
Vài lời của Giao điểm: Đầu tuần này (16.5.06), mạng lưới
talawas có đăng bài viết của tác giả Nguyễn Hữu Liêm với tựa đề:
“Tính Không và Thượng đế: Từ thoái trào Phật giáo đến cao trào Tin
lành ở Việt-nam”, đã gây phản ứng thầm đến một số độc giả của
Giao điểm. Chúng tôi nhận được một số điện thư hỏi thăm riêng về
nhân vật Nguyễn Hữu Liêm. Điều đó chứng tỏ một số độc giả ở
ngoài nước Mỹ, chưa biết đến tác giả Nguyễn Hữu Liêm nhiều. Để tránh
sự ngộ nhận đáng tiếc, chúng tôi xin có đôi lời giới thiệu về tác
giả. Anh Nguyễn Hữu Liêm là một Phật tử, là một trong những người chủ
trương tạp chí Khai Phóng ở miền Nam California vào các năm 1980-81. Vốn là
trí thức trẻ năng động, có tư tưởng cải cách tôn giáo, nên trong thời
gian hợp tác với tạp chí Chấn Hưng Phật giáo (1983), tác giả đã mạnh
dạn đưa ra chủ trương “Nhị Bảo” (chỉ chú trọng đến Phật và
Pháp) để thay thế truyền thống Tam Bảo. Là một nhà hoạt động chính
trị và ưu tư sâu về đất nước, nên từng vận động hàn gắn vết thương
chiến tranh và thiết lập bang giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nhân đọc bài viết của Nguyễn Hữu
Liêm trên mạng lưới talawas nói trên, tác giả Trần Chung Ngọc cũng đã gởi
cho chúng tôi một bài viết phản hồi; tuy nhiên ông có trình bày riêng là
vì đã có dự định đi du lịch xa với gia đình trong một thời gian dài
(bắt đầu từ ngày 20.5.06), do đó ông chỉ có thể mạn phép tác giả và
độc giả được ghi những ý kiến bên cạnh bài viết của tác giả NHL.,
chứ không còn kịp thì giờ để viết thành một bài tranh luận. Chúng
tôi xin được đăng tải để rộng đường dư luận, và đồng thời xin lỗi
trước tác giả và độc giả về hình thức của bài viết phản hồi. (
Xin lưu ý: chữ màu đỏ nằm trong bracket [ ] là của tác giả TCN.] -Phụ trách web
[Nhân danh một người quen biết với
tác giả nhưng…công tư phân minh] [“Tính
Không” là một chân lý phổ quát. Muốn hiểu rõ quan niệm về “Tính
Không” của nhà Phật, cần phải có đôi chút trí tuệ để quán chiếu
và suy nghiệm. Vì “Tính Không”
không phải là… “Tính Không” như tác giả hiểu. Mặt khác, “Thượng đế” là một sản
phẩm tưởng tượng của rất nhiều dân tộc. [Xin đọc
A History of God của Karen Armstrong, A World Full of Gods của Keith
Hopkins, 1000 Faces of God của Rebecca Hind, hoặc In
God We Trust, But Which One? của Judith Hayes] Tin vào Thượng đế là tin
vào một cái gì không biết chắc có thực. Phải
chăng tác giả, qua đầu đề của bài viết, muốn nói là Trí Tuệ người Việt Lời nói đầu Trong khi Phật giáo càng ngày càng trở
nên một cao trào triết học và tâm linh (spirituality) cho giới trí thức
Tây phương thì Phật giáo Việt Nam (PGVN) đang đi vào thoái trào trên phương
diện tín ngưỡng (religion) đối với quần chúng Việt Nam [Quần chúng Việt Nam phải
chăng là nhúm người ở San Jose, nơi tác giả cư ngụ? Ai là người có thể viết thay cho “quần
chúng Việt A. Vấn đề đạo học cơ bản: Giữa Thượng Đế và Tính Không 1. Nhu cầu về một bản thể cho đức
tin [Nhu cầu của ai? Phật Giáo không có nhu cầu thuộc loại
này. Phật Giáo là con đường đi tới
giác ngộ, không phải là con đường đi đến đức tin, vì theo định
nghĩa thì đức tin (faith) là tin vào cái mà mình không biết chắc là có thực] Trong một bài viết mà tôi nhớ được của phái tu học Thanh Hải – sẽ nói tới sau – có đoạn, “Năng lực đời sống tâm linh phải hướng về một đối thể linh thiêng nào đó chứ không thể nói theo các tu sĩ Phật giáo là để đi tìm chữ Không được.” [Đây chỉ là phát biểu của Thanh Hải và không có mấy giá trị vì kiến thức về Phật Giáo của Thanh Hải rất hời hợt, không đáng kể. Chẳng có tu sĩ Phật Giáo nào nói là đời sống tâm linh là để đi tìm chữ không cả. Cư sĩ Phật Giáo cũng chẳng nói vậy hưống chi là tu sĩ Phật Giáo] Bỏ qua một bên về cách hành văn hay là sự kiện, chúng ta phải công nhận rằng đây là một đánh giá xác đáng [hoàn toàn không đúng, xác đáng ở chỗ nào, đối thể linh thiêng nào đó là một quan niệm rất mơ hồ] và là một lời kêu gọi hiệu năng cho một niềm tin về “một đấng tuyệt đối” nào đó [Hiệu năng nào đã khiến cho người Tây phương ngày nay sống như là không có Thượng đế, alias Đấng tuyệt đối, như Hội Đồng Giám Mục Âu Châu đã nhận định??] hướng về giới Phật tử đang khao khát một con đường tu đạo. [Thì Phật tử chẳng đang tu đạo rồi hay sao? Vậy còn phải tu đạo nào??? Tôi đề nghị tác giả nên thay cụm từ “giới Phật tử” v..v.. bằng một chữ “TÔI” (capital and bold) thì có lẽ chính xác hơn] Về mặt tín ngưỡng, tình trạng Phật
học hiện nay là sự kéo dài một sai lầm về giáo lý đạo Phật. [Tác giả có thể nói rõ giáo lý đạo Phật sai lầm
ở chỗ nào. Con người hiểu lầm giáo
lý đạo Phật hay tự thân Giáo lý đạo Phật sai lầm??] Ít nhất là trên phương diện truyền
đạt, hay là qua phương tiện chuyên chở của khái niệm và ngôn từ của
Phật giáo Việt, mà phần lớn mang nặng Hán ngữ [1] , đạo Phật vẫn là đạo
của “chữ Không”, của “vô ngã”, của “đời là bể khổ” được
sử dụng và hiểu bởi quần chúng như là của những phạm trù tiêu cực
và phủ định. [Đây là lý luận của Ki
Tô Giáo từ xưa để bài bác Phật Giáo. Vấn
đề chính là tác giả, cũng như Ki Tô Giáo, hiểu “không” là..”không”,
hiểu “vô ngã” là.. “vô ngã”, và hiểu “đời là bể khổ” là “đời
là bể khổ”. Tất cả những
quan niệm về “Không”, “Vô ngã”, và “đời là bể khổ” của Phật
Giáo tuyệt đối không phải những quan niệm tiêu cực hay phủ định. Hiểu ra thì đó là những quan niệm rất
tích cực, xác định và năng động. Phật
Pháp bất ly thế gian Pháp, chắc tác giả không biết đến ý niệm này
trong Phật Giáo. Cái gì đã khiến cho
“Thời đại Lý Trần bán vi Tăng” ba lần đánh đuổi được ngoại xâm??]
Với cảm nhận tiêu cực về
ngôn từ và khái niệm của Phật giáo qua ngôn ngữ Việt, đạo Phật chỉ
là hấp lực cho những con người thụ động, thiếu khả năng thích ứng với
cuộc đời, thiếu ý chí và khả năng sinh hữu với sự sống đầy thử
thách, khó khăn. [Đây
chỉ là những nhận định riêng của tác giả, phản ánh sự hiểu biết hạn
hẹp của tác giả, chứ không đúng với thực tế] Trong khi đó, Phật giáo phải là con đường của những con người có năng lực tâm thức cao, ý chí mãnh liệt và đời sống tâm linh dồi dào. Những ai thất bại với cuộc đời cũng sẽ thất bại trên con đường tu học. Cái khó khăn và thử thách cho một cuộc sống thế gian không thể so sánh với những khó khăn và thử thách của con đường tu Phật. Nhưng điều này thì ít khi được nhấn mạnh và làm sáng tỏ. Các buổi thuyết pháp bằng Việt ngữ thường chỉ nhấn mạnh đến các phương diện tâm lý học và các phương diện tiêu cực của cuộc đời. [Tác giả luôn luôn có luận điệu vơ đũa cả nắm, suy diễn từ sự hiểu biết hay kinh nghiệm rất giới hạn của mình, rồi tổng quát hóa thành vấn đề chung cho tất cả mọi người khác. Tôi cũng đã đi nghe thuyết Pháp không ít, nhưng không hề thấy như vậy.] Muốn có đời sống đạo, giáo lý nhà Phật không chỉ có dạy con người đổ bỏ cái ly rượu hiện hữu để tìm khoảng trống không, mà là phải thay thế chất liệu hiện hữu của cái ly cuộc đời hiện tại bằng một nội dung tinh thần mới. Vì thế, ngôn ngữ và khái niệm Phật giáo – như được truyền đạt bằng Việt-Hán ngữ hiện nay – chỉ có thể làm cho cá nhân bị trống vắng tinh thần thêm; trong khi đó, con người muốn rót đầy ly đã cạn của họ bằng một nội dung tích cực và thực hữu. Phật giáo Việt thất bại trên bình diện này. [Có vẻ như tác giả đang mang cái tinh thần trống vắng của mình áp đặt lên cái tinh thần sung mãn của các Phật tử khác trong đó có tôi. Tác giả cũng không biết rằng tất cả Kinh điển Phật Giáo đang được Việt hóa và ngày nay phần lớn kinh điển mà Phật tử đọc tụng là bằng tiếng Việt.] Phật tử không thể giảng đạo cho
người mới, hay là giữ được người Phật tử ở với đạo, nếu cái
được cống hiến là một ý chí và tâm thức phủ định. Họ cần niềm
tin, họ cần đối thể cho tinh thần, họ cần được thoả mãn năng lực
tình cảm của trái tim, [Sự khao khát của trái tim
thuộc loại phi lý trí khiến cho con người rất dễ đi vào ma đạo] chứ không phải là của tri thức
mà thôi. Cái điểm yếu của Phật giáo là nhấn mạnh về mặt trí thức
quá đáng – trong khi tôn giáo cho con người hiện nay vẫn còn là sự khao
khát của trái tim. Nói theo ngôn ngữ của Yoga thì Phật giáo chú tâm vào Raja
Yoga, nhấn mạnh về thiền định và trí tuệ, trong khi quần chúng Việt
Nam càng ngày càng thích hợp hơn cho Bhakti Yoga, vốn là về niềm tin,
như là của Thiên Chúa giáo và Hồi giáo. [Nhưng vấn đề chính là niềm
tin của Thiên Chúa Giáo và Hồi Giáo đã là cái mà thế giới Tây phương
cũng như Hồi Giáo đang từ bỏ dần dần vì nó không còn hợp với sự hiểu
biết của con người trong thời đại mới. Tác
giả cho rằng người Việt thích hợp với niềm tin của thời Trung Cổ ở
Tây phương hay sao?. Nếu tác giả đọc
những niềm tin của đám Lê Anh Huy, Nguyễn Huệ Nhật cùng Mục sư Trần
Long v..v.. thì tác giả sẽ thấy thực chất niềm tin của họ như thế nào. Nó thuộc loại mù lòa tin bướng tin càn. Trái tim Phật Giáo là trái tim lành mạnh. Còn trái tim của Thiên Chúa Giáo và Hồi
Giáo là trái tim có nhiều động mạch đã bị tắc. Hãy nhìn vào lịch sử đẫm máu của
Thiên Chúa Giáo cũng như Hồi Giáo thì sẽ thấy ngay sự khác biệt này] 2. Vấn đề khái niệm và biểu tượng
Thượng Đế trong Phật giáo [Trong Phật Giáo không có
khái niệm mà cũng không có biểu tượng thượng đế. Như trên đã nói, Phật Giáo, cũng như khoa
học, đơn giản là không nói đến thượng đế] Một số các Phật tử Việt, thấm
nhuần ngôn ngữ giáo lý truyền thống, hễ khi nghe đến hai chữ “Thượng
Đế” là họ có một sự phản ứng thuần máy móc và tiêu cực. Dĩ nhiên
là Phật giáo không sử dụng và không công nhận khái niệm Thượng Đế
như là của Thiên Chúa giáo hay là Hồi giáo. Nhưng điều đó không có nghĩa
là Phật giáo phủ nhận sự hiện hữu của một tính thể hay là một
nguyên tắc siêu việt mang tính chất chủ thể cho hiện tượng. [Tác giả có thể giải thích
rõ và chứng minh điều này không?? Vậy
chủ thể của hiện tượng Katrina là cái gì?
Cái nguyên tắc siêu việt nào đã mang tính chất chủ thể cho
những hiện tượng như động đất, bão lụt, chiến tranh, bệnh tật, trẻ
sơ sinh thành quái thai, bệnh AIDS, cúm gia cầm và hàng trăm thứ tai hại khác
cho nhân loại??] Có thể nói rằng, Phật giáo là một
nỗ lực cải cách, hay là một cách mạng về khái niệm, một cao trào
thay đổi tư duy về thực tính và bản thể (a reconceptualization of the
metaphysical ontology). [Đừng có mang những lý luận
triết học vớ vẩn để áp đặt trên Phật Giáo. Phật Giáo vốn đã không có concept về
metaphysical ontology, vậy làm gì có cái gọi là reconceptualization (không phải
là thay đổi tư duy mà là tái đặt quan niệm trên…] Phật
giáo không công nhận khái niệm Thượng Đế như là một nhân thể sáng thế
(a personal creator God). Đức Phật phủ nhận khái niệm và từ chối thảo
luận về câu hỏi Thượng Đế trên bình diện bản thể luận [Tác giả viết cho ai đọc
đây? rất mâu thuẫn với câu đầu: nỗ
lực… thay đổi tư duy về thực tính của bản thể] và giữ thái độ im lặng trước vấn
nạn này là vì các lý do thuần khế cơ thực nghiệm, ngôn ngữ và văn hóa,
trước nhu cầu giải phóng ngôn từ đạo học ra khỏi ảnh hưởng nặng nề
và phản tiến hóa của Hinduism phổ thông ở thời đó, nhất là với
tinh thần tôn thờ mù quáng vào đối thể Thượng Đế của người Ấn giáo.
[không chỉ là thượng đế của
Ấn giáo mà cũng là thượng đế của Ki Tô Giáo, Hồi Giáo, và Do Thái
Giáo hay bất cứ thượng đế sáng tạo nào khác] Khi ngôn ngữ và tri thức hữu hạn không thể định nghĩa hay khái niệm hóa Thượng Đế được [Không hẳn vậy! Vì theo sách National Catholic Almanac, 1968, trang 360, của Công Giáo La Mã , chúng ta có một ông thượng đế với 23 thuộc tính (23 attributes): “Phép tắc vô cùng, vĩnh hằng, thánh thiện, bất diệt, bao la mênh mông, không bao giờ thay đổi, không thể hiểu được, không thể mô tả được, vô tận, vô hình, công chính, thương yêu, nhân từ, cao nhất, khôn ngoan nhất, toàn năng, toàn trí, có mặt khắp nơi, nhẫn nại, toàn hảo, cung cấp tinh thần và vật chất cho con người, tối cao, chân thật” (almighty, eternal, holy, immortal, immense, immutable, incomprehensible, ineffable, infinite, invisible, just, loving, merciful, most high, most wise, omnipotent, omniscient, omnipresent, patient, perfect, provident, supreme, true.) Nhưng rồi người ta vẫn nói ý của thượng đế thế này, thế nọ] thì đức Phật đã im lặng trước các câu hỏi về vấn đề này. Thượng Đế là cái không thể nghĩ bàn - và nó chỉ được nói đến như là một tính thể phủ định “không phải vậy, không phải thế.” Tuy vậy, nếu chúng ta đọc các kinh
như Lăng Nghiêm (Surangama) hay Lăng Già (Lankavatara) thì sẽ thấy rằng, bằng
một phương án giáo pháp mới, đức Phật đặt nền tảng bản thể luận
vào một thể tính Tâm thức Tuyệt đối, (a state of Absolute Consciousness, the
Mind Essence), mà chúng ta có thể gọi là Chân Nguyên, Phật tính, Tánh
Biết Thường Hằng, Chân Tâm. [Có vẻ như tác giả không
hiểu “bản thể luận” của Ki Tô Giáo cho nên đã viết bừa là đức
Phật đặt nền tảng bản thể luận vào một thể tính Tâm thức Tuyệt
đối, còn được gọi là Chân Nguyên, Phật tính, Tánh Biết Thường Hằng,
Chân Tâm. Theo “bản thể luận” của Thánh Anselm thì “Thượng đế là
một cái gì đó mà không có gì có thể vĩ đại hơn mà con người có thể
quan niệm được” {God as something than which nothing greater can be
conceived}. Chân Nguyên, Phật tính, Tánh
Biết Thường Hằng, Chân Tâm là những gì con người có thể đạt được
bằng sự tu tập chứ không phải như là một thượng đế như trong “bản
thể luận” của Anselm ] Chưa bao giờ Phật giáo đặt bản thể vào cái gọi là “Tính Không” (Sunya). Tính Không chỉ là một khái niệm thuộc về phạm trù phủ định trong sự thảo luận trên bình diện hiện tượng. [Tính không không phải là một khái niệm phủ định mà là một khẳng định về thực tính của vạn Pháp] Tính Không không phải và không thể là một đối tượng cho đời sống tâm linh hay là cứu cánh cho lòng khát khao của cái ly trống tinh thần. Tiếc rằng rất nhiều trí thức Phật giáo bị đi vào mê hồn trận của ngôn ngữ để rồi chấp nhận Tính Không như là một bản thể để hướng về. [Tính không không phải để chấp nhận mà là phải thấy; Thấy được Tính Không, hội nhập vào Tính Không là thấy được Phật Tánh] Nhìn lại bản thể luận về một
tính thể chân nguyên, cái “Chân không diệu hữu” của Phật giáo, nó
có một vấn đề trên bình diện khế cơ. Nó thỏa mãn nhu cầu tri thức
như là một sự ký thác của khái niệm trên một phạm trù triết học, [sai rồi, diệu hữu là mặt
thực hành khi con người hiểu được thế nào là chân không, chứ không phải
là một khái niệm hay phạm trù triết học.
Triết học là một bộ môn mà những triết gia nói lên những
điều mà chính họ cũng không hiểu là họ nói cái gì, tương tự như thần
học] chứ nó không đáp
ứng được năng lực khao khát tình cảm của con tim. [Cũng lại sai luôn, vì diệu
hữu phát xuất từ chính con tim] Tôn giáo phải là một vấn đề của
tâm linh, vượt qua trí thức, để đi vào cõi linh thiêng; [cõi linh thiêng là cõi nào?
và thế nào là linh thiêng?] do đó, nó phải có năng lực đức
tin. Mà đức tin thì phải có một đối tượng của nó, một đối thể thực
hữu - ít nhất là trên phương diện biểu tượng - chứ không thể là một
phạm trù phủ định được. [Tác giả đã từng bao giờ
đọc Kinh Kalama của Phật Giáo chưa. Theo
định nghĩa, đức tin [faith] là tin vào một cái gì không chắc có thực] Con đường đi đến kinh nghiệm linh thiêng và huyền diệu của cái Hữu trong Tâm Phật bắt đầu bằng con lộ của ngôn ngữ và biểu tượng. Vì thế mà Phật giáo có tượng Phật, có kinh nhật tụng, có tăng ni, có nghi thức. [Diệu hữu trong Phật Giáo tuyệt đối không phải là những thứ này] Đối với quần chúng Phật tử bình dân ngày xưa thì hệ thống biểu tượng này là vừa đủ cho họ. Nhưng nay thì hệ thống biểu tượng này đã trở nên nhàm chán và trống rỗng. [Thật vậy sao? Nhàm chán và trống rỗng đến độ Tây phương đang dần dần bỏ truyền thống qui thần của họ để đi vào cái nhàm chán và trồng rỗng này? ] Còn với trí thức [trí thức nào?? trí thức như tác giả??], khi họ nhìn xuyên qua hệ thống biểu tượng của Phật giáo Việt theo truyền thống Hán Việt thì họ không còn thấy gì cao hơn nữa mà chỉ là một khối lý luận hỗn độn, không minh, không linh, và mang nặng tính chất phủ định. [Tác giả đem cái thấy của bản thân để áp đặt lên cái “không thấy” của tất cả giới trí thức] Cái khuyết điểm lớn cho khái niệm “Thượng Đế” hay “Chúa Trời” trong các tôn giáo có nguồn gốc từ Do Thái giáo là sự nhân cách hóa và khách thể hóa tính thể này - một ý nghĩa về một tên gọi và biểu tượng thiếu sót và sai lạc vì nó bỏ quên “chiều sâu thượng đế” bên trong mỗi cá nhân. [thượng đế là cái không ai có thể định nghĩa được, đó là đối tượng để tin, cho nên nói đến chiều sâu thượng đế là nói đến cái nông cạn thượng đế] Hãy nhớ rằng trong Tân Ước, Chúa Jesus đã tuyên bố, “Một điều đã được viết rõ ràng trong luật đạo (Psalm của Do thái giáo) [Psalm là Thi Thiên, một mớ những lời rên rỉ, không phải luật đạo] mà ta muốn nói, ‘Các ngươi đều là thượng đế (gods)’” (John 10). [gods ở trong Psalm và trong John 10 không phải là thượng đế, mà chỉ là các judges, tác giả nên đọc lại Kinh Thánh đi] Lịch sử của Thiên Chúa giáo là một quá trình lẫm lẫn về ý nghĩa của Thượng Đế. Hãy đọc các bản dịch Tân Ước bằng Việt ngữ thì sẽ thấy được sự nhầm lẫn cơ bản này [2] . [Họ không có lầm đâu, vì nguyên thủy đó là Thượng đế của dân tộc Do Thái rồi nền thần học Ki Tô Giáo đôn lên làm Thiên Chúa của cả nhân loại với những thuộc tính rất mơ hồ] Chúng ta không thể lấy cái sai lầm để đo lường chân lý được. Nhưng đối với một trình độ tiến
hóa [hay tụt hậu?] tâm linh cho khối nhân loại (sic)Việt Nam, cái tên gọi Thượng Đế này
phải mang tính chất của một “Ngài”, một “Đấng”, với những tính
chất con người. Người Phật tử Việt chưa bao giờ từ bỏ cái vế của
“ông Trời” khi nói về tính thể này trong ngôn ngữ “Trời-Phật” của
họ. Dĩ nhiên, chữ Trời này không phải là “Chúa Trời” của Thiên
Chúa giáo. Chữ Trời của Việt ngữ là một cách nói về một đối thể
của niềm tin, vốn là cần thiết. [Niềm tin vào cháu của con
cóc (con cóc là cậu ông Trời), hay đứa trẻ (trẻ tạo hóa)??]. Nó
gần với chữ Đạo, chữ Thiên, chữ Tạo hóa. Nó có một sự dung thông,
hòa nhập, giữa Ta với Trời, có Trời và cũng có Ta - chứ không phải
cái ta cá thể chỉ là một thuộc tính được sáng tạo bởi một nhân
cách được biểu tượng trong truyền thống của các tôn giáo gốc Do Thái
(Abrahamic religions). Chữ Trời bình dân của Việt ngữ chưa hề trở nên
là một biểu tượng nhân cách hóa cho một đối thể thực hữu với những
mệnh lệnh đạo lý chắc nịch buộc con người phải lắng nghe. Mà con người
bình dân Việt Nam thì cần có một đối thể đầy nhân cách, với một hệ
thống ngôn từ mệnh lệnh chắc mãn, tích cực, chủ động và bắt buộc
một tâm ý phục tùng vào một đối thể đầy linh thiêng, đầy khả năng
ban phát ân huệ và trừng phạt cho họ. [Xưa nay nhân định thắng
Thiên cũng nhiều] Họ cần
một vị cha già nghiêm khắc, nhưng đầy yêu thương và công bằng, để họ
tin và yêu, để họ cầu nguyện, để họ kêu lên. [Nghĩa là một thượng đế
theo như sự giải thích nhảm nhí, đầy mâu thuẫn của ki Tô Giáo??] Truyền thống Phật giáo cho họ biểu
tượng Quán Thế Âm của trái tim từ bi, của A Di Đà cho trí tuệ siêu việt,
của Đại Thế Chí cho ý chí sinh hữu, cho Di Lặc của một niềm vui
khoáng đạt. Nhưng biểu tượng của Phật Thích Ca Mâu Ni vẫn còn nằm
trong cõi hữu hạn của khả thể linh thiêng con người, cái tột đỉnh của
tiến hóa tâm thức, nhưng chưa phải là một đối thể “Cha già” của một
ông Trời đầy mầu nhiệm và kỷ luật. [Đối với người Việt Quần chúng nào thì biểu tượng đó,
tâm thức nào thì tôn giáo đó. Tất cả chỉ là “cửa đi vào” Đạo dành
cho một bản chất con người theo từng thời đại, từng hoàn cảnh, từng
khối nghiệp duyên. Ngôn ngữ và biểu tượng là những tiếng chuông đánh
thức. Chúng chỉ có tác dụng đến một mức độ nào đó, một thời gian
giới hạn. Tới lúc mà Thời quán tâm thức đã chuyển tiếp, thì tiếng
chuông cũ nay trở nên tiếng nhạc ru ngủ, thay vì tỉnh thức, ngôn ngữ cũ
không còn ý nghĩa tác động tâm thức, biểu tượng cũ nay trở nên quen
thuộc và nhàm chán. [Đây chính là những điều
mà Ki Tô Giáo đang đối diện, trong khi tiếng chuông Phật Giáo đang đánh
thức nhân loại. Đại lễ Phật Đản
do Liên Hiệp Quốc tổ chức ở Thái Lan vừa qua là một chứng minh] Có phải Phật giáo Việt Nam, qua hệ
thống biểu tượng truyền thống, với phong thái tăng ni và hình thức nghi
lễ xưa nay, với hệ thống ngôn ngữ Hán Việt, ngày nay đã mất hết chất
men tinh thần - như tiếng chuông đã không còn mang âm hưởng, như muối đã
hết mặn, như rượu đã hết chất men, đường không còn vị ngọt? [Không phải đâu là không phải
đâu. Phật Giáo không cần đến chất
men tinh thần. Chất men làm cho con người
mê mẩn, đó là chất mà ngoại đạo thường dùng để dụ người vào đạo. Nhận định trên của tác giả có phải
là phiến diện không? Tất cả chỉ là một loạt những khẳng định vô
trách nhiệm, vì không dựa trên bất cứ một cơ sở nào, thuần túy chỉ
dựa trên thiên kiến cá nhân. Nhìn những
hình ảnh về Đại Lễ Phật Đản vừa qua ở Việt 3. Đến những đồng cỏ Đạo mới: từ Lương Sĩ Hằng, Thanh Hải đến Osho [Đây là những nhân vật không đáng bàn đến] Từ sự phân tích sơ khởi và tổng
quát trên, chúng ta có thể suy luận ra được nguyên nhân nào mà một số
đông trí thức Phật tử Việt ở hải ngoại đang đi vào những trường
phái tu học khác mang màu sắc Phật giáo - nhưng nhấn mạnh đến hai khái
niệm Thượng Đế và linh hồn. Trường hợp của phái Vô Vi của Lương
Sĩ Hằng, phái Khai Ngộ của Thanh Hải hay là những bài giảng giáo lý của
Osho là những thí dụ điển hình. Kinh sách của phái Vô Vi nói, “Linh hồn cá nhân là điểm linh quang của Thượng Đế cho xuống trần gian để học hỏi tiến hóa. Vì linh hồn thì rất thanh mà cõi trần thì trọng trược, nên nó phải đầu thai vào xác thân con người cho hợp với khí chất cõi trần. [Khoa học ngày nay đã phủ nhận sự hiện hữu của một linh hồn, và Phật Giáo cũng đã phủ nhận quan niệm về một linh hồn đầu thai vào xác thân] Khi xuống trần, vì mê trần, nhiễm trần, con người phạm tội và gây nhân tạo quả xấu từ vô số kiếp nên phải luân hồi mãi. Vì vậy mà cần phải tu hành hầu trở nên hoàn thiện, trở về hưởng phước trên Thiên Đàng, [làm gì có Thiên đàng mà hưởng phước trên đó??] giải thoát ra khỏi luân hồi”. Hay là, “Nếu nói diệt dục được
ngay là nói láo, trên thực tế khó mà làm được. Pháp lý Vô Vi nầy
không có khuyên bảo hay ép buộc người tu hành diệt dục, mà hãy để cho
họ, nhờ công phu luyện đạo, một ngày kia sẽ tự diệt lấy, gần như là
tự động một cách dễ dàng, chứ không gò ép khổ sở”. Hay, “Người
tu mà không có minh sư đắc đạo dẫn dắt, mà chỉ dựa vào kinh sách,
thì khó mà đạt được kết quả”. Chúng ta thấy một tập hợp ngôn ngữ
vừa siêu hình, vừa biểu tượng thực dụng, nói về một lãnh vực siêu
nghiệm mà người nào không chia sẻ được thì phải cho là mê tín. Đây
chỉ là ngôn ngữ của niềm tin vào huyền bí hơn là của lý trí nghiệm
thực. Bà giảng, “Tôi không theo đạo Phật hay Thiên Chúa. [Vậy pháp tu Quán Âm từ đâu mà ra? Lấy của đạo Phật rồi giảng láo về pháp tu này] Tôi theo đạo sự Thật và rao giảng sự Thật. [Sự thật nào?? Pháp tu Quán Âm là sự thật? Truyền Tâm Ấn là sự thật? ] Bạn có thể gọi nó là Phật giáo, Công giáo, Lão giáo hay bất cứ gì bạn thích.” “Bất cứ bạn phải làm gì trên thế gian này, hãy làm đi, và làm một cách nhiệt thành. Hãy sống trong tinh thần trách nhiệm và nhớ hãy tu thiền mỗi ngày. Bạn sẽ phát huy kiến thức, thêm trí tuệ, được an lành, để mà phục vụ chính bạn và thế gian. Đừng quên là bạn có Thượng Đế ở trong bạn. Đừng quên là Thượng Đế nằm trong thân thể bạn. Đừng quên là bạn có Thượng Đế trong tim mình”. [Nhưng Thanh Hải không thể nói Thượng đế là cái gì. Nó có thể là lông rùa sừng thỏ, hoặc là một tế bào ung thư làm tê liệt đầu óc con người] Hay là, “Nói về ‘truyền tâm ấn’
nhưng thực ra chẳng phải là tôi truyền tâm ấn gì cho bạn, mà tôi chỉ
giúp bạn tự giúp lấy chính mình. [Thế thì hành động sờ đầu
đệ tử để gọi là truyền tâm ấn có hay không?] Tôi không đến đây để thu nhận bạn
làm đệ tử. Tôi đến để giúp bạn trở nên một thượng sư (master). Có
thể gọi là “rửa tội” (baptism) hay là “quy y”. (Tài liệu của tổ
chức Thanh Hải, Cả hai Thanh Hải và Sĩ Hằng đều khai động cái “Pháp phương tiện” của truyền thống Yoga Raja nhấn mạnh thiền định qua ngôn ngữ Phật giáo Hán Việt. Pháp phương tiện này được bổ sung bằng chủ thể Thượng Đế và bản sắc cá thể linh hồn. Nó đáp ứng được hai vế của con đường tu đạo của trí thức lẫn con tim. Người Phật tử hiểu rằng niềm tin vào một đối thể là cần thiết nhưng chưa đủ. Phải tự mình nỗ lực để khai mở chân Tâm. Nhưng khi đi trên con lộ của chánh Pháp, đức tin vào một Hữu thể tối hậu và vững chắc, với một cái Ta cần được cứu rỗi hay giải thoát, dù với khái niệm hay lý giải nào, là điều không thể tránh khỏi. Khi người trí thức Phật tử Việt [Trí thức Phật tử Việt
nào? Tác giả lấy tư cách gì để viết
thay cho trí thức Phật tử Việt để mà viết lăng nhăng như sau, tất cả
bắt nguồn từ sự khủng khoảng tư duy của chính tác giả] , với năng thức tâm linh khao khát
đi tìm, họ không còn chữ Trời để sống với, khi chữ Phật đã trở
nên thụ động, trống rỗng, và mất hết tác dụng linh thiêng và tỉnh thức,
họ sẽ phải đi theo những hệ thống ngôn từ và biểu tượng đạo giáo
mới. Khi mà cái trực cảm về cái “ta” cá thể cần phải nhận diện
qua khái niệm, khi mà một thực thể tuyệt đối cần phải được định
danh tích cực, khi mà cá nhân bị lạc lõng, mất niềm tin vào mình, vào đời,
vào khả năng chứng ngộ của rất đông tu sĩ, lạc lõng trong giáo lý truyền
thống vốn đã mất hết chất men, thì họ phải bám lấy chiếc bè của
ngôn ngữ biểu tượng của các giáo phái mới. [Tôi nghĩ, Lương Sĩ Hằng và
Thanh Hải là những người không đáng được nhắc đến trong một bài viết
thuộc loại này. Họ không phải là những biểu tượng để cho Phật tử
phải theo đó để mà thay đổi sự hiểu biết của mình về Phật Giáo] Hay là hãy đọc Osho: “Xin chào vị Phật bên trong bạn. Có thể bạn không biết điều đó. Có thể bạn chưa từng mơ tới điều đó - rằng bạn là một vị Phật, rằng bạn chỉ là bạn, mà không thể là bất kỳ cái gì khác; rằng Phật chính là cốt lõi, là trọng tâm của con người bạn, và điều đó không phải sẽ xẩy ra trong tương lai, mà đã xẩy ra rồi. Phật tính chính là cội nguồn từ đó mà bạn xuất phát, mà cũng chính là mục đích để bạn trở về”. Hay là, “Thế giới này chuyển vận trong chiếc bánh xe. Một vòng quay của nó được hoàn tất trong hai mươi lăm thế kỷ. Hai mươi lăm thế kỷ sắp tới, phần cuối của thế kỷ 20 này, đang sắp trở thành có giá trị vô cùng lớn lao. Nếu chúng ta có thể tạo ra đà trong thế giới cho việc thiền, cho cuộc hành trình bên trong, cho thanh bình, cho tĩnh lặng, cho tình yêư, cho Thượng Đế [Hai chữ thượng đế ở đây rất lạc lõng]. Nếu chúng ta có thể tạo ra một không gian trong hai mươi lăm năm sắp tới để cho Thượng Đế xẩy ra đến với nhiều nhiều người [Thượng đế đã đến với rất nhiều người ở Âu Châu và cũng đã bỏ rất nhiều người, ra đi không kèn không trống] thì nhân loại sẽ có sự sinh thành mới. Con người mới sẽ sinh ra.” Và, “Bánh xe mà Phật đã chuyển
nay đã dừng. Bánh xe phải được quay lại lần nữa. Và đó là công việc
của đời tôi và các bạn. Bánh xe đó phải được quay lần nữa.” Osho
nói. (Bát Nhã tâm kinh. Bản Việt ngữ của Vạn Sơn và Như Không,
California, 2002-03) Các yếu tố nào khiến Lương Sĩ Hằng,
Thanh Hải, Osho hấp dẫn trí thức Phật tử Việt [Lại trí thức Phật tử Việt] ở hải ngoại? Tóm tắt, tôi xin nêu
lên vài điểm chính: Trình độ chứng ngộ của các vị -
theo sự tin tưởng của các môn sinh. Các vị trên đều có một sức mạnh
về cá tính, charisma, có khả năng chinh phục các người theo học. [Như James Jones, David Koresh,
hay Jerry Falwell, Pat Roberson??] Trình độ trí thức, uyên bác, cập
nhật với thời đại, trình bày những phương án tu học phá chấp và
thích hợp với mẫu người trí thức Á đông đang sống ở Âu Mỹ. [mẫu người trí thức như
tác giả??] Đặt cơ sở đạo học
trên giáo lý kinh điển đạo Phật, nhưng Phiên giải kinh sách Phật học theo một
bối cảnh tư tưởng rộng lớn hơn, không chỉ giới hạn vào Phật giáo. [Thế này là thế nào? Phật Học không chỉ giới hạn vào Phật
giáo??] Sử dụng ngôn ngữ mới, trong sáng
và dễ hiểu và thông đạt được giáo lý nhà Phật, [có đúng là như vậy không? Giáo lý PG theo Lương Sĩ Hằng hay Thanh Hải?] nhất là Anh ngữ, và quan trọng nhất,
Bổ sung giáo lý đạo Phật với hai
khái niệm bản thể “Thượng Đế” và “linh hồn”. [Phật Giáo có cần bổ sung
bằng những khái niệm hoang đường này không?] 5. Tin lành hóa Phật học? Có một số Phật tử đổ lỗi và trách cứ là đạo này, đạo kia “quyến rũ” và “mê hoặc” quần chúng. Họ tố cáo các phong trào như Thanh Hải là một hiện tượng “Tin lành hóa” giáo lý đạo Phật khi có sự “nhập cảng” Thượng Đế và linh hồn vào giáo lý nhà Phật. Tôi chia sẻ và thông cảm tại sao có sự phản ứng này. Nhưng điều này cũng cần phải được minh định. Trước hết, đạo Tin lành là gì? Tiếng Anh là “Protestantism”, được dịch là đạo “Phản thệ”, hay là giáo phái “Phản đối” (lại giáo hội La Mã). “Tin lành” hay “Tin mừng” là dịch từ hai chữ “Good News”. Một cách chung và rất tổng quát thì đạo Tin lành là Thiên Chúa giáo trừ đi giáo hội La Mã (Christianity minus the Roman Catholic Church). [Không phải vậy. Giáo Hội La Mã bắt tín đồ phải tuyệt đối tin vào Kinh Thánh cộng với truyền thống của Công Giáo, nghĩa là những lời diễn giảng về Kinh Thánh của Giáo hội và những giáo lý của Giáo hội, còn Tin Lành thì tuyệt đối tin vào Kinh Thánh, không chỉ Tân ước mà thôi] Tinh hoa của giáo lý Tin lành là kinh Tân Ước, [Tân Ước là tinh hoa??] Thượng Đế là “Chúa Trời” của truyền thống Cựu Ước Do Thái, và Jesus là “con trai một” được đưa xuống trần thế hy sinh trên thập tự giá để cứu rỗi tội lỗi của nhân loại. Đức tin vào Jesus là cần thiết và đủ nhằm cứu rỗi linh hồn. Nếu đạo Tin lành là thế thì tôi không thấy đạo học của Lương Sĩ Hằng, Thanh Hải hay là Osho “Tin lành hóa” được. Thứ hai: Chữ Thượng Đế (God) mà
các vị trên sử dụng không có nghĩa là God (Chúa Trời) theo ngôn ngữ của
truyền thống tôn giáo Abraham. Khái niệm và chữ Thượng Đế (God) có một
lịch sử lâu dài và sâu rộng, từ trước khi Thiên Chúa giáo xuất hiện
và không phải chỉ ở Tây phương hay là Trung đông. Lịch sử Ấn giáo và
triết học Hy Lạp từ Socrates đến Plotinus, từ Ba Tư đến Ai Cập, cũng là
những lịch sử của khái niệm God với nhiều tên gọi và biểu tượng khác
nhau - nhưng chữ God tựu chung vẫn là chữ được quy nạp chung cho khái niệm
này. Ngay cả từ Allah của Islam (đạo Hồi) cũng được dịch sang Anh ngữ
là God. Chúng ta cũng dùng chữ God để dịch chữ “ông Trời” (Heaven) hay
là Đạo (The Way). [Chúng
ta là những ai? Chẳng có người Việt
Nam nào coi “Ông Trời” là God cả] Còn
chữ Chúa Trời là God của Thiên Chúa giáo, một đối thể tôn giáo mang
tính chất con người – a personal being. Trong khi đó, chữ God, Thượng Đế,
bao gồm một khái niệm rộng lớn, phổ quát và phổ thông hơn. Mỗi tôn
giáo, theo tôi, chỉ là một phương cách tiếp nhận khái niệm God theo ngôn
ngữ, căn cơ tâm thức quần chúng, cho mỗi bối cảnh văn minh. [Vậy God trong Phật Giáo là
gì, và tại sao lại phải dùng đến danh từ God?
Chúng ta có thể gọi God dưới bất cứ danh từ nào; Chú Cuội, Cây Đa, Bình Vôi v..v…. Khi người Thiên Chúa Giáo, hay Hồi Giáo,
Do Thái Giáo, Ấn Giáo nói đến God là họ muốn nói đến God của họ với
những điều tin tưởng rất rõ ràng về God của họ. Do đó không thể dịch God là “Ông Trời”
được vì người Việt Nam có rất nhiều quan niệm về ông Trời, một
quan niệm là “Con Cóc là cậu ông Trời” hoặc “Hôm nay Trời xấu quá”
v..v..] Thứ ba: Các vị nói trên không đề
cao điều kiện tối cần thiết và không thể thiếu của niềm tin vào vai
trò cứu thế của Chúa Jesus. Và ngôn ngữ “cứu rỗi” cũng không phải
là một năng lực ban phát từ Chúa Trời khách quan và ngoại thân như là một
ân huệ trên cơ sở niềm tin. Jesus chỉ là một biểu tượng nhân cách
trong một truyền thống tôn giáo đặc thù. Sự khác biệt giữa Jesus, một
con người lịch sử, và Chúa, “Christ”, một tính thể linh thiêng của
con người, “a divine reality”, . [Đã là “divine” thì không
thể là “reality” được. Christ là
Đấng Ki-Tô, chỉ có giá trị trong nền thần học Ki-Tô Giáo.] là
điều mà tôi nghĩ rằng các vị trên không thể bị nhầm lẫn (như là phần
đông các tín đồ Thiên Chúa giáo, cả Tin lành và Công giáo). Khi các vị
đó trích Jesus từ Tân Ước, “Thiên đường là ở ngay trong tâm bạn”
(The B. Đến hiện tượng Tin lành ở Việt Nam Từ những nhận định trên về khuynh
hướng tôn giáo và nhu cầu tâm linh của trí thức Phật giáo Việt ở hải
ngoại, [nên thay
cụm từ “trí thức Phật giáo Việt ở hải ngoại” bằng chữ “TÔI”,Nguyễn
Hữu Liêm, thì đúng hơn] mà
khuynh hướng tôn giáo của người Việt hải ngoại [TÔI, Nguyễn Hữu Liêm] cũng
chính là khuynh hướng của người Việt trong nước [TÔI, Nguyễn Hữu Liêm] , hiện tượng Thanh Hải và Lương
Sĩ Hằng rất có thể sẽ tiếp tục phát triển ở Việt Nam vì những lý
do mà tôi vừa phân tích ở trên. Với quá khứ ba mươi năm của trí thức
Phật tử Việt hải ngoại [TÔI, Nguyễn Hữu Liêm] là một tiền đề, một dẫn nhập,
thì tôi thiết nghĩ rằng trong một tương lai không xa, như trường hợp Hàn
quốc, quần chúng Việt Nam [TÔI, Nguyễn Hữu Liêm] sẽ
theo đạo Tin lành rất đông đảo – có thể vượt qua cả số lượng tín
đồ Phật tử và Công giáo. [Ở Nam Hàn cũng chỉ có
30% Tin Lành và rất năng nổ trong vấn đề truyền đạo, nhưng ảnh hưởng
Phật Giáo và cổ truyền dân tộc vẫn còn đậm nét trong nền văn hóa
dân tộc của Nam Hàn. Tôi không nghĩ
Việt Khoảng trống tâm linh nếu không có
đạo Phật đổ đầy thì quần chúng sẽ đi những theo đồng cỏ đạo mới.
Mà đạo Tin Lành sẽ là một nguồn hấp dẫn chính. [20 đô la cho mỗi người vào
Tin Lành là một nguồn hấp dẫn lớn đối với những người không có đồng
xu dính túi, và tin vào Chúa Giê-su thì sẽ được cứu rỗi cũng sẽ rất
hấp dẫn đối với những người cần một cặp nạng để lê lết trên
trường đời] 1. Trên bình diện Đẩy [Miễn phê bình những luận cứ vô căn cứ và hoang tưởng] a. Hiện tượng trống vắng đời sống tâm linh: Khi trình độ tâm thức của quần chúng đang thay đổi và chuyển động theo thời đại. Trong những khối quần chúng đông đảo, nhất là ở những vùng quê, xa xôi, ở Trung Bắc và Bắc, đang khao khát một đời sống tâm linh, các vùng xưa nay là Phật giáo nhưng vì thiếu chùa, thiếu sinh hoạt của Gia đình Phật tử, thiếu tăng sĩ, thiếu kinh sách. Các sinh hoạt tín ngưỡng thờ cúng ông bà, tổ tiên theo truyền thống đã trở nên một bình diện xã hội bình dân, phổ biến, không thoả mãn được nhu cầu tôn giáo của họ. b. Sự thiếu vắng và điểm yếu
của Phật giáo: Đây là yếu tố đóng một vai trò quan trọng trong yếu tố
xô đẩy này. Cho dù trong những vùng ảnh hưởng Phật giáo là sâu rộng xưa
và nay, nhu cầu khao khát tâm linh này lại không được đạo Phật cung ứng
cho khoảng trống này. Không phải chỉ vì yếu tố khách quan về nhân sự,
cơ chế, hay tổ chức, mà vì nhiều lý do nội tại của giáo lý và đạo
học: Ngôn ngữ giáo lý, phong thái nghi lễ,
hình ảnh và biểu tượng của Phật giáo đã hết chất men, ý chí tôn
giáo đã mòn mõi, đạo lý bị khô cạn. Bánh xe của Chánh pháp đã ngừng
quay khi muối của giáo lý đã hết chất mặn, đường của đạo hết vị
ngọt; tiếng chuông của chùa đã hết khả năng đánh thức vì bị quá
quen thuộc, âm thanh nay đã rè; ngôn từ của kinh tụng không còn kêu gọi
tâm thức. Giới tu sĩ Phật giáo mất hết khả
năng biểu tượng giá trị Phật đạo khi trình độ tu chứng, ý chí tu học,
phẩm chất con người, văn hóa cá nhân và tác phong, hành vi xã hội bị xuống
cấp. Nghi lễ, lời kinh, phương cách thờ
cúng, hình thái tổ chức, tượng Phật, và nghệ thuật Phật giáo đã
không còn sức hấp dẫn hay đóng chức năng đạo học, không thể hiện
được sự rung động tôn giáo, không còn uy lực linh thiêng, không còn quyền
uy huyền bí. Ngay cả âm nhạc Phật giáo cũng khô cạn và hoàn toàn thiếu
vắng chất men tinh thần. Hương vị (taste) tôn giáo của quần
chúng nay đã thay đổi quá nhiều, trong khi Phật giáo không cập nhật kịp.
Con người ngày nay mang một bản chất tâm lý và nhân sinh quan quá trần tục,
mang nặng ảnh hưởng vật chất Tây phương, và không còn đơn giản như
ngày trước. Phật giáo nay đã trở thành một vấn đề “Bụt nhà không
thiêng”. 2. Bình diện Kéo: Lý do đạo Tin lành lôi cuốn quần chúng Việt Sẽ có nhiều hình thái tôn giáo
khác lôi kéo và hấp dẫn người Việt chung và Phật tử nói riêng. Ngoài
các trường phái bình dân như Cao Đài, Hòa Hảo, còn có các tôn giáo lớn
như Công giáo và các hệ phái Thiên Chúa giáo, Ấn giáo, Hồi giáo, đạo
Bahhai. Nhưng nói chung, đạo Tin lành sẽ là hấp lực chính, là sức kéo mạnh
nhất. Có nhiều lý do: Các giáo phái Tin lành rất năng động
về công tác truyền đạo, missionary, mà các tín đồ coi công tác đi
truyền đạo như là lý tưởng sống chết của họ. Đây là một tôn giáo
mang nặng bản chất proselytism, cải đạo người khác. [Như vậy có phải là cuồng
tín không?] Người bình dân Việt không hề được
truyền đạo đã từ lâu lắm. Khi các tâm hồn ngây thơ lần đầu tiên
trong đời được chú ý đến, được kêu gọi, được an ủi, được coi
trọng, họ sẽ đi theo bất cứ đạo nào đang mời gọi họ. Mà các người
truyền giáo Tin lành được huấn luyện và trang bị kỹ thuật tâm lý
này. Các giáo phái này có nhân lực, có khả
năng tài chánh lớn, có tổ chức và lãnh đạo chặt chẽ và điêu luyện,
chuyên nghiệp. Họ xem chuyện truyền giáo như là công tác tiếp thị với
một sản phẩm rõ ràng đáp ứng cho nhu cầu của một thể loại quần
chúng. Khả năng của Tin lành trên các lãnh
vực truyền thông, chuyển tải giáo lý, hình thức đi đôi với nội dung
định chế đầy ấn tượng bằng sức mạnh tổ chức qua hình thức. Chỉ
trong vòng 10 năm truyền giáo ở Nam Việt Nội dung giáo lý đơn giản và cương
mãnh, rõ ràng, khơi mở niềm tin bằng một thứ ngôn ngữ mới, gợi cảm.
Đây là yếu tố thành công của Tin lành: một đức tin mới trong một hệ
thống ngôn ngữ và biểu tượng mạnh mẽ, đầy xúc cảm, đơn giản, dễ
hiểu. (Thay vì “Ngươi hãy thắp đuốc lên mà đi tìm Chánh pháp tự trong
tâm” thì nay là “Ngươi hãy tin Ta, và chỉ có qua Ta, ngươi mới được
cứu rỗi để hòng có cuộc sống đời đời.” [Đây chính là cốt tủy niềm
tin của Tin Lành, chỉ cần tin vào Chúa là được cứu rỗi] Thay vì, “Hãy nhìn chúng sanh với
tâm từ bi” thì nay là “Hãy bước đi trong yêu thương”. [Có gì khác nhau không?] Thay vì phúng điếu, “tiêu diêu miền
cực lạc” thì nay là “hưởng nhan thánh Chúa.” Trong khi số lượng kinh
Phật thì có thể chứa hết không gian tòa nhà thư viện chính của đại học
Harvard thì Tân Ước chỉ cần năm chương ngắn là nói gần hết tinh hoa của
Tin lành). [4] [Năm chương của Tân ước
mà có thể gọi là tinh hoa được chăng? Tác
giả nên đọc bài cô đọng 4 Phúc Âm trong Tân ước của Judith Hayes, đã
đăng trên Giao Điểm. Hãy đọc những
thông điệp phước lành của Mục sư Trần Long thì thấy Tin Lành chưa qua
được thời Trung Cổ về những niềm tin nhảm nhí. Tin Lành không thể đi vào tâm thức của
người dân vì Tin Lành đi ngược với các truyền thống của dân tộc, và
nhất là, sự tiến hóa trí thức của con người không cho phép con người
đi giật lùi, nhất là về vấn đề tâm linh.
Tin Lành có thể thành công phần nào trong những nơi nghèo khổ,
dân trí thấp kém. Mặt khác, người dân
Việt Đối với những tâm hồn và đầu
óc mới tỉnh thức, như là của quần chúng Việt Nam hiện nay, thì ngôn ngữ
và biểu tượng Tân Ước là một ly nước mát, ngọt, là một chiếc bè vững
chắc cho cơn khát tinh thần. Tôi đã chứng kiến cảnh của những người
trẻ, kể cả trí thức Phật tử, sau khi đọc xong Tân Ước, đã xúc động
mạnh, và chỉ với một lời an ủi, kêu gọi tình cảm từ người giảng
đạo, họ đã quỳ xuống khóc “xin nhận Chúa Jesus là chúa cứu rỗi cho
linh hồn tôi”. Thế là từ đó, cuộc đời họ kể như là “chiến sĩ
cho vương quốc của Chúa”, đi đâu cũng mang theo kinh Thánh, đến đâu cũng
giảng đạo. [Tôi cho đây là chuyện phịa,
vì chính những mục sư Tin Lành cũng chẳng đọc Tân Ước, họ chỉ học
những đoạn đã được lọc lựa để đi truyền đạo mà thôi. Hỏi họ vài câu về Tân ước là họ tịt
ngay. Xin tác giả giới thiệu cho tôi vài trí thức mà “sau khi đọc
xong Tân Ước, đã quỳ xuống khóc “xin nhận Chúa Jesus là chúa cứu rỗi
cho linh hồn tôi”, tôi muốn hỏi họ vài câu về cái gì đã khiến
cho họ mê mẩn như vậy?? Dù sao thì tác giả cũng không thể tổng quát hóa vài trường hợp cá
nhân của những người đầu óc yếu kém thành một hiện tượng phổ quát
trong xã hội Việt Tin lành cống hiến cho người dân một
đức tin vững chắc, đơn giản, với hứa hẹn thiên đàng và sự sống đời
đời, đi đôi với lời đe dọa đốt cháy vĩnh cửu ở địa ngục. Theo
đạo nay không những có gạo, mà có cả thiên đường, có đức tin, có tổ
chức, có hệ thống tín hữu, có ngôn ngữ, nghệ thuật, âm nhạc, thánh
đường mới – mà lại tránh được địa ngục một cách dễ dàng. [Trong khi cả thế giới đã
phủ nhận sự hiện hữu của thiên đường cũng như địa ngục. Vậy mà gọi là một đức tin vững chắc,
vững chắc trên nền tàng nào, nền tảng lừa dối?] Tin lành đi theo nhịp trống của sức
mạnh văn minh và văn hóa Tây Âu, từ biểu tượng đến tinh thần. [Nhưng chính sức mạnh văn
hóa và văn minh Tây Âu đã đang loại Tin Lành và Công Giáo ra khỏi đời sống
tâm linh của người dân] Từ
việc người Việt nhuộm tóc vàng, sửa mũi cao, mặc Âu phục, cho đến các
hệ thống giá trị định chế, chính trị, học thuật, thẩm mỹ Tây Âu
được coi như là chân lý phổ quát và hoàn vũ, thì Tin lành cũng chỉ là
một hiện tượng văn hóa trong cao trào Tây phương hóa này. [Thế thì anh đã lẫn lộn những
sắc thái vật chất Tây phương với tôn giáo Tây phương rồi. Tại sao Giáo hoàng Benedict XVI phải than phiền
về tình trạng suy thoái của Thiên Chúa Giáo nói chung? Tại sao các nhiều nhà thờ Tin Lành ở Anh
và cả ở Mỹ phải rao bán, có nơi biến thành Chùa? ] Tin lành đáp ứng được với tâm thức
quần chúng hiện nay vốn là năng lực của trái tim – như là một sự khởi
động của niềm tin, một phản đề với văn minh lý tính của hiện đại.
[Câu này mâu thuẫn
với câu trên] Đối với những người thấu hiểu
được nội dung và tinh hoa của Thiên Chúa giáo, và hệ phái Tin lành, thì
chất men ngôn ngữ và biểu tượng của tôn giáo này không thể hấp dẫn
họ được - nếu không nói là họ sẽ dị ứng với cái tính cách đầy
ngây ngô và buồn cười của hệ thống giáo điều biểu trưng cho một chuỗi
dài vô minh phát xuất từ sự hiểu lầm trầm trọng nền tảng tinh hoa của
Thiên Chúa giáo nguyên thuỷ. Cái hiểu lầm cơ bản nhất của người Thiên
Chúa giáo, tất cả các giáo phái, là họ đọc và hiểu Kinh Cựu và Tân
Ước như là một chuyện kể về sự kiện lịch sử, thay vì chúng là một
kết tập của ngôn từ biểu tượng. Nếu chúng ta hiểu rằng Chúa Jesus
là biểu tượng của Phật tính ở trong mỗi chúng ta, thì kinh Tân Ước
cũng chỉ nói lên một nội dung Đạo lý như là kinh Pháp Hoa. Nhưng điều
mà chúng ta đang bàn đến liên quan đến một khối tâm thức của quần
chúng Việt Nhưng Phật giáo – qua trí thức Phật
tử - có cống hiến gì cho quần chúng đang khao khát tâm linh – hơn là “tính
Không”, “vô Ngã”? Nói như Osho, đạo Phật mà đức Thích Ca Mâu Ni chuyển
luân hơn hai mươi lăm thế kỷ trước, thì bây giờ đây, ở trong cộng đồng
Việt ở hải ngoại hay ở quê nhà, đang bị ngừng lại. Bánh xe đạo Phật
này chắc là đã đi qua Tây Âu để đánh thức một khối tâm thức mới.
Nhưng tại quê hương Á Châu, tại Việt Nam, nơi Phật giáo được nuôi dưỡng
cả ngàn năm nay, và trong cộng đồng trí thức Phật tử Việt ở hải ngoại,
, mất gần hết sinh lực. Cái còn lại là những trò chơi ngôn ngữ của
giới trí thức hoài niệm chỉ muốn thảo luận một cách khô cạn và trống
trải tinh thần với những khái niệm vô nghĩa. [Đây chỉ là một khẳng định
vô trách nhiệm và vô căn cứ. Phật
Giáo đâu chỉ có “Tính Không” và “vô ngã”?
Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, Thập Nhị Nhân Duyên, Tứ Niệm
Xứ, Tứ Chánh Cần v..v.. (84000 Pháp Môn) vứt đi đâu?? “ ngọn đuốc này đang bị tàn lụi” nhưng Phật Giáo hải ngoại có
bao nhiêu Chùa, tu viện v..v.. Nhiều nhà thờ Ki Tô Giáo được Phật tử hải
ngoại mua lại, cải biến thành Chùa. Các
Chùa đó từ đâu mà có thể dựng lên? Do
sinh lực nào, sinh lực gần mất hết?? Và
giới trẻ ngày nay có đến Chùa hay không?? Ngày
Lễ Phật Đản vừa qua tôi có đến dự lễ tại Chùa Trúc Lâm ở Vài lời kết khuyên tác giả: Bài phê bình này đỏ nhiều
hơn đen. Xin tác giả cẩn thận hơn
khi viết lách. Đừng bao giờ lấy cái
hiểu của mình, nhiều khi rất sai lầm, lệch lạc và giới hạn làm cái
hiểu của mọi người khác. Với tư cách
là một trí thức, tránh viết những điều mà mình chưa nghiên cứu kỹ. Và nhất là, không nên coi thường trí thức
Phật tử hải ngoại cũng như ở trong nước. © 2006 talawas [1]Về vấn đề tiếng Hán
Việt và những phiên giải sai lầm các khái niệm đạo Phật, xin đọc bài
của Tuệ Sĩ giới thiệu cuốn Triết học Vasabandhu của Lê Mạnh
Thát ở trang nhà www.giaodiem.com
số tháng Giêng, 2006. © Copyright 2006 giaodiem.com |
In ra @