giaodiem copyright
          posted: 07.5.2006
Nguyễn Mạnh Quang
VATICAN CẤU KẾT VỚI CƯỜNG QUYỀN  ĐỂ TIẾM QUYÊN
VÀ ĐÁNH CHIẾM ĐẤT ĐAI LÀM THUỘC ĐỊA

CHƯƠNG 6

nguyen manh quang

Những người thấu hiểu lịch sử thế giới  đều nhận thấy rằng, trước thế kỷ Cách Mạng Pháp 1789, Giáo Hội La Mã  luôn luôn cấu kết chặt chẽ với các cường quốc Âu Châu đương thời để củng cố và duy trì quyền lực ở Âu Châu và vùng ven Biển Địa Trung Hải, rằng từ giữa thế kỷ 15 trở đi, Giáo Hội luôn luôn liên kết với các đế quốc thực dân xâm lược hay các chế độ độc tài phát xít hùng mạnh nhất để vừa duy trì quyền lực tại Âu Châu vừa bành trướng ảnh hưởng sang các lục địa Phi Châu, Mỹ Châu và Á Châu. Vì không có tiềm năng quân sự, Giáo Hội phải  sử dụng các binh đòan do thám với danh nghĩa là các nhà truyền giáo và các đạo quân thứ 5 tại các địa phương (gồm các cộng đồng tín đồ Da-tô tại các quốc gia bị chiếu cố) làm phần hùn đóng góp với các đế quốc nào liên minh với Giáo Hội xuất quân  đánh chiếm đât đai làm thuộc địa. Sự kiện này được sử gia Avro Manhattan khẳng định rõ ràng ở trang 157 trong cúôn Vietnam: why did we go? và sẽ được trích dẫn ở phần sau trong chương sách này. Những sách lược cấu kết  và dựa vào đế quốc thực dân xâm lược để bành trướng thế lực như vậy của Giáo Hội La Mã được gọi là sách lược "cáo đội lốt hùm" hoặc "cú mang lông công" để "theo đóm ăn tàn", hay "mượn gió bẻ măng" hoặc là "theo voi ăn bã mía".

CẤU KẾT VỚI BỌN LÃNH CHÚA ÂU CHÂU

Nói đến việc Giáo Hội vận động  để cấu kết và dựa thế cường quyền đem quân đí đánh chiếm các vùng bị Giáo Hội chiếu cố  là phải nói đến khi Giáo Hội La Mã  phát động Cuộc Chiến Thập Tự Lần Thứ Nhất vào năm 1095 khởi đầu cho hàng lọat cuộc chiến tôn giáo (religious wars)  kéo dài tới 197 năm. Các nhà viết sử gọi các cuộc chiến tranh này là Chiến Tranh Thập Tự (Crusades) và Giáo Hội  gọi là các cuộc Thánh Chiến (Holy Wars). Vào năm này, Giáo Hoàng Urban II (1088-1099) kêu gọi vua chúa các nước theo đạo Da-tô xuất quân tiến vào vùng Cận Đông đánh chiếm  Palestine và các vùng phụ cận  với dã tâm vừa tiêu diệt Hồi Giáo vừa tiêu diệt Chính Thống Giáo  và tín đồ Do Thái Giáo ở vùng này, rồi sau đó lại tiêu diệt giáo phái Cathari ở miền Nam Nước Pháp. (Dù  rằng việc tiêu diệt giáo phái này (Cathari)  không xẩy ra trong Cuộc Chiến  Tranh Thập Tự Lần Thứ Nhất). 

CẤU KẾT VỚI BỒ ĐÀO NHA VÀ TÂY BAN NHA

Ở ÂU CHÂU VÀ Ở CÁC THUỘC ĐỊA NGÒAI ÂU CHÂU

Sự hoành hành và tác oai tác quái của các Tòa Án Dị Giáo cùng những thủ đọan bóc lột nhân dân bằng chính sách thuế thập phân và bằng những hình thức dâng cúng của lễ đã khiến cho nhân dân Âu Châu khiếp sợ và căm thù  Giáo Hội La Mã đến tận xương tận tuỷ. Cũng vì thế mà   những tín lý bịp bợm của Giáo Hội không còn ăn khách như xưa nữa, và đã có những triệu chứng phong trào nhân dân nổi lên chống Giáo Hội. Cũng may cho Giáo Hội, cũng vào  mấy thập niên đầu của thế kỷ 15, các nhà hàng hải Bồ Đào Nha khám phá ra con đường đi tới Ấn Độ. Thấy vậy, Giáo Hội La Mã  liền chộp lấy cơ hội này ban hành Thánh Lệnh Romanus Pontifex vào ngày 8 tháng 1 năm 1454 trong thời Giáo Hòang Nicholas V (1447-1455) (như đã nói trình bày ở Chương 10)   để cấu kết với đế quốc Da-tô Bồ Đào Nha  đem quân thập ác đi chinh phục các vùng đất  ở ngòai lục địa Âu Châu với dã tâm chiếm  đất, đọat của, ăn cướp tài nguyên, hủy diệt các tín ngưỡng và văn hóa bản địa, tàn sát đàn ông, hãm hiếp đàn bà  con gái, và cưỡng bách những người còn sống sót phải theo đạo Da-tô làm nô lệ cho Giáo Hội và bọn tay sai.

Sau đó, lại có nhà thám hiểm người Ý Đại Lợi là Christophe Colombus được chính quyền của Hòang Đế Da-tô Ferdinand V (1452-1516) và Hoàng Hậu Da-tô Isabella (1451-1504) tài trợ cho một chuyến đi thám hiểm tìm đến Trung Hoa và Ấn Độ bằng hải thuyền đi theo hướng Tây  vượt   Đại Tây Dương, rồi không ngờ lại khám phá ra Mỹ Châu. Nhân cơ hội này, Giáo Hội lại ban hành thêm mấy  thánh lệnh khác vào năm 1493, chia trái đất ra làm hai cho  Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, mỗi nước một nửa    có quyền đem quân đi đánh cướp đất đai, khai thác tài nguyên và cưỡng bách các dân tộc nạn nhân làm nô lệ  đúng như tinh thần Thánh Lệnh Romanus Pontifex đã ban hành vào ngày 8 tháng 1 năm 1454.

Sách sử đều chứng minh rằng dã tâm này đã biến tín đồ Da-tô  thành những quân ăn cướp tàn ngược nhất, dã man nhất, gây nên không biết bao nhiêu thảm cảnh đau thương cho nhân dân trong những vùng đất bị Giáo Hội chiếu cố. Các nhà biên khảo lịch sử đều cho rằng sau khi Giáo Hội đã chinh phục và đã thiết lập được chế độ đạo phiệt Da-tô ở quốc gia nào, nhân dân phi Da-tô ở quốc gia đó đều rơi vào tình trạng  thảm thương: Hoặc là phải từ bỏ tín ngưỡng cổ truyền để theo đạo Da-tô, hoặc là   sẽ bị trục xuất ra  khỏi quê cha đất tổ thân thương của họ.Thảm cảnh này đều được sách sử ghi lại đầy đủ. Hai nhà viết sử Anatole G. Mazour và John M. Peoples ghi lại sự kiện này trong  cuốn  Men and Nations - A World History với nguyên văn như sau:

"Những tín đồ nhiệt thành của Giáo Hội La Mã không thích những người Moors theo đạo Hồi và dân Do Thái theo đạo Do Thái. Ngay cả sau khi xứ Granada sụp đổ, người Moors vẫn phải tiếp tục sống hòa bình ở Tây Ban Nha. Người Do Thái đã sinh sống ở Tây Ban Nha từ khi quốc gia này trở thành một phần trong lãnh thổ Đế Quốc La Mã. Năm 1492, Vua Ferdinand và Nữ Hoàng Isabella ra lệnh cho tất cả những người Do Thái trong vương quốc của họ hoặc là phải theo đạo Da Tô (Kitô La Mã), hoặc là phải bán xới đi khỏi nước Tây Ban Nha. Mấy năm sau, hai vợ chồng ông vua này lại bắt dân Moors phải tuân hành lệnh trên đây. Hầu hết những nạn nhân trong hai nhóm dân này đều quyết định thà bán xới bỏ nước Tây Ban Nha mà đi chứ  nhất định là không chấp nhận theo đạo Gia Tô để được ở lại nước Tây Ban Nha" ("Ardent Catholics, they looked  with displeasure at the many Moors and Jews in Spain. Even after the fall of Granada, Moors had continued too live peacefully in Spain. Jews had been in Spain since the time it was part of the Roman Empire.. In 1492,  Ferdinand and Isabella ordered that all Jews within their  two kingdoms  must either become Christians or leave Spain. Several years later they offered the Moors the same choice. Most people of both groups chose to leave rather than accept Christianity..")[1]

Ông Lương Minh Sơn viết về tình trạng của những người Moors và Do Thái ở Tây Ban Nha trong thời kỳ này như sau:

"The Spanish Inquisitions" là thời kỳ Hoàng Gia Tây Ban Nha ra lệnh bắt bớ và tàn sát những người theo các giáo phái khác vì cho là "dị giáo". Thời kỳ này bắt đầu từ năm 1478, khi Hoàng Hậu Isabella I de Castille khởi động phong trào bắt bớ những người Do Thái, mặc dầu đã theo đạo Thiên Chúa La Mã nhưng vẫn còn bí mật duy trì những tục lệ của Do Thái Giáo. Năm 1483,   Vua Ferdinand và Hoàng Hậu Isabella cử giáo sĩ Tomas de Torquemada của dòng tu Spanish Dominican lên nắm quyền tư lệnh để thi hành chương trình "Inquisition" trên toàn lãnh thổ và những vùng thuộc địa của Tây Ban Nha. Năm 1487, Đức Giáo Hoàng Innocent VIII phong thưởng cho giáo sĩ de Torquemada danh hiệu "The Grand Spanish Inquisitor", một "Inquisitor" vĩ đại, và ra lệnh khởi động chương trình "Inquisition" trên toàn thế giới.

Ngày 31-03-1492, Hoàng Gia Tây Ban Nha ra sắc lệnh bắt buộc 150 ngàn người Do Thái ở thành phố Granada phải bán hết của cải để rời khỏi Tây Ban Nha trước ngày 31 tháng 7 vì lý do để làm sạch cho "danh dự và sự rực rỡ của Thượng Đế." Hàng ngàn người Do Thái phải miễn cưỡng "theo đạo" nhưng sau này vẫn bị nguyền rủa là "Los Marranos" (Loài Heo Dơ Bẩn). Hơn 60 ngàn người phải đút lót tìm đường vào định cư ở Bồ Đào Nha. Một số khác được Hoàng Đế Bajazet của Ottoman (Cổ Thổ Nhĩ Kỳ) thâu nhận, mặc dầu giáo phái chính của đế quốc này là Chánh Thống Giáo (Orthodox).

Năm 1499, một "Spanish Inquisitor" khác là Tướng Francisco Jimenez de Cisneros áp đặt phương cách làm lễ biến đổi những người "dị giáo" sang Thiên Chúa Giáo La Mã một cách tập thể, và chuyện này đã bắt lửa cho cuộc đại loạn đẫm máu ỏ Granada. Năm 1543, các "Spanish Inquisitors" ra lệnh xử đốt những người Tin Lành (Protestants) trên các phong thánh giá. Cuộc đàn áp tôn giáo này kéo dài 342 năm. Năm 1820, khi Hoàng Đế Ferdinand thứ VII ra lệnh chấm dứt thời kỳ "Inquisition" thì đế quốc Tây Ban Nha cũng đã mất gần hết các thuộc địa tại Trung Mỹ [TRA, "Human Rights and Social Justice": 1478, 1483, 1492, 1499, 1543, 1820].  Gần thế kỷ sau, ngày 14-11-1994, trong một bài hiệu triệu gởi các hàng giáo phẩm của Thiên Giáo La Mã, Đức Giáo Hoàng John Paul Thứ II lên tiếng kêu gọi "Giáo Hội của Ngài phải ăn năn thống hối đối với những tội lỗi mà người Thiên Chúa Giáo La Mã đã lầm lẫn gây ra trong quá trình lịch sử, chỉ vì họ đã bảo vệ đức tin một các quá nhiệt thành".  Ngài nói, "Giáo Hội Thiên Chúa Giáo La Mã không thể nào bước qua được ngưỡng cửa của thiên kỷ mới nếu không khuyến khích giáo dân hãy rửa mình cho tinh khiết, bằng cách ăn năn về những lỗi lầm trong quá khứ", [LAT]   [2] 

Lệnh thi hành chương trình "Inquisition" từ mẫu quốc Tây Ban Nha thì tất nhiên tại các thuộc địa của Tây Ban Nha làm sao thoát khỏi?  Sách Homeland of The World viết về tình trạng dân Da Đỏ tại các thuộc địa cuả Tây Ban Nha ở Châu Mỹ La Tinh như sau:

"Người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha khi đến Châu Mỹ La Tinh mang theo niềm tin tôn giáo của họ. Họ cho rằng người dân Da Đỏ là những dân tà giáo (dị giáo) hay không có tôn giáo gì cả. Sự thật, người Da Đỏ có tôn giáo riêng của họ. Tôn giáo của họ dựa vào lòng tin tưởng của họ đối với quyền lực thiên nhiên ở chung quanh họ. Họ thờ mặt trời, thờ thần gió và các quyền lực khác của thiên nhiên. Người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha không cho đó là một tôn giáo và quyết định dùng bạo lực đàn áp tôn giáo của nguời Da Đỏ. Người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha tin rằng nhiệm vụ của họ là phải cưỡng bách người Da Đỏ phải theo đạo Thiên Chúa La Mã" (The Spanish and Portuguese settlers in Latin America brought their religion with them. They believed  the Indians to be pagans, or people who had no religion. In fact, the Indians did have their own religion. It was based on their belief in the  powers of nature around them. They worshiped the sun, the winds, and the forces of nature. The Spanish and the Poruguese did not think it was a religion, and they took steps to crush it.. The Spanish and the Portuguese believed it was their duty to convert the Indians to Christianity and to the Catholic Church.) [3] 

Ông Phan Quốc Đông viết:

"Tôi cũng đã đọc kỹ lịch sử  của Giáo Hội Vatican, tiểu sử của từng vị giáo hoàng, các phương pháp bành trướng tôn giáo của họ tại các lục địa khác ngoài Âu Châu, phương pháp nào nhanh, phương pháp nào chậm. Phương pháp nhanh nhất được thực hiện bởi thực dân Tây Ban Nha tại các xứ thuộc Châu Mỹ La Tinh thật là vô cùng tàn ác. Họ dùng gươm giết hết những người đàn ông bản xứ, chỉ còn lại toàn đàn bà con gái thôi, để họ vừa bắt buộc theo đạo, vừa hãm hiếp đồng hóa. Số người bị giết lên tới mấy chục triệu. Đây là phương pháp truyền đạo  của phái bộ truyền giáo Tây Ban Nha được Giáo Hoàng Alexander VI (1492-1503) hỗ trợ. Đi du lịch ở các xứ này ta chỉ thấy toàn những người lai mà thôi, hầu như không còn một người bản xứ nào sống sót. Tại Phi Luật Tân, họ cũng giết hàng triệu người, đập phá toàn bộ các đền thờ cổ, thủ tiêu hoàn toàn mọi chứng tich của nền văn minh cổ của xứ này. Ngôn ngữ, văn tự, truyền thống, văn hóa hoàn toàn mất hẳn…" [4]

Mỗi khi Quân  Thập Tự tiến vào vùng mục tiêu là chúng được quyền tha hồ cướp đọat tài sản, tàn sát đàn ông, hãm hiếp đàn bà con gái, cưỡng bách những người còn sống sót phải theo đạo Da-tô làm nô lệ và hủy diệt  tất cả các tín ngưỡng nền văn hóa bản địa của các dân tộc nạn nhân. Hậu quả là các dân tộc Da Đỏ ỡ Mỹ Châu La Tinh gần như hoàn toàn bị tiêu diệt và tất cả các di tích của nền văn hóa của họ cũng gần như bị hủy diệt hoàn toàn.

Sự kiện này cho chúng ta thấy rõ Giáo Hội La Mã đã sử dụng sách lược cướp đoạt chính quyền để truyền đạo bằng bạo lực, duy trì quyền lực bằng sắt máu, bằng chính sách "chia để trị"  song hành với việc dùng tín đồ Da-tô tay sai để cai trị nhân dân và bảo vệ chế độ  độc tôn tôn giáo của Giáo Hội. Các nhà viết sử gọi các chính quyền được tạo nên để thi hành chính sách độc tôn tôn giáo của Giáo Hội La Mã là các chế độ đạo phiệt Da-tô.

CẤU KẾT VỚI TÍN ĐỒ GIA TÔ QUYỀN THẾ

TÁI LẬP CHẾ ĐỘ ĐẠO PHIỆT Ở ANH

Tại Anh, và đầu  thập niên 1530, Anh Hòang Henry VIII (1509-1547) chống lại Giáo Hội, lập Anh Giáo tách rời khỏi hệ thống quyền lực của Tòa Thánh Vatican (Sẽ được trình bày đầy đủ trong Phần VI của bộ sách này). Vì lúc đó, tại lục địa Âu Châu, có Phong trào Tin Lành (chống lại Giáo Hội La Mã) của Linh-mục  Martin Luther  ở Đức chủ trương đang bành trướng, Giáo Hội không còn khả năng phát động cuộc chiến Thập Tự đem quân vượt biển Manche (English Channel) đổ bộ vào lãnh thổ Anh để trừng phạt Anh Hòang Henry VIII (1509-1547). Tuy nhiên, vốn có truyền thống bám chặt lấy miếng mồi quyền lực như loài đỉa đói, Giáo Hội thi hành sách lược nằm chờ và quậy cho nước đục để thả câu.

Như chúng tôi đã trình bày trước đây, một  trong những sách lược của Giáo Hội La Mã là "mỹ nhân kế"  ở chốn phòng the (hay hậu trường)  đế lèo lái nạn nhân  thuận theo những chính sách của Giáo Hội đưa ra. Một sách lược khác nữa của Giáo Hội là  nhắm vào người sẽ được chọn đưa lên nối ngôi nhà vua đương quyền để  dụ khị con mồi vào đạo, rồi dung họ làm đầu cầu tiến lên thi hành những qủy kế. Sách lược này đã được Giáo Hội áp dụng ở Anh vào thời kỳ sau khi Anh Hòang Henry VIII (1509-1547) tuyên bố ly khai với Giáo Hội vào đầu thập niên 1530 bằng cách ẩn nhẫn rình chờ cơ hội để ra tay hành động. Cho đến khi Anh Hòang Henry VIII qua đời vào năm 1547 và việc người con nào của Anh Hòang được đưa lên nối ngôi là vấn đề mà Giáo Hội đã điều nghiên đặt ra một  sách lược  để đưa người của Giáo Hội lên ngai vàng. (Sau này, vào cuối thế kỷ 18, Giáo Hội cũng áp dụng sách lược này để nhắm vào Hòang Tử Cảnh, đứa con trai đầu lòng của Nguyễn Ánh (tức Vua Gia Long). Sách Men and Nations nói về  việc người thừa kế ngai vàng Anh quốc khi vua Henry Anh  qua đời vào năm 1547 với nguyên văn như sau:

"Nước Anh trải qua một thời kỳ khó khăn sau  cái chết của Anh Hòang Henry VIII (vào năm 1547. Edward VI (1547-1553) lên nối ngôi  vừa bệnh họan vừa còn trẻ mới có  10 tuổi. Các quan đại thần cố vấn nắm quyền cai trị thì bị ảnh hưởng bởi tư tưởng của Tin Lành Luther và Calvin, muốn làm cho Giáo Hội Anh trở nên Tin Lành hơn.

Edward ở ngôi được 6 năm thì chết và Mary lên kế nghiệp, Mary là một tín đồ Da-tô ngoan đạo, cương quyết phục hồi đạo Da-tô  và quyền lực Giáo Hoàng ở Anh quốc. Dưới ảnh hưởng của bà, Quốc Hội Anh hủy bỏ Đạo Luật Chủ Quyền Tối Cao" và tất cả những cải cách trong thời Anh Hoàng Edward VI, Tổng Giám Mục Cranmer và hai ông giám mục bị kết tội là tà giáo rồi bị trói vào cột và thiêu chết." Tín đồ Tin Lành bị bách hại  tàn khốc."

(Nguyên văn: "England went through troubled times after the death of Henry VIII in 1547. Edward VI was sickly and only ten years old when he became king. The advisers who ruled for him were influenced by Lutheran and Calvinist ideas and made  the Church in England more Protestant.

When Edward died after a reign of only six years, Mary succeeded him. She was a devout Roman Catholic and was determined that England should be restored to the Catholic Church and the authority of the pope. Under her influence, Parliament abolished the Act of Supremacy and all changes made during the reign of Edward VI. Archbishop Cranmer and two bishops were burned at the stake as heretics. Protestants were severly persecuted." [5]

Sử gia Thomas P. Neil viết:

"Mary đã được khuyến cáo là nên đối xử tử tế với những người đã bỏ đạo Da Tô (those who had left the faith), nhưng vây cánh bên cạnh bà vô cùng quá khích, cương quyết chống lại những người tà giáo. Trong thời gian 5 năm tại vì của bà, có tới  khoảng ba trăm người bị hành hình vì tín ngưỡng của họ khác với đạo Da Tô…,.và các sử gia đã đặt cho bà biệt danh là "Bloody Mary" (Mụ Mary khát máu)" và triều đại   tàn ngược ngắn ngủi của bà đã làm cho đạo Kitô La Mã không  có cơ may phục hồi  ở Anh quốc được nữa."  ("Mary was advised to be lenient with those who left the faith. The queen was not personally inclined to be severe, but many of her subordinates went to extremes against "heretics." About three hundred were executed for their anti-Catholic beliefs during her reign..., and historians soon dubbed her "bloody Mary." Her short reign ruined any chance for Catholic restoration."  [6] -.  

Ông Đoàn Văn Thông viết về "Mụ Mary Khát Máu" này như sau:

"Nữ Hoàng Mary Đệ Nhất là con gái vua Henry Đệ Bát, một ông vua nổi tiếng là đa tình và tàn ác, nổi danh chém đầu vợ. Khi trở thành nữ hoàng, bà Mary khuynh loát mọi thứ kể cả mặt tôn giáo vì bà là người thuộc Giáo Hội Thiên Chúa La Mã (Giáo Hội Gia Tô) nên những gì trước đó Hoàng Đế Edward VI đã qui định đều bị hủy bỏ. Bà khuyến dụ dân chúng không được tin vào những điều đã được rao giảng ở các nhà thờ trong nước Anh.

Bà bất chấp mọi chỉ trích chống đối. Thật ra lúc bấy giờ không ai dám ngang nhiên chống đối bà một cách trực diện ngoài những vị chức sắc trong Giáo Hội Anh. Bà coi thường tất cả và sẵn sàng đương đầu với bất cứ thế lực nào. Châm ngôn của bà là "giết những kẻ la lối để chúng im hơi". Bà quá lộng hành và quá tàn bạo đến độ dân chúng đặt cho bà một biệt danh là Mary Đẫm Máu (Bloody Mary) giống như Theodora Đẫm Máu của Hy Lạp. Bà đã ra lệnh đàn áp, khủng bố và càng cố tạo ra nhiều khủng bố càng tốt để gây khiếp đảm kinh hoàng trong dân chúng và cho những người chống đối. Nữ Hoàng Mary Đệ Nhất đã từng ra lệnh thiêu sống 300 người trên giàn lửa đỏ giữa những tiếng la vang hét dậy cả một góc trời. Trong suốt thời gian nắm quyền hành, có thể gọi cái thú tiêu khiển của bà là thiêu sống những ai chống đối. Những vị chức sắc trong Giáo Hội Anh như Tổng Giám Mục Cranmer, Nicolas Ridley, Hugh Latiner… đều lần lượt bị Mary Đệ Nhất ra lệnh đóng vào cột gỗ dựng giữa quảng trường và thiêu sống vì họ đã lớn tiếng chống đối những hành động ngang ngược của bà. Người ta tưởng rằng người đàn bà sắt máu, hung tàn và lạnh giá không có con tim. Họ nghĩ rằng bà không có chồng. Nhưng sau đó, bà đã chọn một người rất hợp ý với bà, đó là vua Philip II, một bạo chúa nổi danh của nước Tây Ban Nha, một con quỷ dữ khát máu không hơn không kém. Trong những trận quyết chiến với quân đội các nước, ông đã ra lệnh chia các tù binh bắt được ra làm hai loại: Những tù binh thường thì chém đầu. Còn những tù binh là những tín đồ dị giáo thì cho đóng vào cột rồi nổi lửa thiêu sống. Philip II đã vô cùng khoái trá khi làm những điều tàn ác và nghĩ rằng đó là một sáng kiến thú vị lạ lùng.

Lúc Mary I về làm vợ Philip II, bà hoàng này lại học thêm được những phương cách giết người theo kiểu mới. Hai vợ chồng đã trở thành những con ác quỷ tung hoành trên thế gian mà Âu Châu là vùng đất hoạt động của họ. Năm 1555, để khống chế cả Âu Châu, Philip II đã cho vợ được tha hồ làm mưa làm gió ở Anh và Mary Đệ Nhất đã ra tay tàn sát. Cuộc chiến tranh tàn khốc chấm dứt vào năm 1558 cũng chấm dứt luôn uy quyền của Mary Đệ Nhất. Nhiều tư liệu lịch sử kể rằng vua Philip II đã ruồng bỏ bà khiến bà đau khổ và thất vọng vô cùng. Hàng ngày bà sống âm thầm cô độc trong một lâu đài, ít người thân thăm viếng vì bà đã gây ra quá nhiều chết chóc thê thảm cho nhiều người khác. Bà còn nghe được cả những lời than oán, nguyền rủa của dân chúng nói về bà. Mary I sống trong tuyệt vọng và ân hận từ đó cho đến chết, và khi chết bà đã quằn quại kêu lên: Ôi! Máu Máu! Máu ngập cả người ta!" [7] .

THỦ ĐỌAN GIAN ÁC TRONG VIỆC THIẾT LẬP CHẾ ĐỘ ĐẠO PHIỆT DA TÔ TẠI PHÁP VÀ CẤU KẾT VỚI ĐẾ QUỐC PHÁP Ở HẢI NGOẠI

Năm 1588, Hạm Đội Armada của Đế Quốc Tây Ban Nha  bị hải quân Anh đánh bại tại  Biển Manche . Kể từ đó.  Anh quốc làm chủ mặt biển và Đế Quốc Tây Ban Nha suy yếu, Bồ Đào Nha cũng suy yếu trước sức mạnh của hải quân Anh. Tại lục địa Âu Châu, Pháp trở thành cường quốc hùng mạnh nhất và có khả năng dám đương đầu với Anh quốc, Hòa Lan, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha  cả ở trong và ngòai lục địa Âu Châu. Vì thế Giáo Hội La Mã không còn trông mong gì ở Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha thi hành các thánh lệnh ăn cướp đã ban hành trong thế kỷ 15 như đã nói ở Chương 4.  Thực tế phũ phàng là như vậy, nhưng cái bản chât ưa thích dùng bạo lực và áp bức các dân tộc khác tôn giáo vẫn còn thôi thúc Giáo Hội phải tìm mưu tính kế để làm sao có được một đế quốc khác thay thế Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha làm thân con cọp cho Giáo Hội đội lốt, mượn oai để thi hành sách lược "theo voi ăn bã mía"  dưới chiêu bài "bảo vệ cái chân lý "  của Giáo Hội.

Tình hình Âu Châu lúc đó đối với Giáo Hội đã hòan toàn khác hẳn  thời kỳ thập niên 1530 trở về trước. Tại lục địa Âu Châu, nước  Đức và các nước Bắc Âu, đã có nhiều triệu tín đồ của Giáo Hội  bỏ đạo đi theo Tin Lành, nước Anh chống lại Giáo Hội,   ly khai Tòa Thánh Vatican và thành lập một hệ phái Kitô riêng gọi là Anh Giáo (Anglican Church)..

Nước Pháp  vào thời kỳ này, đang có phong trào  thành lập Pháp Giáo (Gallicanism), độc lập với Vatican. Tuy nhiên, tại quốc gia này,  thế lực bảo thủ thân Giáo Hội La Mã vẫn còn mạnh. Cũng vì thế mới xẩy ra vụ tàn sát Saint Bartholomew vào ngày 24 tháng 8 năm 1572  do chính quyền đạo phiệt Da-tô Charles IX (1560--1574) chủ mưu.[8]    Vụ tàn sát tín đồ  Tin Lành một cách vô cùng bỉ ổi  và hết sưc dã man trên đây khiến cho nước Pháp rơi vào  tình trạng chiến tranh tôn giáo triền miên giữa một bên là tín đồ Da-tô với sự chỉ đạo của Giáo Hội La Mã có chủ trương cưỡng bách tất cả mọi người phải theo đạo Da-tô và một bên là đại khối nhân dân bị trị chiến đấu trong hàng ngũ Tin Lành để đòi được quyền tự do tôn giáo hay tự do không tin theo tôn giáo nào cả. Nhân cơ hội này, người Pháp Da-tô dựa vào quyền lực nhà nước tàn sát người Pháp Tin Lành và người  Pháp ưa chuộng tự do. Tình trạng này càng khiuến cho nhân dân Pháp Tin Lành và người Pháp không tin tưởng vào tôn giáo nào cả (những người theo tụ do thần giáo) vô cùng căm thu nhà vua. Chính vì thế tên bạo chúa đạo phiệt Da-tô Henry III (1574-1589) bị  đâm chết vào ngày 1 tháng 8 năm 1589.

Người lên kế nghịệp là Henry IV (1589-1610). Tuy cũng là tín đồ Da-tô của Giáo Hội La Mã, nhưng ông ta còn có lương tâm và lý trí, thấu hiểu được cái triết lý "kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân" của Nho giáo ở Đông Phuơng. Vì thế  nhà vua  mới cho   ban hành Sắc Lệnh Nantes vào năm 1598, công nhận quyền tự do tôn giáo của người dân Pháp.  Việc này làm cho Giáo Hội La Mã và tín đồ Da-tô  ngoan đạo người Pháp bất bình và thù ghét nhà vua. Đây là nguyên nhân khiến cho nhà vua bị ám sát  vào năm 1610. Cũng từ đây, chiến tranh tôn giáo từ nước Pháp lan rộng ra gần hết lục địa Âu Châu và kéo dài tới hơn 30 năm trời.

Bàn tay của Giáo Hội La Mã trong việc thiết lập chế độ đạo phiệt Da-tô để củng cố quyền lực tại Pháp.-  Vua Henri IV bị ám sát qua đời vào năm 1610. Vua Louis XIII ( 1610--1643) lên  nối ngôi. Giáo Hội bố trí cho Hồng Y Richelieu  nắm giữ chức vụ thủ tướng, thao túng việc triều cương, quyết định tất cả mọi vấn đề nội chính cũng như đối ngọai. Quyền hành chính trị hoàn toàn nằm trong tay Tòa Thánh Vatican qua ông hồng y này và các tu sĩ cùng những tín đồ Da-tô khác tuyệt đối trung thành với Giáo Hội La Mã.

Theo lệnh  của Giáo Hội, Hồng y Richelieu  cố gắng biến nước Pháp thành một nước theo đạo Da-tô   hùng mạnh nhất Âu Châu để khống chế các nước khác theo đạo Tin Lành và biến ông vua nước Pháp thành một tên  bạo chúa Da-tô   đúng theo khuôn mẫu một nhà cầm quyền lý tưởng của Giáo Hội (như các bạo chúa Ferdinand V (1452-1516), Isabella I (1451-1504),  Philip II (1527-1598) của Tây Ban Nha và  Mary I (1553-1558) với tục danh là "Con Mụ Mary Khát Máu" (Bloody Mary) của nước Anh.) Sự kiện này được sách  Living World History ghi lại như sau:

"Với  dáng người mảnh khảnh và nước da  xanh xao do một căn bệnh bất khả trị gây nên, nhưng Hồng Y Richelieu lại có một ý chí sắt đá. Ông đã thành công đạt được hai mục tiêu là (1) tăng cường quyền lực của nhà vua và (2) làm cho nước Pháp trở nên  hung  mạnh nhất ở Âu Châu. Để có thể  hoàn thành được mục tiêu thứ nhât, ông cho ban hành những biện pháp tiêu hủy những quyền chính trị của tín đồ Tin Lành Huguenots và quyền lực của giới quý tộc.  Ông ra lệnh tấn công vào thành phố  quan trọng La Rochelle của người Tin Lành Huguenots để cưỡng bách họ phải từ bỏ đặc quyền duy trì quân lính của họ trú đóng ở trong các thị trấn của họ. Ông ban hành một sắc lệnh tiêu hủy tất cả các lâu đài của giới quý tộc mà không cần thiết cho  việc phòng thủ quốc gia. Giới quý tộc tại các địa phương phải nhường quyền hành cho các bồi thần tay sai thân tín của nhà vua có nhiệm vụ  canh chừng và theo dõi mọi họat động của những người bị coi như là kẻ thù của nhà vua. Hồng Y Richelieu hòan thành được mục tiêu thứ hai bằng cách làm suy yếu  quyền lực của triều đình Hapsburgs (Liên Bang các tiểu bang Đức). Ông đẩy nước Pháp vào Cuộc Chiến 30 Năm và sau cùng nướcc Pháp trở thành một quốc gia hùng mạnh nhất Âu Châu."  (The  cardinal, pale and delicate from incurable disease, had a will of iron. He succeeded in his two aims: to strengthen the power of the king in France and to make France supreme in Europe. To accomplísh the fírst goal, he took steps to destroy the political rights of the Huguenots and the power of the nobles. By attacking their chief town, La Rochelle, he forced the Huguenots to give up their privilege of maintaining fortified towns garrisoned by their  own troops. He issued an edict for the destruction of all nobles' castles that were not necessary for national  defense. Nobles lost their jurisdiction over local districts to new royal officials called intendants, who kept a watchful eye on the kings enemies. Cardinal Richelieu achieved his his second aim chiefly by weakening the power of the Hapsburgs. He plunged France into the Thirty Years' Wars, from which, it emerged as the strongest nation in Europe.") [9] 

Vua Louis XIII qua đời vào năm 1643,  người lên kế nghiệp là vua Louis XIV (1643-1715), nhưng quyền hành vẫn ở trong tay Giáo Hội với Hồng Y Mazarin nắm giữ chức vụ thủ tướng thay thế Hồng Y Richelieu (đã qua đời vào ngày 4 tháng 12 năm 1642.) Ông hồng y này đi theo con đường của ông hồng y  (Richelieu) tiền nhiệm do Giáo Hội La Mã vạch ra từ trước, và đã hoàn thành nhiệm vụ biến vua Louis XIV thành một tên bạo chúa lừng danh của nước Pháp với lời tuyên bố để đới "L' État, c' est moi" (I am the state). Trong khi đó, thì nhân dân Pháp thù ghét cái chế độ đạo phiệt Da-tô này đến tận xương tận tủy. Đoạn văn sử dưới đây là bằng chứng:

"Hà khắc và  luôn luôn hà khắc,  Hồng Y Richelieu tỏ ra rất ít quan tâm đến đời sống  người dân thường của nước Pháp. Chính ông đã cưỡng bách nhân dân Pháp phải gánh chịu thuế khóa nặng nề. Cũng vì thế mà khi ông ta chết vào năm 1642 cũng là lúc nhân dân Pháp  hân hoan reo mừng. Một năm sau, vua Louis XIII cũng qua đời, người con trai của nhà vua lên nối ngôi là Louis XIV, lúc đó mới có 4 tuổi. Trước khi chết,  Hồng Y Richelieu đã huấn luyện được người chuẩn bị thay thế ông    Hồng Y Mazarin gốc Ý Đại Lợi. Trong thời kỳ tuổi thơ của Vua Louis XIV, Hông Y Mazarin nắm trọn quyền chính trong tay. Các nhà quý tộc có thế lực cố gắng chống lại để giành quyền bị ông hồng y này đàn áp thẳng tay. Vì thế mà nước Pháp rơi vào thảm cảnh nội chiến. Các nhà viết sử gọi cuộc nội chiến này là "The Fronde". Cuối cùng vào năm 1653, các thế lực chống đối đều bị dẹp tan hay quy phục  chính quyền của nhà vua (thực ra là của Hồng Y Mazarin có Giáo Hội La Mã ở hậu trường). Khi Hồng Y Mazarin qua đời vào năm 1661, Vua Louis XIV đã 22 tuổi, và trực tiếp  nắm trọn mọi việc triều cương.

Vua Louis XIV là một trong những ông vua quyền thế trong các ông vua của nước Pháp. Ông cầm quyền  cho đến năm 1715 và được gọi là một thí dụ điển hình của một bạo quân chuyên chế. Ông tuyên bố "Quốc gia là ta", môt lời nói diễn tả chính xác thái độ của ông đối với nước Pháp."

"Richelieu, harsh and relentless, showed little concern for the common people of France, who had to bear heavy tax loads, and they rejoiced at his death in 1642. Louis XIII died a year later, and his son became king - Louis XIV - at the age of four. Richelieu had trained Jules Mazarin, an Italian born-cardinal, to be his successor, and during Louis' childhood, Mazarin held the reins of rule in his capable hands. Strong nobles tried to gain control of the government, but after a civil war known as the Fronde, Mazarin in 1653 suppressed the challenge of the nobles to royal power. When Mazarin died in 1661, Louis XIV, then twenty years-two old, personally took over the direction of the government.

Louis XIV was one of the most powerful French kings. Louis XIV ruled France until 1715, and has called the perfect example of absolute ruler. He is supposed to have declared "L'Etat, c'est moi" (I am the state), a saying that accurately describes his attitude towrd France."[10]  

Vua Louis XIV (1661-1715) không những lừng danh về lời tuyên bố "L' État C'est moi", và còn nổi tiếng về việc ông xây Điện Versailles và  chính sách đàn áp các tôn giáo khác với những biện pháp vô cùng dã man trong đó có việc hủy bỏ  Sắc Lệnh Nantes vào năm 1685. Sự kiện này được các nhà viết sử ghi lại như sau:

"  … Rồi thì Vua Louis XIV phạm một lỗi lầm làm suy yếu nước Pháp. Ông ta nhất quyết cho rằng người dân Tin Lành Huguenots là những người bất trung và là mối nguy hiểm cho đất nước. Năm 1685, nhà vua ra lệnh hủy bỏ Sắc Lệnh Nantes, luật này cho phép người Tin Lành được hưởng quyền tự do tôn giáo. Hơn một trăm ngàn dân Pháp theo đạo tin lành Huguenots đành phải bỏ nước Pháp mà đi  còn hơn là phải từ bỏ tín ngưỡng của họ và theo đạo Gia Tô  (La Mã) để được ở lại nước Pháp. Mặc dầu tín đồ Tin Lành chỉ chiếm vào khỏang 10 phần trăm dân số nước Pháp, nhưng trong khối tín đồ Tin Lành này, có nhiều người là những nhà lãnh đạo trong các ngành kỹ nghệ, là các thương gia và các nhà thủ công nghệ tuyệt vời. Mất đi những tài năng này là làm cho nước Pháp thiệt hại rất nhiều." [....Then Louis made an error that tended to weaken France. He became convinced that the Huguenots were disloyal and a danger to the nation. In 1685, he revoked, or canceled, the Edict of Nantes, which had given the Huguenots religious freedom. Over 100.000 French Protestants chose to leave France rather than give up their faith. Although they totaled only about a  tenth of French population, many of them were leaders of industry, tradesmen, and exellent craftmen. The loss of their skills injured France." [11] 

Những sự kiện  như (1) việc  Giáo Hội La Mã và tín đồ Da-tô  ngoan đạo người Pháp bất bình và thù ghét Vua  Henri IV (1589-1610) chỉ vì nhà vua ban hành Sắc Lệnh Nantes công nhận quyền tự do tôn giáo của nhân dân Pháp, (2) việc các ông Hồng y Richelieu và Mazarin nắm  quyền thủ tướng và nằm trọn các công việc triều chính nước Pháp trong cả  trong suốt thời kỳ từ năm 1610 cho đến năm 1661 (hơn nửa thế lỷ) để thiết lập một chế độ đạo phiệt Gia-tô vững chắc ở nước Pháp, (3) việc Vua Louis XIV hủy bỏ Sắc Lệnh Nantes và năm   1685 rồi đàn áp những thành phần thuộc các tôn giáo khác và đuổi tín đồ Tin Lành ra khỏi nước, tất cả   cho chúng ta thấy rõ  bàn tay phù thủy  của Giáo Hội La Mã  trong việc thiết lập chế độ đạo phiệt Da-tô tai Pháp để  biến nước Pháp thành "trưởng nữ của Giáo Hội" hầu có thể  thay thế các đế quốc Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha trong việc đem quân  thập tự đi chinh phục đất đai ngoài Âu Châu để làm thi hành sứ mạng "làm sáng danh Chúa" bằng bạo lực cho Giáo Hội. 

Đến đây, quý vị đã nhìn thấy những thủ đọan vô cùng thâm độc, cực kỳ gian manh và hết sức quỷ quyệt trong kỹ thuật xen vào nội bộ chính trị  các quốc gia mà Giáo Hội có ảnh hưởng để thiết lập chế độ đạo phiệt Da-tô. Trông người lại nghĩ đến ta. Chúng ta nhớ lại thời kỳ 1954-1975, bàn tay của Giáo Hội  nhúng vào công việc nội chính của miền Nam Việt Nam giống như Giáo Hội đã làm ở nước Pháp trong mấy thế kỷ 16. 17 và 18 và những năm 1815-1870.

Vận động và cấu kết với chính quyền Pháp xuất quân đánh chiếm Đông Dương.-  Vấn đề này đã được trình bày đầy đủ và rõ ràng trong các Chương 16, 19, 20 và 21, Phần II của bộ sách  này. Ở đây, người viết  chỉ  tóm lược ngắn gọn như sau:

Đạo Da-tô được truyền vào Việt Nam theo một kế hoạch hết sức tinh vi: Trước hết là Giáo Hội cho các tay gián điệp đội lốt các nhà truyền giáo Da-tô  đến Việt Nam dùng miếng mồi vật chất để  câu nhử những người nghèo khổ theo đạo, mua chuộc những phần tử du thủ du thực, sinh vô gia cư tử vô địa táng và móc nối những thành phần bất mãn với nhà nước đương quyền để lôi kéo họ vào đạo. Khi đã dụ khị được một số người theo đạo, Giáo Hội đoàn ngũ hóa họ và tổ chức  thành những đạo quân thứ 5 với những màng lưới gián điệp để thâu thập tin tức tình báo chiến lược của Việt Nam. Sau khi có đầy đủ những dữ kiện tình báo về Việt Nam, Giáo Hội gửi người đến thủ đô  Paris vận động chính quyền Pháp xuất quân đánh chiếm và thống trị Việt Nam. Từ giữa thế kỷ 17 đến giữa thế kỷ 19, có tới ba lần Giáo Hội cho người đi thuyết phục chính  quyền Pháp xuất quân tấn chiếm và thống trị Việt Nam. Hai lần đầu, vì tình hình Âu Châu và hoàn cảnh nước Pháp không cho phép chính quyền Pháp nghe theo lời thuyết phục bất chính và lưu manh này của Giáo Hội. Mãi đến giữa thế kỷ 19, sau khi đã dùng mỹ nhân kế gài được nữ tín đồ ngoan đạo Eugénie xinh đẹp, mơn mởn đào tơ mới 26 cái xuân xanh người Tây Ban Nha thành hôn với ông vua già xấp xỉ ngũ tuần là Hoàng Đế Napoleon III, Giáo Hội liền cho người đi cửa hậu  thuyết phục Hoàng Hậu Eugenie để bà này thủ thỉ với Hoàng Đế Napoléon III xuất quân đánh chiếm và thống trị Đông Dương. Lần này Giáo Hội thành công và Liên Minh Đế Quốc Thực Dân Pháp - Vatican đã thiết lập được bộ máy cai trị trên toàn thể lãnh thổ Đông Dương cho đến đầu năm 1945. Tất cả sẽ được trình bày đầy đủ trong Phần II  với tựa đề là Giáo Hội La Mã chủ tâm đanh chiếm và thống trị Việt Nam

CẤU KẾT VỚI ĐỨC QUỐC XÃ, PHÁT XÍT Ý,  ĐỘC TÀI TÂY BAN NHA

VÀ MƯU ĐỒ CẤU KẾT VỚI ĐẾ QUỐC NHẬT

Trong những năm trước và trong thời Đệ Nhị Thế Chiến, Giáo Hội cấu kết với cả chế độ độc Francisco  Franco Tây Ban Xa, Phát xít Beneto Mussolini Ý Đại Lợi Và Đức Quốc Xã.

Cấu kết với Đức Quốc Xã và Phá-xít Ý thiệt lập chế độ đạo phiệt Gia-tô Franco ở Tây Ban Nha.-Khi chính quyền cộng hòa Tây Ban Nha đã được thành lập vào đầu thập niên 1930, Giáo Hội La Mã vừa xúi giục nhóm tín đồ Da-tô cuồng tín dưới quyền lãnh đạo của Francisco   Franco vừa vận động hai chế độ Đức Quốc Xã và Phát-xít Ý Đại Lợi viện trợ cho phe Franco gây cuộc nội chiến kéo dài cả mấy năm trời nhằm lật đổ chế độ cộng hòa để thiết lập chế độ đạo phiệt Gia-tô tại Tây Ban Nha. Sự kiện này được sách sử ghi lại như sau:

"Cả hai phe đều cầu  ngọai viện. Chính quyền cộng hòa ln hy vọng  rằng Pháp và Anh sẽ tiếp tế vũ khí cho họ. Một phần sợ  rằng  nếu viện trợ cho phe  Cộng Hòa thì sẽ gây ra  chiến  tranh lớn, một phần vì áp lực nội bộ, cả Pháp và Anh đều theo chính sách bất can thiệp. Ngay từ đầu cuộc chiến,Tướng Franco kêu gọi Hitler  nước Đức và Mussulini nước Ý cung cấp phi cơ chiến đấu cho phe của ông. Được Tây Ban Nha nhường cho nhiều khóang sản, Đức Quốc Xã cung cấp cho Tướng Franco một không đòan gồm một  trăm phi cơ chiến đấu, Ý Đại Lợi gửi bộ quân  đến tiếp viện. Cả hai nước Đức và Ý lại còn gửi  xe tăng và pháo binh tăng viện cho phe Tướng Franco.  Các nước dân chủ Tây Phương phản đối nhưng không làm gì khác hơn." ("Both sides sought help from abroad. The republic consistently hoped that France and Great Britain would allow them to acquire arms. Partly because of fear of a general war, partly because of domestic pressure, both powers backed non-intervention. General Franco appealed immediately to Hitler in Germany and to Mussolini in Italy, which supply aircrafts early in the war. The Germans, in return for mineral concessions, supplied the Condor Legion (100 combat planes), and the Italians sent ground troops; both supplied tanks and artillery. The Western democracies protested   but did nothing." [12]

Vi vai trò chủ động của Tòa Thánh Vatican trong việc tạo dựng nên chế độ đạo phiệt Gia-tô Franco ở Tây Ban Nha trong thập niên 1930 khiến cho nhân dân quốc gia này còn thù ghét  Giáo Hội đến tận xương tận tủy cho đến ngày nay. Những bản văn dưới đây là bằng chứng cho sự kiện này:

1.- Bản văn có tựa đề là "Hold on to your faith, Pope tells Spaniards"  của ký giả David Sharrock  trong bản tin   World News được công bố ngày May 05, 2003  với nguyên văn như sau:

"Hôm qua, khi tuyên bố phong thánh cho  5 người Tây Ban Nha, Giáo Hòang (John Paul II) kêu gọi người Tây Ban Nha hãy duy trì truyền thống văn hóa Gia-tô (Kitô La Mã). Hàng triệu người xếp thành hàng chữ thập ở trung tâm kinh thành Madrid. Phần lớn những người này là người Tây Ban Nha và có cả những người Nam Mỹ và Ba Lan,  trải dài ra bốn ngã tư đường tại Quảng Trương Columbus, nơi đó một cái bàn thờ mầu trằng vĩ đại được dựng nên để làm lễ phong thánh.

Giáo Hòang tuyên bố phong thánh cho 2 nam  tu sĩ và 3 nữ tu, cả 5 người này đều là người Tây Ban Nha nổi tiếng là làm việc cho dân nghèo và đã qua đời trong thế kỷ vừa qua. Những bức hình vĩ đại của 5 người này treo ở tòa nhà văn phòng trông ra quảng trường.

Giáo Hoàng tuyên bố bằng tiếng Tây Ban Nha rằng, "Chúng ta ghi danh họ vào trong sách thánh và quyết định rằng tất cả đều được vinh danh là thánh ở trong Giáo Hội"

Trong 5 năm qua, Giáo Hòang (John Paul II) đã phong thánh cho 20 người Tây Ban Nha, trong đó, có 11 người tử đạo bị Phong Trào Cộng Hòa  sát hại trong thời Thời Nội Chiến Tây Ban Nha 1936-1939. "Trong số 5 người được  phong thánh (hôm này) có Cha Pedro Poveda là một trong số 4,184 tu sĩ bị Phong Trào Cộng Hòa sát hại trong những năm nội chiến. Các ông thánh khác là Angela de la Cruz (người thành lập  đạo nữ binh  "The Sisters" of the Company of the Cross"); Genoveva Torres (người thành lập đạo nữ binh "The Sisters of the Sacred Heart and the Holy Angels") ; Maravillas de Jesus (thành lập nhiều tu viện cho Dòng "Bare foot Camelites"); và Jose Maria Rubio, một tu sĩ Dòng Tên. Tính đến nay, Giáo Hòang (Jogn Paul II đã phong thánh cho 470 người và phong chân phước cho 1,314 người, nhiều hơn tổng số thánh và chân phước do tất  cả giáo hoàng tiền nhiệm đã tuyên phong trước đó.”

(Nguyên văn: "World News May 05, 03: Hold on you faith, Pope tells Spaniards" by David Sharrock:

"The Pope urged Spain yesterday to remain to its Roman Catholic culture and faith when he proclaimed five new Spanish saints . One million people formed a giant cross at the heart of Madrid as a congregation of mostly Spaniards, but also South Americans and Poles, spread out along four boulevards  intersecting at Columbus Square, where a huge white altar was built for canonisation Mass.

"We inscribe them in the book of the saints and establish that in all the Church they be devoutly honoured among the   saints," the Pope said in confident Spanish.

In the five years he has canonised 20 Spaniards, 11 of them "martyrs" who were killed by republicans during the Spanish Civil War of 1936-1939. Among the five who were proclaimed  saints was Father Pedro Poveda, one of 4,184 priests killed by republicans during the war. The other saints are Angela de la Cruz, who....The Pope has now canonised some 470 people and beattified 1,314, more than all his predecessors combined..."[13]  .

2.- Tờ nhật báo "Seattle-Post Intelligencer [Seattle]  ra ngày  February 6, 2003" nơi trang  A3,  loan bản tin như sau:

"Ở Tây Ban Nha, nói đến đạo Công Giáo La Mã là gợi lại hình ảnh nhà độc tài phát xít Francis Franco mà đồng tiền Tây Ban Nha nào cũng đều có in hình của ông ta và quyền lực của ông ta được hỗ trợ "bởi Ân Sủng của Thượng Đế"... Ngọai Trưởng Tây Ban Nha Ana Palaciao tuyên bố, "Điểm giống nhau của chúng ta là chiến đấu cho dân chủ, chiến đấu cho nhân quyền và chiến đấu để "tách rời tôn giáo ra khỏi chính quyền" .... Một vi dân biểu quốc hội Tiệp Khắc, (quốc gia này sẽ gia nhập  Khối Âu Châu Hợp Nhất vào năm tới), là ông Jan Zahadil tuyên bố, "Đề cập đến Thượng Đế trong bất kỳ hiến chương nào của Khối Âu Châu Hợp Nhất là môt ý kiến ngu xuẩn, nó chỉ tạo nên những mối bất hòa mà thôi. Không được có một tí gì liên hệ trực tiếp với tôn giáo cả." 

["In Spain, a reference to Catholicism evokes memories of the facist dictator Francis Franco, who stamped every Spanish coin with his profile and backed his grip on power "by the Grace of God."... Our identity is the fight for democracy, for huuman rights, for the separation between church and state," said Spanish Foreign Minister Ana Palacio. ... "Jan Zahradil, a Czech parlimentarian whose country will join the EU next year, said mentioning God in any EU charter was "a stupid idea (that) will only provokes disagreements. There should be no direct link to religion at all."] [14]     

Cấu kết với Đức Quốc Xã và phát Xít Ý thiết lập chế độ đạo phiệt Gia-tô Ante Pavelich ở Croatia.- Theo cuốn World Facts & Map, ấn bản 1995 của nhà phát hành Rand McNally thì  dân số của Croatia vào năm 1995 là 4.796.000 người sống trên một diện tích là 56, 538  cây số vuông hay 21, 829 dặm vuông. Trước khi Đệ Nhất Thế Chiến bùng nổ, vùng đất mà ngày nay gọi là quốc gia Croatia nằm dưới ách thống trị của Đế Quốc Áo-Hung. Năm 1918,  Đế Quôc Áo-Hung và Đức Quốc đại bại trước các đợt tấn công như vũ bão của quân Đội Đồng Minh Anh Mỹ Pháp và Đệ Nhất Thế Chiến chấm dưt. Nhờ vậy mà nước Nam Tư được hình thành gồm có những nhóm dân theo nhiều tôn giáo khác nhau như người Serbian theo Chính Thống Giáo, người Croatian theo đạo Da Tô, người Slovenes cũng theo đạo Da Tô nhưng thuộc một nhóm sắc tộc khác, và một số sắc dân khác theo tín ngưỡng khác trong đó có đạo Hồi.

Năm 1941, Nam Tư bị Đức Quốc Xã chiếm đóng, Giáo Hoàng Pius XII vận động với Hitler và Mussolini đưa một  tín đồ của Giáo Hội La Mã là Ante Pavelich chiếm một phần nước Nam Tư  để thành lập nước Croatia, rồi ban hành sắc lệnh đưa đạo Da Tô lên làm quốc giáo và thi hành "Kế Hoạch Inquisition",  giết hại gần một triệu người thuộc Chính Thống Giáo, Do Thái Giáo và Hồi Giáo. Sách sử ghi lại sự kiện này như sau:

"Trong thời kỳ Croatia là quốc gia độc lập và lấy đạo Gia Tô làm quốc giáo, có trên 700 ngàn đàn ông, đàn bà và trẻ em bị giết hại. Nhiều người bị hành hình, bị tra tấn, bị bỏ cho chết đói, bị thiêu sống và thiêu cho đến chết. Hàng trăm người bị cưỡng bách phải theo đạo Gia Tô (Thiên Chúa La Mã). Các ông linh-mục của Giáo Hội La Mã làm quản giáo tại các trại tù tập trung; nhiều tu sĩ khác của Giáo Hội là sĩ quan trong các đơn vị quân đội đã phạm tội ác tàn bạo. 700 ngàn trong tổng số dân có mấy triệu người tức là khoảng 1/3 dân số bị các đoàn lính dân quân  Da Tô giết hại." (Nguyên văn:” During the existence of Croatia as an independence Catholic State, over 700,000 men, women and children perished. Many were executed, tortured, died of starvation, buried alive, or burned to death. Hundreds were forced to become Catholic. Catholic padres ran concentration camps; Catholic priests were officers of the military corps which committed such atrocities. 700,000 in a total population of a few million, proportionally, would be as if one-third of the USA population had been extermintated by a Catholic militia.” [15]

"Ante Pavelich, người lãnh đạo mà cũng là người chủ mưu và tạo nên quốc gia Croatia độc lập theo đạo Gia Tô. Ông ta đã dùng chính sách khủng bố cũng như tinh thần cực đoan về chính trị và lòng cuồng đạo với tất cả những tàn bạo hơn cả hai nhà độc tài bảo trợ cho ông ta là Benito Mussolini và Adolf Hitler. Trước khi nước Nam Tư bị phân hóa, ông ta là người chủ mưu trong vụ ám sát vua Alexander (của nước Nam Tư) và các vụ giết hại các nhà chính trị khác. Nhờ vậy mà ông ta đã tạo nên được quốc gia Ustashi Croatia độc lập siêu Gia Tô giáo và thiết lập một chế độ độc tài siêu hơn cả chế độ độc tài Đức Quốc Xã. Ông ta được Giáo Hoàng Pius XII che chở và giúp đỡ bằng các phương tiện ngoại giao và tài chánh nhằm để đạt được cứu cánh của Giáo Hội La Mã. Khi quốc gia  Ustashi Croatia sụp đổ (vào đầu năm 1945), Pavelich chạy vào ẩn trốn ở trong Tòa Thánh Vatican, rồi giả dạng như là một tu sĩ. Sau đó, ông ta trốn sang nước Á Căn Đình." [16]

Tuần Báo Việt Nam Mới phát hành tại Seattle, Washington, trong hai số liên tiếp 411 ra ngày 27-11-1998 và 412 ra ngày 4-12-1998, chuyển dịch một bài báo từ Tuần Báo US New & Report, nói về chuyện tên đồ tể cuồng tín Pavelich phục vụ cho Vatican và được Vatican che giấu và giúp đỡ cho tẩu thoát sau khi Đức Quốc Xã bị đánh bại vào mùa xuân năm 1945. Nguyên văn bài báo này như sau:

"Một Khối Lượng Vàng Khổng Lồ Của Đức Quốc Xã Đã Được Giấu Ở Rome? Trong suốt thời gian xẩy ra Chiến Tranh Thế Giới Lần Thứ Hai, Đức Quốc Xã đã thực hiện vô số những vụ cướp bóc và chuyển số tài sản khổng lồ này sang nhiều nước. Mới đây người ta đã phát hiện thêm rằng Đức Quốc Xã có thể giấu vàng ở cả Tòa Thánh La Mã. Sự việc xẩy ra như thế nào?

Trong những ngày tháng kinh khủng của chiến tranh - kết thúc bằng 56 người thân của mình bị giết trong các trại tập trung, có hai ngày mà Eta Najfeld không bao giờ quên. Ngày thứ nhất là 10-4-1941, khi Najfeld (lúc đó là cô sinh viên Do Thái 25 tuổi) nhìn thấy hàng đoàn người đứng hai bên đường phố Zagreb để đón chào bọn Ustasha - đảng Phát Xít cực đoan mà bọn Đức Quốc Xã vừa dựng lên ở "quốc gia độc lập" Croatia. Ngày thứ hai xẩy ra ba tháng sau đó, khi một nhóm lính Ustasha xộc vào cửa hàng cô và lấy sạch mọi thứ. Trong cùng thời kỳ này, Ustasha tổ chức vơ vét tại nhiều nơi khác và nạn nhân luôn luôn là người Do Thái. Sau chiến tranh, những người sống sót như Najfeld đã nghĩ đến việc truy tìm tài sản của mình, nhưng họ không biết tìm ở đâu. Cách đây hơn một năm, các vụ điều tra liên tục tiến hành và người ta đã lần ra địa chỉ giấu tài sản của Đức Quốc Xã. Nhiều ngân hàng Thụy Sĩ, Thụy Điển, Bồ Đào Nha đã lần lượt mở hồ sơ lưu trữ. Chỉ một nơi hoàn toàn lặng im: Tòa Thánh Vatican.

Đầu tháng 3-1998, Vatican công bố chính thức yêu cầu trừng phạt vài thành viên trong Giáo Hội đã không làm tròn trách nhiệm trong việc giúp đỡ người Do Thái trong hồi Chiến Tranh Lần Thứ Hai. Tuy nhiên, Vatican không nhắc đến việc càng ngày càng có nhiều  lời kêu gọi mở cuộc điều tra về mối liên quan của một số giáo sĩ Croatia và bọn Đức Quốc Xã trong việc tẩu tán vàng sang Rome. Hồ sơ lưu trữ của Hoa Kỳ cũng như tại nhiều nước Âu Châu cho thấy rằng nhiều giáo sĩ Croatia đã trực tiếp giúp bọn Ustasha đem vàng sang Ý và rất có thể đã giấu ở Rome. Một phần trong số tài sản đánh cướp này được dùng để hỗ trợ cho các chuyến đào thoát của bọn tội phạm chiến tranh Croatia trốn sang Nam Mỹ. "Chúng tôi hoàn toàn không có ý quy kết Vatican trong việc này - Elan Steinberg, Giám Đốc Điều Hành Hội Đoàn Do Thái Thế Giới, nói. Nhưng sự im lặng của Vatican khiến chúng tôi hoang mang".

Tháng 4-1998, một nhóm điều tra đặc biệt dưới sự chỉ huy của Thứ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ Stuart Eizenstat đã xem xét vai trò của vài nước trung lập hồi thập niên 1940. Trong số tài liệu được tiết lộ, người ta thấy có bản báo cáo tình báo năm 1944, cho biết có một vụ chuyển tiền thông qua một ngân hàng Thụy Sĩ, từ ngân hàng Reichsbank ở Berlin đến Vatican. Tuy có thể đây là một vụ chuyển tiền bình thường giữa Giáo Hội Đức và Tòa Thánh Vatican, nhưng nó cho thấy có nhiều điểm tương tự như các vụ chuyển vàng của Đức Quốc Xã đến hệ thống ngân hàng Thụy Sĩ cũng thông qua một nước trung lập. Mối liên quan của Phát Xít Đức và Giáo Hội Croatia như thế nào?

Từ năm 1941 đến năm 1945, bọn Ustasha đã giết chết khoảng 500,000 (500 ngàn) người Serbia, Do Thái và dân du mục gốc Romania. Riêng tại Zagreb (Croatia), chúng đã đưa ra cái giá chuộc mạng cho tất cả dân Do Thái ở đây là 1,000 (một ngàn) kí lô vàng. Sau khi lấy được vàng, Ustasha chở các nạn nhân đến các trại tập trung và giết sạch. Trong những ngày đầu của Chiến Tranh Thế Giới Lần Thứ Hai, Giáo Hội Thiên Chúa Giáo Croatia đã ép những người Serbia vốn theo Chính Thống Giáo phải cải đạo. Thậm chí các cha dòng Francisco còn phân phát truyền đơn của Ustasha. Một số giáo sĩ Nam Tư sau này bị đưa vào danh sách tội phạm chiến tranh đã trở thành những bằng chứng rõ rệt nhất cho thấy sự liên quan giữa họ và Đức Quốc Xã. Trong đó phải kể đến Dragutin Kamber - người từng ra lệnh giết gần 3,000 (3 ngàn) người Serbia theo Chính Thống Giáo; Giám-mục Ivan Saric thuộc địa phận - được mệnh danh là "kẻ treo cổ người Serbia";  Giám-mục Gregory Rozman - người từng bị truy lùng gắt gao. Một phiên tòa tội phạm Nam Tư thiết lập năm 1946 đã lôi ra thêm nhiều kẻ "nửa Ustaha, nửa linh mục"  khác, trong đó có Miroslov Filipovic Majstorovic - chỉ huy trưởng Trại Tập Trung Jasenovac, nơi Ustasha từng thực hiện nhiều cuộc tra tấn dã man. Tuy nhiên, các khám phá mới nhất cho thấy nhân vật quan trọng nhất là Krunoslav Draganovic, từng là ủy viên cao cấp trong Hội Đồng Ustasha.  Năm 1943,  Ustasha đã dàn xếp với Giáo Hội Thiên Chúa Giáo Croatia để đưa Draganovic sang Rome. Tại đó, Draganovic làm thư ký ở Viện San Girolamo - một tu viện của người Croatia, đóng vai trò đầu mối liên lạc với bọn Ustasha. Draganovic cũng là trưởng phái đoàn không chính thức của thủ lãnh Ustasha Ante Pavelic.

Theo các báo cáo từ các lực lượng phản gián Hoa Kỳ (CIC) được viết ngay sau khi Chiến Tranh Thế Giới Thứ Hai kết thúc, Draganovic và nhóm của ông ta ở San Girolamo đã cung cấp tiền, thực phẩm, phương tiện nhà ở và làm cả giấy tờ chứng nhận Hội Hồng Thập Tự cho nhiều tên tội phạm chiến tranh Croatia (tức bọn Ustasha) thoát khỏi lưới pháp luật. Qua một đường dây ngầm gọi là "đường dây chuột cống", bọn Ustasha đã trốn từ Trieste đến Rome, sang Genoa hay Argentina - nơi chúng sống những ngày còn lại của cuộc đời trong an toàn. Toàn bộ những tay sĩ quan cấp cao Ustasha đã thoát bản án tử hình là nhờ đường dây chuột cống này. Các báo cáo của CIC còn cho biết thêm rằng San Girolamo là địa điểm gần như bất khả xâm phạm.  Bất cứ ai muốn đi qua cổng Tu Viện này cũng đều bị kiểm tra giấy tờ cũng như vũ khí. Toàn khu vực được bảo vệ bởi nhân viên Ustasha trang bị súng ống đầy đủ nhưng mặc thường phục. Ngoài ra, còn có một giáo sĩ khác từng sống ờ San Giramo cũng dính dáng nhiều đến các phi vụ giải thoát cho Ustasha. Đó là nhân vật bí mật tên là Golik mà tài liệu của văn phòng hoạt động chiến lược (OSS, tiền thân của CIA) có đề cập đến. Người ta tin rằng Golik là nhà tài trợ lớn nhất cho tất cả cư dân Croatia sống ở Rome (bọn Ustasha). Mỗi tháng Golik phát 6 ngàn lire cho từng người (tương đương với 2,700 [2 ngàn 7 trăm] dollars hiện nay).

Các nhân viên điều tra tin rằng thủ lĩnh Ustasha Ante Pavelic  đã trốn sang Buenos Aires  (Argentina) vào tháng 11 năm 1947 và thậm chí có cuộc hội ngộ với Giám-mục Rozman, người đã tuồn (chuyển) tiền sang Nam Mỹ từ tài khoản trong một ngân hàng Thụy Sĩ với mục đích giúp đỡ người tỵ nạn thuộc các vùng Thiên Chúa Giáo. Tùy viên quân sự Mỹ Davis Harrington cho biết rằng bản báo cáo ngày 9-3-1948 rằng (Giám-mục) Rozman đã đi đến Bern để giám sát những khoản tài chính này. Số tiền đó nằm trong một ngân hàng Thụy Sĩ và ông ấy (Rozman) dự đinh gửi phần lời sang Ý, rồi từ đó gửi cho các thành viên Ustasha ỏ Argentina. Trong quyển sách "vàng và tiền của chính phủ độc lập Croatia được chuyển ra nước ngoài", tác giả Jere Jareb nói rằng 288 kí lô vàng đã bị lấy ra khỏi ngân hàng quốc gia Croatia và ngân khố chính phủ vào ngày 7-5-1945 (ngày Đức Quốc Xã bị tiêu diệt). Phần lớn số vàng này đã rơi vào tay Draganovic.

Việc điều tra cho đến nay gặp nhiều rắc rối. Các chứng cớ đã thất lạc ít nhiều và các nhân chứng cũng chẳng còn sống (kể cả bọn Ustasha). Nhiều khám phá hơn có thể được lôi ra ánh sáng nếu phiên tòa xử Draganovic được thiết lập và nếu bị cáo không chết vào năm 1983, khi tiến trình điều tra chưa đem lại nhiều chứng cớ. Theo US News & World Report."  [17]

Người Việt Nam ta có hai thành ngữ nói về khi những sự thật xấu xa bỉ ổi đã bị tác nhân cố tình bưng bít và che giấu, nhưng cuối cùng cũng bị phơi bày ra ánh sáng. Hai thành ngữ này là "Cái kim buộc (trong) giẻ, lâu ngày cũng lòi ra" và "Cháy nhà mới lòi ra mặt chuột". Con chuột này là "con chuột cống" cho nên mới có tên là "đường dây chuột cống".

Ông Chu Văn Trình viết trong cuốn Sách Lược Gia Tô Thực Dân Thống Trị  Toàn  Cầu như sau:

"Các tuyên úy Gia Tô và lính Ustashi cũng đòi hỏi điều kiện tiền bạc để cứu mạng cho những kẻ đổi đạo. Thí dụ như Linh-mục Canon Ivan Mikan ở Ogulin đòi 180 đồng dinans cho mỗi người bị ép đổi đạo. Chỉ riêng một làng Chính Thống Giáo ở Jasenak, ông ta đã thu được 80 ngàn đồng dinans. Các tu viện Gia Tô đã trở thành những nhà kho chứa chấp những tài sản giá trị và những vật dụng của Chính Thống Giáo. Nhiều thứ trong số này đã được gửi đến cho các giám mục Gia Tô để sử dụng… (trang 76).

Ngày 20-8-1941, bọn Ustashi bắt giữ tất cả những người Chính Thống Giáo Serb đưa đến khu rừng Koprivnica, giữa Bugojno và Kupres, và trước khi tàn sát, đàn bà bị cắt vú, chặt gẫy chân tay. Một số người bị mù vì mắt bị móc bằng dao…Suốt đêm 31-7 và 1-8-1941, tai thành phố Prijedor, bọn Ustashi đã tàn sát 1,400 người... (trang 88).

Công cuộc diệt chủng Chính Thống Giáo sắc tộc Serb do Giáo Hội Gia Tô chủ động, ủy nhiệm cho Phát Xít Đức - Ustashi tiến hành tại Nam Tư, mãi tới 8 tháng sau mới bị thế giới biết đến qua một bài báo xuất bản tại Anh quốc (trang 88)" [18]

KẾT LUẬN

Nhận xét về những sách lược cấu kết với các đế quốc thực dân lược đí đánh chiếm đấ đai của Giáo Hội La Mã, sử gia Avro Manhattan viết trong cuốn "Vietnam Why did we go?" với nguyên văn như sau:

"Nghiên cứu các tiêu chuẩn lich sử cho thấy rằng  trong nhiều thế kỷ, Giáo Hội La Mã liên kết (đồng hóa) các mục tiêu tôn giáo với các mục tiêu của các cường quốc đương thời. Như chúng ta đã thấy, Giáo Hội đã dùng sách lược (công thức) này ở Á Châu khi Giáo Hội  liên kết với các cường quốc Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Pháp trong một thời kỳ.

Ở Âu Châu, sách lược trên đây cũng được áp dụng nhiều lần trong thế kỷ 20 này. Có lúc, Giáo Hội đã liên kết với nước Pháp, liên kết với Đế Quốc Gia-tô Áo - Hung trong thời Đệ Nhất Thế Chiến, rồi trước và trong thời Đệ Nhị Thế Chiến thì Giáo Hội lại liên kết với các chế độ độc tài Ý và Đức của phe hữu. Bằng cách đồng hóa với các cường quốc trên đây vào thời đang lên về các quyền lợi kinh tế, chính trị và chiến tranh, Giáo Hội đã thâu tóm được rất nhiều quyền lợi.

Vì rằng không còn một siêu cường Gia-tô nào kể từ khi Đệ Nhị Thế Chiến chấm dứt mang theo sự hủy diệt của chế độ phát xít ở Âu Châu, Giáo Hội La Mã quay ra chọn Hoa Kỳ  để liên kết thành một liên minh chính trị. Đây là hành động để đối phó với sự bành trướng của nghĩa Cộng Sản Bôn-sê-vích và siêu cường Nga Sô sau thời Đệ Nhị Thế Chiến.  Tình trạng này khiến cho cả  Giáo Hội La Mã lẫn Hoa Kỳ cùng lo sợ và bắt buộc hai thế lực này liên kết với nhau thành một liên minh thực sự trong thời Chiến Tranh Lạnh.”  

Nguyên văn: "The study of historical patterns reveals a formula which the Catholic Church has used for centuries, namely identification of her religious objectives with those of a major lay political power of a given period. As we have seen, she used this formula in Asia when she identified herself with the major powers of those days, Prortugal, Spain, and France.

In Europe the  formula was applied several times in this century. She identified herself at vaious intervals with France, then with the Catholic Empire of Austria-Hungry during the First World War, and with the right wing dictatorships of Italy and Germany, before and during the Second World War. She advanced her interests in the wake of these Powers by identified herself with their economic, political and war interest.