
| Nguyễn
văn Hóa Chữ nghĩa, nước mắt, nuớc đái và
nụ cười
Tôi vừa đọc đuợc truyện ngắn của
nhà văn Võ Đình, “Nước mắt, nuớc đái”. Truyện về một người đàn
ông lớn tuổi sau bao nhiêu năm xa quê, một hôm trở về nước thăm nhà,
ra vườn sau đứng đái; trong lúc đang đái, chợt nghe giọng hò ru em “Ru em, em thét cho muồi; Để
mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu; Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu; Mua cau Nam phổ,
mua trầu chợ Dinh.. Tôi tiếc là tôi chưa có kinh nghiệm
vừa đái vừa khóc nói trên, nhưng nhớ thuở nhỏ còn ở làng vào lứa tuổi
chừng 12, 13 thì hình ảnh ‘cầm cu đứng đái’ xảy ra rất thường nhật.
Nhất là vào những buổi trưa hè, thinh vắng, mọi người trong nhà đều
đi ngủ trưa, mắc đái tôi ra vườn sau kiếm một gốc cây, hay bên bụi
tre, trụt quần đùi, cầm cu tè tè vẻ rắn, vẻ đường zigzag chữ chi, có
khi vẻ thành một chữ o, rồi chấm dứt bằng vài chuỗi nước són ở giữa
chữ o. O tròn như quả trứng gà; thêm chấm
ở giữa là vòng đồng tâm Ở vào lứa tuổi nghịch ngợm đó,
nhưng tôi đã biết mê sách vở lắm rồi. Mấy anh em tôi có thông lệ di
chuyển đi ở đâu đi nữa rồi cũng sẽ tạo nên một tủ sách gia đình.
Thuở ở làng, người gây dựng tủ sách là ba tôi. Trước khi ông đi theo
Việt Minh (xin thưa, VM chứ không phải Việt cộng), thì ông đã vào lính
Tây khố đỏ với cấp bậc ‘chef de sergent’ rồi, thuở thanh niên ông
có vốn liếng tiếng Tây tôi nghe mẹ tôi nói lại là ‘ông nói tiếng
Tây như gió’. Có lẽ vì thế mà trong tủ sách của gia đình có những cuốn
sách Việt, sách Tây quí bắt tôi tự nguyện một năm hai lần, lấy ra lau
chùi bìa gáy và sắp xếp lại. Đó là một cái thú thích tuyệt của tôi,
vì trong lúc sắp xếp có thể ngồi hàng giờ để đọc những cái mình
thích và nhớ luôn cả tựa đề sách. Và có lần lấy xem một cuốn sách
Tây, tôi không hiểu gì cả, nên nổi máu ‘anh hùng’ quyết tự học, bước
đầu bằng cách đem cuốn sách ‘Văn phạm tiếng Pháp’ của ông Phạm Tất
Đắt học thuộc lòng luôn trong mùa hè lúc còn 13 tuổi, và thề sẽ tự
‘giải mã’ mấy cuốn sách tiếng Tây bìa cứng dày cộm trông rất bí
ẩn kia bằng cách học thuộc lòng cuốn tự điển Pháp Việt. Nhưng con
đường sau đó còn dài; dù sao bây giờ cũng đủ vốn liếng để đọc mấy
cuốn chữ nghĩa của A. de Rhodes. Ba tôi lúc còn sống có nhiều nghề,
trong đó có nghề làm y tá chữa bệnh. Trước khi chết, ông truyền nghề
lại cho người chú họ tôi, thế là chú tôi có thêm nghề chữa bệnh. Sau
thời gian chế độ Tổng thống Diệm Vì thế, mấy tuần qua trên diễn đàn
điện tử, thấy người ta bàn qua bàn về hai chữ “plusieurs soldats/ many
soldiers” dịch sao cho đúng trong tác phẩm của giáo sĩ truyền đạo
Alexandre de Rhodes, thì tôi sợ anh ấy cười… cho thối mũi. Bửa nay nhân chuyện “nước mắt,
nước đái”, nhớ đến chữ, nghĩa, tôi tưởng cũng nên bàn qua về chữ
“soldats/ soldiers”. Nói về “chữ quốc ngữ”, thì nhà
xuất bản Giao điểm cũng đã cho ra một tựa sách có tên là “A. de
Rhodes, Người đầu tiên vận động Pháp chiếm Việt Nam và chữ quốc ngữ”
(Nxb. GĐ, 1998); trong mục lục thấy có 6 tác giả, và hai bài Phụ lục, là
một nghiên cứu đứng đắn về con người và mục tiêu của hoạt động
truyền giáo của giáo sĩ Dòng Tên de Rhodes. Dù vậy, trên phương diện khoa
học lịch sử luôn đòi hỏi những công trình nghiên cứu, khám phá mới.
Trưng bày một khía cạnh lịch sử mới về nhân vật A. de Rhodes, hay những
đánh giá lại vấn đề tương quan giữa tiếng Việt [theo mẫu tự Latin] và
sự phát triển văn hóa, ngôn ngữ và khoa học Việt Tại sao có sự tranh luận giữa về dịch
Việt/ hiểu nghĩa chữ “soldats/ soldiers” ? Quan điểm của ông Cao Huy Thuần rất
rõ về sự đối nghịch giữa chủ thể văn hóa chính trị quốc gia và thứ
“văn hóa” truyền giáo Cao Huy Thuần viết : “Thật vậy, toàn thể cơ cấu xã hội và
chính trị của nước Việt Vì thế Chúa Trịnh đã đuổi A. de
Rhodes vào năm 1630. Triều đình Nguyễn cũng ban bố đạo luật cấm đoán
ẩn náo tại Năm đó, cấp trên bảo ông trở về
châu Âu để xin viện trợ vật chất và các người truyền giáo mới. Ông
đến La Mã 1649, đúng lúc tòa Thánh cố tách việc truyền giáo tại Châu
Á ra khỏi quyền hành thế tục của Bồ, Ông trình bày trước Hiệp hội
Truyền giáo Congregation Propaganda Fide kế
hoạch thiết lập tại Việt Nam một giáo đoàn thoát khỏi sự bảo trợ Bồ-đào-nha.
Được Giáo hoàng hân hoan tiếp nhận. Vị tu sĩ Dòng tên xứ Giáo sĩ de Rhodes quay về Pháp trong thời
cơ thuận lợi cho việc truyền đạo của giáo đoàn Pháp (được …“J’ai cru que la France, étant le
plus pieux royaume de monde, me fournirait plusieurs
soldats qui aillent à la conquête de tout l’Orient, pour l’assujetter à Jésus
Christ, et particulièrement que j’y trouverais moyen d’avoir des Évêques, qui
fussent nos Pères et nos Maitres en ces Églises. Je suis sorti de [
Divers Voyages et Missions,
A. de Rhodes, de Cramoisy xb. 1. Có hai tác giả Tây phương đã dịch
đoạn văn trên sang Anh ngữ 1a. Solange Hertz dịch : “…I
thought that France, as the most pious kingdom of the world, could furnish me many soldiers
for the conquest of all the Orient in order
to subject it to Jesus Christ and especially that I could find there some way of getting bishops for our Fathers and masters in those Churches. I
left to 1b. Helen B.
Lamb, dịch : “Alexandre de Rhodes held to his dream that
“I
believe that France, as the most pious of all kingdoms, would furnish me with soldiers
who would undertake the conquest of the whole Orient, and that I would find the means for
obtaining bishops and priests who were Frenchmen to man the new churches. I went to 2. Về các bản dịch Việt : Căn cứ vào hai đoạn dịch trên, ta
thấy “soldats” tất phải dịch là “soldiers” thôi, không thể dịch
thành một từ ngụ ý nào khác được. 2a. Chính vì thế mà một giáo sư Pháp
văn “ẩn danh” đã đề cập “Tôi tin rằng Pháp, ông viết. (“écrivait-il”,
tác giả thêm để nhấn mạnh) Vì là nước ngoan đạo nhất thế giới, sẽ
cung cấp cho tôi nhiều binh sĩ để đi
chinh phục toàn thể phương Đông. Cũng
như ở đó, tôi sẽ có cách để có nhiều Giám mục vốn là Cha và các Thầy
của chúng ta ở trong các nhà thờ. Tôi rời La Mã ngày 11 tháng 9 năm 1652 với
ý định đó.” [
Đạo Thiên Chúa và Chủ nghĩa Thực dân tại Việt Phải nói cho đúng đắn, chính từ luận
án của Gs. Cao Huy Thuần đã mở cánh cửa cho các nhà nghiên cứu sử Việt
2b. Ông Hồng Nhuệ dịch: “Tôi tin tưởng nước Pháp là một
nước đạo đức nhất thế giới, nước Pháp có thể cung cấp cho tôi mấy chiến sĩ đi chinh phục toàn cõi Đông
phương đưa về qui phục Chúa Kitô và nhất là tôi sẽ tìm được các
giám mục, cha chúng tôi và thầy chúng tôi trong các giáo đoàn. Với ý đó,
tôi rời bỏ Rôma ngày 11 tháng 9 năm 1652 sau khi tới hôn chân Đức Giáo
Hoàng.” ( Hành trình và Truyền
giáo, UB Đoàn kết Công Giáo, Tp. HCM xb., 1994, trang 263 ). 2c. Ông Hoàng Tuệ viết : “Tôi nghĩ là nước Pháp, vương quốc
mộ đạo nhất, có thể cấp cho tôi binh
lính để chinh phục toàn phương Đông và đặt nó dưới quyền Jésus
Christ. “Ông ta tiến hành chuyến đi Pháp.Ở
đây ý kiến của ông đuợc hoan nghênh. Kết quả là sự thành lập
Société des Missions Étrangères de Paris năm 1661, chỉ bao gồm các giáo sĩ Pháp…
Từ đó thế lực của Giáo hội Pháp ở Việt “Có thể nghĩ là chữ quốc ngữ,
ngoài ý nghĩa thực tiễn, còn có ý nghĩa chính trị nhất định trong phạm
vi các Giáo hội khác ở Việt ( Về
sự sáng chế chữ quốc ngữ, Hoàng Tuệ, Hội thảo Quốc tế về ‘Nghiên
cứu Lịch sử và Văn hóa VN’, tháng 12/1992, Hà Nội.) 2d. Trong cuộc hội thảo trên, có ông
Nguyễn Đình Đầu dịch như lại đoạn đó như sau: “Tôi tin rằng nước Pháp là nước
ngoan đạo nhất thế giới, sẽ cung cấp cho tôi nhiều chiến sĩ để chinh phục toàn phương
Đông và đặt dưới quyền trị vì của Đức Chúa Kitô, và đặc biệt tại
Pháp, tôi sẽ tìm cách có được Giám mục, các ngài sẽ là cha và thầy
chúng tôi tại các giáo hội này”. Các phần ‘2a, 2b, 2c, 2d’
là dẫn từ trích dẫn của ông Chương Thâu ( giáo sư thuộc Viện Sử học, Hà Nội Nhưng theo lý giải của Chương Thâu,
“Tương đối thoát” à có nghĩa là vì “có vài từ không sát đúng nguyên nghĩa”.
Vậy thì “dịch bám rất sát ‘văn cảnh’” mà lại “có
vài từ không sát đúng nguyên nghĩa” phải hiểu như thế nào đây? Để kết luận cho một hình thức
khoa học “ba phải” ( có nghĩa là coi dzậy chứ không phải dzậy! ), Chương
Thâu viết khá dài dòng : “Tóm lại, trở về chủ đề của bài
viết này, ý kiến cá nhân tôi, sau khi phân tích so sánh các câu dẫn dụng
từ một câu dịch nguyên văn của A. de Rhodes, tôi đồng ý với cách diễn
giải của Hồng Nhuệ và của Nguyễn Đình Đầu. Đọc kỹ toàn văn cuốn
Hành trình và Truyền giáo, chúng ta dễ dàng nhận thấy tư tưởng và nguyện
vọng của nhà truyền giáo A. de Rhodes ở thế kỷ XVII này. “Nhưng để tránh những suy luận chủ
quan, người nghiên cứu có thái độ nghiêm túc, thận trọng… một khi gặp
phải một “câu chữ”… có thể có nhiều ý suy đoán như câu trên đây,
chúng ta nên mở đóng ngoặc ghi nguyên văn –để tiện đối chiếu, để
tránh được cái lỗi “dĩ hư truyền hư” và chủ quan võ đoán. Âu cũng
là một kinh nghiệm đối với giới khoa học xã hội nhân văn vậy.” [ dẫn như trên, Chương Thâu, Nguyệt
san Hiệp Nhất số 43 -7/1996, Nhưng câu chữ gọi là “...soldats/
soldiers” này còn có ý nghĩa như thế nào? Theo tự diển “từ gốc” (Dictionary
of Word Origins) , soldier : là danh từ
để chỉ những người lính chiến ở nuớc Anh thời lập quốc, dù vần
chữ có nhiều cách viết khác nhau tùy theo mỗi quốc gia ở Âu châu, nhưng
nó có nghĩa chung là “lính đánh thuê” ( mercernary
). Trong tiếng Ý viết : soldato, có nghĩa
được trả lương, từ các chữ : solde,
soude; tiếng Pháp là sou /đồng xu Thứ hai, tự điển từ nguyên nghĩa (Dictionaire
Étymologique) về từ “soldat” : mượn từ tiếng Ý, soldato ( từ soldare, solde ); được biến đổi từ chữ
soudard từ thế kỷ XIV đến thế kỷ
XVII thành soldat, có nghĩa là người đi bắn thuê, giết thuê –tiré de
soudoyer. (***) Vậy, chúng ta tự hỏi, một giáo sĩ
Dòng Tên như A. de Rhodes, có một quá trình như sau: --Đ [ Xin mở ngoặc ở
đây: dữ kiện này cũng được một tác giả Thiên Chúa giáo người Việt
–Peter C. Phan, giáo sư Thần học tại
Đại học Georgetown Univ., Phải chăng “truyền thống” của
Dòng Tên là được huấn luyện để trở thành những kẻ ngụy biện, lật
lọng, mồm miệng văn vẻ điêu ngoa ở mức không còn chiều cao nào có thể Xin lỗi quí độc giả, viết đến đây
tôi thấy hơi mót tiểu, muốn chạy lẹ ra vườn nhà, cầm c.. vẽ chữ vẽ
rắn… Xin hẹn lại một buổi chiều hè mát dịu khác.
Ghi
chú: (*) Xin lưu ý độc giả: Theo nhận xét của chúng tôi (**) “soldier”
: The soldier was a common figure in early Dictionary
of Word Origins by Joseph
T. Shipley, Philosophical Library, Inc. reprinted 1979, trang 329 (***) “soldat”
: (à la soldat, 1548, N. du Fail), emprunté à l’Italien soldato (de soldare, payer une solde ). A remplacé l’antécédant francais soudard. Vậy “soudard” là gì? – soudard:
XIVe siècle, J. Le bel, “soldat” en moyen francais et encore dans divers dialecte ;
péjoratif, XVIIe siècle/ tiré de soudoyer. Dictionaire
étymologique, par Albert
Dauzat, [à l’École pratique des Hautes Études] Librarie Larousse – Paris VI, 1938 © Copyright 2006 giaodiem.com |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com