giaodiem copyright
          posted: 05.5.2006
Mật Mã DaVinci
By Dan Brown

Trần Niệm Từ chuyển ngữ

CHƯƠNG 4 [tiếp theo, các chương 1, 2, 3 từ tháng 3/06]

Đại úy Bezu Fache nặng nề như là một con bò đực nổi cơn, với hai vai rộng ưởn về sau, cằm vùi trong lồng ngực. Mái tóc đen của ông được chải về phía sau bóng mượt với dầu, làm nổi lên b tóc giữa trán nhọn cứ như mũi tên phân hai hàng lông mày rậm nhô tới trước như mũi tàu chiến. Ông tiến đến, đôi mắt đen làm như thiêu rụi mặt đất phía trước, phát quang một sự rạch ròi rực lửa, báo trước tiếng tăm của ông về tánh nghiêm khắc không nhân nhượng trong mọi việc.

          Langdon theo đại úy bước xuống cái cầu thang đá hoa cương nổi danh vào một căn phòng bé chìm bên dưới kim-tự-tháp bằng kiếng. Khi đi xuống họ lướt qua hai lính gát của Cảnh sát Tư pháp cầm súng tiểu liên. Ngụ ý đã rõ: Không ai được vào ra đêm nay mà không có sự chuẩn y của đại úy Fache.

          Đến dưới mặt đất, Langdon cố kềm sự run rẩy dâng lên. Sự hiện diện của Fache chẳng lộ vẻ hoan nghênh, và ngay cả viện bảo tàng Louvre giờ này đã tóat hơi lăng mộ. Cái cầu thang trông như lối đi trong rạp chớp bóng tối tăm, được thắp sáng bởi ánh đèn tinh vi chìm trong mỗi bậc bước. Langdon có thể nghe được tiếng bước chân của mình dội lại từ tấm kiếng bên trên. Ngước nhìn lên chàng có thể thấy làn hơi nước được chiếu sáng từ những vòi phun đang mờ dần bên ngòai mái nhà trong suốt.

          “Ông có chịu không?” Fache hỏi, hất đầu lên trên với cái cằm bạnh.

          Langdon thở dài, quá mệt mỏi để bông đùa. “Vâng, kim-tự-tháp của quí vị quả là tuyệt.

          Fache càu nhàu. “Một vết sẹo trên mặt của Paris.”

          Cú một. Langdon cảm nhận kẻ tiếp mình là một gả khó mà làm cho vừa lòng. Chàng tự hỏi nếu Fache có biết rằng kim-tự-tháp này vốn do tổng thống Mitterand yêu cầu rành mạch, đã được xây với 666 tấm kiếng – một đòi hỏi kỳ lạ đã trở thành một đề tài nóng bỏng cho những kẻ khóai chuyện mưu mô, họ bảo số 666 là con số của Satan.

          Langdon không định nói chuyện này ra.

          Khi họ xuống xa hơn đến phòng tiền sảnh dưới đất thì khỏang trống rộng lớn hiện rõ hơn. Được xây 57 bộ dưới đất, phòng tiền sảnh 70-ngàn-bộ vuông mới cất của Louvre tỏa ra như một cái hang động vô hạn. Được xây với đá hoa cương màu vàng thổ ấm cho hợp với đá màu vàng mật của mặt tiền Louvre bên trên, hành lang dưới đất thường sinh động với ánh nắng và du khách. Tuy nhiên đêm nay căn tiền sảnh lại trống trãi và tối tăm làm cho cả cái không gian nhuốm màu lạnh lẽo tựa như hầm mộ.

          “Còn ban an ninh thường xuyên của viện bảo tàng?” Langdon hỏi.

          “En quarantaine,” Fache trả lời, làm như Langdon tra xét về sự liêm chính của tóan công tác của Fache. “Rõ là kẻ nào đã vào được nơi mà hắn không thể nào. Tất cả kẻ gát đêm của Louvre đang bị thẩm vấn ở Cánh Sully. Đám nhân viên của tôi tiếp thu phần an ninh đêm nay.”

          Langdon gật đầu, đi nhanh hơn để bắt kịp Fache.

          “Ông quen biết Jacques Saunière như thế nào?” Viên đại úy hỏi.

          “Thực ra chẳng quen biết gì. Chúng tôi chưa hề gặp nhau.”

          Fache ngớ ra. “Cuộc gặp mặt đầu tiên của các ông định là tối nay?”

          “Vâng, Chúng tôi định sẽ gặp nhau vào buổi tiếp tân tại trường đại học Hoa Kỳ sau bài diển thuyết của tôi, nhưng ông ấy chẳng hề đến.”

          Fache nghuệch ngọac vài dòng vào sổ tay. Vừa đi Langdon nhìn thóang qua cái kim-tự-tháp của Louvre ít được biết đến – La Pyramide Inversée – một cái cửa kiếng vĩ đại ở mái được treo lững như một tấm thạch nhũ giữa hai tầng. Fache hướng dẫn Langdon bước lên một bậc thang ngắn vào lối vào căn hầm mái vòng cung mà ở bên trên có bảng đề: DENON. Cánh Denon là phần nổi danh nhất của ba phần chính của Louvre.

          “Ai yêu cầu có cuộc họp mặt tối nay?” Fache hỏi đột ngột. “Ông hay ông ta?”

          Câu hỏi xem ra kỳ quặc. “Ông Saunière,” Langdon trả lời khi họ bước vào căn hầm. “Thư ký của ông ấy liên lạc với tôi qua điện thư mấy tuần trước. Cô ta bảo là nhà quản thủ nghe tin tôi sẽ diễn thuyết Paris tháng này và muốn bàn luận với tôi về một chuyện gì khi tôi ở đây.”

          “Bàn luận cái gì?”

           “Tôi không biết. Tôi đóan là Nghệ thuật. Chúng tôi chia xẻ nhiều điều quan tâm tương tự.”

          Fache có vẻ nghi ngờ. “Ông không hề biết việc gặp mặt vì cái gì ư?”

          Langdon chẳng hề. Lúc ấy, chàng hiếu kỳ nhưng không tiện hỏi lý do cụ thể. Jacques Saunière đáng kính vốn nổi danh chuộng kín đáo và ít khi muốn gặp ai; Langdon đủ cảm kích khi được cơ hội gặp ông ấy.”

          “Này ông Langdon, it ra ông có thể đóan xem nạn nhân bị hạ sát của chúng ta đã muốn bàn luận điều gì với ông vào cái đêm bị giết? Điều ấy có ích lắm.”

          Sự trắng trợn của câu hỏi làm cho Langdon khó chịu. “Tôi chẳng tưởng tượng ra đươc điều gì. Tôi đã không hỏi. Tôi cảm thấy hân hạnh đã được tíếp xúc. Tôi là người ngưỡng mộ công việc của ông Saunière. Tôi thường dùng sách giáo khoa của ông ta trong lớp.”

          Fache ghi vội điều ấy vào sổ.

          Hai người đã ở gia đường của hầm vào Cánh Denon, và Langdon có thể nhìn thấy hai cái bậc thang máy cuộn ở đằng xa, cả hai bất động.

          “Vậy là ông cùng chia xẻ các điều quan tâm với ông ấy?” Fache hỏi.

          “Đúng vậy, tôi đã bỏ cả năm vừa qua viết nháp cho một cuốn sách bàn về lãnh vực chuyên môn chính của ông Saunière. Tôi đã trông chờ được nhặt não bộ của ông ấy.”

          “Fache ngước lên. “Xin lỗi?”

          Câu ví von có vẻ không diễn dịch được rõ. “Tôi đã trông đợi được học hỏi tư tưởng của ông ấy về đề tài này.”

          “À ra thế. Và đề tài gì vậy?”

          Langdon ngập ngừng, không biết phải trình bày cách nào đây. “Cơ bản thì bản thảo liên quan đến hình tượng học của sự tôn thờ nữ thần – khái niệm về sự thánh thiện của phụ nữ và nghệ thuật cùng các biểu tượng có liên hệ đến điều ấy.”

          Fache vuốt tóc với bàn tay mập. “Và Saunière hiểu biết về điều này?”

          “Không ai bằng.”

          “À ra thế.”

          Langdon có cảm giác là Fache chẳng hiểu gì cả. Jacques Saunière được xem là nhà hình tượng học hàng đầu của thế giới về nữ thần. Không những Saunière có một nổi đam mê riêng về các thánh vật liên hệ đến sự sinh sản, sự cúng bái nữ thần, Wicca, và sự thánh thiện của phái nữ, mà suốt hai mươi năm tại nhiệm như quản thủ bảo tàng viện Saunière đã giúp Louvre gom góp bộ sưu tập nghệ thuật nữ thần lớn nhất thế giới – những chiếc rìu labrys của các nữ tu ở đền cổ nhất Hy lạp tại Delphi, những chiếc gậy ngắn bằng vàng, hằng trăm nữ trang Tjet Ai-cập có dáng dấp những tiểu thiên thần đang đứng, những vòng nhạc khí rung thường dùng trong các lễ nghi cổ ở Ai-cập để xua đuổi tà ma, và một lọat các tượng về thần Horus đang được nữ thần Isis cho bú.

          “Hay là Jacques Saunière biết được bản thảo của ông?” Fache gợi ý. “Và ông ấy đã muốn gặp ông để giúp thêm vào cuốn sách.”

          Langdon lắc đầu. “Thực ra không ai biết đến bản thảo của tôi. Nó vẫn còn là bản nháp, và tôi chưa hề cho ai xem trừ nhà xuất bản.”

          Fache im lặng.

          Langdon đã không cho biết thêm về lý do tại sao chàng chưa cho ai xem bản thảo. Ba-trăm trang viết nháp – thọat đề tựa là Biểu tượng của Các vị Nữ thần đã mất – đề nghị vài diễn dịch không mấy qui ước về ảnh tượng tôn giáo đã được thiết lập mà chắc sẽ gây tranh luận.

          Khi đến gần chíếc thang cuộn đôi nằm yên, Langdon phát hiện là Fache chẳng còn ở bên cạnh. Quay lại, Langdon thấy Fache đứng cạnh cái thang máy dành riêng cho phục dịch cách vài thước đằng sau.

          “Chúng ta lên bằng thang máy,” Fache nói vừa khi cánh cửa mở ra. “Tôi chắc rằng ông cũng biết là đến được hành lang trưng bày còn xa lắm nếu ta đi bộ.”

          Tuy Langdon biết rằng thang máy làm ngắn con đường leo lên hai tầng đến Cánh Denon, chàng vẫn bất động,

          “Có chuyện không ổn chăng?” Fache giữ cánh cửa, trông sốt ruột.

          Langdon thở dài, ngước mắt nhìn lên cái thang cuộn trống trãi. Chẳng có gì bắt ổn cả, chàng tự dối mình, lê bước trở lại cái thang máy. Khi còn bé, Langdon đã rơi xuống một cái giếng hoang và súyt chết khi bơi đứng cả mấy giờ trong khỏang không chật chội trước khi được cứu. Kể từ ấy chàng mắc chứng khiếp sợ khỏang trống đóng kín – thang máy, tàu điện ngầm, sân đánh banh kín. Thang máy đứng là một bộ máy an tòan tuyệt hão, Langdon liên tục tự nhủ, chẳng bao giờ tin điều ấy. Nó chỉ là một cái hộp kim lọai treo lững trong một ống thông đứng! Nín hơi, chàng bước vào buồng thang, cảm thấy một luồng adrenaline chạy rần khi cánh cửa đóng lại.

          Hai tầng, mười giây.

          “Ông và ông Saunière,” Fache nói khi buồng thang chuyển động, “các ông chẳng bao giờ nói chuyện với nhau sao? Chẳng bao giờ viết thư? Chẳng bao giờ gởi cho nhau thứ gì qua bưu điện?”

          Lại một câu hỏi kỳ cục khác. Langdon lắc đầu. “Không, chưa bao giờ.”

          Fache gục gặt đầu, như là đang ghi nh điều ấy. Chẳng nói gì, ông ta nhìn sửng vào cánh cửa mạ kền.

          Lúc lên cao, Langdon cố chú mục vào một cái gì hơn là bốn bức tường xung quanh chàng. Trong sự phản chiếu của cánh cửa bóng lóang, chàng thấy chiếc kẹp cà-vạt của viên đại-úy – một cái thập giá bằng bạc có cẩn mười-ba hạt mã não đen. Langdon thấy ngạc nhiên mơ hồ. Biểu tượng được biết như là crux gemmata – chiếc thập giá mang mười-ba hạt ngọc – một hình đồ Ki-tô mang ý Chúa và mười-hai đồ đệ. Tuy thế Langdon không thể ngờ rằng vị đại úy của Cảnh sát Pháp lại phô trương tôn giáo của mình đến thế. Lại nữa đây là nước Pháp; Ki-tô giáo vốn chẳng phải là tôn giáo bắt nguồn từ chốn này. 

          “Nó là crux gemmata,” Fache đột ngột nói.

          Giật mình, Langdon nhìn lên bắt gặp đôi mắt của Fache nhìn chàng qua ảnh phản chiếu.

          Thang máy lắc mạnh khi dừng lại rồi cửa mở.

          Langdon vội bước ra ngay vào hành lang, háo hức cho một khỏang trống rộng rãi như đại sảnh trưng bày với vòm cao nổi danh của Louvre. Tuy vậy, thế giới chàng bước vào lại chẳng như chàng mong mõi.

          Ngạc nhiên, Langdon ngừng lại.

          Fache nhìn sang. “Tôi hiểu được, ông Langdon, ông chưa hề nhìn thấy Louvre sau giờ làm việc?”

          Tôi đóan là không, Langdon nghĩ, cố trấn tĩnh tác phong.

          Thường thì đại sãnh được chiếu sáng tòan hão, đêm nay phòng trưng bày của Louvre lại tối đen đáng sợ. Thay vì luồng ánh sáng trắng quen thuộc từ trên chiếu xuống thì lại một ánh màu đỏ câm lặng hừng lên từ đáy tường – với từng khỏang ánh sáng đỏ lan ra trên thảm.

          Langdon chăm chú nhìn dãy hành lang mờ tối, chàng biết mình sắp phải đối diện với cảnh này. Hình như là tất cả các nơi trưng bày nghệ thuật đều dùng ánh sáng phục dịch đỏ vào ban đêm – được đặt có kế họach, ở mức thấp, độ sáng không lấn át đủ để nhân viên tới lui và đồng thời giử các bức tranh trong bóng tối để làm chậm sự phai màu do ánh sáng chiếu rọi nhiều quá. Đêm nay, bảo tàng viện lại có vẻ ngột ngạt. Những bóng dài lan tràn, và cái vòm trần cao vút có vẻ như một khỏang không đen tối.

          “Đằng này,” Fache nói, rẽ ngoặc sang phải và thóat ra sau khi theo một lọat các ngõ nối các hành lang trưng bày.

          Langdon theo sau, mắt đã quen với bóng tối. Bao quanh, những bức tranh sơn dầu đồ sộ bắt đầu lộ rõ cứ như những tấm ảnh được tráng ra trong phòng tối vĩ đại trước mắt chàng … những đôi mắt rõi theo chàng khi chàng đi ngang qua phòng. Chàng có thể nếm được mùi vị của không khí bảo tàng – một lọai tinh dầu khô phảng phất chất than – một sản phẩm kỷ nghệ, những máy khử ẩm lọc qua than chạy suốt ngày để chống thán khí soi mòn từ khách chiêm quan thở ra.

          Bắt cao trên các vách, những máy ảnh theo dõi lồ lộ gởi một tín hiệu rõ ràng cho du khách. Chúng tôi nhìn thấy quí vị, Không được sờ mó cái gì cả.

          “Chúng là thực cả sao?” Langdon hỏi tay chỉ các máy ảnh.

          Fache lắc đầu. “Dĩ nhiên là không.”

          Langdon không ngạc nhiên. Sự theo dõi bằng động ảnh trong viện bảo tàng cở này không kham nổi và chẳng hiệu quả. Trông chừng cho cả nhiều mẩu đất các phòng trưng bày, Louvre chắc phải thuê đến vài trăm kỷ thuật viên chỉ ngồi xem các luồng ảnh thu vào. Hầu hết các bảo tàng viện ngày nay dùng phương pháp “an ninh chặn giữ.” Chớ nghĩ đến chuyện chặn kẻ cắp từ bên ngòai mà nên giữ chúng lại ở bên trong. Hệ thống chặn giử được khởi họat ngay sau giờ làm việc, và nếu có một kẻ xâm nhập lấy mất một nghệ phẩm thì những ngỏ thóat từng đọan sẽ bị đóng kín chặt lại quanh phòng trưng bày ấy, và kẻ cắp bỗng thấy mình đã bị giam sau các song sắt ngay trước khi cảnh sát đến.

          Tiếng nói vang vọng từ phía trước của dãy hành lang đá hoa cương. Tiếng động hình như từ một hốc tường lớn phía trước bên phải. Một vùng ánh sáng lan ra trên hành lang.

          “Văn phòng của nhà quản thủ,” viên đại úy lên tiếng.

          Khi chàng và Fache đến gần hốc tường. Langdon chăm chú vào một đọan hành lang ngắn dẫn vào phòng làm việc sang trọng của Saunière – gỗ ấm, những bức danh họa của các bậc thầy xưa, và một cái bàn cổ to lớn trên đó có một cái mẫu lớn hai bộ của một kỵ sĩ trong nguyên bộ khôi giáp. Một nhóm cảnh sát viên đang lăng xăng trong phòng, nói trên điện thọai và ghi chú. Một trong những người này đang ngồi ở bàn của Saunière và đang làm việc với cái máy điện tóan đặt trên đùi. Xem ra văn phỏng riêng của nhà quản thủ đã biến thành bộ chỉ huy tạm thời của Cảnh sát Tư pháp tối nay. 

           “Monsieurs,” Fache gọi lớn và tất cả các nhân viên đều quay nhìn. “Ne nous dérangez pas sous aucun prétexte. Entendu?”

          Tất cả đều gật đầu tỏ ra đã hiểu.

Langdon đã từng treo những tấm biển NE PAS DERANGER trên các cửa khách sạn nên đủ hiểu ý chính lệnh của viên đại úy. Không được làm phiền đến Fache và Langdon dưới bất cứ tình huống nào.

Rời đám nhân viên, Fache và Langdon đi dần đến hành lang tối ám. Cái ngỏ vào khu nổi tiếng nhất của Louvre lù lù ba-mươi trượng phía trước – la Grande Galerie – một hành lang dài hình như không tận cùng chứa những kiệt tác quí giá nhất của Ý-đại-lợi. Langdon đã nhận thức được nơi đây là chỗ mà xác của Saunière nằm; cái sàn gỗ nổi danh đưc thấy trong tấm ảnh Polaroid, không nhầm được.  

Vừa đến, Langdon đã thấy lối vào đã bị chận bởi một tấm vĩ sắt đồ sộ trông cứ như các tòa lâu đài thời trung cổ đã dùng để chặn các đội quân man rợ.

“An ninh chặn giữ,” Fache nói khi họ đến tấm vĩ sắt.

Ngay cả khi ở trong bóng tối, vật chướng ngại như thế này có thể chặn một thiết giáp xa. Đứng ở ngòai, Langdon chăm chú nhìn xuyên qua các song sắt vào cái hang mờ của Grand Gallery.

“Ông hãy đi trước, ông Langdon,” Fache lên tiếng.

Langdon quay lại. Đi đâu?

Fache chỉ về hướng cái sàn phía dưới vĩ sắt.

Langdon nhìn xuống. Trong bóng tối, chàng chẳng ghi nhận được gì. Vật chướng ngại được nâng lên khỏang hai bộ để có một chổ hở nguy hiểm bên dưới.

“Vùng này vẫn bất khả xâm phạm đối với ban an ninh của Louvre,” Fache nói. “Nhóm của chúng tôi từ Police Technique et Scientifique vừa mới hòan tất việc điều tra của họ.” Ông ta chỉ chỗ hở. “Vui lòng trườn vào bên dưới.”

Langdon nhìn sửng vào khỏang bò hẹp ở dưới chân rồi ngước lên tấm vĩ sắt đồ sộ. Bộ ông ta đùa sao? Vật chướng ngại trông cứ như cái máy chém chờ nghiền nát kẻ xâm nhập.

Fache càu nhàu cái gì bằng tiếng Pháp rồi nhìn đòng hồ đeo tay. Rồi ông ta quì xuống và trườn tấm thân kềnh càng bên dưới tấm vĩ sắt. Qua phía bên kia ông ta đứng dậy và nhìn lại Langdon qua song sắt.

Langdon thở dài. Đặt hai bàn tay sát trên tấm sàn bóng lóang, chàng nằm sấp và lê mình về phía trước. Vừa khi đang trườn bên dưới cái gáy của chiếc áo dạ Harris vướn vào đáy tấm vĩ làm đầu chàng đánh vào miếng sắt.

Khéo léo quá mà, Robert, chàng nghĩ, lóng ngóng rồi sau cùng cũng vượt qua được. Lúc đứng dậy, Langdon nghi rằng sẽ có một đêm rất dài.

Trần Niệm Từ

Kỳ tới: Chương 5  

 

© Copyright 2006 giaodiem.com

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com