
| ĐẠO PHẬT VÀ TÔI: MỘT CHỮ “DUYÊN”
!! Trần
Chung Ngọc
Từ trước đến nay tôi thường chỉ viết về
chuyện thiên hạ, dù chẳng có ai mời gọi.
Tôi vốn rất kỵ nói về tôi, dù rằng đời tư của tôi chẳng
có gì cần phải che giấu, vì tôi quan niệm đời tư không liên quan gì đến
những điều tôi viết hoặc luận trên các chủ đề. Sau khi xuất bản những cuốn như Công Giáo Chính Sử, Đức Tin Công Giáo, Chúa
Giê-su Là ai? Giảng Dạy Những Gì? và có những bài đăng trên vài tờ
báo Phật Giáo và trang nhà Giao Điểm, một vài độc giả đã hỏi tại
sao tôi không cho biết tiểu sử như nhiều tác giả khác thường làm. Tôi đã trả lời là giá trị của một cuốn
sách hay một bài viết là ở nội dung cuốn sách hay bài viết chứ không nằm
ở tiểu sử, bằng cấp, hay chức tước, địa vị của tác giả. Trong thời buổi này, ngay cả những người
có địa vị, chức tước cao ngất trời như Giáo hoàng của Ca-tô Giáo
Rô-ma, hay Tổng thống Hoa Kỳ, cũng bị đặt dưới búa dìu dư luận. Điều
này có nghĩa là, không phải cứ là Giáo hoàng hay Tổng thống Hoa Kỳ là
nói cái gì, hay viết cái gì, cũng phải có giá trị.
Nhưng nay, tôi lại muốn viết vài lời về tôi, cái
tôi đáng ghét. Nhưng đây không phải
là tiểu sử, mà là về cái duyên của tôi với Phật Giáo, thêm vào đó
chút ít chi tiết liên quan đến những giai đoạn trong cuộc đời.. Đây cũng
là cơ hội để tôi tự kiểm điểm về cái hiểu của tôi đối với Phật
Giáo, và lẽ dĩ nhiên, cái hiểu của tôi về Phật Giáo chỉ là cái hiểu
của…tôi. Đây cũng là dịp để tôi
ôn lại những công việc làm của tôi trong quá khứ trong tinh thần tự kiểm
và sám hối của Phật Giáo.
Trước hết, trong vụ biến cố Nguyên Thiều trước
đây, vì ở nước ngoài không biết rõ tình hình phức tạp của Phật
Giáo nơi quê nhà nên rất có thể tôi đã có những nhận xét sai lầm, do
đó có thể làm phiền lòng hoặc có phần xúc phạm đến vài quý Thầy
trong GHPGVNTN, vậy xin quý Thầy mở lòng từ bi hỉ xả đại xá cho. Tất cả cũng chỉ vì thực tâm tôi rất
tha thiết với Phật Giáo, và mong muốn Phật Giáo Việt Nam thống nhất,
tùy duyên bất biến để thực hiện sứ mạng chuyển hóa, mang phúc lợi
đến cho dân chúng mà thôi. Nhưng khả
năng và sự hiểu biết bất tòng tâm cho nên có thể đã phạm phải những
lỗi lầm đáng tiếc trong phần nhận định và lý luận. Hồng Quang và Phan Mạnh Lương, trở về Mỹ
sau chuyến về Việt Nam vừa rồi, đã trình bày cho tôi thấy rõ những điều
bất cập của tôi trong quá khứ về GHPGVNTN.
Tuy nhiên, đối với Võ Văn Ái, con nội trùng của Phật Giáo
Việt nam, một con người mà tôi cho là không đủ tư cách, đạo đức, và
trí tuệ để đảm nhiệm vai trò giám đốc cái gọi là Phòng Thông Tin Phật
Giáo Quốc tế, đặt trụ sở ở Paris, tôi xin được giữ nguyên những
điều tôi viết về nhân vật này.
Thứ đến, nhìn lại những sách và bài tôi viết
trong quá khứ, tôi phải nhận rằng có nhiều chỗ đáng lẽ tôi không nên
viết như vậy. Không phải là tôi viết
sai sự thực, mà chỉ là có lẽ không nên viết như vậy. Tôi bị méo mó nghề nghiệp của một người
thiên về khoa học, và bị ảnh hưởng của những tài liệu, sách vở mà
tôi đọc, trong đó có những danh từ chính xác, nhưng dịch đúng chúng hoặc
mô tả đúng với sự thật thì có vẻ nặng nề, gây khó chịu cho người
đọc. Lỗi tại tôi mọi đàng (Mea
Culpa), do đó tôi thành thực xin lỗi tất cả quý vị độc giả nếu trong
văn phong của tôi có chỗ nào không làm quý vị hài lòng. Tôi xin thành thực sám hối và hứa sẽ cố
gắng sửa đổi từ đây về sau. Không
phải vì sai với các sự kiện mà tôi cần phải sửa đổi cho đúng, mà
chỉ vì tôi tự kiểm điểm lại chính mình, và theo lời khuyên của một
số bạn bè, bỏ đi những từ tuy đúng nhưng nặng nề. Bây giờ tôi xin vào đề, nói về cái
duyên của tôi với Phật Giáo.
Trong tiếng Việt, từ “Duyên” có nghĩa rất rộng
và có vẻ như là một từ đặc thù của Phật Giáo. Một thuyết căn bản bao trùm vũ trụ của
Phật Giáo là thuyết “Duyên sinh” hay “duyên khởi”. Vạn Pháp đều do duyên mà thành. Đủ duyên
thì thành rồi trụ, thiếu duyên đi thì trở thành hoại, và hết duyên
thì diệt. Đây là chân lý ngàn đời không thay đổi của nhà Phật. Chân
lý này không loại trừ bất cứ cái gì trong vũ trụ, từ thượng đế cho
đến con sâu con kiến v..v... Và chân lý này, không ai có thể phủ nhận
là nó nằm trong thuyết Tiến Hóa của Khoa Học hiện đại. Giáo sư
Trịnh Xuân Thuận viết trong cuốn L'Infini Dans La Paume de la Main: "Tiến hóa
từ những cát bụi của những ngôi sao, chúng ta chia sẻ cùng một lịch sử
vũ trụ với những con sư tử trong những vùng hoang mạc và những bông hoa
tỏa mùi thơm" (Poussières d'étoiles, nous partageons la même histoire
cosmique avec les lions des savanes et les fleurs de lavande). Chia sẻ cùng một lịch sử vũ trụ với
những con sư tử trong những vùng hoang mạc và những bông hoa tỏa mùi thơm, nhưng chúng ta trở thành người vì chúng
ta hội đủ duyên để được làm người, khác với những duyên làm con cừu,
con chiên, con trâu, con ngựa v..v..
Tuy “duyên” không thể định
nghĩa được một cách chính xác, nhưng chúng ta có thể coi “duyên” như
là một tập hợp các yếu tố đưa đến sự thành hình của một cái gì
đó, hoặc có tác dụng kéo con người tới gần một cái gì đó. Phật Giáo quan niệm Duyên có hai mặt: thuận
duyên và nghịch duyên. Thuận duyên sẽ
khiến cho con người trở thành lành thiện, thăng tiến, trí tuệ mở mang,
cuộc sống ổn định, ít bệnh tật, vững chắc trong niềm tin hiểu biết v..v… Nghịch
duyên sẽ khiến cho con người sa đọa, sức khỏe yếu kém, trí tuệ kém cỏi,
tâm hồn bất an, sợ sệt, thiếu tự tin, trở thành mù lòa tin bướng tin
càn v..v.. Cho nên, một người theo Phật
Giáo không nhất thiết bao giờ cũng phải là thuận duyên, mà trong nhiều
trường hợp, lại là do nghịch duyên. Chẳng phải là Phật Pháp có thuận
hay có nghịch mà đó chỉ là những duyên đến với con người mà thôi. Nếu là do thuận duyên thì con người thực
hành đúng Phật Pháp. Nếu nghịch
duyên thì rất có thể con người biến Phật Pháp thành Ma Pháp. Riêng đối với tôi, có thể nói tôi là người có duyên với
Phật Giáo, khá nhiều duyên, và tất nhiên, theo chủ quan của tôi, là những
thuận duyên. Tôi sinh ra trong một gia đình theo đạo
Phật. Hồi còn nhỏ, độ 10, 12 tuổi
gì đó, nhà tôi ở Hà Nội, phố Lê Lợi, sau đổi là Bà Triệu, ngay trước
cửa Chùa Chân Tiên. Song thân tôi “bắt”
tôi sang học Phật và chữ Nho với Sư Ông trụ trì Chùa. Sư ông dạy chúng tôi, tôi và vài đứa trẻ
cùng phố, khá nhiều nhưng tôi chẳng nhớ được gì ngoài bài tán Phật
A-Di-Đà: “A Di Đà Phật thân kim sắc, Tướng hảo quang minh vô đẳng luân...”
Tôi đã phải đứng khoanh tay trả bài này cho Sư Ông không biết bao nhiêu
lần cho nên tôi thuộc bài này đến độ ngày nay, sau mấy chục năm chữ
Thầy trả lại Thầy, tôi vẫn còn nhớ nguyên bài tán Phật này, dù tôi
chẳng có mấy dịp đọc đến nó. Tới năm 1951, tôi được Thủ Tướng
Nguyễn Văn Tâm “mời” đi học khóa sĩ quan trừ bị Số tôi thật là may mắn, tuy ở một
đơn vị tác chiến mà cho tới khi đình chiến năm 1954 tôi cũng chẳng bao
giờ có cơ hội giết địch (nghĩa là giết chính mình) và địch cũng chê
tôi luôn, kết quả là tôi hoàn toàn bình an vô sự. Lẽ dĩ nhiên đây chỉ là một trường hợp
đặc biệt cá nhân chứ không áp dụng cho bất cứ ai khác, và tôi không
có gì phải hối tiếc hay phàn nàn về điều này. Sau khi đất nước chia đôi năm 1954,
một số bạn cùng khóa sĩ quan ở lại với Cụ ngoài Bắc, đa số vào Tôi có nhiều kỷ niệm đẹp ở đất
Thần Kinh, có vài người bạn mà tôi chưa hề quên dù mấy chục năm nay
chưa hề gặp lại. Vì tính tình không
hợp với nhà binh nên mùa hè năm 1956 tôi xin được giải ngũ, về nhà đi
học lại cùng với đàn em nhỏ. Gia đình
tôi đã di cư vào Ở Nhưng rồi một buổi sáng đẹp trời,
mẹ tôi và chị tôi “lôi” tôi đến Chùa để quy y Tam Bảo. Nói vậy chứ khi đó tôi đã lớn, đang học
ở Đại Học Khoa Học Saigon. Thực ra
thì trước đó mẹ tôi đã hỏi tôi là có muốn quy y Tam Bảo không? Tôi
thấy quy y Tam Bảo cũng chẳng mất mát gì, và cũng để chiều ý mẹ tôi,
tôi đã bằng lòng. Và sáng ngày hôm
đó, tôi đã theo mẹ tôi đến Chùa xin được quy y Tam Bảo vì hôm đó vị
Thượng Tọa trụ trì Chùa Văn Thánh bên Thị Nghè, nơi mẹ tôi và chị
tôi thường đi lễ sáng chủ nhật, có làm lễ quy y cho vài người khác. Thế là, ngày 15 tháng 8 năm Mậu Tuất
(1958), tôi đã quy y Tam Bảo tại Chùa Văn Thánh, Thị Nghè. Thầy truyền giới là Hòa Thượng Đồng
Đăng, Thượng Tọa Thích Tuệ Đăng thay mặt Tăng Già Đồng Chứng Truyền. Tôi được ban cho một Pháp danh và được
truyền ngũ giới. Trong Ba Quy Y, điều thứ 3 dạy
rằng: “Đệ tử quy y Tăng, là những vị
xuất gia chân chính, trọn đời nguyện không theo bè đảng xấu ác.”
Khi đó, Năm Giới Cấm tôi được truyền là:
Không Được Giết Hại, Không Được Trộm Cướp, Không Được Tà Dâm,
Không Được Nói Dối, Không Được Uống Rượu.
[Ngày nay, giới thứ 5 thường được đổi là không được uống
rượu say sưa cũng như không được dùng các chất ma túy] Hiện nay tôi còn giữ được “Chứng
chỉ quy y”, bản chứng chỉ này còn lớn hơn cả cái bằng Cử Nhân Khoa
Học mà năm 1962 Khoa Học Đại Học Saigon cấp cho tôi. Từ đó đến nay tôi
theo được 4 giới, vì thỉnh thoảng, chung vui với bạn bè, tôi cũng nhâm
nhi chút bia hay chút rượu, có thể nói là phạm giới ở thời điểm tôi
quy y Tam Bảo trước đây nhưng không phạm giới theo tiêu chuẩn ngày nay,
vì chưa bao giờ tôi uống rượu say, bao giờ cũng chỉ một lon bia, hay một
ly rượu chát, và không bao giờ đụng đến ma túy cả. Nói vậy chứ không đúng hẳn, vì trong
vài trường hợp tôi phải vào nhà thương mổ, người ta đã phải chích
morphine cho tôi đỡ đau, hoặc cho uống Tylenol có chất codeine. Nhưng đây là những trường hợp ngoài ý
muốn, nên tôi không tính, hoặc cùng lắm thì chỉ có thể tính một nửa. Còn về giới “Không được nói dối”
thì kể ra cũng hơi khó giữ, vì từ khi sang Mỹ, phải giao thiệp với những
người không cùng chung một nền văn hóa, thỉnh thoảng tôi vẫn phải thốt
lên những câu như “Very good” hay “That’s wonderful” tuy sự thật chẳng
có gì là “good” hay “wonderful” cả. Các cụ nhà ta đã dạy
“Lời nói không mất tiền mua” hay “Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”. Tôi đã áp dụng những lời dạy này trong
sự giao thiệp hàng ngày đối với các đồng nghiệp và bạn bè, cố
tránh những tranh luận về chính trị và tôn giáo. Nhưng sau này tôi thấy khó có thể áp dụng
trong lãnh vực học thuật (scholarship), vì “lựa lời mà nói cho vừa lòng
nhau” hay theo thuật ngữ của Phật Giáo, “ái ngữ”, nhiều khi chỉ là
tự dối mình và dối người, hoặc có tính cách mị dân trên đầu môi
chót lưỡi. Như vậy thực ra tôi đã chính thức
kết duyên với Phật Giáo đã hơn 47 năm nay rồi, và tôi chưa bao giờ tính
chuyện ly dị để cưới cô “cứu rỗi”, dù đã nhiều lần, từ khi
sang Mỹ, tôi được nghe quảng cáo là cô “cứu rỗi” rất hấp dẫn,
và người ta, cả Mỹ lẫn Việt, cũng đã hơn một lần muốn se duyên tôi
với cô “cứu rỗi”. Chỉ phiền có
một điều là những người làm mai làm mối này kiến thức không có mấy,
không những về hiểu biết thông thường (common sense) mà còn về chính bản
chất của cô “cứu rỗi” nữa. Mỗi
khi gặp một người muốn se duyên cho tôi với cô “cứu rỗi”, tôi chỉ
hỏi một hai câu trong những lời mạc khải của cô “cứu rỗi” là họ
tự khắc lẳng lặng bỏ đi, không bao giờ còn quay đầu trở lại. Có một điều kỳ lạ là những người
đi truyền đạo này chỉ muốn tôi nghe họ chứ họ không muốn nghe tôi. Thí dụ, tôi đề nghị: tôi sẵn sàng nghe
ông/bà nửa giờ về đạo của ông/bà nhưng ông/bà có muốn nghe 5 phút
tôi nói về đạo Phật không? Bao giờ
họ cũng từ chối. Nhưng điều này lại
cho tôi một kinh nghiệm rất quý báu. Đó
là, nếu mình chỉ biết về đạo mình, mà không hề biết gì về đạo khác,
thì lấy cái gì để mà so sánh, phân biệt chân, giả, tốt, xấu? Vả chăng, trong ba quy y, có câu “trọn
đời nguyện không theo bè đảng xấu ác.”
Tất nhiên bè đảng xấu ác là bè đảng đã gây nhiều tội
ác cho nhân loại mà lịch sử đã ghi rõ. Sau khi quy y Tam Bảo, “Phật sự”
của tôi chỉ là mỗi năm vài lần cùng mẹ và chị, và sau này cùng “bà
cụ thân sinh của mấy đứa con tôi” đi Chùa lễ Phật trong những ngày lễ
Phật Giáo chính và ngày Tết. Nghĩ lại
thật xấu hổ, mang danh Phật tử, đã quy y Tam Bảo mà tôi chẳng biết gì
về Phật Giáo, chẳng bao giờ đọc Kinh điển Phật Giáo, chẳng bao giờ
đi nghe thuyết Pháp, chỉ mải mê lăn lóc trong mưa bay gió cuốn của đường
trần, lãng phí nhiều năm, thật là oan uổng. Năm 1962, tôi bị gọi
tái ngũ. Ở đơn vị ít lâu rồi vì
có bằng Cử Nhân Khoa Học và có lời giới thiệu của một ông bạn đang
phục vụ ở Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, tôi “được gọi về”
Văn Hóa Vụ, Trường Võ Bị, và rồi được bầu làm Trưởng Khoa Khoa Học
(Vật Lý và Hóa Học). Sau khi khi Mỹ
“tự tiện” mang quân vào Việt Sau khi tốt nghiệp,
1972, tôi và gia đình trở về nước. Tình
hình chiến sự bên nhà gia tăng và ngay từ 1972, người Mỹ đã biết là Mỹ
sẽ bỏ rơi Nam Việt Có lẽ hạt giống
Phật Giáo đã có sẵn trong người, chỉ cần hội đủ cơ duyên là nảy mầm,
phát triển. Cho nên, sau khi định cư tại
Hoa Kỳ, và khi cảm thấy việc làm và đời sống đã ổn định, tôi bắt
đầu để thì giờ “nghiên cứu” về Phật Giáo, và mỗi năm vài lần
lái xe trăm dậm đi dự các ngày lể Phật Giáo chính như Phật Đản, Thích
Ca Thành Đạo, Vu Lan v..v… Do đó tự
nhiên đã có nhiều duyên lành đưa tới. Lâu
lắm rồi, tại Chùa Phước Hậu ở Milwaukee, tôi đã được nghe Đại Đức
Thích Tịnh Từ ở Tu Viện Kim Sơn thuyết Pháp, và được Đại Đức tặng
cho mấy cuốn “Tu Viện Kim Sơn”, “Một Hội Phật Giáo VN Hải Ngoại”
v..v.. Sau đó tôi có đóng góp một số
bài trên tờ Nguồn Sống của Tu Viện. Chỉ
tiếc là cho tới nay tôi vẫn không có dịp đến thăm Tu Viện dù đã vài
lần tới Rồi một ngày nọ,
bỗng nhiên tôi được Thượng Tọa Thích Đức Niệm ở Viện Đại Học
Quốc Tế gửi cho các cuốn Vu Lan Bổn và Báo Phụ Mẫu Ân Kinh cùng mấy
cuốn tập san do Viện phát hành. Sau đó
tôi cũng viết một số bài, thường là về Phật Giáo và Khoa Học trên tờ
Phật Giáo Thống Nhất. Rồi mỗi khi
có dịp sang Tôi cũng có dịp
nói chuyện, không dám nói là đàm đạo, với khá nhiều bậc xuất gia ở
Hải Ngoại mà tôi không muốn kể tên ở đây, sợ làm phiền đến quý vị
ấy có thể vì những những bài viết thuộc loại lội ngược dòng hải
ngoại của tôi trên Giao Điểm. Nhưng, thực ra, cái
duyên đầu tiên có tính cách quyết định đưa tôi chính thức đi vào đạo
Phật, tuy tôi chưa bao giờ ở ngoài, là
cuốn “The Essence of Buddhism” của John Walters. Cuốn sách nhỏ này, vào khoảng 150 trang, rất
đặc biệt, vì đó là tác phẩm của một người trưởng thành trong truyền
thống Ki Tô, được dạy kỹ Phật Giáo là một tôn giáo yếm thế, vô vọng,
một dạng sơ khai của chủ thuyết hiện sinh v..v.., và tin rằng Ki Tô Giáo
là tôn giáo duy nhất có ích cho nhân loại. Nhưng
sau một chuyến du hành Thái Lan, Miến Điện, Tích Lan, ông ta đã thấy thực
chất của Phật Giáo, hoàn toàn không như những điều ông đã được nhồi
vào đầu từ khi còn nhỏ. Ông bèn suy
nghĩ lại, tìm hiểu lịch sử và so sánh Ki Tô Giáo với Phật Giáo. Ông nghĩ tới “những sai lầm và tội
ác của những Giáo hội Ki Tô và những giới chức lãnh đạo trong quá khứ”
(the blunders and crimes of the churches and their leaders in past ages), những lễ tiết
trong Ki Tô Giáo mà ông cho là có tính cách “mê tín tàn bạo”
(sadistic superstition) và so sánh với “một
trong những sự vinh quang nhất của Phật Giáo là tinh thần khoan nhượng”
(one of the greatest glories of Buddhism is its tolerance).
Cuốn sách này giúp
tôi có một kiến thức căn bản về cuộc đời Đức Phật, những giáo
lý chính yếu của Phật Giáo, đạo đức và sinh hoạt của đoàn thể Tăng
Già, nghĩa là về Tam Bảo. Chính những
hiểu biết căn bản về Tam Bảo này đã làm cho tôi vô cùng hâm mộ Phật
Giáo và từ đó, say mê tìm hiểu thêm về Phật Giáo. Như vậy, có thể nói là tôi có
khá nhiều duyên với Phật Giáo. Chính
những duyên này đã giúp tôi sống một cuộc đời có thể nói là với
tâm thanh thản, thoải mái trong một xã hội đầy ham muốn và ganh đua, tuy
tôi thường xuyên bận rộn với công việc đọc và viết. Những duyên này phần lớn nằm trong cái
mà tôi gọi là “Gia Tài Pháp Bảo” nằm trong rừng Kinh sách Phật Giáo. Pháp Bảo là một trong Phật Giáo Tam
Bảo.
Ai cũng biết trong Phật Giáo, Phật-Pháp-Tăng là Phật
Giáo Tam Bảo, nghĩa là ba thứ quý báu, tạm gọi là ba viên ngọc quý của
Phật Giáo. Phật là bậc đã giác ngộ,
tỉnh thức hoàn toàn, là bậc chỉ đường cho chúng ta, đưa chúng ta ra khỏi
những mê lầm của thế giới ảo vọng, nhìn được vạn pháp như chúng
là như vậy, nghĩa là để trở thành tỉnh thức, giác ngộ như Phật. Đức Phật là bậc Đạo Sư, Giáo Chủ duy
nhất trên thế gian khẳng định “Nhất thiết chúng sinh giai hữu Phật
Tánh”, và còn nói với các đệ tử: “Ta là Phật đã thành, các ngươi
là Phật sẽ thành”. Như vậy, Đức
Phật và chúng ta chỉ khác nhau ở chỗ giác ngộ hay không. Cho nên chúng ta cần tin rằng trong mỗi
chúng ta đều có Phật Tánh, đều có khả năng ra khỏi mọi mê lầm, ảo
vọng, để tiến tới giác ngộ, tỉnh thức như Đức Phật. Phật đã chỉ cho chúng ta một con đường,
và chỉ có vậy thôi, Phật không thể làm gì hơn cho chúng ta. Chính chúng ta phải đặt bước chân đi
theo con đường đó. Như vậy chúng ta
cần phải hiểu rằng ngoài chúng ta không có Phật, cho nên đi tìm Phật
bên ngoài là chuyện vô vọng.. Phật
là viên ngọc quý thứ nhất. Pháp là những điều Phật dạy,
hay các Tổ đã giác ngộ dạy mà không đi ra ngoài cốt tủy ý tưởng của
Phật. Do đó , Pháp là viên ngọc quý
thứ hai trong Phật Giáo. Pháp được truyền qua ba Tạng Kinh, Luật, Luận của
Phật Giáo, được ghi lại qua thời gian. Ngày
nay, sống trong thời Đức Phật không còn tại thế, cao Tăng đắc đạo hiếm
như tuyết rơi giữa mùa hè (hiếm chứ không phải là không có), Phật tử
chúng ta muốn nghe một một bài Pháp đúng như là Phật Pháp thực ra cũng
không phải là dễ. Phần thì vì hạn
chế địa dư, phương tiện, hoàn cảnh kinh tế gia đình, không phải mấy
chốc cứ nghe danh một cao Tăng nào đó là có thể đi đến ngay để tầm
sư học đạo. Vậy thì chúng ta chẳng
còn biết nương tựa vào đâu để mà tu tập, ngoài cái “gia tài Pháp bảo”,
nghĩa là những giáo lý nằm trong Kinh Điển Phật Giáo. Kinh Điển Phật Giáo chứa đựng những dữ
kiện nguyên thủy cùng những kinh nghiệm thực chứng siêu nghiệm của Đức
Phật và các đệ từ, các Tổ, cao Tăng đã giác ngộ. Tuy văn tự trong Kinh không phải là chính tự
thân những kinh nghiệm thực chứng, nhưng văn tự có tác dụng chuyển đạt
ý, ý đưa tới sự quyết tâm tu tập để tiến bộ, phát triển trí tuệ
và hi vọng đi tới giác ngộ. Không
có văn tự, Phật Pháp thiếu một môi trường truyền thông ý, do đó trở
thành vô hiệu trong việc truyền bá và phát triển. Lịch sử Phật Giáo cho thấy giáo Pháp của
Đức Phật, nằm trong ba Tạng Kinh, Luật, Luận đã ghi lại thành văn, đã
được phát triển và truyền bá trên khắp thế giới trong hơn 2500 năm
qua, hiển nhiên là Kinh Điển Phật Giáo đã giữ một vai trò quan trọng
trong tiến trình tu tập của cả hai giới: xuất gia và tại gia. Tăng là đoàn thể
những người nguyện đi theo vết chân Phật, thực tập đạo tỉnh thức,
là gương sáng về đạo đức và trí tuệ cho quần chúng. Chỉ có những người thực sự tu tập mới
biết những kinh nghiệm tu tập và từ đó có thể giảng dạy cho chúng ta. Do đó, Tăng được coi là viên ngọc quý
thứ ba trong Phật Giáo. Nhưng chúng ta
nên coi chừng, Tăng theo nghĩa trên phải là tập thể của những người đạo
cao đức trọng, tu tập chân chánh, chứ không phải là cứ cạo trọc đầu,
khoác vào áo cà sa là có thể gọi là Tăng theo đúng nghĩa của Tăng. Kinh Pháp Cú đã khẳng định như vậy. Và Phật Giáo cũng có câu “Y Pháp bất y
nhân”, nghĩa là nương tựa vào Pháp chứ không nương tựa vào người giảng
Pháp. Đi vào Phật Giáo,
tôi rất sửng sốt khi đọc đến Kinh Phật thuyết cho người dân Kalama về
nền tảng đức tin trong Phật Giáo, có viết sơ lược trong cuốn The
Essence of Buddhism của John Walters. Tôi
không thể ngờ được là, cách đây trên 2500 năm, mà Đức Phật lại có
thể đi trước thời gian về vấn đề tâm linh như thế, và còn rất phù
hợp với tinh thần khoa học trong thời hiện đại. Kinh này được Tỳ Kheo Thích Nhật Từ
trình bày rất rõ ràng dưới đầu đề "Kinh
Nền Tảng Đức Tin" trong cuốn “Kinh Tụng Hằng Ngày”, được tóm tắt như sau: Chớ vội tin một điều gì,
chỉ vì điều đó là truyền thuyết, thuộc về truyền thống, được nhiều
người nhắc đến hay tuyên truyền, được ghi lại trong kinh điển hay sách
vở, thuộc lý luận siêu hình, phù hợp với lập trường của mình, được
căn cứ trên những dữ kiện hời hợt, phù hợp với định kiến của mình,
được sức mạnh và quyền uy ủng hộ, được các nhà truyền giáo hay đạo
sư của mình tuyên thuyết. Hãy tự
mình quán chiếu, suy nghiệm, xem điều đó có lành thiện, mang lại lợi
ích cho người cho ta rồi hãy tin và kiên trì áp dụng. Nhưng thật là tuyệt vời, Đức
Phật thuyết Kinh Kalama như trên và cũng nói rõ là phải áp dụng những
điều này trên chính Đức Phật. Đức
Phật đã chẳng nói: “Đừng vì lòng tôn kính mà chấp
nhận những giáo lý của Ta, mà trước hết hãy thử những giáo lý đó như
người thợ vàng thử vàng vậy.” Tôi tự hỏi,
trong các tôn giáo khác, nhất là những tôn giáo độc thần như Ki-Tô
Giáo, Do Thái Giáo, Hồi Giáo, có vị giáo chủ nào tự xưng là đấng cứu
thế, là tiên tri, là thiên sứ v..v.. dám nói lên điều này hay không, hay
chỉ bắt tín đồ tin một cách tuyệt đối, không được thắc mắc. Nếu có thể được thì tôi đã bắt chước
Martin Luther khi xưa, nhưng thay vì đem dán trên các cửa nhà thờ 95 luận
điểm để bác bỏ những giáo lý ngoài Kinh Thánh của Ca-Tô Giáo La Mã như
Martin Luther đã làm, thì tôi chỉ cần
khắc bản Kinh Kalama này trên cửa tất cả các nhà thờ của Ki Tô Giáo,
Do Thái Giáo và Hồi Giáo, để giúp họ nhận thức được cái quý báu nhất
của loài người là trí tuệ.. Cho nên, với Kinh Nền Tảng Đức Tin này, người đời
bảo rằng Phật Giáo là đạo của trí tuệ quả nhiên không sai. Vì đây mới
chính là nền tảng đức tin mà theo tôi, tuyệt vời nhất trong mọi nền tảng
đức tin khác, vì nền tảng này đã tôn trọng phẩm giá và trí tuệ của
con người đúng nghĩa là một con người. Điều
kỳ lạ là Kinh Nền Tảng Đức Tin mà Đức Phật thuyết từ hơn 2500 về trước
lại rất phù hợp với tinh thần khoa học hiện đại ngày nay. Trong khoa học con đường đi tới những
sự thực khoa học là phải qua những giai đoạn thực nghiệm để kiểm chứng
sự hiểu biết. Trong Phật Giáo, con
đường đi tới giác ngộ cũng phải đi qua mọi giai đoạn hiểu biết, quán sát, suy tư và thể nghiệm. Khi
tôi nói Kinh Nền Tảng Đức Tin tuyệt vời nhất
trong mọi nền tảng đức tin khác, không phải vì tôi theo Phật Giáo cho
nên cái gì của Phật Giáo cũng là tuyệt vời.
Như trên đã nói, nếu chúng ta chỉ biết đến tôn giáo của
mình thì lấy cái gì mà so sánh, mà bảo nó là tuyệt vời. Nếu không có thấp làm sao có cao, nếu
không có xấu làm sao có tốt, nếu không có sai làm sao có đúng v..v.. Cho
nên, điều cần là phải xét đến các nền tảng đức tin khác. Trên thế giới, Ki Tô Giáo là tôn giáo lớn
nhất, có nhiều tín đồ nhất, và ở Việt Căn bản đức tin
trong Ki-Tô Giáo, đặc biệt là Ca Tô Giáo La Mã , được gói ghém trong bản
Kinh Tin Kính của các Tông Đồ (Apostle's Creed) thường
gọi tắt là Kinh Tin Kính, đặt ra khoảng
năm 150. Trong thời đại đế
Constantine, qua công đồng Nicene năm 325, kinh này được thêm vào vài đoạn
nâng Giêsu Kitô lên cùng hàng với Thiên Chúa (God) với những lời mơ hồ,
trống rỗng vô nghĩa như "Thiên Chúa của Thiên Chúa”, “ánh sáng của ánh sáng" (God of God,
light of light) v..v.. Kinh này đưa đến
một sự mâu thuẫn, bất đồng ý kiến giữa giáo hội miền Đông và
giáo hội miền Tây. Đến thế kỷ thứ
7, kinh này lại được thay đổi và thêm vào thuyết Chúa Ba Ngôi và nhiều
điều khó tin khác nữa, dài hơn kinh Tông đồ và kinh Nicene nhiều. Kinh này có tên là Kinh Tin Kính Athanasius. Vì kinh này dài và lủng củng nên chẳng
có mấy ai đọc nó. Anh Giáo thường dùng
kinh Nicene làm căn bản và Ca-Tô Giáo dùng kinh Tông đồ làm căn bản. Trong sách Giáo Lý Công Giáo của Việt
Nguyên văn bản kinh như sau, chúng ta nên để
ý rằng bản kinh bằng tiếng Việt (Sách Giáo Lý Công Giáo, nxb Zieleks,
Texas, 1991, trg. 14) có vài chỗ không đúng với bản kinh bằng tiếng Anh. Tôi
tin kính Đức Chúa Trời là Cha
phép tắc vô cùng dựng nên trời đất. Tôi tin kính Đức Chúa
Giêsu KiTô là con một Đức Chúa Cha cũng là Chúa chúng tôi, bởi phép Đức
Chúa Thánh Thần mà Người xuống thai, sinh bởi bà Maria đồng trinh,
chịu nạn đời quan Phongxiô Philatô, chịu đóng đanh trên cây thánh
giá, chết và táng xác, xuống ngục tổ tông, ngày thứ ba bởi trong
kẻ chết mà sống lại, lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha phép tắc
vô cùng; ngày sau bởi trời lại xuống phán xét kẻ sống và kẻ chết.
Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần. Tôi
tin có Hội Thánh hằng có ở khắp thế này, Các Thánh thông
công. Tôi tin phép tha tội. Tôi tin xác loài người ngày sau sống
lại. Tôi tin hằng sống vậy. Amen.
Đọc bản Kinh Tin Kính trên, chúng ta thấy tất cả
chỉ gồm vào hai chữ “Tôi tin” và không hề nói là tại sao tôi
phải tin, và cũng không có lời khuyên bảo nào là tôi phải quán sát, suy tư và thể nghiệm những cái “tôi
tin” xem nó có đúng hay không. Tuy
nhiên, trong phương diện học thuật, chúng ta không thể vội vàng bác bỏ
những điều “tôi tin” trên mà phải tìm hiểu xem “tôi tin” những
cái gì, đặt trên căn bản nào. Chúng
ta phải tìm hiểu xem những điều mà “tôi tin” như Đức Chúa Trời là Cha phép tắc vô cùng dựng
nên trời đất; bà Maria đồng trinh; ngục tổ tông; ngày sau bởi trời lại
xuống phán xét kẻ sống và kẻ chết; Hội Thánh hằng có ở khắp thế
này; xác loài người ngày sau sống lại; có bao nhiêu sự thực, làm sao chứng nghiệm,
và có ý nghĩa gì đối với chúng ta ngày nay. Tôi đã phân tích với nhiều chi
tiết Kinh Tin Kính này trong cuốn Đức Tin Công Giáo, Giao Điểm xuất bản, năm
2000. Tôi sẽ không nhắc lại ở đây.
Nói ngắn gọn, bản kinh trên rõ ràng là sản
phẩm của một số người ở vài thế kỷ đầu, không hiểu gì về vũ trụ
học, sinh học, di truyền học, sinh hóa học, cổ sinh vật học, địa chất
học, vật lý học hiện đại v...v..., những môn học mới phát triển
trong những thế kỷ gần đây. Ngoài
ra, bản kinh này còn chứa nhiều điều mâu thuẫn, phi lý, hoang đường, chỉ
hợp với những tín đồ đã bị điều kiện hóa, không có khả năng tự
mình suy nghĩ. Cho nên những người ngày
nay còn tin vào những điều trên thì chúng ta có thể đánh giá ngay họ thuộc
lớp người nào mà không sợ sai lầm.
Thật vậy, chính Giám Mục Tin Lành John Shelby
Spong đã viết một cuốn khảo luận nhan đề Tại Sao Ki Tô Giáo Phải Thay Đổi Hoặc Chết trong đó ông đưa ra một nhận định tổng
quát về Kinh Tin Kính:
Những lời trong
Kinh Tin Kính của các Tông đồ, và sau đó được khai triển thành Kinh Tin
Kính Nicene, được nặn ra trong một thế giới quan mà ngày nay không còn
hiện hữu. Thật vậy, thế giới
quan này thật là xa lạ đối với thế giới mà tôi đang sống trong đó. Cách nhận thức thực tại khi những Kinh
Tin Kính của Ki Tô Giáo được đề ra thì nay đã bị xóa sạch bởi sự
phát triển hiểu biết của con người.
(John Shelby Spong, Why Christianity Must Change or Die, p. 4: The
words of the Apostles' Creed, and its later expansion known as the Nicene Creed, were
fashioned inside a worldview that no longer exists. Indeed,
it is quite alien to the world in which I live. The
way reality was perceived when the Christian creeds were formulated has been obliterated
by the expansion of knowledge..)
Như vậy, ít ra là chúng ta đã có thể có một Kinh nền
tảng đức tin của một tôn giáo lớn vào bậc nhất trên thế giới để
so sánh với Kinh Nền Tảng Đức Tin của Phật Giáo. Và qua sự so sánh này, chúng ta mới có thể
thấy rõ sự khác biệt của hai Kinh về Nền Tảng Đức Tin của Phật Giáo
và Ca-tô Giáo. Xin quý độc giả hiểu
cho rằng thực chất sự so sánh này không phải là để hạ thấp hay nâng
cao một tôn giáo nào. Đây chỉ là vấn
đề học thuật (Scholarship) rất phổ biến trong các xã hội tân tiến Âu
Mỹ, mà quy tắc hàng đầu là tôn trọng sự thật. Để giúp quý độc giả hiểu thêm về vấn
đề học thuật, tôi xin trích một đoạn trong cuốn Mary của Michael
Jordan, trang 304, bàn về đức tin: Nếu đức tin được xây dựng trên
những lời nói láo, sự lừa dối và sự dùng mánh khóe thao tác có tính
toán, thì nó trở thành không thể nào biện minh được và ngay ở đây, có một vấn đề
là ta có thể gọi một cách hợp lý đó là một đức tin hay không? Chúng ta đã là một đàn chiên rất thiếu
hiểu biết và mê tín… chúng ta có thể có lý do để biện minh cho điều
là chúng ta đã bị kéo vào trong vòng ngu dốt và mê tín đó. Nhưng ở buổi bình minh của thế kỷ 21,
nhiều người trong chúng ta không còn tự cho là mình ngu dốt hay mê tín,
và đức tin hẹp hòi của chúng ta trở thành đối tượng của những phê
bình công khai nghiêm túc hơn. (If faith is found on lies,
deceit and calculated manipulation, then it becomes impossible to justify and there is
even a question mark against whether it can reasonably be called faith. We were still largely ignorant and superstitious
flock.., we might have an excuse for being taken in it.
But at the dawn of the 21st century, many of us can no longer
claim to be ignorant or superstitious and our blinkered faith becomes open to more serious
criticism.) Khảo sát Kinh Nền Tảng Đức Tin
của Phật Giáo và Ki-Tô Giáo, tôi thấy đầu óc của tôi hợp với Phật
Giáo hơn. Trở lại vấn đề tôi đi vào
đạo Phật. Như trên đã nói, cuốn The
Essence of Buddhism của John Walters đã thúc đẩy tôi trong việc tìm hiểu
thêm về đạo Phật. Sau đó. tôi tìm
đọc những tác phẩm viết về Phật Giáo của Dwight Goddard, Paul Carus, Rhys
Davids, Theodore Stcherbatsky, Christmas Humphreys, Edward Conze, Charles Luk, John
Blofeld, Sangharakshita, D.T. Suzuki, Thomas Cleary (vào cuối thập niên 1970, sách
viết về Phật Giáo không nhiều như bây giờ, chỉ có những tác giả
trên là được nhiều người biết tới, chứ không như ngày nay kinh sách
Phật Giáo có rất nhiều trong các tiệm sách lớn), và của Thích Thiện
Hoa, Thích Thiên Ân, Thích Nhất Hạnh, Thích Đức Nhuận v..v.. để mở mang
thêm kiến thức về Phật Giáo, và sau cùng mới đi vào các Kinh Luận Phật
Giáo. Kinh Luận Phật Giáo quả là một
sự thách đố trí thức, càng đi sâu vào trong đó tôi càng thấy chân trời
của tôi mở rộng, càng thấy những tư tưởng Phật Giáo quả là siêu việt,
vượt thời gian và không gian. Nhưng chính
cái dụng của Phật Giáo mới là những phép lạ biến cải con người,
nhưng đây không phải là chỗ để đi vào chủ đề này. Tôi có thể nói ngay
rằng, Kinh điển Phật Giáo là một gia tài vô giá chứa đựng những tư
tưởng và kinh nghiệm thực chứng cao đẹp, sâu sắc nhất của nhân loại.
Nhưng tôi xin thú thực trước là tôi chưa có đọc hết ba Tạng Kinh điển
này mà mới chỉ đọc có một phần nhỏ trong đó. Hưởng được phần nào cái gia tài đó,
và có biết hưởng đúng không, tất cả hoàn toàn tùy thuộc ở khả năng,
căn trí của chúng ta. Không biết hưởng,
dù chỉ là một phần nhỏ của cái gia tài đó thì thật là quá uổng, uổng
công sinh thành của cha mẹ, vì được sinh ra làm người quả thật là một
điều hiếm hoi quý báu, vì chỉ có con người mới có hoàn cảnh, khả năng
thuận tiện nhất để hưởng cái gia tài đó.
Muốn hưởng cái gia tài quý báu đó, chúng ta cần đặt sự hiểu
biết trên căn bản của Kinh Kalama như đã nêu trên: quán chiếu, suy tư và
thực nghiệm. Nhưng vấn đề không phải
là dễ, như tôi sẽ trình bày sau đây. Bất cứ người nào
muốn đi vào lãnh vực Kinh điển Phật Giáo cũng phải ngần ngại trước
cái kho tàng Kinh sách nhiều không kể xiết của Phật Giáo. Nếu cái hiểu trong Phật Giáo là thực chứng
thì trừ các vị đã đắc đạo ra có lẽ không ai có thể hiểu hết được
toàn bộ giáo lý của Đức Phật và các Tổ.
Những vị này đắc đạo vì đã nắm được cái chìa khóa để
đi vào mọi Pháp môn của Phật Giáo, do đó họ có thể thông suốt Kinh
điển Phật Giáo. Còn đối với chúng
ta, Phật Pháp quả thực quá rộng
rãi, quá sâu sắc, quá huyền nhiệm và phức tạp, cho nên rất khó đi vào. Tuy nhiên đây cũng lại là diệu điểm của
Phật Giáo vì có như vậy Phật Giáo mới có thể đáp ứng được nhu cầu
tín ngưỡng của mọi người với mọi căn trí khác nhau, trình độ khác
nhau. Trên thực tế, chúng ta không cần,
hay nói đúng hơn, không thể hiểu hết toàn bộ Phật Pháp mà chỉ cần thực
hành những giáo lý nào hợp với căn cơ của chúng ta, và nếu thực hành
giáo lý đó hay Pháp môn đó một cách kiên trì và đúng thì cũng có thể
đạt được nhiều kết quả tốt đẹp, khoan nói đến giác ngộ. Người ta thường cho rằng giáo lý
của Đức Phật nằm trong ba tạng Kinh, Luật, Luận. Thực ra không phải như vậy, vì trong thời
còn tại thế, Đức Phật không hề viết một chữ. Đức Phật chỉ giảng cho các đệ tử
nghe chứ không viết sách cho các học giả đọc.
Xuất xứ của các Kinh điển để lại cho tới ngày nay là do kết
quả biên tập của những kỳ kết tập nhiều trăm năm sau khi Phật đã tịch
diệt. Do đó chúng ta không loại bỏ
trường hợp trong ba tạng Kinh, Luật, Luận, hay trong những lời truyền tụng
quen thuộc, có những lời không phải của Đức Phật. Tôi xin lấy một thí dụ. Chúng ta thường nghe, và ngày nay vẫn còn
nhiều người nhắc đến câu Phật nói: “Trong 49 năm Ta không có nói một
lời”. Bất kể chúng ta giải
thích ý nghĩa của câu trên như thế nào, nhưng con số 49 đã chứng minh hơn
gì hết câu đó không phải Phật nói. Là
Phật tử, ai cũng biết Đức Phật xuất gia năm 29 tuổi, Thành Đạo năm
35 tuổi, và Tịch Diệt năm 80 tuổi. Vậy
Người chỉ có 45 năm để truyền bá giáo lý của Người chứ không thể
là 49 năm. Truy nguyên ra, có lẽ câu
này phát xuất từ Thiên Thai Tông về quan niệm Ngũ Thời Thuyết Pháp của
Đức Phật:
Cộng tất cả những con số trên
được 50 năm và 21 ngày, có thể coi là 49 năm.
Và câu mà chúng ta thường cho là của Đức Phật nói ở trên
là để nhắc cho chúng ta nhớ, những lời Người dạy chỉ là phương tiện
chỉ dẫn cho chúng ta đi đến chân lý chứ không phải là chân lý, cũng
tương tự như “Ngón tay chỉ Trăng”. Chúng ta cũng không thể loại bỏ
điều là rất có thể là ngay cả trong những Kinh, Luật, Luận của Phật
Giáo cũng có những điều không phải của Đức Phật nói. Đối với các nhà nghiên cứu thì đây
không phải là vấn đề trong lãnh vực học thuật. Nhưng đối với Phật Giáo, đây lại là một
vấn đề hết sức quan trọng trong thời đại ngày nay. Lẽ dĩ nhiên, những Kinh, Luật, Luận tuy
không do đích thân Đức Phật viết ra, nhưng do những đệ tử viết lại
những lời giảng dạy của Đức Phật cộng với những sáng tác của các
bậc đã thông suốt Phật Pháp và khai triển Phật Pháp theo thời gian, do
đó có thể nói không ra ngoài những điều Phật dạy. Tuy nhiên, vấn đề đối với Phật Giáo
là ở chỗ, có phải tất cả những gì mà chúng ta đọc về Phật Giáo,
trong ba Tạng Kinh Luật Luận cũng như qua những truyền thuyết, tương truyền
v..v.. đều là do Kim Khẩu của Đức Phật nói ra không? Có người nào trong chúng ta dám bảo đảm
là trong Phật Giáo không có những huyền thoại thật là khó tin trong thời
đại ngày nay? Có người nào dám
bảo đảm là trong ba tạng kinh điển Phật Giáo không có những điều thêm
thắt về sau nhưng được gán cho là của Đức Phật? Phật Giáo được biết là một tôn giáo của
trí tuệ, không phải là một tôn giáo của đức tin. Đạo Phật đã dạy cho tôi
một chân lý: Tính vô thường của vạn pháp.
Nghiền ngẫm, suy nghiệm và hội nhập vào chân lý này, đời sống
con người sẽ trở nên thoải mái trong mọi hoàn cảnh. Năm nay tôi đã ngoài 70 tuổi. Ở cái tuổi
quá “cổ lai hy” này, đối với tôi, người nào còn thiết tha ham muốn
danh vọng, chức tước, tiếng tăm, quyền lợi, tiền tài v..v.. là người
thật đáng thương, không biết sống. Ở cái tuổi này, chỉ có hai cách sống
có ý nghĩa. Một là vui thú điền viên,
hưởng phúc cùng gia đình con cháu. Hai
là, nếu còn đủ sức, phục vụ cho
đồng bào, xã hội và dân tộc. Tôi
đã chọn cách sống thứ hai. Nhưng phục
vụ cho đồng bào, xã hội, và dân tộc như thế nào? Đọc lịch sử Việt Nam, lịch
sử Phật Giáo, lịch sử Ki Tô Giáo, nhất là Ca Tô Giáo La Mã, tôi đã chọn
con đường “Giải hoặc Ki Tô Giáo” để phục vụ đồng bào và dân tộc. Con đường “giải hoặc” này đã được
không biết bao nhiêu trí thức Tây phương theo đuổi từ vài thế kỷ nay,
xét đến vô số những tác phẩm nghiên cứu về Ki Tô Giáo đã được xuất
bản ở phương trời Âu Mỹ. Điều đáng thán phục đối với những trí
thức này là họ đã đặt lương tâm trí thức trên niềm tin tôn giáo. Cho nên, tuy hầu hết tác giả của những
tác phẩm mà những tín đồ Ki Tô Giáo bình thường cho là thuộc loại “chống
Ki Tô Giáo”, họ đều là người trong Ki Tô Giáo, từ các chức sắc trong
Ki Tô Giáo nói chung như Hồng Y, Tổng Giám Mục, Giám Mục, Đức Ông, Linh
Mục, Mục Sư cho đến các nhà Thần Học, học giả, chuyên gia về tôn
giáo, giáo sư đại học, và tín đồ Ki Tô Giáo. Tại sao lại phải giải hoặc
Ki-Tô Giáo? Tại vì những hứa hẹn
huyễn hoặc của Ki Tô Giáo đã khiến cho con người mất đi lý trí, đi vào
sự mê tín, và riêng đối với tín đồ Ca-tô Việt Nam, đã biến họ
thành những người đặt Vatican lên trên tổ quốc, do đó trong quá khứ đã
nghe lời các giáo sĩ thừa sai tiếp tay cho thực dân Pháp xâm chiếm Việt
Nam. Vụ Linh mục Trần Lục dẫn 5000
giáo dân đi hỗ trợ quân Pháp để hạ chiến khu Ba Đình là một bằng chứng
điển hình. Vụ Giám mục
Lê Hữu Từ nhận vũ khí của Pháp, lập các khu tự trị Bùi Chu, Phát Diệm,
cho giáo dân đi săn lùng Việt Minh kháng chiến là bằng chứng thứ hai. Vụ
Linh mục Hoàng Quỳnh tuyên bố: “Thà mất nước chứ không thà mất
Chúa” là bằng chứng thứ ba. Và
còn biết bao bằng chứng khác trong suốt giòng lịch sử 100 năm gần đây
kể cả 9 năm dưới thời Ngô Đình Diệm, không làm sao kể ra cho hết. Trong bài “Giao Điểm Đối Diện Với
Cuồng Tín Và Vô Minh”, trên trang nhà Giao Điểm, tháng 4, 2006, tôi đã
trình bày những lý do chính là tại sao tôi “chống Ki-tô Giáo” nếu
chúng ta hiểu “chống Ki-tô Giáo” là “trình bày những sự thật về
Ki-tô Giáo”. Nhưng tại sao những hứa hẹn của Ki
Tô Giáo ngày nay lại bị coi như là huyền hoặc thuộc loại mê tín? Vì chính Giáo hoàng John Paul II của Ca-tô
Giáo La Mã đã chính thức lên tiếng phủ nhận tất cả những hứa hẹn
này trước thế giới. Thật vậy,
chính Giáo hoàng John Paul II, trước sự tiến bộ của khoa học và trí tuệ
con người, đã phải lên tiếng công nhận thuyết Big Bang là nguồn gốc của
vũ trụ [do đó không làm gì có một ông Thượng đế sáng tạo ra vũ trụ
trong 6 ngày], thuyết Tiến Hóa là nguồn gốc của con người [do đó
không làm gì có hai nhân vật đầu tiên là Adam [được tạo ra từ đất sét]
và Eve (được tạo ra từ một cái xương sườn của Adam), cho nên không
làm gì có cái gọi là “tội tổ tông”], và phủ nhận sự hiện hữu
của thiên đường và hỏa ngục [do đó không làm gì có chuyện người
tin Chúa thì được Chúa làm cho xác chết sống lại, hợp với linh hồn để
lên thiên đường ở cùng Chúa, và những người không tin Chúa thì bị đầy
xuống hỏa ngục để bị thiêu đốt bởi ngọn lửa vĩnh hằng]. Như vậy những chuyện như Chúa Giê-su chịu
khổ nạn đóng đinh để chuộc cái tội tổ tông, chuyện “cứu rỗi”,
chuyện thiên đường hỏa ngục v..v.. trong nền thần học Ca-tô đã trở
thành những chuyện vô nghĩa. Đi vào con đường
giải hoặc Ki-tô Giáo, tôi biết trước là thể nào cũng bị chống đối,
chụp mũ, mạ lỵ từ phía những người Ki-tô Giáo, những người sợ sự
thật. Họ cho rằng tôi làm công việc này là vì thù ghét Ki-Tô Giáo. Đây là một quy kết hết sức sai lầm bắt
nguồn từ tâm cảnh nặng tính phe phái tôn giáo, không hiểu rằng giải hoặc
Ki-tô Giáo chẳng qua chỉ là giúp cho con người có đủ can đảm để nhìn
ra sự thật và bỏ đi cái tâm cảnh ghét hay sợ sự thật. Nhìn ra được sự thật là con người cất
bỏ được cái khiếm khuyết lớn nhất của con người là thiếu hiểu biết. Khi đã hiểu biết rồi thì con người không
còn đi vào con đường cuồng tín, tin vào những sự huyễn hoặc đã không
còn giá trị trong thời đại ngày nay, và từ đó bớt đi những sự xung
đột tôn giáo quá khích. Cũng vì thiếu
hiểu biết nên chiến tranh tôn giáo vẫn còn đang tiếp diễn trên thế giới. Chính quyền và các nhà tôn giáo Việt Samuel Butler, trong kịch
bản “The Way of All Flesh” đã viết một
câu đối thoại giữa một nhân vật và một giáo sĩ Ki Tô. Nhân vật này vạch rõ cho ông giáo sĩ thấy
rằng: “Các tín đồ Ki Tô thực sự không
ghét tội lỗi - họ ghét sự thật.” (A
character points out to a Christian clergyman that “Christians don’t really hate sin
– they hate the truth”). Samuel Butler đã viết
rất đúng, vì các tín đồ Ki-tô có thể phạm nhiều tội lỗi và rồi xưng
tội, thế là xong. Cũng như Giáo hoàng
John Paul II, xưng thú 7 núi tội ác của Ca-tô Giáo mà nhiều nhà phê bình
Âu Mỹ cho rằng chỉ có trên đầu môi chót lưỡi, và coi như vậy là
xong, là hết tội. Nhưng đối với sự
thật thì không có cách nào biến đổi được sự thật. Vì vậy Ki-tô Giáo rất sợ sự thật, và
cũng vì vậy các tín đồ thường không bao giờ biết đến những sự thật
của tôn giáo mình, do chính sách bưng bít của các “bề trên”. Vì nhận ra điều này nên Hồng Y John O’Connor,
Tổng Giám Mục giáo phận New York, đã phát biểu nhân dịp Giáo Hoàng John
Paul II xưng thú 7 núi tội lỗi với thế giới như sau: "Hầu hết các
tín đồ Công Giáo không biết đến cái
lịch sử mà Giáo hoàng nói đến, và nếu, theo lời của Hồng Y John
O'Connor, tổng giám mục địa phận New York, tín đồ Công Giáo phải
"được sự thật giải phóng", thì họ phải biết sự thật đó
như thế nào." (Lewis Weinstein,
Chicago Tribune, Mars 16, 2000:Most Catholics are unaware of the history to which the pope
alluded, an if, in the words of Cardinal John O'Connor, archbishop of New York, Catholics
are to be "liberated by the truth", then they must know what that truth is.) Như vậy, có một
điều tôi cần phải nói rõ, tôi chưa bao giờ nhân danh Phật Giáo hay lấy
tư cách của một Phật tử để đi vào con đường giải hoặc Ki-tô Giáo
nghĩa là con đường trình bày các sự kiện lịch sử về Ki Tô Giáo để
cho các tín đồ Ki-tô Giáo “biết những sự thật đó như thế nào”. Phật Pháp không có tranh cãi với các Pháp
thế gian. Tôi lấy tư cách của một
nhà khoa học, một nhà nghiên cứu để viết về Ki-tô Giáo. Có sự ngộ nhận lớn về Giao Điểm. Giao Điểm chủ trương vì Dân Tộc, vì Phật
Giáo, có nghĩa là phục vụ dân tộc và Phật Giáo, chứ không phải là của
Dân Tộc hay của Phật Giáo. Người ta
thường chụp lên đầu Giao Điểm cái mũ “của Phật Giáo” để mà bôi
bác Phật Giáo, quên rằng những người viết trên Giao Điểm không phải
ai cũng là Phật tử, và cũng chưa từng có ai nhân danh Phật Giáo hay lấy
tư cách của một Phật tử để viết bài trên đó. Cũng vì vô tình hay cố ý ngộ nhận như
trên mà nhiều người ngoại đạo, kể cả một số Phật tử, đã phê
bình là Giao Điểm mượn danh Phật Giáo để mà đánh phá Công Giáo hay Tin
Lành, hoặc là không theo đúng đạo từ bi của Phật. Những người này đã lẫn lộn giữa vấn
đề tín ngưỡng tôn giáo và vấn đề học thuật. Tôi thường có những
suy nghĩ như sau về Phật Giáo. Quý Thầy
là những người đã theo một con đường mà tuyệt đại đa số chúng ta
không theo được. Quý Thầy là những
bậc xuất gia, còn chúng ta là những người tại gia. Phật giáo có những tiêu chuẩn tu tập cho
người xuất gia và tiêu chuẩn tu tập cho người tại gia, có phần giống
nhau nhưng cũng có phần khác nhau. Là
những người tại gia chúng ta phải đối diện với các vấn đề gia đình,
xã hội, cộng đồng v..v.. trong đó có những vấn đề cần phải đối phó. Người cư sĩ tại gia sống trong thế gian
không thể chỉ ngồi hít vào thở ra, và như con đà điểu, rúc đầu vào
đống cát, và coi như là không có chuyện gì xảy ra ở đàng sau. Đạo Phật là đạo từ bi, chủ trương hòa
bình. Nhưng từ bi mà thiếu trí tuệ
thì nhiều khi chỉ gây thêm hại. Trong
thời đại này, ma quân luôn luôn rình rập, tìm đủ mọi phương cách, áp
dụng đủ mọi thủ đoạn để xuyên tạc, đánh phá Phật Giáo. Là những Phật tử tại gia, chúng ta có thể
tự cho phép chỉ lo tu tập cho bản thân và ngồi yên trước những hành động
bắt nguồn từ sự cuồng tín tôn giáo như trên không? Phật Pháp bất ly thế gian pháp. Vì vậy chúng ta cần phải đối phó để
gìn giữ đạo Pháp bình đẳng, từ bi, vị tha, hòa bình mà chúng ta trân
quý và tin rằng đó chính là những điều mà thế giới hỗn loạn ngày
nay cần đến. Chúng ta không đối phó
bằng gươm giáo, bạo động, hay bằng những thủ đoạn bất chính, mà
chúng ta đối phó bằng cách vận dụng trí tuệ, mở mang dân trí để người
dân biết rõ phân biệt chính tà, do đó khỏi đi vào con đường mê tín,
cuồng tín, đưa đến tâm cảnh phi dân tộc, chỉ cách sự phản bội dân
tộc có một bước. Là Phật tử, nhưng chúng ta cũng còn
là con dân của một nước. Do đó, có
những việc làm chúng ta có thể lấy tư cách của một Phật tử, và có
những việc chúng ta nhân danh con dân của một nước. Những bài tôi viết trình bày quan điểm cá
nhân về xã hội, chính trị, chiến tranh v..v..
là nhân danh một công dân Mỹ gốc Việt © Copyright 2006 giaodiem.com |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com