
Trần
Niệm Từ CHƯƠNG
4 [tiếp theo, các chương 1, 2, 3 từ tháng
3/06] Đại
úy Bezu
Fache nặng nề như là một con bò đực nổi cơn, với hai vai rộng ưởn về
sau, cằm vùi trong lồng ngực. Mái tóc đen của ông được chải về phía
sau bóng mượt với dầu, làm nổi lên bờ
tóc giữa trán nhọn cứ như mũi tên phân hai hàng lông mày rậm nhô tới
trước như mũi tàu chiến. Ông tiến đến, đôi mắt đen làm như thiêu rụi
mặt đất phía trước, phát quang một sự rạch ròi rực lửa, báo trước
tiếng tăm của ông về tánh nghiêm khắc không nhân nhượng trong mọi việc. Langdon
theo đại úy bước xuống cái cầu thang đá hoa cương nổi danh vào một căn
phòng bé chìm bên dưới kim-tự-tháp bằng kiếng. Khi đi xuống họ lướt
qua hai lính gát của Cảnh sát Tư pháp cầm súng tiểu liên. Ngụ ý đã
rõ: Không ai được vào ra đêm nay mà không có sự chuẩn y của đại úy
Fache. Đến
dưới mặt đất, Langdon cố kềm sự run rẩy dâng lên. Sự hiện diện của
Fache chẳng lộ vẻ hoan nghênh, và ngay cả viện bảo tàng Louvre giờ này
đã tóat hơi lăng mộ. Cái cầu thang trông như lối đi trong rạp chớp bóng
tối tăm, được thắp sáng bởi ánh đèn tinh vi chìm trong mỗi bậc bước.
Langdon có thể nghe được tiếng bước chân của mình dội lại từ tấm
kiếng bên trên. Ngước nhìn lên chàng có thể thấy làn hơi nước được
chiếu sáng từ những vòi phun đang mờ dần bên ngòai mái nhà trong suốt. “Ông
có chịu không?” Fache hỏi, hất đầu lên trên với cái cằm bạnh. Langdon
thở dài, quá mệt mỏi để bông đùa. “Vâng, kim-tự-tháp của quí vị quả
là tuyệt.” Fache
càu nhàu. “Một vết sẹo trên mặt của Cú một. Langdon cảm nhận kẻ tiếp mình
là một gả khó mà làm cho vừa lòng. Chàng tự hỏi nếu Fache có biết rằng
kim-tự-tháp này vốn do tổng thống Mitterand yêu cầu rành mạch, đã được
xây với 666 tấm kiếng – một đòi hỏi kỳ lạ đã trở thành một đề
tài nóng bỏng cho những kẻ khóai chuyện mưu mô, họ bảo số 666 là con số
của Satan. Langdon
không định nói chuyện này ra. Khi
họ xuống xa hơn đến phòng tiền sảnh dưới đất thì khỏang trống rộng
lớn hiện rõ hơn. Được xây 57 bộ dưới đất, phòng tiền sảnh
70-ngàn-bộ vuông mới cất của Louvre tỏa ra như một cái hang động vô hạn.
Được xây với đá hoa cương màu vàng thổ ấm cho hợp với đá màu vàng
mật của mặt tiền Louvre bên trên, hành lang dưới đất thường sinh động
với ánh nắng và du khách. Tuy nhiên đêm nay căn tiền sảnh lại trống trãi
và tối tăm làm cho cả cái không gian nhuốm màu lạnh lẽo tựa như hầm mộ. “Còn
ban an ninh thường xuyên của viện bảo tàng?” Langdon hỏi. “En quarantaine,” Fache trả lời, làm như
Langdon tra xét về sự liêm chính của tóan công tác của Fache. “Rõ là kẻ
nào đã vào được nơi mà hắn không thể nào. Tất cả kẻ gát đêm của
Louvre đang bị thẩm vấn ở Cánh Sully. Đám nhân viên của tôi tiếp thu phần
an ninh đêm nay.” Langdon
gật đầu, đi nhanh hơn để bắt kịp Fache. “Ông
quen biết Jacques Saunière như thế nào?” Viên đại úy hỏi. “Thực
ra chẳng quen biết gì. Chúng tôi chưa hề gặp nhau.” Fache
ngớ ra. “Cuộc gặp mặt đầu tiên của các ông định là tối nay?” “Vâng,
Chúng tôi định sẽ gặp nhau vào buổi tiếp tân tại trường đại học
Hoa Kỳ sau bài diển thuyết của tôi, nhưng ông ấy chẳng hề đến.” Fache
nghuệch ngọac vài dòng vào sổ tay. Vừa đi Langdon nhìn thóang qua cái kim-tự-tháp
của Louvre ít được biết đến – La
Pyramide Inversée – một cái cửa kiếng vĩ đại ở mái được treo lững
như một tấm thạch nhũ giữa hai tầng. Fache hướng dẫn Langdon bước lên
một bậc thang ngắn vào lối vào căn hầm mái vòng cung mà ở bên trên có
bảng đề: DENON. Cánh Denon là phần nổi danh nhất của ba phần chính của
Louvre. “Ai
yêu cầu có cuộc họp mặt tối nay?” Fache hỏi đột ngột. “Ông hay
ông ta?” Câu
hỏi xem ra kỳ quặc. “Ông Saunière,” Langdon trả lời khi họ bước vào
căn hầm. “Thư ký của ông ấy liên lạc với tôi qua điện thư mấy tuần
trước. Cô ta bảo là nhà quản thủ nghe tin tôi sẽ diễn thuyết ở
“Bàn
luận cái gì?” “Tôi không biết. Tôi đóan là Nghệ thuật.
Chúng tôi chia xẻ nhiều điều quan tâm tương tự.” Fache
có vẻ nghi ngờ. “Ông không hề biết việc gặp mặt vì cái gì ư?” Langdon
chẳng hề. Lúc ấy, chàng hiếu kỳ nhưng không tiện hỏi lý do cụ thể.
Jacques Saunière đáng kính vốn nổi danh chuộng kín đáo và ít khi muốn gặp
ai; Langdon đủ cảm kích khi được cơ hội gặp ông ấy.” “Này
ông Langdon, it ra ông có thể đóan xem nạn
nhân bị hạ sát của chúng ta đã muốn bàn luận điều gì với ông vào
cái đêm bị giết? Điều ấy có ích lắm.” Sự
trắng trợn của câu hỏi làm cho Langdon khó chịu. “Tôi chẳng tưởng tượng
ra đươc điều gì. Tôi đã không hỏi. Tôi cảm thấy hân hạnh đã được
tíếp xúc. Tôi là người ngưỡng mộ công việc của ông Saunière. Tôi thường
dùng sách giáo khoa của ông ta trong lớp.” Fache
ghi vội điều ấy vào sổ. Hai
người đã ở giữa
đường của hầm vào Cánh Denon, và Langdon có thể nhìn thấy hai cái bậc
thang máy cuộn ở
đằng xa, cả hai bất động. “Vậy
là ông cùng chia xẻ các điều quan tâm với ông ấy?” Fache hỏi. “Đúng
vậy, tôi đã bỏ cả năm vừa qua viết nháp cho một cuốn sách bàn về
lãnh vực chuyên môn chính của ông Saunière. Tôi đã trông chờ được nhặt
não bộ của ông ấy.” “Fache
ngước lên. “Xin lỗi?” Câu
ví von có vẻ không diễn dịch được rõ. “Tôi đã trông đợi được học
hỏi tư tưởng của ông ấy về đề tài này.” “À
ra thế. Và đề tài gì vậy?”
Langdon ngập ngừng,
không biết phải trình bày cách nào đây.
“Cơ bản thì bản thảo liên quan đến hình tượng học của sự tôn thờ
nữ thần – khái niệm về sự thánh thiện của phụ nữ và nghệ thuật
cùng các biểu tượng có liên hệ đến điều ấy.” Fache
vuốt tóc với bàn tay mập. “Và Saunière hiểu biết về điều này?” “Không
ai bằng.” “À
ra thế.” Langdon
có cảm giác là Fache chẳng hiểu gì cả. Jacques Saunière được xem là nhà
hình tượng học hàng đầu của thế giới về nữ thần. Không những
Saunière có một nổi đam mê riêng về các thánh vật liên hệ đến sự
sinh sản, sự cúng bái nữ thần, Wicca, và sự thánh thiện của phái nữ,
mà suốt hai mươi năm tại nhiệm như quản thủ bảo tàng viện Saunière đã
giúp Louvre gom góp bộ sưu tập nghệ thuật nữ thần lớn nhất thế giới
– những chiếc rìu labrys của các nữ tu ở đền cổ nhất Hy lạp tại
Delphi, những chiếc gậy ngắn bằng vàng, hằng trăm nữ trang Tjet Ai-cập có
dáng dấp những tiểu thiên thần đang đứng, những vòng nhạc khí rung thường
dùng trong các lễ nghi cổ ở Ai-cập để xua đuổi tà ma, và một lọat
các tượng về thần Horus đang được nữ thần Isis cho bú. “Hay
là Jacques Saunière biết được bản thảo của ông?” Fache gợi ý. “Và
ông ấy đã muốn gặp ông để giúp thêm vào cuốn sách.” Langdon
lắc đầu. “Thực ra không ai biết đến bản thảo của tôi. Nó vẫn còn
là bản nháp, và tôi chưa hề cho ai xem trừ nhà xuất bản.” Fache
im lặng. Langdon
đã không cho biết thêm về lý do tại
sao chàng chưa cho ai xem bản thảo. Ba-trăm trang viết nháp – thọat đề tựa
là Biểu tượng của Các vị Nữ thần đã
mất – đề nghị vài diễn dịch không mấy qui ước về ảnh tượng
tôn giáo đã được thiết lập mà chắc sẽ gây tranh luận. Khi
đến gần chíếc thang cuộn đôi nằm yên, Langdon phát hiện là Fache chẳng
còn ở bên cạnh. Quay lại, Langdon thấy Fache đứng cạnh cái thang máy
dành riêng cho phục dịch cách vài thước đằng sau. “Chúng
ta lên bằng thang máy,” Fache nói vừa khi cánh cửa mở ra. “Tôi chắc rằng
ông cũng biết là đến được hành lang trưng bày còn xa lắm nếu ta đi bộ.” Tuy
Langdon biết rằng thang máy làm ngắn con đường leo lên hai tầng đến Cánh
Denon, chàng vẫn bất động, “Có
chuyện không ổn chăng?” Fache giữ cánh cửa, trông sốt ruột. Langdon
thở dài, ngước mắt nhìn lên cái thang cuộn trống trãi. Chẳng có gì bắt ổn cả, chàng tự dối
mình, lê bước trở lại cái thang máy. Khi còn bé, Langdon đã rơi xuống một
cái giếng hoang và súyt chết khi bơi đứng cả mấy giờ trong khỏang không
chật chội trước khi được cứu. Kể từ ấy chàng mắc chứng khiếp sợ
khỏang trống đóng kín – thang máy, tàu điện ngầm, sân đánh banh kín. Thang máy đứng là một bộ máy an tòan tuyệt
hão, Langdon liên tục tự nhủ, chẳng bao giờ tin điều ấy. Nó chỉ là một cái hộp kim lọai treo lững
trong một ống thông đứng! Nín hơi, chàng bước vào buồng thang, cảm
thấy một luồng adrenaline chạy rần khi cánh cửa đóng lại. Hai tầng, mười giây. “Ông
và ông Saunière,” Fache nói khi buồng thang chuyển động, “các ông chẳng
bao giờ nói chuyện với nhau sao? Chẳng bao giờ viết thư? Chẳng bao giờ gởi
cho nhau thứ gì qua bưu điện?” Lại
một câu hỏi kỳ cục khác. Langdon lắc đầu. “Không, chưa bao giờ.” Fache
gục gặt đầu, như là đang ghi nhớ
điều ấy. Chẳng nói gì, ông ta nhìn sửng vào cánh cửa mạ kền. Lúc
lên cao, Langdon cố chú mục vào một cái gì hơn là bốn bức tường xung
quanh chàng. Trong sự phản chiếu của cánh cửa bóng lóang, chàng thấy chiếc
kẹp cà-vạt của viên đại-úy – một cái thập giá bằng bạc có cẩn mười-ba
hạt mã não đen. Langdon thấy ngạc nhiên mơ hồ. Biểu tượng được biết
như là crux gemmata – chiếc thập giá
mang mười-ba hạt ngọc – một hình đồ Ki-tô mang ý Chúa và mười-hai đồ
đệ. Tuy thế Langdon không thể ngờ rằng vị đại úy của Cảnh sát Pháp
lại phô trương tôn giáo của mình đến thế. Lại nữa đây là nước Pháp;
Ki-tô giáo vốn chẳng phải là tôn giáo bắt nguồn từ chốn này. “Nó
là crux gemmata,” Fache đột ngột nói. Giật
mình, Langdon nhìn lên bắt gặp đôi mắt của Fache nhìn chàng qua ảnh phản
chiếu. Thang
máy lắc mạnh khi dừng lại rồi cửa mở. Langdon
vội bước ra ngay vào hành lang, háo hức cho một khỏang trống rộng rãi
như đại sảnh trưng bày với vòm cao nổi danh của Louvre. Tuy vậy, thế giới
chàng bước vào lại chẳng như chàng mong mõi. Ngạc
nhiên, Langdon ngừng lại. Fache
nhìn sang. “Tôi hiểu được, ông Langdon, ông chưa hề nhìn thấy Louvre sau
giờ làm việc?” Tôi đóan là không, Langdon nghĩ, cố trấn
tĩnh tác phong. Thường
thì đại sãnh được chiếu sáng tòan hão, đêm nay phòng trưng bày của
Louvre lại tối đen đáng sợ. Thay vì luồng ánh sáng trắng quen thuộc từ
trên chiếu xuống thì lại một ánh màu đỏ câm lặng hừng lên từ đáy
tường – với từng khỏang ánh sáng đỏ lan ra trên thảm. Langdon
chăm chú nhìn dãy hành lang mờ tối, chàng biết mình sắp phải đối diện
với cảnh này. Hình như là tất cả các nơi trưng bày nghệ thuật đều dùng
ánh sáng phục dịch đỏ vào ban đêm – được đặt có kế họach, ở mức
thấp, độ sáng không lấn át đủ để nhân viên tới lui và đồng thời
giử các bức tranh trong bóng tối để làm chậm sự phai màu do ánh sáng
chiếu rọi nhiều quá. Đêm nay, bảo tàng viện lại có vẻ ngột ngạt. Những
bóng dài lan tràn, và cái vòm trần cao vút có vẻ như một khỏang không
đen tối. “Đằng
này,” Fache nói, rẽ ngoặc sang phải và thóat ra sau khi theo một lọat các
ngõ nối các hành lang trưng bày. Langdon
theo sau, mắt đã quen với bóng tối. Bao quanh, những bức tranh sơn dầu đồ
sộ bắt đầu lộ rõ cứ như những tấm ảnh được tráng ra trong phòng tối
vĩ đại trước mắt chàng … những đôi mắt rõi theo chàng khi chàng đi
ngang qua phòng. Chàng có thể nếm được mùi vị của không khí bảo tàng
– một lọai tinh dầu khô phảng phất chất than – một sản phẩm kỷ
nghệ, những máy khử ẩm lọc qua than chạy suốt ngày để chống thán
khí soi mòn từ khách chiêm quan thở
ra.
Bắt
cao trên các vách, những máy ảnh theo dõi lồ lộ gởi một tín hiệu rõ
ràng cho du khách. Chúng tôi nhìn thấy quí vị,
Không được sờ mó cái gì cả. “Chúng
là thực cả sao?” Langdon hỏi tay chỉ các máy ảnh. Fache
lắc đầu. “Dĩ nhiên là không.” Langdon
không ngạc nhiên. Sự theo dõi bằng động ảnh trong viện bảo tàng cở
này không kham nổi và chẳng hiệu quả. Trông chừng cho cả nhiều mẩu đất
các phòng trưng bày, Louvre chắc phải thuê đến vài trăm kỷ thuật viên
chỉ ngồi xem các luồng ảnh thu vào. Hầu hết các bảo tàng viện ngày
nay dùng phương pháp “an ninh chặn giữ.” Chớ
nghĩ đến chuyện chặn kẻ cắp từ bên ngòai mà nên giữ chúng lại ở
bên trong. Hệ thống chặn giử được khởi họat ngay sau giờ làm việc,
và nếu có một kẻ xâm nhập lấy mất một nghệ phẩm thì những ngỏ
thóat từng đọan sẽ bị đóng kín chặt lại quanh phòng trưng bày ấy,
và kẻ cắp bỗng thấy mình đã bị giam sau các song sắt ngay trước khi cảnh
sát đến. Tiếng
nói vang vọng từ phía trước của dãy hành lang đá hoa cương. Tiếng động
hình như từ một hốc tường lớn phía trước bên phải. Một vùng ánh
sáng lan ra trên hành lang. “Văn
phòng của nhà quản thủ,” viên đại úy lên tiếng. Khi
chàng và Fache đến gần hốc tường. Langdon chăm chú vào một đọan hành
lang ngắn dẫn vào phòng làm việc sang trọng của Saunière – gỗ ấm, những
bức danh họa của các bậc thầy xưa, và một cái bàn cổ to lớn trên đó
có một cái mẫu lớn hai bộ của một kỵ sĩ trong nguyên bộ khôi giáp. Một
nhóm cảnh sát viên đang lăng xăng trong phòng, nói trên điện thọai và ghi
chú. Một trong những người này đang ngồi ở bàn của Saunière và đang làm
việc với cái máy điện tóan đặt trên đùi. Xem ra văn phỏng riêng của
nhà quản thủ đã biến thành bộ chỉ huy tạm thời của Cảnh sát Tư pháp
tối nay. “Monsieurs,”
Fache gọi lớn và tất cả các nhân viên đều quay nhìn. “Ne nous dérangez pas sous aucun prétexte. Entendu?” Tất
cả đều gật đầu tỏ ra đã hiểu. Langdon
đã từng treo những tấm biển NE Rời
đám nhân viên, Fache và Langdon đi dần đến hành lang tối ám. Cái ngỏ
vào khu nổi tiếng nhất của Louvre lù lù ba-mươi trượng phía trước – la Grande Galerie – một hành lang dài hình
như không tận cùng chứa những kiệt tác quí giá nhất của Ý-đại-lợi.
Langdon đã nhận thức được nơi đây
là chỗ mà xác của Saunière nằm; cái sàn gỗ nổi danh được
thấy trong tấm ảnh Polaroid, không nhầm được.
Vừa
đến, Langdon đã thấy lối vào đã bị chận bởi một tấm vĩ sắt đồ
sộ trông cứ như các tòa lâu đài thời trung cổ đã dùng để chặn các
đội quân man rợ. “An
ninh chặn giữ,” Fache nói khi họ đến tấm vĩ sắt. Ngay
cả khi ở trong bóng tối, vật chướng ngại như thế này có thể chặn một
thiết giáp xa. Đứng ở ngòai, Langdon chăm chú nhìn xuyên qua các song sắt
vào cái hang mờ của Grand Gallery. “Ông
hãy đi trước, ông Langdon,” Fache lên tiếng. Langdon
quay lại. Đi đâu? Fache
chỉ về hướng cái sàn phía dưới vĩ sắt. Langdon
nhìn xuống. Trong bóng tối, chàng chẳng ghi nhận được gì. Vật chướng
ngại được nâng lên khỏang hai bộ để có một chổ hở nguy hiểm bên dưới. “Vùng
này vẫn bất khả xâm phạm đối với ban an ninh của Louvre,” Fache nói.
“Nhóm của chúng tôi từ Police Technique et
Scientifique vừa mới hòan tất việc điều tra của họ.” Ông ta chỉ
chỗ hở. “Vui lòng trườn vào bên dưới.” Langdon
nhìn sửng vào khỏang bò hẹp ở dưới chân rồi ngước lên tấm vĩ sắt
đồ sộ. Bộ ông ta đùa sao? Vật chướng
ngại trông cứ như cái máy chém chờ nghiền nát kẻ xâm nhập. Fache
càu nhàu cái gì bằng tiếng Pháp rồi nhìn đòng hồ đeo tay. Rồi ông ta
quì xuống và trườn tấm thân kềnh càng bên dưới tấm vĩ sắt. Qua phía
bên kia ông ta đứng dậy và nhìn lại Langdon qua song sắt. Langdon
thở dài. Đặt hai bàn tay sát trên tấm sàn bóng lóang, chàng nằm sấp và
lê mình về phía trước. Vừa khi đang trườn bên dưới cái gáy của chiếc
áo dạ Harris vướn vào đáy tấm vĩ làm đầu chàng đánh vào miếng sắt. Khéo
léo quá mà, Robert,
chàng nghĩ, lóng ngóng rồi sau cùng cũng vượt qua được. Lúc đứng dậy,
Langdon nghi rằng sẽ có một đêm rất dài. Trần Niệm Từ Kỳ
tới: Chương 5 © Copyright 2006 giaodiem.com |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com