên tổ chức Gia Tô không cần biết đến uy quyền nào khác hơn là uy quyền các lãnh đạo tinh thần của họ.

Vì thế Chúa Trịnh đã đuổi Alexandre de Rhodes vào năm 1630. Triều đình nhà Nguyễn cũng ban hành những sắc lệnh cấm đạo. Ẩn náu tại Macao, Linh mục de Rhode trở lại Nam Kỳ năm 1640 và cho đến cuối năm 1645 thì vĩnh viễn rời khỏi Việt Nam.

Khi đó, cấp trên triệu hồi ông về Châu Âu để xin viện trợ vật chất và người truyền giáo mới. Ông đến La Mã năm 1649, đúng lúc tòa Thánh đang muốn tách việc truyền giáo tại Châu Á ra khỏi quyền hành thế tục của Bồ Ðào Nha. Ông trình bày trước Hiệp hội Truyền giáo Congregation Propaganda Fide kế hoạch thiết lập tại Việt Nam một giáo đoàn thoát khỏi sự bảo trợ của Bồ Ðào Nha. Ðược Giáo hoàng hân hoan tiếp nhận, vị tu sĩ Dòng Tên xứ Avignon được phép lựa chọn các giám mục cho mục đích đó. Ông trở về Pháp (ba năm sau đó).

...

“Về Paris, Alexandre de Rhodes gặp một nhóm linh mục trẻ đang có quyết tâm biến việc đào tạo các linh mục này thành một công việc của Pháp. Ðó là thời kỳ chính trị Pháp bắt đầu chịu ảnh hưởng sự thu hút của biển cả. Ðược Hoàng hậu Pháp và một vài nhân vật cao cấp ủng hộ, nhưng kế hoạch này bị Bồ Ðào Nha công kích mạnh mẽ, họ viện dẫn sự bảo trợ hoàn toàn mà Giáo hoàng Alexandre Borgia cho họ từ năm 1493.

Alexandre de Rhodes chết năm 1660 khi chưa thấy được kế hoạch của mình thực hiện. Nhưng các cố gắng của ông đã thành tựu. Năm 1658 La Mã bổ nhiệm hai vị đại diện Tông Toà người Pháp, Francois Pallu và Lambert de Motte đại diện trực tiếp cho Giáo hoàng”.[5]

 

b. Tiến sĩ Nguyễn Xuân Thọ, một cựu viên chức của Bộ Ngoại giao Pháp, trong Les Débuts de L’Installation du Système Colonial Francais au Vietnam (1858-1897)[6], tiểu mục “Những chỉ thị của La Mã’’, trích từ sách của ông Brunetière:

“Những chỉ thị của La Mã: Trong lời tựa cho cuốn Lịch sử các hội truyền giáo, Ferdinand Brunetière viết:

‘Tại phương Ðông và Viễn Ðông, chính các giáo sĩ chúng ta là những người hiểu rõ chiều sâu của những vấn đề mà các nhà ngoại giao ta chỉ thấy được bề mặt. Ở đó, họ là những người thông tin tốt nhất và những tay chân đáng tin cậy nhất của các nhà ngoại giao.

‘Chính Giáo hoàng Alexandre VII đã sáng lập những hội truyền giáo ở Ðông Dương, và ngày 8-6-1658 đã chỉ định hai vị Khâm mạng toà Thánh, Francois Pallu, cho Bắc Kỳ, và P. Lambert de la Motte, cho Nam Kỳ. Sự thành lập hai địa phận Công giáo này là kết quả nhiều cuộc vận động và cổ vũ của các giáo sĩ đầu tiên, đặc biệt là các giáo sĩ Dòng Tên (Jésuite) Alexandre de Rhodes; họ đã xây dựng được một cộng đồng Gia Tô giáo nho nhỏ ở Việt Nam.’

‘Tuy vậy, không phải các giáo sĩ Dòng Tên được vinh dự xây dựng các địa phận Công giáo tại Ðông Dương, mà là một đặc biệt, nảy sinh trong những năm tiếp theo 1658, dưới sự thúc đẩy của các bạn bè Francois Pallu: “Hội Truyền giáo nước ngoài”, có trụ sở tại Paris.

‘Những chỉ thị, năm 1659, cho hai vị Khâm mạng Toà Thánh của “Thánh hội Truyền bá Ðức tin” biểu hiện khá cụ thể học thuyết chính trị truyền giáo của nhà thờ, của thế kỷ XVII, một học thuyết mà, về mặt lý luận, sẽ không bao giờ thay đổi. Sau khi nhắc lại những nguyên tắc riêng của đức tin, những chỉ thị này định nghĩa mục đích của các hội truyền giáo là: đào tạo một đội ngũ linh mục bản xứ trong lòng các cộng đồng Công giáo đã hiện hữu. La Mã yêu cầu các linh mục dân tộc đó phải qua một cái, mà chúng ta gọi lúc này, là một sự “huấn luyện chuyên môn cấp tốc”: “… Ðể dễ dàng cho việc phong chức các linh mục bản xứ, chúng tôi trao cho các ngài cái chức năng được miễn cho các linh mục mới khỏi phải học biết tiếng La Tinh …” v.v… Rome mời các giáo sĩ đừng bao giờ làm cái việc tuyên truyền chủ nghĩa quốc gia ở những nước mình đang truyền đạo: “Không phải cái đó, mà là đức tin mới là điều các ngài cần nhập cảng”. Cấm không được Âu hoá nước người ta” (để dễ dụ vào đạo lúc đầu, BK).

‘… Sự cộng tác tích cực của các giáo sĩ Pháp với công cuộc chinh phục Việt Nam là một vấn đề mà người ta biết quá rõ. Những người lãnh đạo nhà nước của Ðệ tam Cộng hoà đã biểu dương sự kiện này một cách trịnh trọng; các giáo sĩ đã đề cao điều đó.”

Diễn tả về ý định thầm kín của giáo sĩ Dòng Tên A. de Rhodes, tiến sĩ Nguyễn Xuân Thọ trích dẫn lời của Ðô đốc Charles Meyer như sau:

“Các giáo sĩ đã đến Việt Nam rất lâu trước khi có cuộc chinh phục.

Ðến Bắc Kỳ ngay từ 1624, Alexandre de Rhodes đã để lại xứ sở này những trang miêu tả hào hứng, ông ta viết:

‘Ðây là một xứ sở thần tiên, đẹp, phì nhiêu, khí hậu tuyệt vời, và lụt lội thì mang lại những điều bổ ích’, ông ta viết. ‘Dân chúng rất giàu và những thầy thuốc của họ rất giỏi giang khéo léo: công lý ngự trị khắp nơi và tội ngoại hình thì bị nghiêm trị…’” (NXT, sách đã dẫn, trang 359).

Ðoạn 5, chương I cũng cho thấy:

“Nước Pháp đã rất nhanh chóng thay chân Bồ Ðào Nha trong sự nghiệp truyền đạo tại Ðông Dương (tức Indochine), nhờ sự hoạt động cá nhân của Linh mục Alexandre de Rhodes, thuộc dòng Jésuites (Dòng Tên), đã không ngừng làm công tác tuyên truyền tại Rome, rồi tại Pháp, với những nhân vật thân cận của Richelieu, và từ 1625 đến 1630, đã phát triển Kitô giáo tại Nam Bộ và Bắc Bộ. Chẳng bao lâu, những bài ký sự của vị giáo sĩ, Giám mục “Vùng ngoại đạo” Francois Pallu, đã làm cho người ta chú ý nhiều đến các dân cư Việt Nam.”

c. Stanley Karnow trong Việt Nam, A History. The First Complete Account of Việt Nam at War, [Việt Nam, Lịch sử. Mô tả  đầu tiên đầy  đủ về cuộc chiến Việt Nam] viết về A. de Rhodes như sau:

“Chẳng bao lâu Linh mục Alexandre de Rhodes nhận thấy rằng uy tín ngày càng phai nhạt nên Bồ Ðào Nha không còn ích lợi cho Gia Tô giáo ở Á Châu. Ông cũng toan tính rằng có thể chinh phục được “con tim và khối óc” con người một cách có hiệu quả bằng các giáo sĩ người Việt Nam hơn là người Âu Châu. Ông đến La Mã vận động xin hủy bỏ sắc lệnh của Giáo hoàng có từ thế kỷ 15 cho phép Bồ Ðào Nha độc quyền tại Á Châu. Nhưng ông gặp phải sự chống đối quyết liệt của người Bồ và khó lòng chinh phục được các giới chức ở La Mã, thế rồi ông trở về Pháp, quê hương ông, để xin giúp đỡ. Ðể thành công được chương trình dự định, ông thuyết phục các lãnh tụ tôn giáo và thương gia Pháp bằng một hình ảnh là nước Việt Nam đã đến giai đoạn chín muồi để dân chúng theo Công giáo, và là một quốc gia thần tiên với tài nguyên vô tận, ngay cả người đánh cá cũng dùng lưới làm bằng tơ lụa.

Cuối cùng, Vatican chấp thuận kế hoạch của Rhodes, mặc dầu ông chết trước lúc kế hoạch đó được thực hiện. Năm 1664, bốn năm sau lúc ông chết, các nhà lãnh đạo tôn giáo Pháp và những người ủng hộ thương mãi thành lập Giáo đoàn Hải ngoại để tiến hành việc truyền đạo ở Á Châu”.[7]

d. Avro Manhattan, trong Vietnam: Why Did We Go? The Shocking Story of the Catholic “Church’s”Role in Starting the Vietnam War  [Việt Nam: Tại sao chúng ta đến đó. Chuyện chấn động về vai trò của Giáo hội Công giáo trong việc gây ra cuộc chiến tranh Việt Nam] có quan điểm về A. de Rhodes như sau[8]:

“Giáo sĩ Dòng Tên Alexandre de Rhodes đến Ðông Dương năm 1610. Một thập niên sau, ông gửi về cho Vatican và Pháp một bản phúc trình mô tả rất chính xác về tiềm năng thương mại, chính trị và chiến lược.

Nhiều giáo sĩ Dòng Tên Pháp được tuyển mộ ngay và gửi sang giúp ông ta thực hiện hai công tác: đổi đạo theo Công giáo và bành trướng thương mại. La Mã và Ba Lê xem những hoạt động này như những bước khởi đầu không thể tách rời khỏi sự dẫn đến việc chiếm đóng về chính trị và quân sự trên các quốc gia này.”[9]

Qua bốn dẫn chứng trên, chúng ta có thể nhìn cái khung lịch sử thời bấy giờ và cái cảnh được ưu đãi cũng như bị ngược đãi trong những năm mà Alexandre de Rhodes truyền đạo tại Ðông Phương. Sau đây, chúng ta sẽ xem xét một số đoạn trong cuốn Hành trình và truyền giáo chứa đựng nghĩa ngữ  của hai cụm từ “plusieurs soldats”, “la conquête de tout l’Orient” để tìm hiểu nghĩa ngữ hai cụm từ này, nhằm làm sáng rõ quan điểm chính trị của giáo sĩ A. de Rhodes.

1. Về phương diện từ ngữ

Tự điển Pháp Việt của Ðào Duy Anh định nghĩa chữ “soldat” là lính chiến. Chữ “soldier”, theo Anh-Việt từ điển của Nguyễn Văn Khôn cũng có nghĩa là binh lính. Thực ra, chữ “missionnaires” mới có nghĩa là những thừa sai. Tôi chưa bao giờ thấy ai dịch chữ “soldat” là lính thừa sai, và cụm từ “la conquête de tout l’Orient” là “nước Cha trị đến”. Vả lại, danh từ “La France” (nước Pháp) chứ không phải danh từ “Eglise francaise” (Giáo hội Pháp) là chủ từ của mệnh đề đó, nên chữ “soldat” phải được hiểu là “lính chiến” chứ không thể hiểu ẩn dụ là “lính thừa sai” được. Trong chính phủ Pháp không làm gì có lính thừa sai để cha xin, mà chỉ có lính chiến mà thôi.

Cũng trong cuốn Hành trình và truyền giáo, LM. Rhodes viết:

“Tôi đi qua  Marxây và Lyon rồi tới Paris; theo tôi thì Paris là thu gồm hay đúng hơn là bản mẫu tất cả những gì đẹp nhất tôi đã thấy ở khắp trái đất này” (cuối tr. 263). Sau 3 dòng nầy, LM. Rhodes viết rõ thêm ý nghĩ của mình:

“Trên đường từ Lyon tới Paris tôi nghiệm thấy có sự quan phòng rất đặc biệt của Chúa tôi vẫn coi như kim chỉ nam và mẫu mực. Ðể ra mắt ở Pháp tôi cần có thiên thần hộ vực để đưa tôi lọt vào triều đình vua cao cả nhất hoàn cầu. Thế là tôi gặp ở Roanne đức Henri de Maupa, giám mục thành Puy, tu viện trưởng Saint Denis, đệ nhất tuyên úy của Hoàng hậu. Ngài có nhã ý cùng đi với tôi trong cuộc hành trình nhỏ bé này. Trong mười lăm ngày, tôi thấy nơi ngài rất nhiều nhân đức và thương yêu, suốt đời tôi, tôi quí mến công ơn và sẽ đề cao cuộc hội ngộ may mắn nhất trong suốt các hành trình của tôi”. (đầu tr. 264).

Ðoạn văn trên cho thấy, chính linh mục Alexandre de Rhodes đã nhờ Giám mục thành Puy, Henri de Maupa, cũng là tuyên uý của Hoàng hậu vợ vua Louis XIV, dẫn vào triều đình để vận động xin giúp nhiều lính chiến (plusieurs Soldats) để chinh phục toàn cõi phương Ðông (la conquête de tout l’Orient, trong đó có Việt Nam). Tuy sự vận động đó chưa thành hình vào thời điểm của ông, nhưng nó đã mở đường cho Pháp xâm lăng nước ta 206 năm sau. [Lính Pháp đổ bộ lên Ðà Nẵng ngày 1. 9. 1858.]

Chưa hết, tiếp theo đoạn vừa dẫn linh mục Rhodes cũng đã bộc lộ thêm:

“Tôi chưa công bố thánh chiến chống mọi địch thù của đức tin ở Nhật, ở Trung Quốc, ở Ðàng Trong, ở Ðàng Ngoài và ở Ba Tư thì lập tức đã có một số đông con cái thánh Inhaxu, đầy tinh thần đã đưa thánh Phanchicô Xavie tới ba trăm quốc gia, các ngài đã bừng bừng ao ước vác thánh giá Thầy và đem đi cắm những nơi cùng kiệt cõi đất.” (giữa tr. 264)

Sự việc quá rõ như thế, nhưng các Gs. Chương Thâu, gs. Ðinh Xuân Lâm và nhà nghiên cứu Nguyễn Ðình Ðầu không biết lý do nào đã không đọc hết một trang mà chỉ đọc một đoạn (hơn sáu dòng, tr. 263) trong Hồi ký của linh mục Rhodes rồi diễn giải tùy tiện.

Ðể việc biện chính được rõ hơn, tôi sẽ trở lại vấn đề này và dẫn thêm sử liệu để cho thấy tại sao cha Ðắc Lộ (Alexandre de Rhodes) không xin Giáo hội Pháp mà xin chính phủ Pháp.

2. Yếu tố kinh tế và xu hướng của các thương gia

Nửa đầu thế kỷ 17, các nước phương Tây như Pháp, Bồ Ðào Nha chú ý đến biển cả để buôn bán với các nước bên ngoài, đặc biệt là các nước Viễn Ðông. Do đó, sử gia Stanley Karnow, khi tìm hiểu nguyên nhân thu hút người Tây Phương đến Á Châu, đã viết:

“Sự giàu có của Á Châu, thực tế và huyền thoại, đã kích thích Châu Âu. Những nhà du hành như Marco Polo đã trở về với câu chuyện nín thở về những ngôi đền Miến Ðiện ‘được bọc vàng dày một ngón tay’, và các bờ biển Ấn Ðộ ‘cát được sáng chói với những viên ngọc thạch và những quặng kim loại quí giá’. Chưa có loại thực phẩm Châu Á nào có thể sánh với hồ tiêu, đậu khấu, sả và các gia vị đặc biệt khác để ướp thực phẩm, đặc biệt là trong những vùng khí hậu ấm hơn của miền nam Âu Châu.”[10]

Trong chiều hướng đó, Linh mục Ðắc Lộ cũng đã kích thích các thương gia qua cách diễn tả lạc dẫn để “thuyết phục các lãnh tụ tôn giáo và thương gia Pháp bằng một hình ảnh là nước Việt Nam đã đến giai đoạn chín muồi để dân chúng theo Công giáo, và là một quốc gia thần tiên với tài nguyên vô tận, ngay cả người đánh cá cũng dùng lưới làm bằng tơ lụa”.

Ðắc Lộ mô tả tình hình kinh tế Việt Nam lúc bấy giờ như thế, hoàn toàn không đúng: Việt Nam đâu có giàu như vậy. Nhưng tại sao Cha lại nói dối? Phải chăng là để kích thích lòng tham của chính phủ Pháp và các giới thương mại? Và việc từ thương mại đến vũ trang để chiếm đoạt và khai thác quyền lợi kinh tế đâu phải là một đoạn đường dài và không thuận lý?

3. Về bối cảnh chính trị và tôn giáo

Từ năm 1493, Giáo hoàng Alexander VI đã ban hành giáo lệnh giao cho Bồ Ðào Nha và Tây Ban Nha có quyền sở hữu và khống chế cả thế giới. Vì thế, Cố A. de Rhodes viết rất đúng với hiện thực chính trị lúc bấy giờ rằng: “Tôi tưởng nước Pháp là một nước đạo đức nhất thế giới, nước Pháp có thể cung cấp cho tôi nhiều chiến sĩ đi chinh phục toàn cõi phương Ðông.”

Tại sao Cha Ðắc Lộ không xin Giáo hội Pháp mà xin nước Pháp? Vì về mặt giáo quyền, Giáo hội Pháp bị ràng buộc bởi giáo lệnh của Giáo hoàng Alexander VI, 4.5.1493, nên linh mục Rhodes không thể xin Giáo hội Pháp lính thừa sai (missionnaires) được. Vì vậy, khi Cha Ðắc Lộ tiếp cận nước Pháp (hay bất kỳ nước nào khác, ngoại trừ Bồ Ðào Nha và Tây Ban Nha) là để xin lính chiến, hoặc để xin gì cũng được, ngoại trừ những gì liên can đến Giáo hội như giáo sĩ, giáo sản và giáo quyền… Cha Ðắc Lộ dùng chữ soldats (lính chiến) rất chính xác. Nước Pháp hay chính phủ Pháp làm gì có quyền cung cấp các vị thừa sai cho Cha? Hoàng hậu và vua Louis XIV thì có quân đội, chứ làm gì có linh mục, giám mục trong đó mà cha vào gặp vợ vua để xin?

Căn cứ vào từ ngữ và bối cảnh lịch sử như thế, nên sử gia Helen Lamb trong cuốn Vietnam’s will to live, tr. 38, rất đúng khi dịch chữ “soldat” (tiếng Pháp) ra tiếng Anh là “soldier” có nghĩa là lính chiến. [New York, 1972]

Ðể tránh tình trạng có thể bị hiểu lầm hay có sự “nhạy cảm” về tôn giáo, thay vì trích sắc lệnh của Giáo hoàng ở một sách khác, tôi sẽ trích từ sách Thập giá và lưỡi gươm của linh mục Trần Tam Tỉnh. Qua sắc lệnh, chúng ta thấy linh mục Ðắc Lộ không thể xin Giáo hội Pháp mà có thể chỉ xin chính phủ Pháp mà thôi. Nguyên văn:

“..., quyền lợi của Bồ Ðào Nha đã được phân định rõ ràng trong sắc chỉ “Romanus Pontifex” do Ðức (Giáo hoàng) Nicholas V (1447-1455) ra ngày 8 tháng Giêng năm 1454. Theo quyền lực Chúa ban và quyền lực của Tòa thánh, Ðức Giáo hoàng ban cho triều đình Lisbon (Bồ Ðào Nha) “toàn quyền tự do xâm lăng, chinh phục, chiến đấu, đánh giặc và khuất phục tất cả các quân Sarrasins (tức người Ả Rập), các dân ngoại đạo và các kẻ thù khác của Giáo hội, gặp bất cứ nơi nào: được toàn quyền chiếm cứ tất cả các vương quốc, lãnh địa, vương hầu, đất đô hộ và tài sản của chúng; toàn quyền chiếm đoạt tất cả của nổi và của chìm của chúng và bắt tất cả chúng nó làm nô lệ vĩnh viễn”.

“Khi ban quyền cho người Bồ Ðào Nha được chiếm mọi thứ lợi lộc kể trên, Giáo hoàng đồng thời cũng muốn mở mang nước Chúa sang các miền xa xôi. Và để nhà vua Bồ Ðào Nha yên tâm hơn, Giáo hoàng ra lệnh cấm không một ai khác được phép đặt chân tới các vùng đất ấy nếu không có phép của nhà vua, dành cho nhà vua độc quyền buôn bán và ra vạ tuyệt thông tức khắc cho bất kỳ ai dám hành động ngược lại.” [Trần Tam Tỉnh, Thập giá và lưỡi gươm, Paris: Sudestasie, 1978, tr. 14-15].

“Năm 1492, Christopher Columbus khám phá ra những vùng đất mới mà ông nghĩ là Ấn Ðộ. Một nửa thế kỷ trước đó, thương thuyền Bồ Ðào Nha cũng đã chạy dọc theo bờ biển phía Tây Châu Phi. Ít năm sau, năm 1497, Vasco de Gama, người Bồ Ðào Nha, đã phát hiện đúng con đường sang Ấn Ðộ.

“Ngày 4 tháng 5 năm 1493, qua sắc chỉ “Inter caetera” (“giữa những điều khác”), Giáo hoàng Alexander VI giao quyền chinh phục các vùng đất kể trên mà các dân Phương Tây chưa từng biết, cho các triều đình nước Tây Ban Nha và Bồ Ðào Nha. Tây Ban Nha có quyền đi chiếm tất cả các đất đai gặp được ở một trăm dặm kể từ quần đảo Azores, còn Bồ Ðào Nha, tất cả các nước nằm ở mạn Ðông đường ranh đó (quần đảo Azores ở mạn giữa cắt đôi Ðại Tây Dương.” [Trần Tam Tỉnh, Sđd., tr. 14].

Các Giáo hội Công giáo ở các quốc gia, dĩ nhiên, không ai dám phản đối các sắc lệnh của Giáo hoàng. Nhưng chính quyền các nước Âu châu ngay từ lúc có giáo lệnh của các Giáo hoàng cho đến mãi về sau đã không thừa nhận các giáo lệnh đó. Ngay cả nữ hoàng Elizabeth I (1533-1603) cũng phản đối. Năm 1540, vua Francis I của Pháp công khai chống đối ra mặt bằng câu mỉa mai: “Ai có thể chỉ cho ta thấy di chúc của ông tổ Adam giao tất cả thế giới cho Bồ Ðào Nha và Tây Ban Nha?”[11]

Giáo sĩ Ðắc Lộ (hoặc bất cứ một giáo sĩ nào) không thể trông cậy vào Giáo hội Pháp (hoặc bất cứ một giáo hội nào) nên ông đã vào triều đình Pháp để xin lính chiến là do bối cảnh chính trị tôn giáo trong thời kỳ đó như thế. Nhưng trong thời gian trị vì, vua Louis XIV bận rộn với những cuộc chiến tại Âu châu và phí tổn xây cất cung điện Versailles quá lớn, nên việc vận động của giáo sĩ Ðắc Lộ, có lẽ vì thế, mà không thành.

4. Về mặt tâm lý

Cha A. de Rhodes bị Chúa Trịnh đuổi, Chúa Nguyễn đuổi, Trung Quốc đuổi, há ông không xin binh lính (soldats) để phục thù sao? Mà chính cha cũng đã nóng giận lúc viết “Tôi chưa tuyên bố Thánh chiến chống mọi địch thù...” Trong cuốn Phép giảng tám ngày, viết cùng thời với cuốn Hành trình và truyền giáo, cha Ðắc Lộ đòi chém một ông giáo chủ khác:

“Bởi Tam giáo này, như bởi nguồn độc, nhiều sự dối khác. Song le bắt mỗi sự dối ấy chẳng có làm chi, vì chưng biết là bởi đâu mà ra, cho hay tỏ tường là dối thì vừa. Như thế có chém cây nào độc cho ngã, các ngành cây ấy tự nhiên cũng ngã với. Vậy thì ta làm cho Thích-Ca là thằng hay dối người ta, ngã xuống, ...” (Aleaxandre de Rhodes, Phép giảng tám ngày, trang 115 & 116, Tủ sách Ðại Kết, TP. HCM, 1993).

Lúc bình thường được vua yêu chúa mến mà Cố vẫn nóng nảy đòi chém Thích Ca cho ngã huống hồ lúc bị các Vua Chúa Phật tử trục xuất ra khỏi Việt Nam? Phép giảng tám ngày viết như thế dễ bị kết án là một tác phẩm thiếu văn hóa, phi đạo đức, và kém thông minh của cha Ðắc Lộ.

5. Sứ mạng của một giáo sĩ Dòng Tên (Jesuite)

Muốn biết thêm giáo sĩ A. de Rhodes có ý đồ chính trị hay không, chúng ta cũng nên tìm hiểu Cha được đào tạo và trưởng thành như thế nào qua trong Dòng Tên (Jesuit).

Lời thề của các tu sĩ Dòng Tên trước Giáo Hoàng

“Tôi tên là ... Giờ đây, trước sự hiện diện của Chúa Toàn năng, sự cứu rỗi của Ðức Mẹ Ðồng trinh Maria, của các Thiên thần Michael, của Thánh John Baptist, các Thánh Tông đồ Peter và Paul và tất cả các vị Thánh thần của con, Cha Bề trên của Giáo hội Chúa Jesus, do Thánh Ignatius Loyola sáng lập trong nhiệm kỳ Giáo hoàng Paul III, và tiếp tục đến ngày nay, được tạo thành từ sự trinh nguyên, khuôn mẫu của Chúa và quyền năng của Chúa Cứu thế Jesus.

Xin tuyên thệ rằng:

Sự Thánh linh của Giáo hoàng là đại diện của Chúa Cứu thế, xứng đáng là thủ lãnh duy nhất của Giáo hội Gia Tô hay Giáo hội toàn cầu: và theo bí quyết của sự ràng buộc và buông lơi đã được đấng cứu thế, Chúa Jesus ban cho, ngài có quyền năng truất bỏ các vị Vua Chúa dị giáo (khác tôn giáo), các quốc gia, các nước Cộng hoà Quốc dân và các chính quyền, tất cả đều bất hợp pháp nếu họ không chịu phép bí tích của Chúa và chắc chắn họ sẽ bị hủy diệt.

Do đó, với quyền lực tối hậu của con, con sẽ kiên quyết bảo vệ đường lối, quyền năng và tập quán của Ðức Thánh Cha để chống lại tất cả những kẻ tiếm vị, những tên dị giáo hay giới chức Tin Lành và đối với tất cả những kẻ liên đới, chúng sẽ bị tước đoạt và bị coi là dị giáo, chống lại quyền bất khả xâm phạm của Giáo hội Ðức Mẹ La Mã (Mother Church of Rome).

Giờ đây con xin tuyên bố từ bỏ mọi bổn phận như là món nợ đối với bất cứ những tên Vua Chúa dị giáo hay quốc gia mệnh danh là Tin Lành hay Tự Do hoặc tuân theo bất cứ điều luật tài phán hay viên chức nào của họ.

Con xin tuyên hứa thêm rằng, con sẽ không có ý kiến hay quyết định của riêng mình, ngay cả đặc nhượng tinh thần, thể xác, nhưng con không ngần ngại tuân theo mệnh lệnh của Cha Bề trên trong Vệ binh của Giáo hoàng và của Chúa Jesus.

Con xin tuyên hứa rằng:

Trong mọi trường hợp nếu có dịp, con sẽ tạo ra chiến tranh và tham chiến một cách bí mật hay công khai chống lại tất cả những kẻ dị giáo, Tin Lành và Tự Do mà không hề do dự. Khi được lệnh thi hành, con sẽ tàn sát và triệt hạ tận gốc những tên này trên khắp mặt địa cầu. Con sẽ không từ một kẻ nào: không kể tuổi tác, đàn ông hay đàn bà, con sẽ treo cổ chúng, thiêu chúng, bỏ chúng vào nước sôi, lột da, siết cổ hay chôn sống những kẻ dị giáo, mổ bụng, moi bào thai trong tử cung vợ chúng ra và đạp nát đầu những hài nhi vào tường, trong mục đích hủy diệt một dân tộc đáng ghét.

Khi nhiệm vụ kể trên không thể thi hành một cách công khai, con sẽ bí mật dùng ly thuốc độc, dùng dây thắt cổ, dao găm hay đạn chì, không cần biết đến danh giá, cấp bậc, phẩm hạnh hay quyền hạn của một người hay một nhóm nào, bất cứ hoàn cảnh nào của họ trong cuộc sống, dù đời công hay cá nhân, bất cứ lúc nào được lệnh thi hành của bất cứ vị đại diện nào của Giáo hoàng hay Cha Bề trên, của tình Huynh đệ của Hội Thánh linh Chúa Jesus.

Trong sự xác quyết tuyên thệ, con xin dâng hiến đời con, linh hồn con, và tất cả quyền năng cụ thể của con và với lưỡi dao “thánh giáo”mà con hiện đã nhận được, con sẽ viết tên con bằng chính máu của con, trong lời thề này; nếu con giả dối hay yếu mềm trong quyết định của con, thì người đại diện hay bạn đồng ngũ, vệ binh của giáo hoàng có thể cắt bỏ tay chân con, cưa cổ con từ tai này qua tai kia, banh bụng con nhét lưu huỳnh vào mà đốt, con xin chịu tất cả những hình phạt đau đớn trên trái đất và linh hồn con sẽ bị quỷ sứ dưới địa ngục hành hạ đời đời!” [Bản dịch của Thái vân, Gia Tô thực dân sử liệu của Chu Văn Trinh, Văn Sử Ðịa 1990, in lần thứ ba. Ban Tu thư Tự lực, trang 255-257).[12]

Nếu so sánh một phần nhỏ của lời thề trên với những gì Cha công kích mạt sát Khổng giáo, Lão giáo, Phật giáo và truyền thống thờ cúng ông bà tổ tiên trong cuốn Phép giảng tám ngày, thì việc thóa mạ các tôn giáo ấy vẫn còn quá ít.

Sử liệu cho thấy Linh mục A. de Rhodes gia nhập Dòng Tên lúc 19 tuổi (1612), ông đến Macao năm 1623, đến Quảng nam và Thuận Hoá cuối tháng 12.1624. Ông ở Việt Nam khoảng sáu đến tám năm. Trong suốt thời gian này, Cha Ðắc Lộ không bị dứt phép Thông công, không bị khai trừ ra khỏi Giáo hội, nghĩa là Cha vẫn theo Dòng Tên.

Với sứ mạng của một giáo sĩ Dòng Tên mà Linh mục A. de Rhodes (Ðắc Lộ) đã thề, thì chữ "soldat", có thêm một lý do nữa, không thể nào dịch là “lính thừa sai” (tức giáo sĩ) được mà phải dịch là lính chiến, và cụm từ "la conquête de tout l’Orient" cũng không thể dịch là “nước cha trị đến” mà phải dịch là đến thống trị phương Ðông.

6. Tại sao chúng ta sai lầm?

Qua năm phần trình bày trên, tôi thấy bất cứ ai có cái nhìn khách quan cũng không thể nói là linh mục A lexandre de Rhodes không có thâm ý kêu gọi chính phủ Pháp xâm chiếm nước ta bằng chính trị và vũ lực, và hai cụm từ "plusieurs soldats" và "la conquête de tout l’Orients" cũng không thể hiểu theo nghĩa ẩn dụ là lính thừa sai và nước cha trị đến được.

Nhưng tại sao qua cả hai cuộc hội thảo tại Việt Nam năm 1992 và 1993 có hằng trăm sử gia, học giả và những vị khoa bảng cao cấp lại đưa đến những quyết định sai lầm trầm trọng đến thế? Sai lầm tầm trên cỡ quốc gia? Theo tôi, nhiều hội thảo viên, mặc dầu là những nhân vật khoa bảng nhưng thiếu sử liệu, nhất là thiếu một cuốn sử liệu quan trọng bậc nhất. Ðó là cuốn Hành trình và truyền giáo. Thật vậy, sách do Hồng Nhuệ dịch và chỉ mới được xuất bản lần đầu (?) tại Việt Nam năm 1994, mà hai lần hội thảo thì được tổ chức vào các năm 1992 và 1993. Riêng giáo sư Chương Thâu, và nhất là linh mục Hồng Nhuệ là hai người, tôi nghĩ, biết rất rõ về Ðắc Lộ, vì hai vị có trong tay cuốn tư liệu này. Hơn nữa, linh mục Hồng Nhuệ còn đỗ tiến sĩ Thần học về phân tích cuốn Phép giảng tám ngày  của Alexandre de Rhodes, và cũng là dịch giả cuốn Hành trình và Truyền giáo nói trên. Nhưng vì tình cảm tôn giáo hay một lý do riêng tư nào đó, hai ông đã tranh biện với những hội thảo viên, không có tài liệu, để bênh vực một cách rất sai lầm về Ðắc Lộ. Giáo sư Chương Thâu, thay vì trích dẫn đầy đủ cả ba đoạn quan trọng trong hơn một trang sách (trang 263 & 264) thì chỉ trích một đoạn (trang 263) mà thôi. Như vậy, Giáo sư Chương Thâu không những đã phạm vào cái lỗi mà ông phê bình Giáo sư Hoàng Tuệ, là “Trích không trọn câu đủ ý,” lại còn biện bạch và khuynh chế các hội thảo viên để “đưa ra nhiều kiến nghị với các cấp có thẩm quyền... nhằm khôi phục vị trí ‘xng đáng’ cho linh mục A. de Rhodes”. [Hệ quả của vấn đề là một đất nước từng tự hào, một cách có thực, có bốn ngàn năm văn hiến và đánh thắng ba cường quốc vĩ đại của thế giới lại đi vinh danh một người không những bất xứng mà là một gián điệp ngoại bang làm hại đất nước ta!]

Tóm lại, qua sáu luận điểm nêu trên, chúng ta thấy, với Linh mục Ðắc Lộ, truyền đạo chỉ là một trong những bước đầu để biến những người dân thương yêu tổ quốc thành nhng kẻ ly khai với xứ sở, và việc kêu gọi chính phủ Pháp xâm chiếm nước ta để vừa làm nhiệm vụ một tông đồ truyền giáo vừa làm nhiệm vụ một công dân yêu nước (Pháp).

Vì thế, không phải vô cớ Cha Ðắc Lộ bị Chúa Trịnh, Chúa Nguyễn và cả chính quyền Trung Quốc đuổi ra khỏi nước.

Khí cụ chữ Quốc ngữ

Ngoài ra, để góp ý về vai trò của chữ Quốc ngữ trong lịch sử văn hóa nước ta, tôi xin trích những đoạn nói về mục đích của chữ Quốc ngữ trong sách lược chính trị của Giám mục Puginier. Dẫu Giám mục Puginier không sống đồng thời với Cha Ðắc Lộ, nhưng chiến lược lịch sử thì giống nhau, vì đây là một trong những công cụ đã được sáng chế bởi những Giáo sĩ đi trước Giám mục Puginier.

Mục đích việc sử dụng chữ Quốc ngữ của Giám mục Puginier[13]:

“‘Từ lâu, tôi chủ trương dạy và dùng chữ Châu Âu để viết tiếng An Nam, nhưng khốn thay, tôi không được ủng hộ trong việc thực hiện kế hoạch mà đã sáu lần tôi đề nghị. Nhưng tôi sung sướng thấy từ hai năm nay, chúng ta hoạt động tích cực trong mục đích này: Ngoài trường dạy tiếng Pháp của phái bộ là trường đầu tiên được thiết lập ngày 8-12-1884, chính phủ còn lập nhiều trường khác từ ngày 5-4-1885.

Cần phải dạy càng sớm càng tốt cho người An Nam viết và đọc được tiếng họ bằng chữ Âu Châu, việc này dễ hơn và tiện lợi hơn dùng chữ Nho. Trong vài năm sau, cần phải bắt buộc mọi giấy tờ chính thức không được viết bằng chữ Nho như trước nữa, phải viết bằng tiếng trong nước, mỗi viên chức ít nhất phải được dạy đọc và viết tiếng An Nam bằng chữ Châu Âu. Trong lúc đó, việc dạy chữ Pháp sẽ tiến triển nhiều hơn và chúng ta chuẩn bị một thế hệ để cung cấp các viên chức có học tiếng nước chúng ta. Như thế có lẽ trong vòng 20 hay 25 năm, chúng ta có thể bắt buộc mọi giấy tờ đều viết bằng tiếng Pháp, do đó chữ Nho sẽ dần già bị bỏ rơi mà chúng ta chẳng cần phải cấm đoán gì.

Khi chúng ta đạt được thành quả lớn lao đó, chúng ta xóa đi của nước Trung Hoa một phần lớn ảnh hưởng tại An Nam và phe trí thức An Nam là phe rất căm ghét sự thiết lập thế lực Pháp, cũng sẽ bị tiêu diệt dần dần.

Vấn đề này có tầm quan trọng rất lớn, sau khi đạo Thiên chúa được thiết lập, tôi xem việc tiêu diệt chữ Nho và thay thế dần dần ban đầu bằng tiếng An Nam, rồi bằng tiếng Pháp như là phương tiện rất chính trị, rất tiện lợi và rất hiệu nghiệm để lập nên tại Bắc Kỳ một nước Pháp nhỏ ở Viễn Ðông.’

Ngoài việc Thiên chúa giáo hoá xứ này và xóa bỏ chữ Nho, Giám mục Puginier còn đề nghị một số biện pháp thực tế khác để cũng cố nền thống trị Pháp ở Bắc kỳ: Cho định cư tại ven biên giới Việt Nam, tiếp cận Trung Hoa, các nhóm dân thân hữu và trung thành với nước Pháp, sử dụng các dân tộc ít người trong công việc bình định, đào tạo một đội quân Pháp theo mẫu quân đội Ấn Ðộ xưa kia, tạo lập một nông trại kiểu mẫu do tu sĩ Dòng Luyện Tâm đảm đương, giảm bớt chi phí và thuế má để chinh phục (lòng quý trọng và thương yêu) của dân chúng… (Hiện nay dân miền thượng bị lỗi đạo cũng nằm trong kế hoạch này, BK)

Giám mục kết luận:

‘Tôi đã làm việc gần 30 năm trong phái bộ và tôi biết khá nhiều về đất nước này để bảo đảm được rằng nếu chính phủ chấp thuận theo kế hoạch mà chúng tôi hân hạnh đưa ra, thì không bao lâu nữa Bắc Kỳ sẽ thành một nước Pháp nhỏ ở Viễn Đông mà tôi một lòng tha thiết muốn xây dựng.’

Là giám mục Hà nội, người cầm đầu phái bộ lớn nhất ở Bắc Kỳ đã giúp rất nhiều cho đoàn quân chiếm đóng Pháp nhờ sự hiểu biết rộng lớn về đất nước này, Puginier lúc nào cũng là vị cố vấn được nghe theo nhiều nhất, là kẻ hợp tác mà giới chức Pháp luôn tôn trọng. Tóm lại, ông ta là Laviegerie ở Ðông Dương.

Trong một “văn thư dành cho bộ trưởng” đề ngày 4-4-1884, Puginier được kể như là kẻ góp phần nhiều nhất cho cuộc xâm lăng Bắc Kỳ:

‘Trong thư từ chính thức của thiếu tá Rivière và những người kế tiếp ông ở Bắc kỳ, Giám mục Puginier thường được nêu lên vì đã có những phục vụ lớn lao cho nước Pháp. Nhờ sự hiểu biết đầy đủ của ông ở xứ này, nhờ có nhiều tin tức do thám do các tín đồ Thiên chúa giáo Bắc Kỳ cung cấp mà bộ tổng tham mưu đã có thể nhận nhiều thông tin về xứ này, như về đường sá ở Sơn Tây, Bắc Ninh, Hưng Hoá… chính nhờ có các chỉ điểm đó mà chúng ta tìm được chiếc đầu của thiếu tá Rivière cùng các bạn đồng đội không may của ông. Ở đây tôi không nói đến vai trò chính của chính trị mà giám mục đã đóng từ khi chúng ta đến Bắc kỳ. Thất vậy, ông đã nghe theo tiếng gọi vừa là quyền lợi của người lãnh tụ đạo Thiên chúa, vừa là tình cảm yêu nước, và chính phủ có thể đi đến chỗ không tán thành hết mọi hoạt động của ông, nhưng ngoài những nhận xét đó ra tôi thấy dường như khó khăn mà bỏ qua, không nói đến công việc đặc biệt mà Giám-mục Puginier đã giúp cho đoàn quân chiếm đóng.’”

Gậy ông  đập lưng ông

Ðoạn trích sau đây là của giáo sư Trần Chung Ngọc, tiến sĩ vật lý tại Hoa kỳ, đăng trên Vietnet, cho thấy các bậc cha ông chúng ta đã biết sử dụng “Vũ khí Việt ngữ” của thực dân chế tạo để giải phóng đất nước như thế nào:

“Những nhà cách mạng như Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu… nhận ra tầm quan trọng của công việc mở mang dân trí và cổ xuý việc truyền bá Quốc ngữ, do đó Hội Truyền bá Quốc ngữ mới ra đời vào thập niên 1930 và dù thực dân Pháp và các Cha cố Thiên chúa giáo muốn cản cũng không được. Sự phát triển Quốc ngữ cho tới ngày nay là do công ơn của hai cụ Phan dùng đòn (gậy ông đập lưng ông) dùng Quốc ngữ để mở mang dân trí người Việt, xuất bản báo chí bằng chữ Quốc ngữ để phổ biến tinh thần cách mạng Pháp năm 1789, và khẩu hiệu “Tự do, Bình đẳng, Tình Huynh đệ” thường được dịch thoát là “bác ái” (Liberté, Egalité, Fraternité) và từ đó các phong trào cách mạng đã lan rộng trong quần chúng chủ nghĩa thực dân Pháp phải cáo chung tại Việt Nam.”

Sự sáng tạo ra chữ Quốc ngữ với những mục đích đen tối hiển nhiên không phải là để giúp người Việt mở mang đầu óc, nhưng ông cha chúng ta đã dùng nó làm một vũ khí để khai phóng dân tộc. Vậy chúng ta nên biết ơn ông cha chúng ta hay biết ơn kẻ tạo ra nó với những ý đồ đen tối?

Một tên giặc tới nhà chúng ta tạo ra một vũ khí để dễ bề quyến rũ con em nhẹ dạ theo chúng phản lại tổ tiên, chúng ta dùng ngay vũ khí đó để mở mang đầu óc của tất cả những người ở trong gia đình, nhờ đó mà gia đình chúng ta bảo vệ được truyền thống luân lý đạo đức của gia đình, bảo toàn gia tài của tổ tiên khỏi bị cướp đi. Vậy chúng ta nên nhớ ơn những người trong gia đình có sáng kiến dùng ngay vũ khí của địch để đánh địch, hay nên nhớ ơn kẻ đã mang vũ khí đến nhà chúng ta để cướp đi của cải và gây bất hoà trong gia đình chúng ta?

Tôi hi vọng vấn đề công và tội của Alexandre de Rhodes nay đã sáng tỏ.

Tôi xin kết thúc bài viết với ý kiến cuối cùng sau đây.

Dân tộc ta có truyền thống ghi công và biết ơn anh hùng liệt nữ đã đóng góp cho tổ quốc. Và chúng ta thể hiện lòng biết ơn đó qua các biểu hiện vật thể hoặc phi vật thể để vinh danh những vị đó bằng các ngày lễ, đặt tên trường, công viên, đường phố.

Quan trọng hơn, chúng ta phổ biến trung thực và đầy đủ dưới mọi hình thức những công trình và công trạng của những vị này. Nhưng chúng ta cũng không quên những kẻ có tội với đất nước mà tên tuổi và những tội trạng cũng được nghiên cứu để ghi vào sử sách cho người đời này và đời sau lấy đó làm bài học. Tiêu chuẩn lớn nhất để quy định công/tội là họ đã làm gì cho dân tộc và tổ quốc Việt Nam.

Về việc phiên âm tiếng Việt theo mẫu tự La tinh: đây là một công trình tập thể, trong đó có Linh mục Alexandre de Rhodes, nhưng ông chỉ là học trò của các giáo sĩ Bồ Ðào Nha, nhất là của Francisco de Pina.

Do đó, trong bảng ghi công (nếu muốn và cần) chúng ta nên để tên giáo sĩ Bồ Ðào Nha, Francisco de Pina trước tiên, kế đến là Barbosa (tác giả Từ điển Bồ Việt) và Amaral (Từ điển Việt Bồ). Tiếp theo là giáo sĩ Alexandre de Rhodes, các thầy đồ, sư sãi, nhiều trí thức Việt Nam,và sự đóng góp đắc lực và hữu hiệu của nhiều con chiên. Thêm vào đó, giáo sĩ Ðắc Lộ cũng có công thêm chữ La-tinh vào hai cuốn Từ điển Việt-Bồ và Bồ-Việt của hai giáo sĩ người Bồ để trở thành cuốn Từ điển Việt-Bồ-La [nhưng thay vì đề tên tác giả là ba người, linh mục Ðắc Lộ chỉ để tên riêng mình mà thôi]. Trong quá trình truyền đạo tại Việt Nam, ông cũng viết cuốn Phép giảng tám ngày bằng tiếng La-Tinh và tiếng Việt với mục đích để truyền đạo [trong cuốn sách này có những lời lẽ rất hung bạo, thiếu văn hóa, khinh mạn và thù hận những tôn giáo có mặt trước đó tại Việt Nam]. Nhưng ông cũng có tội lớn là cung cấp thông tin chiến lược, nhiều khi có ý đồ kích động, để vận động nước Pháp xâm chiếm lãnh thổ, kinh tế và khuynh loát chính trị nước ta.

Vậy từ cái công cái tội đó tôi xin đề nghị như sau: Dân tộc ta nên ghi công của Linh mục A. de Rhodes, vì qua tác phẩm dùng để truyền đạo, dân ta cũng lợi dụng được nó để cải tiến thêm chữ Việt phiên âm theo mẫu tự La-tinh. Và nên kết tội ông là kẻ gián điệp sớm nhất trong lịch sử xâm lăng của Tây Phương vào nước ta. Ông đã vào triều đình Pháp vận động để Pháp đánh chiếm nước ta. Hành động chính trị của ông là bước dẫn khởi cho gần một trăm năm nước ta bị Pháp đô hộ và hệ quả của nó vẫn còn di hại cho đến ngày nay.

Tên và tiểu sử của Linh mục cần được ghi lại trong chương trình giáo dục môn sử với đầy đủ công tội. Có như vậy, lịch sử mới rõ ràng, và việc ứng xử của chúng ta mới minh bạch, vì nếu ta không sòng phẳng với quá khứ thì tương lai sẽ không sòng phẳng với chúng ta.

Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu cuộc đời và sự nghiệp của Giáo sĩ Alexandre de Rhodes, tôi đã có dịp biết đến và/hoặc đối thoại với một số các nhà nghiên cứu khác, nên xin kết thúc bài viết bằng những lời tâm sự với quý vị đó:

a. Giáo sư Chương Thâu: Cuối tháng 7.1996, dưới bút hiệu Nguyễn Kha, tôi có viết bài “Góp ý với giáo sư Chương Thâu về vai trò của linh mục Alexandre de Rhodes và nguồn gc ch Quốc ngữ” để biện chính với Giáo sư về bài viết của ông đăng trên Hiệp Nhất. Từ đó đến nay đã 10 năm, nhưng chưa thấy giáo sư viết bài phản biện để bênh vực quan điểm của mình hay thừa nhận có sự sai sót trong lúc nghiên cứu. Nhân dịp này, ước mong giáo sư lên tiếng. Hoặc đưa thêm chứng cớ cho quan điểm của giáo sư về Linh mục Alexandre de Rhodes, hoặc công khai xin lỗi các đồng nghiệp Viện Sử học, xin lỗi quí vị trong hai cuộc Hội thảo năm 1992 & 1993 mà tôi có nhắc đến trong bài viết này, nhất là xin lỗi Bộ Văn hóa và Chính phủ vì việc nghiên cứu thiếu chu đáo của giáo sư đã làm thương tổn đến không những cho ngành sử học nước nhà mà cho thể diện của quốc gia nữa.

b. Tiến sĩ Thần học Linh mục Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên: Xin đề nghị cũng nên có lời xin lỗi cố giáo sư Hoàng Tuệ, vì sau khi bài tham luận của ông (đăng trên tờ Tuổi Trẻ với tựa đề “Ai làm ra chữ Quốc ngữ”) nêu lên những nghi ngờ chính đáng về quan điểm chính trị của A. de Rhodes thì liền bị Linh mục viết bài mạt sát, mang tính đối đầu chứ không phải đối thoại, bằng những lời lẽ kém văn hóa như “ngu, dốt”. Những từ này được lặp đi lặp lại đến 15 lần trong một bài viết ngắn (đăng trên tạp chí Ngày nay<