giaodiem copyright
          posted: 05.5.2006
      ĐẠO PHẬT VÀ TÔI: MỘT CHỮ “DUYÊN” !!

Trần Chung Ngọc       

     Từ trước đến nay tôi thường chỉ viết về chuyện thiên hạ, dù chẳng có ai mời gọi.   Tôi vốn rất kỵ nói về tôi, dù rằng đời tư của tôi chẳng có gì cần phải che giấu, vì tôi quan niệm đời tư không liên quan gì đến những điều tôi viết hoặc luận trên các chủ đề.  Sau khi xuất bản những cuốn như Công Giáo Chính Sử, Đức Tin Công Giáo, Chúa Giê-su Là ai? Giảng Dạy Những Gì? và có những bài đăng trên vài tờ báo Phật Giáo và trang nhà Giao Điểm, một vài độc giả đã hỏi tại sao tôi không cho biết tiểu sử như nhiều tác giả khác thường làm.  Tôi đã trả lời là giá trị của một cuốn sách hay một bài viết là ở nội dung cuốn sách hay bài viết chứ không nằm ở tiểu sử, bằng cấp, hay chức tước, địa vị của tác giả.  Trong thời buổi này, ngay cả những người có địa vị, chức tước cao ngất trời như Giáo hoàng của Ca-tô Giáo Rô-ma, hay Tổng thống Hoa Kỳ, cũng bị đặt dưới búa dìu dư luận. Điều này có nghĩa là, không phải cứ là Giáo hoàng hay Tổng thống Hoa Kỳ là nói cái gì, hay viết cái gì, cũng phải có giá trị. 

    Nhưng nay, tôi lại muốn viết vài lời về tôi, cái tôi đáng ghét.  Nhưng đây không phải là tiểu sử, mà là về cái duyên của tôi với Phật Giáo, thêm vào đó chút ít chi tiết liên quan đến những giai đoạn trong cuộc đời.. Đây cũng là cơ hội để tôi tự kiểm điểm về cái hiểu của tôi đối với Phật Giáo, và lẽ dĩ nhiên, cái hiểu của tôi về Phật Giáo chỉ là cái hiểu của…tôi.  Đây cũng là dịp để tôi ôn lại những công việc làm của tôi trong quá khứ trong tinh thần tự kiểm và sám hối của Phật Giáo.

    Trước hết, trong vụ biến cố Nguyên Thiều trước đây, vì ở nước ngoài không biết rõ tình hình phức tạp của Phật Giáo nơi quê nhà nên rất có thể tôi đã có những nhận xét sai lầm, do đó có thể làm phiền lòng hoặc có phần xúc phạm đến vài quý Thầy trong GHPGVNTN, vậy xin quý Thầy mở lòng từ bi hỉ xả đại xá cho.  Tất cả cũng chỉ vì thực tâm tôi rất tha thiết với Phật Giáo, và mong muốn Phật Giáo Việt Nam thống nhất, tùy duyên bất biến để thực hiện sứ mạng chuyển hóa, mang phúc lợi đến cho dân chúng mà thôi.  Nhưng khả năng và sự hiểu biết bất tòng tâm cho nên có thể đã phạm phải những lỗi lầm đáng tiếc trong phần nhận định và lý luận.  Hồng Quang và Phan Mạnh Lương, trở về Mỹ sau chuyến về Việt Nam vừa rồi, đã trình bày cho tôi thấy rõ những điều bất cập của tôi trong quá khứ về GHPGVNTN.   Tuy nhiên, đối với Võ Văn Ái, con nội trùng của Phật Giáo Việt nam, một con người mà tôi cho là không đủ tư cách, đạo đức, và trí tuệ để đảm nhiệm vai trò giám đốc cái gọi là Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc tế, đặt trụ sở ở Paris, tôi xin được giữ nguyên những điều tôi viết về nhân vật này. 

    Thứ đến, nhìn lại những sách và bài tôi viết trong quá khứ, tôi phải nhận rằng có nhiều chỗ đáng lẽ tôi không nên viết như vậy.  Không phải là tôi viết sai sự thực, mà chỉ là có lẽ không nên viết như vậy.  Tôi bị méo mó nghề nghiệp của một người thiên về khoa học, và bị ảnh hưởng của những tài liệu, sách vở mà tôi đọc, trong đó có những danh từ chính xác, nhưng dịch đúng chúng hoặc mô tả đúng với sự thật thì có vẻ nặng nề, gây khó chịu cho người đọc.  Lỗi tại tôi mọi đàng (Mea Culpa), do đó tôi thành thực xin lỗi tất cả quý vị độc giả nếu trong văn phong của tôi có chỗ nào không làm quý vị hài lòng.  Tôi xin thành thực sám hối và hứa sẽ cố gắng sửa đổi từ đây về sau.  Không phải vì sai với các sự kiện mà tôi cần phải sửa đổi cho đúng, mà chỉ vì tôi tự kiểm điểm lại chính mình, và theo lời khuyên của một số bạn bè, bỏ đi những từ tuy đúng nhưng nặng nề.  Bây giờ tôi xin vào đề, nói về cái duyên của tôi với Phật Giáo.

    Trong tiếng Việt, từ “Duyên” có nghĩa rất rộng và có vẻ như là một từ đặc thù của Phật Giáo.  Một thuyết căn bản bao trùm vũ trụ của Phật Giáo là thuyết “Duyên sinh” hay “duyên khởi”.  Vạn Pháp đều do duyên mà thành. Đủ duyên thì thành rồi trụ, thiếu duyên đi thì trở thành hoại, và hết duyên thì diệt. Đây là chân lý ngàn đời không thay đổi của nhà Phật. Chân lý này không loại trừ bất cứ cái gì trong vũ trụ, từ thượng đế cho đến con sâu con kiến v..v... Và chân lý này, không ai có thể phủ nhận là nó nằm trong thuyết Tiến Hóa của Khoa Học hiện đại.  Giáo sư Trịnh Xuân Thuận viết trong cuốn L'Infini Dans La Paume de la Main: "Tiến hóa từ những cát bụi của những ngôi sao, chúng ta chia sẻ cùng một lịch sử vũ trụ với những con sư tử trong những vùng hoang mạc và những bông hoa tỏa mùi thơm" (Poussières d'étoiles, nous partageons la même histoire cosmique avec les lions des savanes et les fleurs de lavande).  Chia sẻ cùng một lịch sử vũ trụ với những con sư tử trong những vùng hoang mạc và những bông hoa tỏa mùi thơm,  nhưng chúng ta trở thành người vì chúng ta hội đủ duyên để được làm người, khác với những duyên làm con cừu, con chiên, con trâu, con ngựa v..v..

        Tuy “duyên” không thể định nghĩa được một cách chính xác, nhưng chúng ta có thể coi “duyên” như là một tập hợp các yếu tố đưa đến sự thành hình của một cái gì đó, hoặc có tác dụng kéo con người tới gần một cái gì đó.  Phật Giáo quan niệm Duyên có hai mặt: thuận duyên và nghịch duyên.  Thuận duyên sẽ khiến cho con người trở thành lành thiện, thăng tiến, trí tuệ mở mang, cuộc sống ổn định, ít bệnh tật, vững chắc trong niềm tin hiểu biết  v..v…  Nghịch duyên sẽ khiến cho con người sa đọa, sức khỏe yếu kém, trí tuệ kém cỏi, tâm hồn bất an, sợ sệt, thiếu tự tin, trở thành mù lòa tin bướng tin càn v..v..  Cho nên, một người theo Phật Giáo không nhất thiết bao giờ cũng phải là thuận duyên, mà trong nhiều trường hợp, lại là do nghịch duyên. Chẳng phải là Phật Pháp có thuận hay có nghịch mà đó chỉ là những duyên đến với con người mà thôi.  Nếu là do thuận duyên thì con người thực hành đúng Phật Pháp.  Nếu nghịch duyên thì rất có thể con người biến Phật Pháp thành Ma Pháp.  Riêng đối với tôi,  có thể nói tôi là người có duyên với Phật Giáo, khá nhiều duyên, và tất nhiên, theo chủ quan của tôi, là những thuận duyên.

Tôi sinh ra trong một gia đình theo đạo Phật.  Hồi còn nhỏ, độ 10, 12 tuổi gì đó, nhà tôi ở Hà Nội, phố Lê Lợi, sau đổi là Bà Triệu, ngay trước cửa Chùa Chân Tiên.  Song thân tôi “bắt” tôi sang học Phật và chữ Nho với Sư Ông trụ trì Chùa.  Sư ông dạy chúng tôi, tôi và vài đứa trẻ cùng phố, khá nhiều nhưng tôi chẳng nhớ được gì ngoài bài tán Phật A-Di-Đà: “A Di Đà Phật thân kim sắc, Tướng hảo quang minh vô đẳng luân...” Tôi đã phải đứng khoanh tay trả bài này cho Sư Ông không biết bao nhiêu lần cho nên tôi thuộc bài này đến độ ngày nay, sau mấy chục năm chữ Thầy trả lại Thầy, tôi vẫn còn nhớ nguyên bài tán Phật này, dù tôi chẳng có mấy dịp đọc đến nó.

Tới năm 1951, tôi được Thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm “mời” đi học khóa sĩ quan trừ bị Nam Định.  Khi mãn khóa tôi về phục vụ tại Tiểu đoàn 12, đóng quân trong đồn sát làng Hòa Luật Nam, hạt Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, Trung Việt, phía Nam thành phố Đồng Hới khoảng 40 cây số.  Trong hạt này có hai làng nổi tiếng, chỉ cách nhau độ 2 cây số và một con lạch: làng Đại Phong, sinh quán của ông Ngô Đình Diệm, và làng An Xá, khi đó nghe nói là sinh quán của ông Võ Nguyên Giáp.  Có lẽ cũng do duyên nên trong làng Hòa Luật Nam có một ngôi Chùa nhỏ và mỗi sáng chủ nhật, nếu không phải đi hành quân hay bận công tác, tôi và một số sĩ quan, binh sĩ thường tới Chùa lễ Phật.  Dạo đó, dù chưa hiểu biết gì về Phật Giáo, mỗi khi đi hành quân tôi thường có một ý nghĩ ngây ngô là: “Nếu mình không định giết ai thì chắc cũng chẳng ai giết mình.”  Hiển nhiên tôi không thể phổ biến ý nghĩ này vì không muốn bị đưa ra tòa án quân sự. Đi hành quân tôi chẳng bao giờ đeo súng, dù chỉ là khẩu súng lục Colt 12.  Tội nghiệp cho người lính hầu, ngoài cây súng trường của hắn ra, hắn còn phải mang dùm tôi khẩu súng lục, và cơm nước để phục vụ tôi.

Số tôi thật là may mắn, tuy ở một đơn vị tác chiến mà cho tới khi đình chiến năm 1954 tôi cũng chẳng bao giờ có cơ hội giết địch (nghĩa là giết chính mình) và địch cũng chê tôi luôn, kết quả là tôi hoàn toàn bình an vô sự.  Lẽ dĩ nhiên đây chỉ là một trường hợp đặc biệt cá nhân chứ không áp dụng cho bất cứ ai khác, và tôi không có gì phải hối tiếc hay phàn nàn về điều này.

Sau khi đất nước chia đôi năm 1954, một số bạn cùng khóa sĩ quan ở lại với Cụ ngoài Bắc, đa số vào Nam.  Còn tôi, tôi theo đơn vị rút về phía Nam vĩ tuyến 17, và tình cờ đơn vị tôi lại đóng quân đồn trú ngay cạnh Chùa Thiên Mụ, gần Huế.  Nơi đây, tôi có nhiều dịp đứng ở chân Tháp chùa Thiên Mụ, ngắm cảnh “Gió đưa cành trúc la đà”, và buổi sáng đôi khi tỉnh giấc bởi tiếng chuông thanh thoát cảnh tỉnh của “Hồi chuông Thiên Mụ, Old Chicken Bone Soup” [câu dịch tuyệt tác “Canh Gà Thọ Xương” của một người nào đó cho người chồng Mỹ trong thời còn chiến tranh]

Tôi có nhiều kỷ niệm đẹp ở đất Thần Kinh, có vài người bạn mà tôi chưa hề quên dù mấy chục năm nay chưa hề gặp lại.  Vì tính tình không hợp với nhà binh nên mùa hè năm 1956 tôi xin được giải ngũ, về nhà đi học lại cùng với đàn em nhỏ.  Gia đình tôi đã di cư vào Saigon từ đầu tháng 10 năm 1954.

Saigon, tối tối mẹ tôi lần tràng hạt niệm Phật nhưng chưa bao giờ bảo tôi phải niệm theo.  Hàng tuần, ngày Chủ Nhật, chị tôi đi Chùa Xá Lợi nghe giảng Pháp, nhất là trong thời kỳ Phật Giáo tranh đấu, nhưng chưa bao giờ chị tôi bảo tôi phải đi theo.  Tôi thấy đây là một nét rất đẹp của Phật Giáo, đặt căn bản trên tự giác.  Con người thấy đạo Phật hay thì tìm đến với đạo Phật chứ không phải là bị ép buộc hay nhồi sọ từ thuở nhỏ, hoặc nếu đã trưởng thành thì bị mua chuộc bởi đôi chút vật chất trong những hoàn cảnh khó khăn, hoặc nếu không có đủ đầu óc thì dễ bị huyễn hoặc bởi những điều hoang đường của thời bán khai.

Nhưng rồi một buổi sáng đẹp trời, mẹ tôi và chị tôi “lôi” tôi đến Chùa để quy y Tam Bảo.  Nói vậy chứ khi đó tôi đã lớn, đang học ở Đại Học Khoa Học Saigon.  Thực ra thì trước đó mẹ tôi đã hỏi tôi là có muốn quy y Tam Bảo không? Tôi thấy quy y Tam Bảo cũng chẳng mất mát gì, và cũng để chiều ý mẹ tôi, tôi đã bằng lòng.  Và sáng ngày hôm đó, tôi đã theo mẹ tôi đến Chùa xin được quy y Tam Bảo vì hôm đó vị Thượng Tọa trụ trì Chùa Văn Thánh bên Thị Nghè, nơi mẹ tôi và chị tôi thường đi lễ sáng chủ nhật, có làm lễ quy y cho vài người khác. 

Thế là, ngày 15 tháng 8 năm Mậu Tuất (1958), tôi đã quy y Tam Bảo tại Chùa Văn Thánh, Thị Nghè.  Thầy truyền giới là Hòa Thượng Đồng Đăng, Thượng Tọa Thích Tuệ Đăng thay mặt Tăng Già Đồng Chứng Truyền.  Tôi được ban cho một Pháp danh và được truyền ngũ giới.

     Trong Ba Quy Y, điều thứ 3 dạy rằng: “Đệ tử quy y Tăng, là những vị xuất gia chân chính, trọn đời nguyện không theo bè đảng xấu ác.”

     Khi đó, Năm Giới Cấm tôi được truyền là: Không Được Giết Hại, Không Được Trộm Cướp, Không Được Tà Dâm, Không Được Nói Dối, Không Được Uống Rượu.   [Ngày nay, giới thứ 5 thường được đổi là không được uống rượu say sưa cũng như không được dùng các chất ma túy]

    Hiện nay tôi còn giữ được “Chứng chỉ quy y”, bản chứng chỉ này còn lớn hơn cả cái bằng Cử Nhân Khoa Học mà năm 1962 Khoa Học Đại Học Saigon cấp cho tôi.

Từ đó đến nay tôi theo được 4 giới, vì thỉnh thoảng, chung vui với bạn bè, tôi cũng nhâm nhi chút bia hay chút rượu, có thể nói là phạm giới ở thời điểm tôi quy y Tam Bảo trước đây nhưng không phạm giới theo tiêu chuẩn ngày nay, vì chưa bao giờ tôi uống rượu say, bao giờ cũng chỉ một lon bia, hay một ly rượu chát, và không bao giờ đụng đến ma túy cả.  Nói vậy chứ không đúng hẳn, vì trong vài trường hợp tôi phải vào nhà thương mổ, người ta đã phải chích morphine cho tôi đỡ đau, hoặc cho uống Tylenol có chất codeine.  Nhưng đây là những trường hợp ngoài ý muốn, nên tôi không tính, hoặc cùng lắm thì chỉ có thể tính một nửa.  Còn về giới “Không được nói dối” thì kể ra cũng hơi khó giữ, vì từ khi sang Mỹ, phải giao thiệp với những người không cùng chung một nền văn hóa, thỉnh thoảng tôi vẫn phải thốt lên những câu như “Very good” hay “That’s wonderful” tuy sự thật chẳng có gì là “good” hay “wonderful” cả.

Các cụ nhà ta đã dạy “Lời nói không mất tiền mua” hay “Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”.  Tôi đã áp dụng những lời dạy này trong sự giao thiệp hàng ngày đối với các đồng nghiệp và bạn bè, cố tránh những tranh luận về chính trị và tôn giáo.  Nhưng sau này tôi thấy khó có thể áp dụng trong lãnh vực học thuật (scholarship), vì “lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau” hay theo thuật ngữ của Phật Giáo, “ái ngữ”, nhiều khi chỉ là tự dối mình và dối người, hoặc có tính cách mị dân trên đầu môi chót lưỡi. 

    Như vậy thực ra tôi đã chính thức kết duyên với Phật Giáo đã hơn 47 năm nay rồi, và tôi chưa bao giờ tính chuyện ly dị để cưới cô “cứu rỗi”, dù đã nhiều lần, từ khi sang Mỹ, tôi được nghe quảng cáo là cô “cứu rỗi” rất hấp dẫn, và người ta, cả Mỹ lẫn Việt, cũng đã hơn một lần muốn se duyên tôi với cô “cứu rỗi”.  Chỉ phiền có một điều là những người làm mai làm mối này kiến thức không có mấy, không những về hiểu biết thông thường (common sense) mà còn về chính bản chất của cô “cứu rỗi” nữa.  Mỗi khi gặp một người muốn se duyên cho tôi với cô “cứu rỗi”, tôi chỉ hỏi một hai câu trong những lời mạc khải của cô “cứu rỗi” là họ tự khắc lẳng lặng bỏ đi, không bao giờ còn quay đầu trở lại.  Có một điều kỳ lạ là những người đi truyền đạo này chỉ muốn tôi nghe họ chứ họ không muốn nghe tôi.  Thí dụ, tôi đề nghị: tôi sẵn sàng nghe ông/bà nửa giờ về đạo của ông/bà nhưng ông/bà có muốn nghe 5 phút tôi nói về đạo Phật không?  Bao giờ họ cũng từ chối.  Nhưng điều này lại cho tôi một kinh nghiệm rất quý báu.  Đó là, nếu mình chỉ biết về đạo mình, mà không hề biết gì về đạo khác, thì lấy cái gì để mà so sánh, phân biệt chân, giả, tốt, xấu?  Vả chăng, trong ba quy y, có câu “trọn đời nguyện không theo bè đảng xấu ác.”   Tất nhiên bè đảng xấu ác là bè đảng đã gây nhiều tội ác cho nhân loại mà lịch sử đã ghi rõ.

    Sau khi quy y Tam Bảo, “Phật sự” của tôi chỉ là mỗi năm vài lần cùng mẹ và chị, và sau này cùng “bà cụ thân sinh của mấy đứa con tôi” đi Chùa lễ Phật trong những ngày lễ Phật Giáo chính và ngày Tết.  Nghĩ lại thật xấu hổ, mang danh Phật tử, đã quy y Tam Bảo mà tôi chẳng biết gì về Phật Giáo, chẳng bao giờ đọc Kinh điển Phật Giáo, chẳng bao giờ đi nghe thuyết Pháp, chỉ mải mê lăn lóc trong mưa bay gió cuốn của đường trần, lãng phí nhiều năm, thật là oan uổng.

Năm 1962, tôi bị gọi tái ngũ.  Ở đơn vị ít lâu rồi vì có bằng Cử Nhân Khoa Học và có lời giới thiệu của một ông bạn đang phục vụ ở Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, tôi “được gọi về” Văn Hóa Vụ, Trường Võ Bị, và rồi được bầu làm Trưởng Khoa Khoa Học (Vật Lý và Hóa Học).  Sau khi khi Mỹ “tự tiện” mang quân vào Việt Nam, tôi lại xin giải ngũ, trở về làm Giảng Nghiệm Viên phòng Vật Lý, Khoa Học Đại Học Saigon.   Rồi tôi xin được một học bổng đi Mỹ học, và rồi, 1967,  tôi đã tới học về ngành Vật Lý tại đại học Wisconsin ở thủ đô tiểu bang: Madison.  Nơi đây tôi lại có duyên được gặp Thượng Tọa Thích Thuyền Ấn và anh Lê Mạnh Thát, alias đại đức Trí Siêu, hai người cũng sang học tại đại học Madison này. [Ghi chú: TT Thích Thuyền Ấn nay đã là Hòa Thượng, và Đại Đức Thích Trí Siêu nay đã là Thượng Tọa, còn tôi, qua mấy chục năm cũng được lên chức từ Nam cư sĩ lên … Ưu-bà-tắc.] Tôi biết Lê Mạnh Thát là người của viện đại học Vạn Hạnh gửi đi học nhưng khi đó có vẻ như anh ta ngại tiếp xúc với người đồng hương nên một đôi lần gặp nhau chỉ chào hỏi bâng quơ vài câu.  Sau này, ngay sau khi chiến tranh chấm dứt, tôi được tin anh ta được Nhà Nước ưu ái cho đi Tu chùa Huyền.  Nhưng ngày nay, Lê Mạnh Thát đã trở thành Thượng Tọa Thích trí Siêu, một nhà nghiên cứu Phật Giáo có tên tuổi, và đã xuất bản nhiều công trình nghiên cứu về Kinh Điển, Lịch Sử Phật Giáo rất có giá trị và đóng góp không ít cho nền văn hóa Việt Nam.  Còn Thượng Tọa Thích Thuyền Ấn thì cởi mở hơn nhiều nên hai vợ chồng tôi [Sau Tết Mậu Thân, bà xã tôi đã xin được từ nhiệm giáo sư Toán ở trường Mạc Đĩnh Chi để đi theo chồng vì chương trình học PhD của tôi ít nhất cũng phải là 4 năm, và đã được phép tay xách nách mang mấy đứa con sang Mỹ “tòng phu”] đã nhiều lần tới thăm Thầy và mời Thầy về nhà tôi ở cư xá sinh viên chơi, không phải để nhậu nhẹt (vì Thầy đâu có nhậu), cũng không phải để đàm đạo (vì tôi đâu có biết gì về đạo), mà để nói chuyện thế gian.  Thầy nói chuyện rất hoạt bát, thích giảng triết lý Đông phương. Đặc biệt Thầy giảng về đoạn Trương Vô Kỵ học Thái Cực Quyền với Trương Tam Phong, càng học càng quên, rất là hấp dẫn và hay.  Tôi nghĩ Thầy nói chuyện đã hay, chắc thuyết Pháp còn hay hơn nữa.    Thầy ở với Cụ ít năm rồi hết duyên nên sang Mỹ.  Tôi được biết Thầy có làm nhiều bài thơ Thiền rất là…Thiền.   Không đủ duyên nên tôi chỉ gập lại Thầy có một lần ở cuộc họp Vạn Hạnh bên Cali, và gần đây nói chuyện một lần với Thầy qua điện thoại nhân dịp một anh bạn ở Pensylvania, trước cũng học ở Madison, đón Thầy sang chơi.  Thầy cho biết, Thầy hiện nay chỉ chuyên tâm vào việc dịch giảng kinh sách Phật Giáo.  Thầy rất giỏi tiếng Phạn.

Sau khi tốt nghiệp, 1972, tôi và gia đình trở về nước.  Tình hình chiến sự bên nhà gia tăng và ngay từ 1972, người Mỹ đã biết là Mỹ sẽ bỏ rơi Nam Việt Nam.  Nhiều người bạn Mỹ khuyên chúng tôi nên ở lại và họ sẽ giúp để chúng tôi ở lại đất Mỹ, nhưng tôi từ chối vì có lẽ trong người hơi có chất quân tử Tầu, không thích trốn tránh trách nhhiệm.  Nhiều người cho là tôi điên khi kéo cả bầy đoàn thê tử trở về nước trong giai đoạn đó. Về Việt Nam nhà tôi lại ở ngay gần Chùa Vĩnh Nghiêm trên đường Công Lý nên chúng tôi lại có nhiều dịp đi lễ Chùa.  Đúng là cái duyên, muốn tránh cũng không được.   Saigon, nơi tôi dạy học chính là ở Khoa Học Đại Học Saigon.  Sau vì có bạn bè mời, hay nhờ giúp, nên tôi còn dạy ở Đại Học Vạn Hạnh, trường Kỹ Thuật Cao Thắng và trường Kiểu Mẫu Thủ Đức, mỗi nơi chỉ có vài giờ một tuần.  Ở Vạn Hạnh được gặp lại Thượng Tọa Thích Thuyền Ấn.   Tháng 4, 1975, vật đổi sao rời, Cụ vào, tôi bị “Mỹ cưỡng bách di tản sang Mỹ” [Nói vậy mà không phải vậy].  Từ 1975 cho tới khi về hưu năm 1996, tôi nghiên cứu và dạy khoa học tại đại học WisconsinMadison, tiểu bang Wisconsin.  Trong thời gian này, nhờ kinh nghiệm rút từ mấy người truyền đạo, tôi cũng để thì giờ đọc, tìm hiểu kinh sách Phật Giáo, và nghiên cứu lịch sử, Thánh Kinh của Ki Tô Giáo, cùng đọc thêm về Khổng Giáo, Lão Giáo.  Mình theo Phật Giáo mà chỉ biết về Phật Giáo thì làm sao thấy được tinh túy của cái mình theo, lấy gì để mà đo đây.

Có lẽ hạt giống Phật Giáo đã có sẵn trong người, chỉ cần hội đủ cơ duyên là nảy mầm, phát triển.  Cho nên, sau khi định cư tại Hoa Kỳ, và khi cảm thấy việc làm và đời sống đã ổn định, tôi bắt đầu để thì giờ “nghiên cứu” về Phật Giáo, và mỗi năm vài lần lái xe trăm dậm đi dự các ngày lể Phật Giáo chính như Phật Đản, Thích Ca Thành Đạo, Vu Lan v..v…  Do đó tự nhiên đã có nhiều duyên lành đưa tới.  Lâu lắm rồi, tại Chùa Phước Hậu ở Milwaukee, tôi đã được nghe Đại Đức Thích Tịnh Từ ở Tu Viện Kim Sơn thuyết Pháp, và được Đại Đức tặng cho mấy cuốn “Tu Viện Kim Sơn”, “Một Hội Phật Giáo VN Hải Ngoại” v..v..  Sau đó tôi có đóng góp một số bài trên tờ Nguồn Sống của Tu Viện.  Chỉ tiếc là cho tới nay tôi vẫn không có dịp đến thăm Tu Viện dù đã vài lần tới San Jose.  Nghe nói, hiện nay Đại Đức không còn là Đại Đức mà đã là Đại Hòa Thượng.

Rồi một ngày nọ, bỗng nhiên tôi được Thượng Tọa Thích Đức Niệm ở Viện Đại Học Quốc Tế gửi cho các cuốn Vu Lan Bổn và Báo Phụ Mẫu Ân Kinh cùng mấy cuốn tập san do Viện phát hành.  Sau đó tôi cũng viết một số bài, thường là về Phật Giáo và Khoa Học trên tờ Phật Giáo Thống Nhất.  Rồi mỗi khi có dịp sang Cali tôi cũng đã cố gắng đến thăm Thầy Đức Niệm tại Phật Học Viện Quốc Tế cùng dùng cơm chay với các Tăng sinh tại đây.  Ngoài ra tôi cũng viết một số bài cho tờ Sen Trắng của Chùa Giác Lâm, Philadelphia, theo lời yêu cầu của một anh bạn ở đó.

Tôi cũng có dịp nói chuyện, không dám nói là đàm đạo, với khá nhiều bậc xuất gia ở Hải Ngoại mà tôi không muốn kể tên ở đây, sợ làm phiền đến quý vị ấy có thể vì những những bài viết thuộc loại lội ngược dòng hải ngoại của tôi trên Giao Điểm. 

Nhưng, thực ra, cái duyên đầu tiên có tính cách quyết định đưa tôi chính thức đi vào đạo Phật, tuy tôi chưa bao giờ ở ngoài,  là cuốn “The Essence of Buddhism” của John Walters.  Cuốn sách nhỏ này, vào khoảng 150 trang, rất đặc biệt, vì đó là tác phẩm của một người trưởng thành trong truyền thống Ki Tô, được dạy kỹ Phật Giáo là một tôn giáo yếm thế, vô vọng, một dạng sơ khai của chủ thuyết hiện sinh v..v.., và tin rằng Ki Tô Giáo là tôn giáo duy nhất có ích cho nhân loại.  Nhưng sau một chuyến du hành Thái Lan, Miến Điện, Tích Lan, ông ta đã thấy thực chất của Phật Giáo, hoàn toàn không như những điều ông đã được nhồi vào đầu từ khi còn nhỏ.  Ông bèn suy nghĩ lại, tìm hiểu lịch sử và so sánh Ki Tô Giáo với Phật Giáo.  Ông nghĩ tới “những sai lầm và tội ác của những Giáo hội Ki Tô và những giới chức lãnh đạo trong quá khứ” (the blunders and crimes of the churches and their leaders in past ages), những lễ tiết trong Ki Tô Giáo mà ông cho là có tính cách “mê tín tàn bạo” (sadistic superstition) và so sánh với  “một trong những sự vinh quang nhất của Phật Giáo là tinh thần khoan nhượng” (one of the greatest glories of Buddhism is its tolerance).  

      Cuốn sách này giúp tôi có một kiến thức căn bản về cuộc đời Đức Phật, những giáo lý chính yếu của Phật Giáo, đạo đức và sinh hoạt của đoàn thể Tăng Già, nghĩa là về Tam Bảo.  Chính những hiểu biết căn bản về Tam Bảo này đã làm cho tôi vô cùng hâm mộ Phật Giáo và từ đó, say mê tìm hiểu thêm về Phật Giáo.

    Như vậy, có thể nói là tôi có khá nhiều duyên với Phật Giáo.  Chính những duyên này đã giúp tôi sống một cuộc đời có thể nói là với tâm thanh thản, thoải mái trong một xã hội đầy ham muốn và ganh đua, tuy tôi thường xuyên bận rộn với công việc đọc và viết.  Những duyên này phần lớn nằm trong cái mà tôi gọi là “Gia Tài Pháp Bảo” nằm trong rừng Kinh sách Phật Giáo.   Pháp Bảo là một trong Phật Giáo Tam Bảo.

    Ai cũng biết trong Phật Giáo, Phật-Pháp-Tăng là Phật Giáo Tam Bảo, nghĩa là ba thứ quý báu, tạm gọi là ba viên ngọc quý của Phật Giáo.  Phật là bậc đã giác ngộ, tỉnh thức hoàn toàn, là bậc chỉ đường cho chúng ta, đưa chúng ta ra khỏi những mê lầm của thế giới ảo vọng, nhìn được vạn pháp như chúng là như vậy, nghĩa là để trở thành tỉnh thức, giác ngộ như Phật.  Đức Phật là bậc Đạo Sư, Giáo Chủ duy nhất trên thế gian khẳng định “Nhất thiết chúng sinh giai hữu Phật Tánh”, và còn nói với các đệ tử: “Ta là Phật đã thành, các ngươi là Phật sẽ thành”.  Như vậy, Đức Phật và chúng ta chỉ khác nhau ở chỗ giác ngộ hay không.  Cho nên chúng ta cần tin rằng trong mỗi chúng ta đều có Phật Tánh, đều có khả năng ra khỏi mọi mê lầm, ảo vọng, để tiến tới giác ngộ, tỉnh thức như Đức Phật.  Phật đã chỉ cho chúng ta một con đường, và chỉ có vậy thôi, Phật không thể làm gì hơn cho chúng ta.  Chính chúng ta phải đặt bước chân đi theo con đường đó.  Như vậy chúng ta cần phải hiểu rằng ngoài chúng ta không có Phật, cho nên đi tìm Phật bên ngoài là chuyện vô vọng..  Phật là viên ngọc quý thứ nhất.

    Pháp là những điều Phật dạy, hay các Tổ đã giác ngộ dạy mà không đi ra ngoài cốt tủy ý tưởng của Phật.  Do đó , Pháp là viên ngọc quý thứ hai trong Phật Giáo. Pháp được truyền qua ba Tạng Kinh, Luật, Luận của Phật Giáo, được ghi lại qua thời gian.  Ngày nay, sống trong thời Đức Phật không còn tại thế, cao Tăng đắc đạo hiếm như tuyết rơi giữa mùa hè (hiếm chứ không phải là không có), Phật tử chúng ta muốn nghe một một bài Pháp đúng như là Phật Pháp thực ra cũng không phải là dễ.  Phần thì vì hạn chế địa dư, phương tiện, hoàn cảnh kinh tế gia đình, không phải mấy chốc cứ nghe danh một cao Tăng nào đó là có thể đi đến ngay để tầm sư học đạo.  Vậy thì chúng ta chẳng còn biết nương tựa vào đâu để mà tu tập, ngoài cái “gia tài Pháp bảo”, nghĩa là những giáo lý nằm trong Kinh Điển Phật Giáo.  Kinh Điển Phật Giáo chứa đựng những dữ kiện nguyên thủy cùng những kinh nghiệm thực chứng siêu nghiệm của Đức Phật và các đệ từ, các Tổ, cao Tăng đã giác ngộ.  Tuy văn tự trong Kinh không phải là chính tự thân những kinh nghiệm thực chứng, nhưng văn tự có tác dụng chuyển đạt ý, ý đưa tới sự quyết tâm tu tập để tiến bộ, phát triển trí tuệ và hi vọng đi tới giác ngộ.  Không có văn tự, Phật Pháp thiếu một môi trường truyền thông ý, do đó trở thành vô hiệu trong việc truyền bá và phát triển.  Lịch sử Phật Giáo cho thấy giáo Pháp của Đức Phật, nằm trong ba Tạng Kinh, Luật, Luận đã ghi lại thành văn, đã được phát triển và truyền bá trên khắp thế giới trong hơn 2500 năm qua, hiển nhiên là Kinh Điển Phật Giáo đã giữ một vai trò quan trọng trong tiến trình tu tập của cả hai giới: xuất gia và tại gia. 

Tăng là đoàn thể những người nguyện đi theo vết chân Phật, thực tập đạo tỉnh thức, là gương sáng về đạo đức và trí tuệ cho quần chúng.  Chỉ có những người thực sự tu tập mới biết những kinh nghiệm tu tập và từ đó có thể giảng dạy cho chúng ta.  Do đó, Tăng được coi là viên ngọc quý thứ ba trong Phật Giáo.  Nhưng chúng ta nên coi chừng, Tăng theo nghĩa trên phải là tập thể của những người đạo cao đức trọng, tu tập chân chánh, chứ không phải là cứ cạo trọc đầu, khoác vào áo cà sa là có thể gọi là Tăng theo đúng nghĩa của Tăng.  Kinh Pháp Cú đã khẳng định như vậy.  Và Phật Giáo cũng có câu “Y Pháp bất y nhân”, nghĩa là nương tựa vào Pháp chứ không nương tựa vào người giảng Pháp. 

Đi vào Phật Giáo, tôi rất sửng sốt khi đọc đến Kinh Phật thuyết cho người dân Kalama về nền tảng đức tin trong Phật Giáo, có viết sơ lược trong cuốn The Essence of Buddhism của John Walters.  Tôi không thể ngờ được là, cách đây trên 2500 năm, mà Đức Phật lại có thể đi trước thời gian về vấn đề tâm linh như thế, và còn rất phù hợp với tinh thần khoa học trong thời hiện đại.  Kinh này được Tỳ Kheo Thích Nhật Từ trình bày rất rõ ràng dưới đầu đề "Kinh Nền Tảng Đức Tin" trong cuốn Kinh Tụng Hằng Ngày”, được tóm tắt như sau:

Chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó là truyền thuyết, thuộc về truyền thống, được nhiều người nhắc đến hay tuyên truyền, được ghi lại trong kinh điển hay sách vở, thuộc lý luận siêu hình, phù hợp với lập trường của mình, được căn cứ trên những dữ kiện hời hợt, phù hợp với định kiến của mình, được sức mạnh và quyền uy ủng hộ, được các nhà truyền giáo hay đạo sư của mình tuyên thuyết.  Hãy tự mình quán chiếu, suy nghiệm, xem điều đó có lành thiện, mang lại lợi ích cho người cho ta rồi hãy tin và kiên trì áp dụng.

    Nhưng thật là tuyệt vời, Đức Phật thuyết Kinh Kalama như trên và cũng nói rõ là phải áp dụng những điều này trên chính Đức Phật.  Đức Phật đã chẳng nói: “Đừng vì lòng tôn kính mà chấp nhận những giáo lý của Ta, mà trước hết hãy thử những giáo lý đó như người thợ vàng thử vàng vậy.” Tôi tự hỏi, trong các tôn giáo khác, nhất là những tôn giáo độc thần như Ki-Tô Giáo, Do Thái Giáo, Hồi Giáo, có vị giáo chủ nào tự xưng là đấng cứu thế, là tiên tri, là thiên sứ v..v.. dám nói lên điều này hay không, hay chỉ bắt tín đồ tin một cách tuyệt đối, không được thắc mắc.  Nếu có thể được thì tôi đã bắt chước Martin Luther khi xưa, nhưng thay vì đem dán trên các cửa nhà thờ 95 luận điểm để bác bỏ những giáo lý ngoài Kinh Thánh của Ca-Tô Giáo La Mã như Martin Luther đã làm,  thì tôi chỉ cần khắc bản Kinh Kalama này trên cửa tất cả các nhà thờ của Ki Tô Giáo, Do Thái Giáo và Hồi Giáo, để giúp họ nhận thức được cái quý báu nhất của loài người là trí tuệ..

   Cho nên, với Kinh Nền Tảng Đức Tin này, người đời bảo rằng Phật Giáo là đạo của trí tuệ quả nhiên không sai. Vì đây mới chính là nền tảng đức tin mà theo tôi, tuyệt vời nhất trong mọi nền tảng đức tin khác, vì nền tảng này đã tôn trọng phẩm giá và trí tuệ của con người đúng nghĩa là một con người.  Điều kỳ lạ là Kinh Nền Tảng Đức Tin mà Đức Phật thuyết từ hơn 2500 về trước lại rất phù hợp với tinh thần khoa học hiện đại ngày nay.  Trong khoa học con đường đi tới những sự thực khoa học là phải qua những giai đoạn thực nghiệm để kiểm chứng sự hiểu biết.  Trong Phật Giáo, con đường đi tới giác ngộ cũng phải đi qua mọi giai đoạn hiểu biết, quán sát, suy tư và thể nghiệm.

     Khi tôi nói  Kinh Nền Tảng Đức Tin tuyệt vời nhất trong mọi nền tảng đức tin khác, không phải vì tôi theo Phật Giáo cho nên cái gì của Phật Giáo cũng là tuyệt vời.   Như trên đã nói, nếu chúng ta chỉ biết đến tôn giáo của mình thì lấy cái gì mà so sánh, mà bảo nó là tuyệt vời.  Nếu không có thấp làm sao có cao, nếu không có xấu làm sao có tốt, nếu không có sai làm sao có đúng v..v.. Cho nên, điều cần là phải xét đến các nền tảng đức tin khác.  Trên thế giới, Ki Tô Giáo là tôn giáo lớn nhất, có nhiều tín đồ nhất, và ở Việt Nam, chúng ta có từ 5 đến 7% dân số theo Ca-Tô Giáo La Mã, vậy tôi nghĩ không gì bằng là tìm hiểu về nền tảng đức tin trong Ca Tô Giáo La Mã.

Căn bản đức tin trong Ki-Tô Giáo, đặc biệt là Ca Tô Giáo La Mã , được gói ghém trong bản Kinh Tin Kính của các Tông Đồ (Apostle's Creed) thường gọi tắt là Kinh Tin Kính, đặt ra khoảng năm 150.  Trong thời đại đế Constantine, qua công đồng Nicene năm 325, kinh này được thêm vào vài đoạn nâng Giêsu Kitô lên cùng hàng với Thiên Chúa (God) với những lời mơ hồ, trống rỗng vô nghĩa như "Thiên Chúa của Thiên Chúa”,  “ánh sáng của ánh sáng" (God of God, light of light) v..v..  Kinh này đưa đến một sự mâu thuẫn, bất đồng ý kiến giữa giáo hội miền Đông và giáo hội miền Tây.  Đến thế kỷ thứ 7, kinh này lại được thay đổi và thêm vào thuyết Chúa Ba Ngôi và nhiều điều khó tin khác nữa, dài hơn kinh Tông đồ và kinh Nicene nhiều.  Kinh này có tên là Kinh Tin Kính Athanasius.  Vì kinh này dài và lủng củng nên chẳng có mấy ai đọc nó.  Anh Giáo thường dùng kinh Nicene làm căn bản và Ca-Tô Giáo dùng kinh Tông đồ làm căn bản.  Trong sách Giáo Lý Công Giáo của Việt Nam chỉ có kinh Tin Kính của Tông đồ chứ không có những kinh Nicene hay Athanasius.

     Nguyên văn bản kinh như sau, chúng ta nên để ý rằng bản kinh bằng tiếng Việt (Sách Giáo Lý Công Giáo, nxb Zieleks, Texas, 1991, trg. 14) có vài chỗ không đúng với bản kinh bằng tiếng Anh.

Tôi tin kính Đức Chúa Trời là Cha phép tắc vô cùng dựng nên trời đất. Tôi tin kính Đức Chúa Giêsu KiTô là con một Đức Chúa Cha cũng là Chúa chúng tôi, bởi phép Đức Chúa Thánh Thần mà Người xuống thai, sinh bởi bà Maria đồng trinh, chịu nạn đời quan Phongxiô Philatô, chịu đóng đanh trên cây thánh giá, chết và táng xác, xuống ngục tổ tông, ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại, lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha phép tắc vô cùng; ngày sau bởi trời lại xuống phán xét kẻ sống và kẻ chết. Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần.  Tôi tinHội Thánh hằng có ở khắp thế này, Các Thánh thông công. Tôi tin phép tha tội. Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại. Tôi tin hằng sống vậy.  Amen.

    Đọc bản Kinh Tin Kính trên, chúng ta thấy tất cả chỉ gồm vào hai chữ “Tôi tin” và không hề nói là tại sao tôi phải tin, và cũng không có lời khuyên bảo nào là tôi phải quán sát, suy tư và thể nghiệm những cái “tôi tin” xem nó có đúng hay không.  Tuy nhiên, trong phương diện học thuật, chúng ta không thể vội vàng bác bỏ những điều “tôi tin” trên mà phải tìm hiểu xem “tôi tin” những cái gì, đặt trên căn bản nào.  Chúng ta phải tìm hiểu xem những điều mà “tôi tin” như Đức Chúa Trời là Cha phép tắc vô cùng dựng nên trời đất; bà Maria đồng trinh; ngục tổ tông; ngày sau bởi trời lại xuống phán xét kẻ sống và kẻ chết; Hội Thánh hằng có ở khắp thế này; xác loài người ngày sau sống lại; có bao nhiêu sự thực, làm sao chứng nghiệm, và có ý nghĩa gì đối với chúng ta ngày nay.

    Tôi đã phân tích với nhiều chi tiết Kinh Tin Kính này trong cuốn Đức Tin Công Giáo, Giao Điểm xuất bản, năm 2000.  Tôi sẽ không nhắc lại ở đây.

      Nói ngắn gọn, bản kinh trên rõ ràng là sản phẩm của một số người ở vài thế kỷ đầu, không hiểu gì về vũ trụ học, sinh học, di truyền học, sinh hóa học, cổ sinh vật học, địa chất học, vật lý học hiện đại v...v..., những môn học mới phát triển trong những thế kỷ gần đây.  Ngoài ra, bản kinh này còn chứa nhiều điều mâu thuẫn, phi lý, hoang đường, chỉ hợp với những tín đồ đã bị điều kiện hóa, không có khả năng tự mình suy nghĩ.  Cho nên những người ngày nay còn tin vào những điều trên thì chúng ta có thể đánh giá ngay họ thuộc lớp người nào mà không sợ sai lầm.

     Thật vậy, chính Giám Mục Tin Lành John Shelby Spong đã viết một cuốn khảo luận nhan đề Tại Sao Ki Tô Giáo Phải Thay Đổi Hoặc Chết  trong đó ông đưa ra một nhận định tổng quát về Kinh Tin Kính:

     Những lời trong Kinh Tin Kính của các Tông đồ, và sau đó được khai triển thành Kinh Tin Kính Nicene, được nặn ra trong một thế giới quan mà ngày nay không còn hiện hữu.  Thật vậy, thế giới quan này thật là xa lạ đối với thế giới mà tôi đang sống trong đó.  Cách nhận thức thực tại khi những Kinh Tin Kính của Ki Tô Giáo được đề ra thì nay đã bị xóa sạch bởi sự phát triển hiểu biết của con người.

    (John Shelby Spong, Why Christianity Must Change or Die, p. 4: The words of the Apostles' Creed, and its later expansion known as the Nicene Creed, were fashioned inside a worldview that no longer exists.  Indeed, it is quite alien to the world in which I live.  The way reality was perceived when the Christian creeds were formulated has been obliterated by the expansion of knowledge..)

    Như vậy, ít ra là chúng ta đã có thể có một Kinh nền tảng đức tin của một tôn giáo lớn vào bậc nhất trên thế giới để so sánh với Kinh Nền Tảng Đức Tin của Phật Giáo.  Và qua sự so sánh này, chúng ta mới có thể thấy rõ sự khác biệt của hai Kinh về Nền Tảng Đức Tin của Phật Giáo và Ca-tô Giáo.  Xin quý độc giả hiểu cho rằng thực chất sự so sánh này không phải là để hạ thấp hay nâng cao một tôn giáo nào.  Đây chỉ là vấn đề học thuật (Scholarship) rất phổ biến trong các xã hội tân tiến Âu Mỹ, mà quy tắc hàng đầu là tôn trọng sự thật.  Để giúp quý độc giả hiểu thêm về vấn đề học thuật, tôi xin trích một đoạn trong cuốn Mary của Michael Jordan, trang 304,  bàn về đức tin:

Nếu đức tin được xây dựng trên những lời nói láo, sự lừa dối và sự dùng mánh khóe thao tác có tính toán, thì nó trở thành không thể nào biện minh được và ngay ở đây, có một vấn đề là ta có thể gọi một cách hợp lý đó là một đức tin hay không?  Chúng ta đã là một đàn chiên rất thiếu hiểu biết và mê tín… chúng ta có thể có lý do để biện minh cho điều là chúng ta đã bị kéo vào trong vòng ngu dốt và mê tín đó.  Nhưng ở buổi bình minh của thế kỷ 21, nhiều người trong chúng ta không còn tự cho là mình ngu dốt hay mê tín, và đức tin hẹp hòi của chúng ta trở thành đối tượng của những phê bình công khai nghiêm túc hơn. 

(If faith is found on lies, deceit and calculated manipulation, then it becomes impossible to justify and there is even a question mark against whether it can reasonably be called faith.  We were still largely ignorant and superstitious flock.., we might have an excuse for being taken in it.   But at the dawn of the 21st century, many of us can no longer claim to be ignorant or superstitious and our blinkered faith becomes open to more serious criticism.)

    Khảo sát Kinh Nền Tảng Đức Tin của Phật Giáo và Ki-Tô Giáo, tôi thấy đầu óc của tôi hợp với Phật Giáo hơn.  Trở lại vấn đề tôi đi vào đạo Phật.  Như trên đã nói, cuốn The Essence of Buddhism của John Walters đã thúc đẩy tôi trong việc tìm hiểu thêm về đạo Phật.  Sau đó. tôi tìm đọc những tác phẩm viết về Phật Giáo của Dwight Goddard, Paul Carus, Rhys Davids, Theodore Stcherbatsky, Christmas Humphreys, Edward Conze, Charles Luk, John Blofeld, Sangharakshita, D.T. Suzuki, Thomas Cleary (vào cuối thập niên 1970, sách viết về Phật Giáo không nhiều như bây giờ, chỉ có những tác giả trên là được nhiều người biết tới, chứ không như ngày nay kinh sách Phật Giáo có rất nhiều trong các tiệm sách lớn), và của Thích Thiện Hoa, Thích Thiên Ân, Thích Nhất Hạnh, Thích Đức Nhuận v..v.. để mở mang thêm kiến thức về Phật Giáo, và sau cùng mới đi vào các Kinh Luận Phật Giáo.  Kinh Luận Phật Giáo quả là một sự thách đố trí thức, càng đi sâu vào trong đó tôi càng thấy chân trời của tôi mở rộng, càng thấy những tư tưởng Phật Giáo quả là siêu việt, vượt thời gian và không gian.  Nhưng chính cái dụng của Phật Giáo mới là những phép lạ biến cải con người, nhưng đây không phải là chỗ để đi vào chủ đề này.

Tôi có thể nói ngay rằng, Kinh điển Phật Giáo là một gia tài vô giá chứa đựng những tư tưởng và kinh nghiệm thực chứng cao đẹp, sâu sắc nhất của nhân loại. Nhưng tôi xin thú thực trước là tôi chưa có đọc hết ba Tạng Kinh điển này mà mới chỉ đọc có một phần nhỏ trong đó.  Hưởng được phần nào cái gia tài đó, và có biết hưởng đúng không, tất cả hoàn toàn tùy thuộc ở khả năng, căn trí của chúng ta.  Không biết hưởng, dù chỉ là một phần nhỏ của cái gia tài đó thì thật là quá uổng, uổng công sinh thành của cha mẹ, vì được sinh ra làm người quả thật là một điều hiếm hoi quý báu, vì chỉ có con người mới có hoàn cảnh, khả năng thuận tiện nhất để hưởng cái gia tài đó.   Muốn hưởng cái gia tài quý báu đó, chúng ta cần đặt sự hiểu biết trên căn bản của Kinh Kalama như đã nêu trên: quán chiếu, suy tư và thực nghiệm.  Nhưng vấn đề không phải là dễ, như tôi sẽ trình bày sau đây.

Bất cứ người nào muốn đi vào lãnh vực Kinh điển Phật Giáo cũng phải ngần ngại trước cái kho tàng Kinh sách nhiều không kể xiết của Phật Giáo.  Nếu cái hiểu trong Phật Giáo là thực chứng thì trừ các vị đã đắc đạo ra có lẽ không ai có thể hiểu hết được toàn bộ giáo lý của Đức Phật và các Tổ.   Những vị này đắc đạo vì đã nắm được cái chìa khóa để đi vào mọi Pháp môn của Phật Giáo, do đó họ có thể thông suốt Kinh điển Phật Giáo.  Còn đối với chúng ta, Phật  Pháp quả thực quá rộng rãi, quá sâu sắc, quá huyền nhiệm và phức tạp, cho nên rất khó đi vào.  Tuy nhiên đây cũng lại là diệu điểm của Phật Giáo vì có như vậy Phật Giáo mới có thể đáp ứng được nhu cầu tín ngưỡng của mọi người với mọi căn trí khác nhau, trình độ khác nhau.  Trên thực tế, chúng ta không cần, hay nói đúng hơn, không thể hiểu hết toàn bộ Phật Pháp mà chỉ cần thực hành những giáo lý nào hợp với căn cơ của chúng ta, và nếu thực hành giáo lý đó hay Pháp môn đó một cách kiên trì và đúng thì cũng có thể đạt được nhiều kết quả tốt đẹp, khoan nói đến giác ngộ.

Người ta thường cho rằng giáo lý của Đức Phật nằm trong ba tạng Kinh, Luật, Luận.  Thực ra không phải như vậy, vì trong thời còn tại thế, Đức Phật không hề viết một chữ.  Đức Phật chỉ giảng cho các đệ tử nghe chứ không viết sách cho các học giả đọc.   Xuất xứ của các Kinh điển để lại cho tới ngày nay là do kết quả biên tập của những kỳ kết tập nhiều trăm năm sau khi Phật đã tịch diệt.  Do đó chúng ta không loại bỏ trường hợp trong ba tạng Kinh, Luật, Luận, hay trong những lời truyền tụng quen thuộc, có những lời không phải của Đức Phật.  Tôi xin lấy một thí dụ.  Chúng ta thường nghe, và ngày nay vẫn còn nhiều người nhắc đến câu Phật nói: “Trong 49 năm Ta không có nói một lời”.  Bất kể chúng ta giải thích ý nghĩa của câu trên như thế nào, nhưng con số 49 đã chứng minh hơn gì hết câu đó không phải Phật nói.  Là Phật tử, ai cũng biết Đức Phật xuất gia năm 29 tuổi, Thành Đạo năm 35 tuổi, và Tịch Diệt năm 80 tuổi.  Vậy Người chỉ có 45 năm để truyền bá giáo lý của Người chứ không thể là 49 năm.  Truy nguyên ra, có lẽ câu này phát xuất từ Thiên Thai Tông về quan niệm Ngũ Thời Thuyết Pháp của Đức Phật:

Hoa Nghiêm tối sơ tam thất nhật (21 ngày)
A-Hàm thập nhị, Phương Đẳng bát (cộng thành 20 năm)
Nhị thập nhị niên Bát Nhã đàm (22 năm)
Pháp Hoa, Niết Bàn cộng bát niên (8 năm)

Cộng tất cả những con số trên được 50 năm và 21 ngày, có thể coi là 49 năm.   Và câu mà chúng ta thường cho là của Đức Phật nói ở trên là để nhắc cho chúng ta nhớ, những lời Người dạy chỉ là phương tiện chỉ dẫn cho chúng ta đi đến chân lý chứ không phải là chân lý, cũng tương tự như “Ngón tay chỉ Trăng”.

Chúng ta cũng không thể loại bỏ điều là rất có thể là ngay cả trong những Kinh, Luật, Luận của Phật Giáo cũng có những điều không phải của Đức Phật nói.  Đối với các nhà nghiên cứu thì đây không phải là vấn đề trong lãnh vực học thuật.  Nhưng đối với Phật Giáo, đây lại là một vấn đề hết sức quan trọng trong thời đại ngày nay.  Lẽ dĩ nhiên, những Kinh, Luật, Luận tuy không do đích thân Đức Phật viết ra, nhưng do những đệ tử viết lại những lời giảng dạy của Đức Phật cộng với những sáng tác của các bậc đã thông suốt Phật Pháp và khai triển Phật Pháp theo thời gian, do đó có thể nói không ra ngoài những điều Phật dạy.  Tuy nhiên, vấn đề đối với Phật Giáo là ở chỗ, có phải tất cả những gì mà chúng ta đọc về Phật Giáo, trong ba Tạng Kinh Luật Luận cũng như qua những truyền thuyết, tương truyền v..v.. đều là do Kim Khẩu của Đức Phật nói ra không?  Có người nào trong chúng ta dám bảo đảm là trong Phật Giáo không có những huyền thoại thật là khó tin trong thời đại ngày nay?   Có người nào dám bảo đảm là trong ba tạng kinh điển Phật Giáo không có những điều thêm thắt về sau nhưng được gán cho là của Đức Phật?  Phật Giáo được biết là một tôn giáo của trí tuệ, không phải là một tôn giáo của đức tin.

     Đạo Phật đã dạy cho tôi một chân lý: Tính vô thường của vạn pháp.   Nghiền ngẫm, suy nghiệm và hội nhập vào chân lý này, đời sống con người sẽ trở nên thoải mái trong mọi hoàn cảnh.  Năm nay tôi đã ngoài 70 tuổi. Ở cái tuổi quá “cổ lai hy” này, đối với tôi, người nào còn thiết tha ham muốn danh vọng, chức tước, tiếng tăm, quyền lợi, tiền tài v..v.. là người thật đáng thương, không biết sống. Ở cái tuổi này, chỉ có hai cách sống có ý nghĩa.  Một là vui thú điền viên, hưởng phúc cùng gia đình con cháu.  Hai là, nếu còn đủ sức,  phục vụ cho đồng bào, xã hội và dân tộc.  Tôi đã chọn cách sống thứ hai.  Nhưng phục vụ cho đồng bào, xã hội, và dân tộc như thế nào?

     Đọc lịch sử Việt Nam, lịch sử Phật Giáo, lịch sử Ki Tô Giáo, nhất là Ca Tô Giáo La Mã, tôi đã chọn con đường “Giải hoặc Ki Tô Giáo” để phục vụ đồng bào và dân tộc.  Con đường “giải hoặc” này đã được không biết bao nhiêu trí thức Tây phương theo đuổi từ vài thế kỷ nay, xét đến vô số những tác phẩm nghiên cứu về Ki Tô Giáo đã được xuất bản ở phương trời Âu Mỹ. Điều đáng thán phục đối với những trí thức này là họ đã đặt lương tâm trí thức trên niềm tin tôn giáo.  Cho nên, tuy hầu hết tác giả của những tác phẩm mà những tín đồ Ki Tô Giáo bình thường cho là thuộc loại “chống Ki Tô Giáo”, họ đều là người trong Ki Tô Giáo, từ các chức sắc trong Ki Tô Giáo nói chung như Hồng Y, Tổng Giám Mục, Giám Mục, Đức Ông, Linh Mục, Mục Sư cho đến các nhà Thần Học, học giả, chuyên gia về tôn giáo, giáo sư đại học, và tín đồ Ki Tô Giáo.

    Tại sao lại phải giải hoặc Ki-Tô Giáo?  Tại vì những hứa hẹn huyễn hoặc của Ki Tô Giáo đã khiến cho con người mất đi lý trí, đi vào sự mê tín, và riêng đối với tín đồ Ca-tô Việt Nam, đã biến họ thành những người đặt Vatican lên trên tổ quốc, do đó trong quá khứ đã nghe lời các giáo sĩ thừa sai tiếp tay cho thực dân Pháp xâm chiếm Việt Nam.  Vụ Linh mục Trần Lục dẫn 5000 giáo dân đi hỗ trợ quân Pháp để hạ chiến khu Ba Đình là một bằng chứng điển hình.    Vụ Giám mục Lê Hữu Từ nhận vũ khí của Pháp, lập các khu tự trị Bùi Chu, Phát Diệm, cho giáo dân đi săn lùng Việt Minh kháng chiến là bằng chứng thứ hai. Vụ Linh mục Hoàng Quỳnh tuyên bố: “Thà mất nước chứ không thà mất Chúa” là bằng chứng thứ ba.  Và còn biết bao bằng chứng khác trong suốt giòng lịch sử 100 năm gần đây kể cả 9 năm dưới thời Ngô Đình Diệm, không làm sao kể ra cho hết.  Trong bài “Giao Điểm Đối Diện Với Cuồng Tín Và Vô Minh”, trên trang nhà Giao Điểm, tháng 4, 2006, tôi đã trình bày những lý do chính là tại sao tôi “chống Ki-tô Giáo” nếu chúng ta hiểu “chống Ki-tô Giáo” là “trình bày những sự thật về Ki-tô Giáo”.

   Nhưng tại sao những hứa hẹn của Ki Tô Giáo ngày nay lại bị coi như là huyền hoặc thuộc loại mê tín?  Vì chính Giáo hoàng John Paul II của Ca-tô Giáo La Mã đã chính thức lên tiếng phủ nhận tất cả những hứa hẹn này trước thế giới.  Thật vậy, chính Giáo hoàng John Paul II, trước sự tiến bộ của khoa học và trí tuệ con người, đã phải lên tiếng công nhận thuyết Big Bang là nguồn gốc của vũ trụ [do đó không làm gì có một ông Thượng đế sáng tạo ra vũ trụ trong 6 ngày], thuyết Tiến Hóa là nguồn gốc của con người [do đó không làm gì có hai nhân vật đầu tiên là Adam [được tạo ra từ đất sét] và Eve (được tạo ra từ một cái xương sườn của Adam), cho nên không làm gì có cái gọi là “tội tổ tông”], và phủ nhận sự hiện hữu của thiên đường và hỏa ngục [do đó không làm gì có chuyện người tin Chúa thì được Chúa làm cho xác chết sống lại, hợp với linh hồn để lên thiên đường ở cùng Chúa, và những người không tin Chúa thì bị đầy xuống hỏa ngục để bị thiêu đốt bởi ngọn lửa vĩnh hằng].  Như vậy những chuyện như Chúa Giê-su chịu khổ nạn đóng đinh để chuộc cái tội tổ tông, chuyện “cứu rỗi”, chuyện thiên đường hỏa ngục v..v.. trong nền thần học Ca-tô đã trở thành những chuyện vô nghĩa.  

Đi vào con đường giải hoặc Ki-tô Giáo, tôi biết trước là thể nào cũng bị chống đối, chụp mũ, mạ lỵ từ phía những người Ki-tô Giáo, những người sợ sự thật. Họ cho rằng tôi làm công việc này là vì thù ghét Ki-Tô Giáo.  Đây là một quy kết hết sức sai lầm bắt nguồn từ tâm cảnh nặng tính phe phái tôn giáo, không hiểu rằng giải hoặc Ki-tô Giáo chẳng qua chỉ là giúp cho con người có đủ can đảm để nhìn ra sự thật và bỏ đi cái tâm cảnh ghét hay sợ sự thật.  Nhìn ra được sự thật là con người cất bỏ được cái khiếm khuyết lớn nhất của con người là thiếu hiểu biết.  Khi đã hiểu biết rồi thì con người không còn đi vào con đường cuồng tín, tin vào những sự huyễn hoặc đã không còn giá trị trong thời đại ngày nay, và từ đó bớt đi những sự xung đột tôn giáo quá khích.  Cũng vì thiếu hiểu biết nên chiến tranh tôn giáo vẫn còn đang tiếp diễn trên thế giới.  Chính quyền và các nhà tôn giáo Việt Nam có nhiệm vụ phải giáo dục quần chúng trong lãnh vực tín ngưỡng và tuyệt đối phải ngăn chận những hành động phát sinh từ sự cuồng tín tôn giáo.  Những biến cố như đốt chùa Hiển Quang hay quấy rầy các tín đồ Phật Giáo ở Tây Nguyên là những hành động không thể chấp nhận và cần đưa ra trước pháp luật những kẻ chủ mưu và hành động. 

Samuel Butler, trong kịch bản “The Way of All Flesh” đã viết một câu đối thoại giữa một nhân vật và một giáo sĩ Ki Tô.  Nhân vật này vạch rõ cho ông giáo sĩ thấy rằng: “Các tín đồ Ki Tô thực sự không ghét tội lỗi - họ ghét sự thật.”  (A character points out to a Christian clergyman that “Christians don’t really hate sin – they hate the truth”).

Samuel Butler đã viết rất đúng, vì các tín đồ Ki-tô có thể phạm nhiều tội lỗi và rồi xưng tội, thế là xong.  Cũng như Giáo hoàng John Paul II, xưng thú 7 núi tội ác của Ca-tô Giáo mà nhiều nhà phê bình Âu Mỹ cho rằng chỉ có trên đầu môi chót lưỡi, và coi như vậy là xong, là hết tội.  Nhưng đối với sự thật thì không có cách nào biến đổi được sự thật.  Vì vậy Ki-tô Giáo rất sợ sự thật, và cũng vì vậy các tín đồ thường không bao giờ biết đến những sự thật của tôn giáo mình, do chính sách bưng bít của các “bề trên”.  Vì nhận ra điều này nên Hồng Y John O’Connor, Tổng Giám Mục giáo phận New York, đã phát biểu nhân dịp Giáo Hoàng John Paul II xưng thú 7 núi tội lỗi với thế giới như sau:

"Hầu hết các tín đồ Công Giáo  không biết đến cái lịch sử mà Giáo hoàng nói đến, và nếu, theo lời của Hồng Y John O'Connor, tổng giám mục địa phận New York, tín đồ Công Giáo phải "được sự thật giải phóng", thì họ phải biết sự thật đó như thế nào."

(Lewis Weinstein, Chicago Tribune, Mars 16, 2000:Most Catholics are unaware of the history to which the pope alluded, an if, in the words of Cardinal John O'Connor, archbishop of New York, Catholics are to be "liberated by the truth", then they must know what that truth is.)

Như vậy, có một điều tôi cần phải nói rõ, tôi chưa bao giờ nhân danh Phật Giáo hay lấy tư cách của một Phật tử để đi vào con đường giải hoặc Ki-tô Giáo nghĩa là con đường trình bày các sự kiện lịch sử về Ki Tô Giáo để cho các tín đồ Ki-tô Giáo biết những sự thật đó như thế nào”.  Phật Pháp không có tranh cãi với các Pháp thế gian.  Tôi lấy tư cách của một nhà khoa học, một nhà nghiên cứu để viết về Ki-tô Giáo.  Có sự ngộ nhận lớn về Giao Điểm.  Giao Điểm chủ trương vì Dân Tộc, vì Phật Giáo, có nghĩa là phục vụ dân tộc và Phật Giáo, chứ không phải là của Dân Tộc hay của Phật Giáo.  Người ta thường chụp lên đầu Giao Điểm cái mũ “của Phật Giáo” để mà bôi bác Phật Giáo, quên rằng những người viết trên Giao Điểm không phải ai cũng là Phật tử, và cũng chưa từng có ai nhân danh Phật Giáo hay lấy tư cách của một Phật tử để viết bài trên đó.  Cũng vì vô tình hay cố ý ngộ nhận như trên mà nhiều người ngoại đạo, kể cả một số Phật tử, đã phê bình là Giao Điểm mượn danh Phật Giáo để mà đánh phá Công Giáo hay Tin Lành, hoặc là không theo đúng đạo từ bi của Phật.  Những người này đã lẫn lộn giữa vấn đề tín ngưỡng tôn giáo và vấn đề học thuật.

Tôi thường có những suy nghĩ như sau về Phật Giáo.  Quý Thầy là những người đã theo một con đường mà tuyệt đại đa số chúng ta không theo được.  Quý Thầy là những bậc xuất gia, còn chúng ta là những người tại gia.  Phật giáo có những tiêu chuẩn tu tập cho người xuất gia và tiêu chuẩn tu tập cho người tại gia, có phần giống nhau nhưng cũng có phần khác nhau.  Là những người tại gia chúng ta phải đối diện với các vấn đề gia đình, xã hội, cộng đồng v..v.. trong đó có những vấn đề cần phải đối phó.  Người cư sĩ tại gia sống trong thế gian không thể chỉ ngồi hít vào thở ra, và như con đà điểu, rúc đầu vào đống cát, và coi như là không có chuyện gì xảy ra ở đàng sau.  Đạo Phật là đạo từ bi, chủ trương hòa bình.  Nhưng từ bi mà thiếu trí tuệ thì nhiều khi chỉ gây thêm hại.  Trong thời đại này, ma quân luôn luôn rình rập, tìm đủ mọi phương cách, áp dụng đủ mọi thủ đoạn để xuyên tạc, đánh phá Phật Giáo.  Là những Phật tử tại gia, chúng ta có thể tự cho phép chỉ lo tu tập cho bản thân và ngồi yên trước những hành động bắt nguồn từ sự cuồng tín tôn giáo như trên không?  Phật Pháp bất ly thế gian pháp.  Vì vậy chúng ta cần phải đối phó để gìn giữ đạo Pháp bình đẳng, từ bi, vị tha, hòa bình mà chúng ta trân quý và tin rằng đó chính là những điều mà thế giới hỗn loạn ngày nay cần đến.  Chúng ta không đối phó bằng gươm giáo, bạo động, hay bằng những thủ đoạn bất chính, mà chúng ta đối phó bằng cách vận dụng trí tuệ, mở mang dân trí để người dân biết rõ phân biệt chính tà, do đó khỏi đi vào con đường mê tín, cuồng tín, đưa đến tâm cảnh phi dân tộc, chỉ cách sự phản bội dân tộc có một bước. 

Là Phật tử, nhưng chúng ta cũng còn là con dân của một nước.  Do đó, có những việc làm chúng ta có thể lấy tư cách của một Phật tử, và có những việc chúng ta nhân danh con dân của một nước.  Những bài tôi viết trình bày quan điểm cá nhân về xã hội, chính trị, chiến tranh  v..v.. là nhân danh một công dân Mỹ gốc Việt Nam.   Những bài tôi viết về Phật Giáo, nhất là về Phật Giáo và Khoa Học, là trình bày sự hiểu biết của cá nhân về tôn giáo mà tôi theo.  Còn những bài nghiên cứu về tôn giáo khác chỉ là trình bày sự hiểu biết của mình trong lãnh vực học thuật.  Tôi nghĩ đó là con đường phải đi, ít ra là đối với tôi mà tôi cho đó là bổn phận của một trí thức, của một người dân trong một xã hội đa tôn giáo.  Tôi đã đi theo con đường này và không hề áy náy về những việc mình làm.  Ai cũng có quyền nghĩ khác, và mỗi người có quyền chọn cho mình một con đường.  Tôi đã chọn con đường đa dạng trên, và tôi sẽ tiếp tục bước đi trên con đường này, và tự nhủ không có bất cứ lý do nào khiến cho tôi có thể thay đổi hướng đi.

© Copyright 2006 giaodiem.com

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com