
QUYỂN II -
PHẦN 1
Kỷ mùi năm
Tự đức thứ 12 (1859) Ông 47 tuổi. - Tháng
giêng, lính Tây đánh chiếm thành tỉnh Gia định. Can việc viết phiến
làm lộ lời Dụ về việc Nguyễn Viết Thành được dự thưởng, bị phạt
bổng ba tháng ghi vào sách. Vâng chỉ
cho dùng chức cũ sung Tham biện Cơ mật sư vụ. - Bộ Binh tâu:
Kính vâng châu phê: Từ Long Tường vào - Bộ Binh
tâu: Vâng theo châu phê, tỉnh Quảng ngãi đã tập hợp số tĩnh man 59
nhiều đến 3-4 cơ mà ở tỉnh thóc gạo ít ỏi, Bình thuận, Bình định
hiện trữ nhiều hơn, nên rút đưa bớt qua Bình định, Bình thuận mỗi nơi
một cơ trú đóng, chọn Suất đội làm Quyền Hiệp quản vụ cho đủ mỗi
cơ hai người, một là để lấy lương thực của tỉnh nuôi quân, hai là
để tiện gần gũi, dễ trưng điều. Bọn thần tuân mệnh kính tra số tĩnh
man của Quảng ngãi có 8 cơ biền binh, có hơn 3.400 tên, một ban lưu ngũ,
hai ban nghĩ ngơi ở Quảng ngãi, biền binh tả vệ hơn 500, thủy vệ hơn
500 mà các cơ tĩnh man thì chiếu theo liên lạc dân cư mà bắt hết cha con
anh em đều ở trong đó chứ không như tả vệ, thủy vệ, ba người trai chọn
một. Thần, Trần
Tiễn ... trước đây sung vào việc bắt lính ở hai tỉnh ấy, từng thấy
các cơ biền binh đókhông đắc lực bằng tả vệ, thủy vệ. Bọn thần
trộm nghĩ, nếu lấy hai cơ tĩnh man phái đi trú phòng Bình định, Bình thuận,
rất sợ các tỉnh ấy gánh không nổi, lại không đắc lực mà hai cơ phái
đi thì một vài tổng hoặc 3-4 tổng hóa ra lẻ loi trống trải càng e có
trở ngại. Vẫn kiểm tra thấy tỉnh Bình định vốn có số biền binh hơn
2440, giữ kho hơn 200. Đã phái bớt 2 cơ đi Gia định gồm 1000 người, còn
lại hơn 1700, cùng với đạo Phú yên hơn 800. Tỉnh Bình thuận vốn có
các sắc biền binh hơn 1800 người, đã phái bớt qua Biên hòa 300, Gia định
500, còn lại 1000 là số quá ít. Nay nghĩ nên
chọn rút hai viên Quản vệ đắc lực mang biền binh tả vệ của Quảng
ngãi vào Bình thuận đồn trú, nếu quân thứ Gia định có trưng điều
thì cũng gần đường hơn. Phái sang Biên hòa 300 người của Bình thuận,
phái đi Gia định 500 người của hữu vệ Quảng ngãi, 2 cơ gồm 1000 người
của Bình định, 500 người của Bình thuận, 500 người của Khánh hòa, 350
người của kinh thú 60 một vệ 500 người của Trung bảo 61
cọng là 3650 người, còn lại số biền binh của Biên hòa và Gia định
tưởng cũng đủ cung cấp cho việc đánh dẹp. Số
8 cơ tĩnh man xin chia làm hai ban tập trung mỗi ban một nữa số cơ, 4 cơ
ấy được huấn luyện phòng giữ. Vẫn trích lấy một cơ 500 tên về tỉnh
thay phiên cho Tả vệ đồn trú để chờ sai phái ổn tiện hơn. Còn như số
lính ở Bình định còn lại nhiều, nghĩ nên để đấy sau này sử dụng
tiếp. Bọn thần nghĩ cạn như thế, không dám ngậm thinh. Đúng hay không
xin vâng chờ Dụ. Châu phê: Cũng hợp lý. - Tháng 2,
vâng chỉ chuẩn y cho cùng Thống chế Hữu dực doanh Vũ Lâm là Nguyễn Như Thăng xây dựng các thành lũy
ở Thuận an. Tạm đình việc giảng bài ở Kinh diên (vì càng ngày việc
quân ở hai thứ Quảng nam, Định biên càng căng thẳng) . Đắp ba lũy đất
ở Hy du, Lộ châu, Hải trình tại cửa Thuận an.
Vâng đem đại bác đặt trên bè nổi bắn thử 62.
Vâng đặt súng đồng Chấn địa lôi ở các đồn Thuận an, thêm lính trấn
giữ. Vâng chỉ cho Chưởng vệ Thủy
sư Mai Viết đem 500 bảo binh đến trú
đóng đồn Thanh Phước, luyện tập chiến trận thủy bộ, giao Nguyễn Như Thăng, Trần Tiễn ... lui tới
chỉ bảo. Dâng phiến tâu: Số thuốc súng vốn để ở thành Trấn hải đã
lâu năm nên đổi bằng thuốc mới, còn thuốc cũ có bao nhiêu xin giao cho số
biền binh hiện vâng sai phái đem giã khô cho đúng phép và hợp thức đặng
trữ. - Dâng phiến tâu: Từ xã Hòa
Duân ở cửa Thuận an chạy về Lại các lũy Qui lai, Thuận hòa trở
xuống như đã trình bày ở trước, xin nên dựng lũy đất theo từng đoạn.
Thần vâng khám hai xã Hải trình, Hy du, bờ sông cách với mặt sông
70 trượng, dọc hai bên bờ nên đắp lũy đất mỗi bên một sở, mỗi sở
dài 8 trượng, nền lũy cao 2 thước, rộng 1 trượng 5 thước, thân lũy cao
6 thước, mở 5 cửa súng đều quay ra lòng sông. Từ bên trong lũy bên phải
của Qui lai đến lũy Hải trình dài hơn hai trăm ba mươi trượng, từ
bên trong lũy tả của Thuận hòa đến lũy Hy du dài hơn 210 trượng,
gần đây hai bên bờ ấy hiện có lúa non, xin chờ lần hồi sẽ khởi
công. Còn xứ Cổ cò của xã Thuận hòa, xứ
ấy tiếp liên với đường cái quan, chọn ra gò đất trong rộng 15 trượng,
ngoài rộng 10 trượng ba mặt có sông bao bọc quanh, nghĩ nên dựng một lũy
đất dài 10 trượng, nền lũy cao 2 thước, rộng 2 trượng, thân lũy cao 6
thước, mở 7 cửa súng, một phần hướng ra cửa nơi thuyền bè phải qua,
một phần quay ra xứ Cửa lấp xã Thai dương thượng, cách mặt sông hơn
280 trượng, nếu đặt súng Thảo nghịch trung tướng quân , sức đạn
có thể bắn tới. Lại phía mặt trời lặn của xã Hải trình thuận tiện
cho việc phòng bị, chỉ nên thêm phần cẩn thận mà thôi. Hiện tại số
biền binh ở Thuận an đủ để phòng giữ, nay nếu phái thêm làm cho quân
số nhiều hơn thì việc cư trú, ăn dùng chưa được tiện lắm. Tra thấy xã
Thanh phước ở vào quảng giữa mà xã ấy nguyên đã có một dãy nhà dài
cho biền binh cư trú, lại có đất trống để huấn luyện biền binh, xin nên
phái ra một viên thống chưởng đem một vệ biền binh 500 tên, đầy đủ
khí giới cùng 10 chiếc lê thuyền63 đi biển, sang trú đóng ở
xã ấy trước, vẫn do viên thống chưởng nọ huấn tập trận trên bờ,
trên nước cho được tinh thục, nếu Thuận an có chuyện phòng bị thì
viên thống chưởng nọ sang trước ứng phó cho được nhanh chóng. Còn 3 lũy
ở Qui lai, Thuận hòa, nguyên đã đặt 23 đại bác các hạng, đã phái 50
biền binh, 1 suất đội, 10 thần cơ bác thủ, 1 đội trưởng, chia phái cho
mỗi lũy chỉ 20 tên, nay xin phái thêm hai suất đội, 100 biền binh, gồm cùng
số nguyên phái một suất đội, 50 biền binh thành ba suất đội, 150 biền
binh, chia ra mỗi lũy 1 suất đội, 50 biền binh. Xin phái thêm một suất đội
thần cơ, 2 bác thủ đô trưởng, 33 bác thủ, gồm với số nguyên phái cọng
thành 1 suất đội, 3 đội trưởng, 43 bác thủ để sung mỗi cỗ hai tên
theo đúng lệ, cùng xin phái ra một viên quản vệ để kiêm quản biền
binh 3 lũy ấy huấn luyện đúng kỳ cho được am hiểu thông thạo. Lại vâng khám đường sông từ Qui lai,
Thuận hòa cho đến Cổ cò và mặt trước hai lũy Qui lai, Thuận hòa
cách nhau 50 trượng, mặt sông rộng 61 trượng, đường cửa sông sâu hơn
10 thước, bên trong bờ từ xã Hy du đến xã Hải trình rộng 70 trượng, cửa
sông sâu hơn 8 thước, không
sâu cho lắm mà 2 lũy từ Thuận an đến Qui thuận đường sông khá xa đến
khi phòng bị nghĩ cũng kịp việc. Xét
nên chiếu lãnh về cho các vệ vâng giữ 50 thớt ngựa gỗ, chế thêm 20 thớt
ngựa gỗ cao và dài, hai đầu đều có móc sắt, chia đặt ở bờ sông hai
xã Hy du, Hải trình gặp lúc thì có sẵnHải trinh mà
phòng bị bằng cách từ các lũy đó, biền binh đem mấy thớt ngựa gỗ
ấy ra, thứ nhỏ thì ném xuống chỗ cạn, thứ lớn thì ném xuống chỗ
sâu cho được hai, ba lớp, lấy móc sắt móc chặt nhau cho các ngựa gỗ
ấy cách mặt nước 1 thước hay 5 tấc cho mũi nhọn của gỗ so le răng chó,
chế ngự được vững chắc cùng với 2 lũy Qui thuận đã nói trên thì mua
sẵn tre tươi, tranh tươi 1.500 gốc dự trữ, kết mỗi bè trên dưới 100 cây
chia đặt dọc hai bờ sông mỗi bên 5 bè, cái nọ dắt cái kia, gặp lúc
thì đẩy ra, tưởng cũng chắn tạm được. Lại xin lãnh
đá núi ở các đồi chuyển đến chia đặt ở bờ sông hai xã ấy, gặp
lúc thì tùy tình thế mà ngăn chận cho được tiện tay, đầy đủ như đã
nói ở trên. Các việc đắp lũy, đặt súng đại bác, sắm chế ngựa gỗ
được chấp thuận thì xin phái đến một quản vệ, hai suất đội, 100 biền
binh lo liệu. Đó là ý kiến ngu dốt nông cạn của thần, cúi chờ huấn
thị để vâng đấy mà lo liệu. Châu phê: Trong phiến nên phái binh nào
thì bộ Binh bàn định mà phúc đáp. - Dâng phiến
tâu: Nay thần vâng khám các xã, thôn, ấp, phường, giáp ven biển, từ
thôn Đông dương ở cửa Tư hiền cho đến xã kế sung, từ bờ biển
vào trong sông đều xa xôi, từ xã Cử lại đến xã Hòa duân so với
Đông dương đến kế sung khá thua kém nhưng đụn cát cao hơn, phía trong từ
xã Thai dương hạ đến xã Lãnh thủy, từ bờ biển vào trong
sông khá gần mà đụn cát cũng cao thấp không đều, dùng tam bản có thể
vào được . Thần thiển nghĩ rằng giặc
Tây rất hung hăng ranh mãnh, chỉ lấy thuyền bền súng tốt làm hơn thì
khống ngự chúng, thế tất phải có sức súng bắn cho tới tàu chúng mà
đồn bót lại ỷ dốc 64 nhau mới là đắc lực. Xem ở sách Hải
quốc đồ chí đã chép thì những đài đặt súng ở ven biển chỉ
đủ để làm cái cây làm đích vẩy gọi người ta đến đánh chứ không
có tí ích lợi nào cho việc chống giữ. Lại
nói: có cả núi ghe, có thành ngăn cách bờ biển, khi đại bác đến được
thì thành cũng vứt đi. Lại cũng vì đại bác của chúng mãnh liệt, chúng
bắn đến ta, ta bắn không đến chúng mà đạn nổ rất là lợi hại như
vậy. Nhưng theo kinh nghiệm những lần tàu chúng đi qua hai cửa Thuận an và
Tư hiền làm càn, bắn vào trong sông, viên đạn có đường kính 4-5 tấc,
sức súng đã xa, viên đạn lại lớn thì cuốn đồ chí ấy không muốn đặt
đại bác dọc biển thực đã am tường kỹ lưỡng bọn mọi ấy vậy. Thế
cho nên bàn cách chống giữ chỉ qui vào một lời là không chi bằng giữ
trong sông mà thôi. Vả lại, đất nước ta đều
là bờ biển, các cửa biển sâu rộng nên không thể không giữ. Nếu một
dải cát trắng ngăn mặt biển, đắp lũy đặt súng, e có kém tiện lợi
mà chỉ đắp 1-2 lũy, đặt súng 5-6 cỗ thì thế hơi cô đơn lại có mối
lo chia nhỏ lực lượng. Đến như lũy cát xứ Cửa lấp của Thai dương,
đo từ chân cát ngoài biển rộng vào đến mé nước trong sông dài 78 trượng, lũy cát ấy, hai bên tả hữu
khá cao, ở giữa khá trũng, đồi cát nhô lên rạp xuống so với đụn cát
hai bên thua kém trên dưới 5 thước. Đo từ đụn cát phía tả tới đụn
cát phía hữu dài 205 trượng, lại đo từ đụn cát phía hữu đến thành
Trấn hải dài 615 trượng, trước đây thần đã khám đi khám lại, suy đi
tính lại, nếu bọn rợ kia vào bằng tam bản, lên bờ chỗ ấy thì từ đó
chạy đến thành Trấn hải hơn 600 trượng, sức chân đã đuối, huống
chi khoảng giữa cách dân cư xã Thai dương hạ đến hơn 120 trượng, giữa
các vườn nhà còn có xen thêm nhiều đụn cát mấp mô khó đi cho nhanh, chỉ
có hai đường là ngoài biển với dọc theo bờ trong sông, bọn rợ ấy có
tinh ranh đến đâu há không sợ quân ta mai phục chận lối hay sao ? Nếu như bọn
rợ ấy khiêng tam bản vào trong sông để quấy rối mặt sau thành Trấn
hải thì trong sông đã có binh thuyền chực sẵn mà bốn mặt hải
thành đều có đại bác, Cáp châu ở bên trái cũng có thể bắn lên lòng
sông, huống chi quân rợ ấy vốn lấy thuyền lớn làm tính mệnh mình, tam
bản hạng nhỏ há dám rời xa, mà tam bản cần phải có đại bác thì mấy
người khiêng mà đi nổi qua đoạn cát
rộng hơn 70 trượng, không sợ ta bắn chận hay sao ? Nếu
như vâng lệnh đắp lũy đặt súng rất e phí tổn nhọc người, lại vẫy
cho chúng bắn đến. Trước đây đã kính xin khơi ngòi cát, đắp lũy cát
để tiện nấp bắn khi xảy chuyện, việc ấy thần đã châm chước tùy
theo địa thế mà tính đường phòng bị, thực không dám khinh suất chút
nào vậy. Thần có chút ý kiến ngu dốt như thế, dám mạo muội trình bày
ngay, cúi mong rõ thấu cho. Châu phê: Chuẩn y cho lời xin liệu ấy. - Dâng phiến
tâu: Vừa rồi kính xin chế sắm ngựa gỗ để ngăn chận lòng sông hai xã
Hải trình và Hy du, nay trộm thấy các lũy từ Qui lai, Thuận hòa đến xứ
Cổ cò, đường sông hai bên khá cạn, nghĩ cũng nên tùy tình thế mà bó hẹp
lại cho dễ ngăn chận, xin để các quân liệu phái biền binh lên núi đốn
lấy các loại tre nứa cây lá gai góc rậm rạp dài từ 3-4 thước đến
7-8 thước cho thật nhiều, tải đến sông ấy trồng xuống từng quãng hai
bên sông làm chuôm. Cần làm cho được 3-4 quãng quanh co theo đường cảng
khiến cho không thể đi nhanh, mỗi quãng dài một trượng, chừa cửa trống
giữa lòng cảng chừng năm ba trượng cho tiện thuyền quan quân qua lại. Loại
chuôm như thế rất dễ làm, trong mươi ngày có thể xong mà lòng cảng lại
được quanh co thắt hẹp, lúc cần có thể ném ngựa gỗ xuống ngăn chận
càng chắc, - Dâng phiến
tâu: Đại bác là thứ rất quan trọng trong việc dùng binh, nhưng họng súng
cao hay thấp, xê sang trái sang phải không thể qua loa có lệ mà cần có
tài bắn. Muốn bắn trúng, thiết tưởng không phải rành thuộc thì không
làm được, mà muốn rành thuộc tất phải thường luyện tập: luyện tập
tất phải bắn nhiều thì mới biết tài khéo được. Đó chính là cái nghề
sinh trưởng của giặc Tây. Chúng cứ
lần lượt bắn bừa đã nhiều lại nhanh đến nỗi không trúng đó cũng
trúng đây chứ còn chẳng thể mỗi bắn mỗi trúng được. Huống chi ngày
thường luyện tập chỉ có bắn bông 65
rất đỗi có khi mắt không thấy sức súng, tai không rành tiếng súng, há
có thể nói là rành thuộc được sao? Nhìn kỹ
ra, trong các loại súng, loại Chấn địa lôi rất là lợi hại mà việc
chế liệu 66 đạn so ra khó hơn các loại súng khác, ít có người
được luyện cho rành. Nay giặc Tây nuôi lòng ác bạo, mà nghe nói tàu của
chúng lại bền chắc, trong tàu lại có ngăn, nếu đại bác bắn vào ngăn
này thì ngăn kia vô can, có bắn trúng được kho thuốc thì mới cháy tan, bắn
trúng buồng máy mới khó cho chạy. Cầu mong trúng như thế rất e quá khó,
huống chi cỗ súng dài, lớn mới bắn được xa chỉ có đế súng nặng hơn,
sau một phát lại phải đẩy tới mới bắn nữa được, mà một lần đẩy
lôi quay trái quay phải cần đến nhiều sức người thật là chậm chạp. Thần hay
tính mãi, thấy muốn phá tàu chúng thì chỉ có Chấn địa lôi mới đắc
lực, bởi vì Xung tiêu bác có đế nặng hơn, bắn xa cũng chỉ đến
bốn năm trăm trượng, nếu bắn nhiều đạn ấy, may được một quả rơi
vào tàu chúng, nổ tung toé ra bốn phía cũng đủ gây hại hơn đạn chiến
rất xa. Chỉ có việc thao tác chế biện đạn Chấn địa lôi đã khó mà
tống đạn vào súng cũng chẳng hề dễ. Nếu quá cứng thì đứt đường
thuốc, nếu quá mềm thì xốp đạn, huống chi, lúc phóng ra phải có chuẩn
mực xa gần khó mà nhắm đúng,
nếu không phải là thường ngày quen bắn cho mắt tinh tay lẹ thì thật
khó mong cho khỏi bắn suông. Trước
đây đã vâng chuẩn cho quản cơ Lê Hòa
chế tạo 100 viên đạn Chấn địa thật đã tuyệt vời! 67 Nay nghĩ nên
để cho kẻ am tường Chấn địa lôi là Lê
Hòa cùng với các viên Cai đội, Suất đội lãnh vỏ đạn ấy, nhét
cát vào , miệng đạn thì chế bằng giấy pháo hoặc cách nào đó khiến
cho bắn được đến độ thử nghiệm xem có khai phá không, rồi tra thuốc
y như đạn thật, vẫn chọn những lính hộ vệ cảnh tất cùng những người
sung vào lính thần cơ đại bác chừng 4-5 mươi người mắt còn khỏe mạnh
dạy cho biết chuẩn độ phóng xa,ãnh thuốc đạn cùng đem đạn giả
ấy và các loại súng Xung tiêu, Phá địch ra bờ cát nhắm chừng mà
bắn mỗi người ba phát, rồi thu đạn đã bắn đem riêng về chế lại. Mỗi
người cần bắn 5 lần, gồm 15 phát, cho được sành sõi. Hạn trong một
tháng thì xin quan khảo hạch riêng mỗi người 3 phát. Người nào ba phát
đúng y độ là ưu, 2 phát là bình, 1 phát là thứ. Các viên huấn luyện
chiếu theo số học tập chia làm ba thành, như được dự vào 1 thành đều
dâng phiến phúc trình, riêng vâng hậu thưởng để tỏ khuyến khích. Người
nào chưa rành cùng huấn luyện chưa đạt một thành, xin hãy ghi lỗi 1 lần,
tháng sau đó khảo hạch lại. Nếu người nào hai lần đều chưa rành thuộc
xin nên phạt roi 50 khiến về đội cũ chọn lại người khác học tập.
Các người huấn luyện hai lần đều kém thua một thành, xin phạt lương
ba tháng. Như vậy thì người ngoài đều biết sự khuyến khích và trừng
phạt mà ganh đua phấn
đấu để am tường nghề ấy. Có được thật nhiều người thì lúc dùng
mới mong có người đắc lực vậy. Lại vâng
xét sự nhanh, chậm, gần, xa của sức súng cũng quan hệ với sự tinh thô
của thuốc súng nữa. Xét ra hằng năm giã luyện thuốc súng hạng nhỏ 5
độ, hạng nhỏ 4 độ, hạng lớn 3 độ, lưu trữ một vài năm sức thuốc
giảm bớt, không còn đạt nguyên độ đến nỗi mỗi lần bắn thử đều
phần nhiều phải nhồi thêm rất hao phí, chỉ có giã luyện được tinh thì
các thứ diêm tiêu lưu huỳnh tất phải sàng bỏ các thứ lẫn lộn, đãi
bã đi, sau đó mới đạt tốc độ tinh, tuy một lần sàng đãi không phải
là không bay hao quá lệ nhưng thuốc súng đã tinh thì lúc bắn ít phí mà sức
bắn mạnh mẽ, lòng súng không mất công lau chùi, sức súng có thể mãnh
liệt. Lấy cái nọ bù cái kia, tưởng không hao phí cho lắm. Các dược
trường của thủy lục quân ở Kinh đô gần đây đã bắt đầu giả thuốc,
nghĩ nên giao quan Đốc biện là Tôn thất
Cúc quyền chưởng ấn triện dinh thần cơ, chuyển sức chỉ thị
phương pháp giã luyện cho Cai đội Nguyễn
Sung gia tâm chế biến giã luyện thật lực. Về thuốc súng, lệ cũ 5
độ thì giã cho được 7 độ, 4 độ thì phải cho được 6 độ, 3 độ thì
phải cho được 5 độ, vẫn phải hội đồng các Khoa, Đạo, Bộ, Ty cùng
chung mắt kiểm xem phải làm như thế nào để có được thuốc thật tinh,
cứ theo thực tế mà thu nhận, nếu có sự phao phí hay xâm phạm
hao hớt bị phát hiện, xin nên tăng mức trừng phạt để cho thuốc súng
được tinh, bắn nhanh và lợi. Thần ngu dốt nông cạn, có ý kiến trên
chưa biết đúng sai, cúi chờ xét định để Bộ của thần trích ra lo liệu.
Châu phê: Nói khá hết lòng. Y theo lời xin, giao bộ Binh cân nhắc nghĩ lại
cho minh bạch rồi bẩm lại để tiện ghi nhớ liệu biện. - Tháng 3,
kính vâng Dụ chuẩn y cho rời việc Cơ mật Binh bộ, chuyên trú tại
cửa Thuận an để đối suất việc
phòng bị. Can việc suất đội Võ Văn
Thơ kết đạn lẩn châu, thuốc không tinh, hạch không chu đáo, bị phạt bổng
ba tháng ghi vào sách. Dâng phiến trình: Tra số bộ binh, thủy binh sung đến
đàn áp ở cửa biển này có mang theo 58 cỗ Quá sơn bác, trừ số chưa đặt
ở các thuyền là 46 cỗ, hiện còn 12 cỗ và 5 khẩu Thần công. Nay xin
thêm 3 cỗ Quá sơn bác, 10 khẩu Thần công để đủ số mỗi hạng 15 cỗ,
khẩu. Châu phê: Từ nay cứ tính thêm như vậy cũng được . - Dâng phiến
tâu: Kính xét cửa Thuận an là biên cương quan yếu của mặt biển mà đạn
Chấn địa lôi là lợi khí rất cần thiết, xin lãnh 3 khẩu súng đồng Phá
địch trung tướng quân trong đó một khẩu
tâm kính 4 tấc 4 phân, nòng dài 1 thước 5 tấc 9 phân , hai khẩu
tâm kính 4 tấc 4 phân, nòng dài 1 thước 4 tấc 8 phân; hai khẩu Xung tiêu
đồng bác, đạn tâm kính 3 tấc 5 phân, nòng dài 1 thước 4 tấc 3 phân gồm
thành 5 khẩu cùng lãnh đạn Chấn địa lôi do Quản cơ Lê Hòa chế mỗi khẩu 5 viên gồm thành
25 viên, nếu thiếu thì chế thêm gấp, gửi về Cửa đặt, cùng xin phái
cho 7 đội thần cơ tiền vệ, Thự cai đội Nguyễn Chơn cùng 4 người rành bắn Chấn
địa lôi đến cửa ấy để nghiêm túc việc phòng giữ. Lại lũy Cáp
châu vốn đã đặt 6 cỗ đại bác, nay hai bên tả hữu đắp nối thêm lũy
cánh để phòng giữ đường sông cùng đắp thêm lũy mới ở Cổ cò, mở
7 cửa súng, hiện đã làm xong. Bờ sông hai xã Hy du và Hải trình đều
mở mỗi nơi 5 cửa súng, hiện đang tiếp tục công việc. Nghĩ nên
lãnh thêm số súng hiện đặt ở hai bên Tả hữu xưởng Tướng quân là
15 khẩu súng đồng Vũ uy, Thắng uy, nòng đều dài ba thước, tâm
kính đều hai tấc hai phân, 7 khẩu súng đồng Oanh sơn, trong đó 4 khẩu
tâm kính 2 tấc 6 phân, nòng dài 4 thước 7 tấc 5 phân, 2 khẩu nòng dài 3
thước 8 tấc 8 phân, trong đó 1 khẩu tâm kính 2 tấc 5 phân, nòng dài 3 thước
9 tấc 7 phân, 2 khẩu tâm kính 2 tấc 4 phân, nòng dài 3 thước 8 tấc 8 phân,
năm khẩu súng đồng Bình ngụy đại tướng quân, tâm kính đều 2 tấc 6
phân, nòng đều dài 3 thước 8 tấc 4 phân, cọng gồm 27 khẩu, xin phái biền
binh, thần cơ với biền binh thủy sư do
Đề đốc Võ Phẩm liệu đưa ghe thuyền
lấy đem về đặt các lũy. Còn lũy Cổ cò, xin phái một suất đội,
50 biền binh, hai lũy Hy du, Hải trình xin phái cho mỗi nơi một suất đội,
25 biền binh, khí giới đầy đủ, đều do Thống chưởng thần cơ Tôn thất Cúc lựa phái 2 tên cho mỗi khẩu
đại bác lần lượt đến trước để chọn chia trấn đóng. Còn 4 luỹ
ở Qui thuận, Cổ cò vốn đã phái mỗi nơi 50 biền binh, xin cho số biền
binh ấy ở mỗi luỹ lãnh 2 cỗ Quá sơn bác, 2 khẩu Thần công.
Hai luỹ Hy du, Hải trình xin phái mỗi nơi 25 biền binh, mỗi luỹ xin lãnh
Quá sơn, Thần công mỗi thứ 1 cỗ, thuốc đạn đầy đủ để diễn tập
phỏng bị. Trước đây đã xin 2 vệ 4 đội Tả bảo, và Cai đội Tôn thất Thọ đến trước các luỹ Qui
thuận quản đốc các bác thủ. Nay viên ấy đã bị đau chân không đi được,
xét có Chánh đội trưởng Đội 3 của Trung vệ Tiền phong là suất đội Tôn Thất Tình cũng am tường nghề đại
bác, trước vâng phê chuẩn ghi danh sai phái, xin phái viên ấy đi trước
sang các lũy trên, quản đốc các bác thủ diễn tập cho người xướng xuất.
- Tháng 4
vâng Dụ rằng: Quân thứ Quảng nam có đồn lũy, hào, khanh kiên cố 10 phần,
người Tây còn dám đánh chiếm, Thuận an thế hiểm không bằng Quảng nam,
chỗ nương cậy chỉ nhờ đại bác. Tôn
Thất Thường từng qua quân thứ, Thị vệ Nguyễn Quyên sai phái đã lâu, phương pháp
lo liệu đã rành, nay sai phái bọn ấy đến cửa họp bàn lo liệu. Vả người
Tây đổ bộ tất dùng thuyền tam bản chạy dọc theo bến cát 68
cửa khẩu, lũy Hòa xuân bên phải nên tăng sửa cho chắc, đặt súng hạng
trung cho tiếp với vòng ngoài thiết long 69 bến cát cửa khẩu.
Hai bên chận chỗ trọng yếu bắn chéo nhau chúng làm sao bay qua ? Bên ngoài
các lũy nên đào hố cắm chông 3-4 lớp, trên lũy cũng vậy, mở nhiều cửa
súng hoặc đắp bậc để dễ nấp bắn, lượng chừng mà xếp đặt, tuy
binh Tây ngàn vạn người mà đến cũng không thể tới gần mới là ổn thỏa.
Bọn ngươi Nguyễn Như Thăng, Trần Tiễn ... do Trẫm phái đi nên gia tâm
trù liệu, mở lòng thành mà nhận việc để giúp nước mà thôi ... - Vâng mệnh
sai thị vệ mang thuốc viên Tử kim đính 53,
Chính khí đạt nguyên 70 chia cấp cho chức viên và biền binh các
đồn ở Thuận an. Tết Đoan dương, ban cho chức viên và biền binh trú
phòng Thuận an quạt tre, bao gấm Cẩm hà có mức khác nhau. Gặp Ngũ tuần
đại khánh của Hoàng thái hậu được thưởng thêm một cấp. Can việc để
thuộc ty cấp trùng sắc văn cho suất đội Nguyễn Viết Đàm, bị phạt bổng
9 tháng ghi vào sách. Dâng phiến tâu xin chế tạo bè tre có giăng Thiết
long 69 , xin lãnh 200 cây sắt tây 71 sức riêng thợ rèn uốn
thành vòng sắt bó bè tre cho nhanh mà khỏi tốn tiền đúc. Châu phê: Vũ khố
xem còn trữ bao nhiêu phúc đáp để chi phát. - Tháng 5
dâng phiến tâu: Lần này xin đưa một vệ biền binh 500 tên ra trú đóng
các bảo của xã Thanh phước, kiểm tra số biền binh ấy đều không có
các súng Thần công, Quá sơn, nghĩ nên chiếu lãnh mỗi loại 15 khẩu, có
đủ đạn theo súng đem về diễn tập để phòng ngự. Tuân sắc miêu tả và vẽ bản đồ các
đồn lũy Thuận an, Tư hiền, Hòa duân, Cồn sơn, Cáp châu, Qui lại, Thuận
hòa, Hy du, Hải trình, Lộ châu cùng nói rõ các vị trí mới dựng, dựng
đã cũ, các hạng súng bao nhiêu, đặt ở đâu, hạng súng gỗ, mỗi khẩu
bao nhiêu thước tấc, dâng lên. Vâng tuân
ân chiếu tha miễn các khoản phạt bổng.
Vâng được ân thưởng gia một cấp. - Tháng
sáu, vâng mệnh bộ Hộ đi Thuận an khao quân cùng thưởng tiền gạo cho chức
viên và biền binh có sai biệt. Cùng thống
chế Nguyễn Như Thăng dâng phiến tâu: Nay
vâng đắp thêm đồn vuông ở Thuận an đường, đặt 30 súng các loại, đồn
vuông Hòa duân đặt 7 khẩu, Cáp châu nguyên mở 19 cửa súng còn 7 cửa chưa
có súng đặt cùng Thuận an Hòa duân đều có đắp lũy cát bao quanh dài rộng,
nghĩ nên lãnh thêm ở xưởng, ở kho 10 khẩu súng gang Oanh sơn, các
loại súng đồng Đằng uy, Thắng uy, Phấn uy mỗi thứ 10 khẩu gồm
thành 30 khẩu, 10 khẩu súng đồng loại Võ công, 20 khẩu súng đồng loại
thành công để chia đặt. Lại kiểm tra các hạng binh thuyền cùng bộ binh
đàn áp 58 tại Cửa đã lãnh 109 súng đồng Quá sơn, 10 súng đồng
Phi sơn, 20 súng sắt thần công, trong đó Quá sơn Phi sơn chia đặt trên 3
chiếc tàu đồng 21 khẩu, chia đặt ở Cự hải 4 chiếc hải đạo, 7 chiếc
châu ô, 2 chiếc dẫn đỉnh, 2 chiếc lê thuyền gồm 80 khẩu, chỉ còn 18
khẩu Quá sơn, 20 khẩu thần công như thế khá ít, xin nên tăng thêm 32 khẩu
Quá sơn, 30 khẩu thần công để đủ mỗi thứ 50 khẩu hầu sung việc diễn
tập phòng ngự. Lại vâng cứu
xét: hiện tại các sắc bộ binh đàn áp cùng đóng giữ có 775 người cùng
số am tường đại bác và bác thủ, hộ vệ cảnh tất thần cơ 237 người,
thủy sư 569 người, gồm 1581 người đã vâng chia phái đóng giữ các đồn
lũy cùng chia giữ trên các hạng thuyền, chỉ còn 233 bộ binh đóng giữ
ở nhà dài để sai phái khi đến lúc. Nay có đắp thêm đồn lũy phải có
biền binh trú đóng ngăn giữ, nghĩ nên phái 300 bộ binh, 80 thần cơ bác thủ
để đủ chia phái cho các chổ đồn lũy. Châu phê: Bọn ngươi nên thường
đốc sức thêm biền binh phòng giữ, không được nghe ngóng tin đồn vu vơ
mà lơi lỏng, cho xứng sự ủy thác. - Cùng Thống
chế Nguyễn Như Thăng dâng phiến tâu: Các chỗ Cáp châu, Cồn sơn, Hòa
duân cách bức đường sông, như có đóng nhiều biền binh, thì ngày thường
qua lại mua thức ăn kém thuận tiện, mà Cáp châu 72 , Cồn sơn tất
phải vận tải nước ngọt để ăn nên bọn thần phải châm chước phân
phối bớt lính ở các đồn lũy, ở các nơi đặt pháo, nếu có trông thấy
tàu Tây thì phái các viên chức cai quản mang 2-3 đội sang gấp để ứng
phó. Gần đây việc phòng giữ đều thu xếp như thế cả. - Cùng Thống
chế Nguyễn Như Thăng dâng phiến tâu: Lần này thành Trấn hải đặt 3 khẩu
súng đồng Bảo đại đinh công an dân hòa chúng thượng tướng quân 73
, xin bắn thử mỗi khẩu 3 phát. Trong tháng này, bọn thần sẽ ra lệnh cho
vệ phòng hải cắm cọc tiêu ngoài biển, cọc thứ nhất xa 700 trượng 74
, cọc hai xa 600 trượng. Xong, sức cho những người am tường súng lớn ở
Cửa như Hiệp quản Tôn Thất Tụy, Tôn
Thất Duyệt, Cai đội Thần cơ Thái Văn
Thao, Nguyễn Chơn, Chánh đội trưởng Tôn
Thất Quyền cùng bọn hộ vệ cảnh tất hội đồng vâng thi hành bắn
thử, cỗ nào, mấy phát, sức súng đạt được xa gần chừng nào, kính
xin ghi phiến dâng lên. Lại một cổ súng đồng thứ ba loại Bảo đại
định công an dâng hòa chúng thượng tướng quân đặt bên tả trụ cờ
thành Trấn hải, lần này bắn thử phát đầu, kiểm thấy phía ngoài miệng
súng dẫn về phía thân khoảng 9 tấc, có một vết rạn rộng 7 tấc 6
phân dài 5 tấc, phía dưới bên phải miệng súng chất đồng hoen ra ngoài
miệng súng 4 phân nên không dám bắn thử tiếp. Khẩu ấy xin nên chở về
đặt lại ở xưởng Tướng quân xin đổi lãnh một cỗ súng đồng Thần
oai vô địch đại tướng quân đem đến đặt ở thành ấy để phòng
bị. - Tháng 8,
ngài Thượng thư quá cố được tặng: Trung nghị đại phu Thái bộc tự
khanh, thụy Ôn Tĩnh. Đoan nhân Thái từ quá cố được phong Tòng tam phẩm
Thục nhân. Sau đó Ông dâng biểu tạ ơn. - Tháng 9,
được thưởng bạc 10 lượng 75 . - Tháng 11,
ban rượu thuốc, sâm, quế cho quan quân đóng giữ các đồn ở Thuận an
và Tư hiền. - Tháng 12,
ban rượu thịt cho tướng sĩ các đồn Thuận an và Tư hiền. Ban áo
quần ngự hàn có sai biệt cho tướng sĩ các đồn Thuận an và Tư hiền. Canh thân năm thứ 13 (1860) Ông 48 tuổi. - Tết Đoan
dương, được ban các thứ: quạt ban trúc, tứ gấm Cẩm hà. - Tháng 10,
can việc tháng 2 năm 12, thuộc ty chép sắc văn sót lọt, sai lầm, bị phạt
bổng 6 tháng ghi sách. - Tháng 12,
được ban sâm, quế, rượu thuốc cùng quần áo rét. Tân dậu năm thứ 14 (1861) Ông 49 tuổi. - Tháng 2,
vâng Sắc nói: Cửa Thuận an đồn lũy kiên cố, súng ống đầy đủ,
chỉ có thiết long 69 chưa được kiên cố. Cửa biển ấy, một nơi
ghe thuyền dự trữ đất đá, bến đậu gặp lúc cần thì như thế là chưa
ổn. Đốc phòng Trần Tiễn ... trù nghĩ như thế nào, hãy tâu lên . Tiếp
đó tâu lên: Cửa biển là cửa ngõ của Kinh sư mà bọn Tây thuyền bền
súng tốt, há dám coi là chuyện dễ dàng, kế sách hiện nay chỉ có việc
xin điều động thuyền binh thuyền dân lấy đá núi trăm đồi 76
chở đến trước để ở Cửa. Lúc cần sẽ điều các thuyền đến phía sau đồn
lũy, chất đầy cát, đá, thừa lúc đêm tối, chạy qua Cửa ấy, phá thuyền
chìm xuống, nghĩ cũng được việc. - Tháng 3,
sách Lịch đại vịnh sử phú làm xong, được thưởng bạc
và tiền. Trước đó, năm Tự đức thứ 8 lúc ở Các có chuẩn bị soạn,
đến lúc này sách xong nên được thưởng.
Theo vua đi thăm cửa Thuận an, xét thấy cửa biển được bồi cạn quanh
co khuất khúc, ngày càng thêm hiểm yếu. Vâng chuẩn cho sung làm Khâm mạng
đến tế ở miếu Long vương. Trước đó vâng sắc bảo trai giới kiệt
lòng thành đến miếu ấy cầu
đảo. Bấy giờ mới tiến hành cho nên có lệnh ấy. - Tháng 7, vâng Chỉ chuẩn cho
các doanh, vệ ở cửa Thuận an, nơi nào binh số nhiều thì đặt thêm mỗi
vệ 2 quản viên để đủ sai phái, vẫn giao Đốc phòng Nguyễn Như Thăng,
Trần Tiễn ... chọn cử . - Tháng 8,
can việc lúc còn ở Các, thuộc ty vâng giữ văn thư để sâu nhậy cắn
rách, thiếu, mất, bị phạt bổng 6 tháng ghi vào sách. Huấn luyện pháo thủ
học tập phép bắn diễn tập khá tốt, được thưởng kỷ lục 1 lần. - Tháng 9,
vâng dụ chuẩn cho thăng thụ Thượng thư bộ Công, vẫn chuyên sung Đốc
phòng. - Con là Hoài Tĩnh ra đời. Nhâm tuất năm thứ 15 (1862)
Ông 50 tuổi. - Tháng 2,
dâng phiến tâu: Nay tiếp bản cung lục của bộ Công, quan Thủy sư là bọn
Võ Phẩm xin đổi Chưởng vệ Nguyễn Chí sang đồn Thuận hòa
vâng sung việc đàn áp 58 , đem Thống che᠍ai Viết sung thống quản ghe thuyền, chờ
chở vật hạng xong sẽ về đợi chỉ như cũ. Châu phê: Nên hay không, Trần
Tiễn ... phúc đáp. O⮧ tâu: Vâng tuân, thần vâng xét việc phòng ngự 6 lũy
Qui thuận không như cửa Thuận an mà sự quan yếu ở đấy chỉ Kinh sư mới
đọ nổi. Hải trình là nơi thuận tiện cho việc phòng giữ nghiêm ngặt,
Thống chế Mai Viết từ khi vâng phái
đến quản đốc từ Thanh phước đến Lộ Châu, súng, lũy, binh thuyền và
biền binh đàn áp đã 3 năm, địa thế, binh tình đã am thuộc mà cũng từng
sửa sang xây đắp đồn lũy, huấn luyện biền binh, xét thấy viên ấy là
người dũng cảm năng nổ, nay nếu phái đổi sang nơi khác, tưởng cũng không
có ai am thuộc hơn chỉ có ông ấy mới gánh vác được công việc quan hệ
đến vợ con cả nước, từng trải về thủy sư, thần từng vì thế mà
xin phái, thần cũng không yên tâm được là Mai Viết nên đổi hay nên giữ
lại, xin chờ vâng xét định . Châu phê: Đừng đổi. - Tháng 4,
được ban bạc nén. Bấy giờ Khâm mạng đại thần
Trương Đăng Quế, Đoàn Thọ đến tuyên
ủy 77 quan binh hai cửa Thuận an, Tư hiền, ban thưởng có sai biệt.
Vâng đem tình hình Phú soái là Bô-Na điều khiển tàu Xuy mông
đưa thư nghị hòa tâu lên, kính xin ra lệnh cho đình thần bàn định
các điều ước. Từ Thuận an về triều, kính vâng diện sắc 78
hỏi về đồn lũy, tâu là đã đôn đốc binh lính làm được sáu phần mười.
Vua sắc dụ: Nay vừa gặp nắng gắt, sớm chiều chỉ nên làm 6 khắc để
đỡ nhọc lính. Bọn chúng kỹ nghệ 79 tinh xảo, qua lại bất thường,
bọn ngươi ngăn ngừa chớ nên sơ hở chút nào cả - Tháng 5,
vâng Sắc ban có khoản: Bảo cho đốc phòng Trần Tiễn ...tùy nghi xếp đặt
phòng bị cửa Thuận an có việc rất quan trọng hãy tâu, chớ vì nghị
hòa mà thiếu sót. - Tháng 6
vâng Dụ có khoản: Thượng thư bộ Công Trần Tiễn ... trước đã phái
sang Qui lai, Thuận hòa cho đến cửa Thuận an, hiệp đồng đốc sức phòng
bị. Nay việc ngăn giữ mặt biển giản tiện dần rồi, cho cải thụ Thượng
thư bộ Hộ kiêm quản Khâm thiên giám sự, vẫn luân phiên đến sở
Đốc phòng kiểm tra đốc sức thêm, nếu có tin báo quan trọng thì phải
đến đấy ngay để hội đồng bàn bạc cho chu đáo thỏa đáng. Vâng Dụ
chuẩn cho dùng chức đang giữ sung Cơ mật viện đại thần, sung Nhật giảng
quan của Kinh diên. - Tháng 7,
cùng Đại học sĩ Trương Đăng Quế tâu
xin nhân trước lúc sứ Phú lãng sa đến
(trong ước thư có nói các điều: hạn trong 1 năm Phú sứ phái sứ đến
Kinh hỗ giao 80 lại có sai sứ thăm hỏi) hãy phát sứ đi thăm vua Pháp, đệ thư biện minh việc Phan Thanh Giản, Lâm Duy Tiếp đã hứa vội
81 với Bô-Na về việc tranh
chấp biên giới. Cử cả Đô thống thủy sư là Võ Phẩm sung làm Khâm sứ, Trần Đình Túc làm phó, Đỗ Đệ, Hồ Quang đều sung làm Bồi sứ.
Châu phê: Mọi việc chỉ cần có được người mà thôi. Đã vì nước lo
xa, phải chọn cho tinh tường. Vâng sắc bảo đại thần Nguyễn Tri Phương đọc kỹ các Dụ, sớ
để rõ tình trạng, có phương lược gì nên cùng các đại thần Đoàn Thọ, Trần Tiễn ... bàn kỹ tâu
lên ... (bấy giờ ông Nguyễn từ Bình thuận về chầu) 82 . - Tháng 8,
đình thần tuân cử đại thần Nguyễn
Tri Phương sung làm Quân soái Tây bắc. Thái sư Trương Đăng Quế xin lấy Ông thay thế.
Vua ban sắc gọi ông Nguyễn và O⮧ vào diện phúc 83 . Ông Nguyễn
tâu: Làm tướng là ở chỗ chọn được người. Tính mệnh ba quân lệ thuộc
vào họ. Thần vâng phái vào Nam Kỳ không được công trạng gì, lại
không am hiểu tình thế Bắc kỳ. Ông tâu: Thế giặc ở Bắc kỳ rất khó
đánh bắt mà địa thế cũng chưa am tường. Đại thần Nguyễn Tri Phương
vốn được trọng vọng lại từng trải trận mạc, thần không bằng được,
xin đều được xét định. Sắc ban: Quân cơ là việc lớn, không thể
khác ý kiến. Tiếp đó ra lệnh cho Nguyễn
Tri Phương sung làm Tây bắc Tổng thống quân vụ Đại thần. - Đặt sứ
quán Pháp tại phần đất của Thủy sư (nay là Phú văn lâu, Huế)
ở bờ - Tháng 8
nhuần, cùng Trương Đăng Quế, Đoàn Thọ, Trần Văn Trung, Trương Văn Uyển
tâu: Kính vâng Châu phê trong có khoản nói: Từ cả năm nay Trẫm vì lo
mà thành bệnh mà nhiệm vụ quan trọng ngày càng nặng thêm. Ngoài ra
các việc giấy tờ lặt vặt cũng lại không ít, thật là không dám tiếc
thân, ngày đêm giải quyết vẫn không khỏi chồng chất đến mức nhầm lẫn.
Các đại thần nên xem xét bàn định làm sao cho thỏa đáng may khỏi thêm
tội lỗi. Khâm tuân:
Bọn thần trộm thấy việc thiên hạ rất nhiều, một ngày cả vạn chuyện,
huống chi nay bụi biên thùy chưa lặng, giấy tờ quân sự dồn dập mỗi
việc mỗi phiền cho sự xem xét. Bọn thần nơm nớp lo sợ chẳng xiết kể,
trừ những văn thư về chuyện nên làm hay giảm bớt thì hãy họp bàn xét
trình lên, ngoài ra, xin theo quãng đời Gia
long các chương, số, văn bản đều do công đồng bàn bạc, có sự kiện
quan trọng mới xin ý kiến xét định, còn việc nhỏ nhặt tầm thường đều
đã qua công đồng bàn ổn thỏa, truyền thống thi hành, không phải mỗi
việc mỗi tâu. Gặp việc mới mẻ, ngày không rỗi để lo thì chỉ nhắm
đại cương mà lược bớt tiểu tiết như thế việc bớt đi nhiều mà đều
vào đúng mối cả. Gần đây, vì việc phức tạp, điều lệ tăng nhiều,
từ chất lượng mà nẩy ra hình thức, công việc càng thêm dày đặc, tiếp
nối đã lâu, bớt đi càng khó, đấy cũng chỉ vì thời thế mà thôi. Thử
tìm hiểu thời khoảng Minh mạng, giấy
tờ chữ nghĩa đều gọn ghẽ là được. Chỉ nói là phải kê tra cho hợp
lệ nhưng cái gọi là lệ thì đều không có gì ràng buộc cả. Cho nên việc
tuy nhiều mà giấy tờ gọn, còn kê tra luật lệ là việc của quan Hữu ty
mà thôi. Bọn thần tài sức tầm thường, lo việc lại nhiều sơ sót, mỗi
việc đều dâng lên làm nhọc công xem xét, kiểm tra, thật biết là mang tội
quá nhiều, suy nghĩ mãi vẫn chưa biết làm sao mới phải. Nay nghĩ xin
bắt chước lệ công đồng thời Gia long, bên văn thì 6 bộ, mỗi bộ đều
có một bộ trưởng ( như bộ nào chưa có Thượng thư thì lấy Tham tri,
chưa có Tham tri thì lấy Thị lang) bên võ thì Đô thống, Thống chế,
gặp việc thì công đồng bàn bạc, trừ những việc do Nội các trình lên
nhưng vẫn do quan ở Các tuân lệ mà lo liệu, ngoài ra bất cứ việc gì đều
do nha sở quan xét bàn trước rồi mới chuyển lên công đồng phúc duyệt.
Việc gì trọng đại cùng việc chưa thành lệ thì mới tâu rõ lên xem xét
định. Nếu đã có thành lệ cùng việc nhỏ nhặt đã duyệt xong thỏa hiệp
cả rồi thì chỉ lược kê việc rồi dâng trình không cần dẫn lệ nhưng
xin miễn dâng trọn tập để giảm bớt nạn giấy tờ phiền phức, nếu có
sót lọt nhầm lẫn cho đến trái lệ mà nói là thỏa hiệp, xin do Nội
các, Khoa đạo đang trực nhận lời tâu duyệt lại rồi đem nha sở quan cùng
sổ viên chức đã dự công đồng xét duyệt trị tội xứng đáng. Nếu Nội
các, Khoa đạo không kê hạch được, đến nỗi có nhầm sót, cũng nghị
xử cho nghiêm công lệnh, đợi cho việc nhẹ bớt đi sẽ chiếu theo nếp
cũ. Rất nguyện xin chỉ đem đại cương mà lướt qua tiểu tiết để dưỡng
sức cho tinh thần mà vì gánh nặng xã tắc. Người xưa nói: bớt việc
không bằng bớt lòng. Bọn thần khẩn khoản khôn xiết. Châu phê: Công đồng
vốn là lệ cũng phải, chỉ việc tối quan trọng mới bàn bạc với đình
thần, xét cho thỏa đáng phải không còn quan ngại mới được thi hành. - Tháng 9,
can việc thuộc ty đem các tập của tỉnh Hà nội mời khách mua, khi khách
mua đến nộp giá, thấy trong tập ấy có chép nhằm chữ húy, không hạch
ra được, bị phạt bổng 1 tháng. Vâng
Dụ chuẩn đưa qua làm Thượng thư bộ Binh, còn hàm vẫn như cũ.
Trước đó, Quản lý bộ Binh là Cần chánh điện đại học sĩ Trương đăng Quế xin về hưu, vua cho bớt
nhiệm vụ ở Bộ nên có mệnh lệnh ấy. - Tháng 10,
can việc viết nháp niêm yết không hợp về vụ tiểu phỉ ở An giang thắng
lợi, bị phạt bổng 3 tháng ghi sách. - Tháng 11,
can việc thuộc ty viết nháp tỉnh Bình thuận thúc lính còn thiếu, vâng chỉ
nhầm lẩn, bị phạt bổng 1 tháng. Quý hợi năm thứ 16 (1863) Ông 51 tuổi. - Tháng
giêng can việc đem vụ An giang đánh giặc biển thắng lợi niêm yết, cũng
nhận lỗi bị phạt bổng 3 tháng ghi vào sách. Can việc thuộc ty đem việc
đội trưởng Lê Đình Thi bổ suất đội trễ nãi bị phạt bổng 1 tháng.
Vâng mệnh đến đàn - Tháng 2,
vâng mệnh nhiếp tế đàn - Tháng 3,
cùng Đoàn Thọ dâng sớ xin chịu tội vì thương thuyết không được
gì. Chuyển cho Pháp ty nghị án là làm trái qui định, bị tội trượng,
ông bị tội giáng 4 cấp điều (Phan Thanh Giản, Lâm Duy Tiếp bị trảm
giam hậu, Phạm Phú Thứ bị trượng, giáng một cấp lưu). Được gia ân cho giáng lưu (Phan cách lưu,
Lâm đã qua đời, bị truy đoạt chức hàm) . - Tháng 4,
kính dâng diện sắc: Hòa ước ra đời một cách bất đắc dĩ, việc gấp
hiện nay không gì bằng tự trị nhưng chưa có kế sách tốt đẹp, e rằng
tương lai còn khó hơn hiện nay, các khanh đến lúc ấy bó tay hay sao ? Ông
tâu là hãy từ từ mà tính, nếu muốn nhanh e sinh ra lắm chuyện. Vâng sắc
dặn: Phải nên chú tâm, không thể cầu an hời hợt năm tháng. Nếu trẫm
lo nghĩ 10 phần thì chư thần nên lo nghĩ 100 phần mới mong chấn chỉnh
được. Can việc nghe nói Phạm Văn Trung ở Bình thuận ốm lâu mà không
tâu, lo liệu trễ nãi, bị phạt bổng 9 tháng ghi vào sách. - Tháng 5,
Khâm mạng Hiệp biện đại học sĩ Phan
Thanh Giản, Tả Tham tri bộ Lại Phạm
Phú Thứ, Án sát sứ Quảng nam Ngụy Khắc Đản đi Tây thông sứ để
chuộc 3 tỉnh, triển hạn bồi tiền. Vâng suất kho Thượng phương 85
đưa phẩm vật tốt, quí đặc biệt. Ngự sử Đặng Xuân Bảng dâng sớ xin giảm bớt,
Tham tri Thân Văn Nhiếp cho rằng “ Nếu
nói không đắt lời là lãng phí suông, còn nếu công việc may mà thành tựu
thì về sau sẽ ra sao? Xuân Bảng có lý !” . Ông tâu: mới thoạt đầu thông
hiếu, không vuốt ve trước cái tâm người ta thì không có ngã nào đi lọt
đến chỗ thương thuyết cả. Trên mới nghe theo lời bàn của ông. Tuân sắc
tiễn sứ bộ đi Tây của Phan Thanh Giản đến cửa Thuận an. - Tháng 6, vì hồi làm Đốc phòng
cửa Thuận an, sát hạch binh tuyển phong kỹ càng, được thưởng kỷ lục
1 lần cùng tiền bổng 3 tháng. - Tháng 7,
can việc thuộc ty có lần làm sai sắc văn, bị phạt bổng 2 tháng ghi vào
sách. Can việc lo liệu công chuyện chậm nhiều, bị phạt bổng 1 năm ghi vào
sách. - Tháng 11,
vâng diện sắc: Lần này các người ứng cử 86 tỏ bày rất nhiều
về dân tình, lại tệ. Các quan có ý kiến gì hãy diện trần, đừng giấu
diếm . Ông tâu: Tệ nạn của bọn lại mục là điều không thể không có. Tỉnh, phủ, huyện mà xứng người
thì lại tư, tổng lý không thể tác tệ được . Tiếp đó vâng Dụ cho
các tỉnh xét phủ huyện có tốt hay không. Giáp tí năm thứ 17 (1864) Ông 52 tuổi.
- Tháng 2, vâng sung làm Chấp sự Lễ Đại
tự, được thưởng kỷ lục 1 lần. - Tháng 4,
dâng phiến tâu: Nay nhân được đình thần tuân cử thần vâng sung làm Phó
sứ, thần tự xét thân phận lại dám chọn việc được sao? Chỉ lo rằng
phen này đi thương thuyết thực là việc tối
trọng tối tối đại của quốc gia, mà thần không tài không đức, đặt
vào địa vị hàng khanh tướng, việc thần gánh vác lâu nay chỉ là làm một
việc nói năng biên chép, há lại cùng người nước ngoài đua tài biện
bác được sao? Ngay như năm trước, thần vâng làm việc đi sứ, từng biện
thuyết cùng sứ ấy, cái việc chỉ hẹn nợ một khoản nhỏ nhỏ mà
chúng còn giở giọng khi dễ thì thần đã làkẻ bị chúng chán ghét, nay nếu
lại sung làm Phó sứ thì việc bàn qua nói lại tất lại cứ vậy vậy mà
thôi. Đến lúc ấy thì thần có chịu tội vạn phần cũng không đáng nói
mà với việc lớn của nước nhà e có rất nhiều sai lầm trở ngại vậy.
Thần dám xin mạo muội phơi bày, cúi chờ sai người khác, có tài khiến
cho kẻ ở xa kính trọng mới mong được việc. Châu phê:
Hai khanh từ nan ư ? Thế thì ngày thường làm gì ? Sẽ sai ai đây ? Đình
thần đã duyệt, tức đã hợp với công luận mà phải làm cho được ! (Cùng
ngày, người được chọn làm Chánh sứ là Phan Thanh Giản cũng dâng phiến từ, lại
xin làm như nước Thanh - chọn phái Hoàng thân sung việc đi sứ - nhưng đều
không được chuẩn y) . - Tháng 5,
can việc thuộc ty viết nhầm Lê Đức bị phạt bổng, không hạch cho
chính, bị phạt bổng 2 tháng ghi vào sách. Vâng sung làm Khâm sai Toàn quyền
đại thần Giáp phó sứ, Hiệp biện đại học sĩ Phan Thanh Giản làm Chánh sứ, Thượng
thư bộ Hình Phan Huy Vịnh sung Ất phó
sứ cùng sứ thần toàn quyền Phú lãng sa Hà
Ba Lý (bấy giờ sứ Phú đến Kinh định ước) họp bàn các khoản về
buôn bán. Dụ cho phép làm việc theo tiện nghi 87 . Bấy giờ sứ
Phú đến Kinh định ước. Khi lên đường, vâng ban thơ ngự chế khích
lệ sứ giả cố gắng trong công cán như sau 88 : Lời xưa nói:
Gốc của ba cái phải tôn thờ trong cuộc sống chính là đạo nghĩa thứ
nhất 89 bền sáng vậy:
- Cùng toàn
quyền Chánh phó sứ tâu: Việc đi sứ hôm nay chỉ có hai khoản là cắt đất
và chuộc tiền. Xin tuân tính ra từng khoảng mà năn nỉ cho họ cảm động.
Nếu họ không nghe, xin giữ mức giao ước cũ để ngày sau bàn lại. Còn
các việc buôn bán, giảng đạo, xin nên châm chước nghe theo để tỏ hảo
ý. Cùng toàn quyền chánh phó sứ tâu
sau đó: Đã nhiều lần cùng Hà Ba Lý
bàn hai khoản cắt đất và bồi tiền, các việc ấy có cân nhắc cả rồi.
Đến khoản 17, đặt chức Lãnh sự ở Kinh đô, họ khăng khăng không
chịu sửa đổi, các khoản còn lại cũng sửa đổi một vài mà thôi.
Vâng mệnh mà làm chẳng được gì, thực cảm thấy mang bụi 95 -
nay đình thần có kế gì hay, có thể rung lên mà họ chịu nghe thì xin chỉ
bảo cho. Xin cử cho một vài vị có khả năng cáng đáng công việc cho có
người mới có danh vọng lớn cho họ vâng nghe. Vua chuẩn
cho đình nghị. Phan đại thần tâu : Sự thế như vậy thật khó mà nói,
nghĩ ra cũng không có kế khác ba vị toàn quyền đại thần, địa vị,
danh vọng tại triều đình không ai hơn, lại từng trải lo toan, xin nên đảm
nhiệm công việc cho thủy chung. Cùng toàn quyền Chánh phó sứ tâu : quan Tổng
đốc An Tĩnh là Hoàng Tá Viêm là người
tài cán, gặp việc biện luận gãy gọn khiến người chịu nghe, xin cho vời
về lo việc thương thuyết kiêm việc Thương xứ. Vâng không chuẩn y. Bấy
giờ vâng duyệt mật tâu của Nghệ an : Người Tây đang truyền giáo, sĩ dân
nhiều người không chịu việc xin triển hoãn thông thương. - Tháng 6,
vâng diện sắc : Toàn quyền Chánh phó sứ ba người bọn khanh nên biết
là công luận không cho . Hãy kiệt lực thu xếp sao cho không thẹn, không lỗi.
Cùng Toàn quyền đại thần của Phú lãng sa là Cò Mãn Đăng (Commandant) Hà Ba Lý 96 bàn lập hòa ước gồm
26 điều khoản : . Khoản thứ
1 : Phú lãng sa đặt các quan lãnh sự tại 3 cửa biển Đại nam : Đà
Nẵng, Ba Lạt, Quảng Yên giải quyết việc buôn bán của thương nhân nước
họ. Quan chuyên trách nha thương bạc với lãnh sự ấy qua lại giấy tờ
đều dùng bằng hàng. Nếu sau này người nước Đại nam như có ai qua
buôn bán ở nước Phú lãng sa cũng đặt quan lãnh sự ở cửa biển để
lo liệu ổn thỏa. . Khoản thứ
2 : Người Lãng sa ở nước Nam, người nước Nam ở nước Lãng sa, quan địa
phương mỗi nơi đều nên bảo hộ, không được đối xử thiên lệch với
người nước khác. Thương nhân Lãng sa có mang thông hành y như khoản 13 của
hòa ước mới, qua lại buôn bán không trở ngại. Ở ba cửa biển ấy, người
Lãng sa đều được cư trú, không được cư trú ngoài ba cửa bể ấy. Nhưng
ở mỗi cửa biển đều chọn riêng một khu, sau đó hai nước hợp đồng
quy định việc cư trú. Người Lãng sa có qua lại dạo chơi tất chiếu
theo giới hạn hai vạn thước . Khoản thứ
3 : Người Lãng sa ở nước . Khoản thứ
4 : Người Lãng sa có cáo tố ở quan Thương bạc việc gì thì đơn từ
phải do quan lãnh sự chuyển đệ. Người nước . Khoản thứ
5 : Người nước . Khoản thứ
6 : Người Lãng sa ai có oán hiềm gì người Nam thì phải trình trước với
quan Lãnh sự, người Nam oán hiềm người Lãng sa cũng trình trước với
quan Thương bạc nhưng mỗi bên đều phải hạch rõ, điều đình. Lại còn
người Lãng sa với người nước khác đánh nhau thì quan Lãnh sự phải
báo cho quan Thương bạc phái nã giao quan Lãnh sự xử trị. . Khoản thứ
7 : Người Lãng sa ở các khu bến tàu của nước . Khoản thứ
8 : Binh thuyền Lãng sa không ở đúng chỗ, quan Lãnh sự báo cho quan Thương
bạc tương trợ, quan Thương bạc nên lấy binh uy khiến cho thuyền ấy
tuân vâng điều quy định của quan Lãnh sự để phòng chuyện thủy thủ
thuyền ấy tranh chấp với dân nội địa. . Khoản thứ
9 : Những thủy thủ của binh và thương thuyền Lãng sa bỏ trốn, quan Lãnh
sự biết được báo cho quan Thương bạc truy nã giải giao cho quan Lãnh sự.
Nếu có người Nam phục dịch trốn vào nơi ngụ của người Lãng sa hoặc
trốn lên thuyền buôn, quan Thương bạc báo cho quan Lãnh sự bắt ngay giao
cho quan Thương bạc, đôi bên không được che dấu. . Khoản thứ
10 : Binh, thương thuyền Lãng sa hư hỏng vào các cửa biển nước . Khoản thứ
11 : Thuyền buôn Lãng sa ở mặt biển nước . Khoản thứ
12 : Người Lãng sa chết tại nước Nam, người nước Nam chết tại Lãng
sa thì gia tài giao cho thân thích người ấy, nếu không có thân thích thì
phải giao về quan Lãnh sự nước họ. . Khoản thứ
13 : Thuyền Lãng sa chạy vào các cửa biển địa phương, có thể tự thuê
người dẫn thủy đưa vào cửa biển, nộp thuế đúng lệ. Sau đó người
dẫn thủy đưa ra cửa, không được ngăn trở. Người thuê dẫn thủy chiếu
theo giá trả công cho hợp công bằng. . Khoản thứ
14 : Thương nhân người Lãng sa được tùy tiện thuê chở hàng hóa hay chở
khách, giá cước do đôi bên thương lượng và đồng ý, không cần quan địa
phương giải quyết. . Khoản thứ
15 : Thuyền Lãng sa vào cửa, trong vòng một ngày, phải đem ngay thuyền bài
các thứ đưa đến quan Lãnh sự. Quan Lãnh sự ấy đem ngay tên thuyền,
tên người cho đến số cân, mặt hàng đã chở, báo cho quan Thương bạc.
Nếu chủ thuyền sau khi vào cửa trong vòng hai ngày không đem thuyền bài,
hoá đơn trình quan Lãnh sự thì mỗi ngày trôi qua phạt 50 đ nhập cho quan
Đại Nam. Số phạt không được quá 200 đ. Chờ quan lãnh sự thông báo cho
quan Thương bạc phát ngay bài chiếu cho phép mở khoang. Nếu chủ thuyền chưa
lãnh bài chiếu mà tự tiện mở khoang dở hàng xuống bị phạt 500 đ, số
hàng dở xuống phải nộp hết cho quan . . Khoản thứ
16 : Thương nhân Lãng sa mỗi khi dở hàng, xuống hàng, trước đó phải
khai rõ trình quan Lãnh sự. Quan Lãnh sự thông báo ngay cho quan Thương bạc
cho phép dở hàng, xuống hàng đồng thời tra nghiệm các món thỏa đáng
cho đến hóa giá, định thuế. Nếu ý của quan Thương bạc không hợp thì
phải nghe theo sự định giá của quan Thương bạc, như thuyền buôn không
chịu phát mãi cũng phải nộp thuế theo giá quan Thương bạc đã định. Nếu
thuyền buôn thuận phát mãi thì đem toàn tiền giao về nộp thuế cho quan
Thương bạc . Khoản thứ
17 : Thuyền buôn Lãng sa qua lại ba cửa biển, việc vào cảng ra cảng đều
có lệ thuế mới, không được thu quá nặng. Thuyền buôn không chở hàng
thì miễn thuế hoàn toàn, như có mua hàng hoá thì chiếu theo lệ mà nộp
thuế, nhưng cấm rõ không được cho phép thông thương ngoài ba cửa biển,
các chỗ ven biển, ven sông, mua riêng bán riêng. Nếu kẻ nào phạm thì cả
thuyền lẫn hàng hoá đều nộp quan, nhưng quan địa phương tra bắt kẻ phạm
pháp ấy, trước khi chưa định nộp quan, nên nhanh chóng báo cho quan Lãnh sự
Lãng sa ở gần đấy đã. . Khoản thứ
18 : Hàng hoá thuyền buôn bắt đầu thu thuế từ trên bờ, theo sự định
giá nhưng không được quá lệ năm phần trăm. Khi có chở hàng hoá nước . Khoản thứ
19 : Thuyền buôn Lãng sa như chịu nộp thuế hàng hoá xong thì hàng hoá của
nước mình hay nước khác đều được phép mang vào. Hàng hoá nước . Khoản thứ
20 : Thuyền buôn vào cửa, như tại cửa biển Đà Nẵng, nộp xong thuế
thuyền, quan Thương bạc Đà Nẵng cấp phát chấp chiếu. Nếu thuyền ấy
chạy đến Quảng yên hoặc Ba Lạt thì đem ngay chấp chiếu ấy đưa xét
không thu thuế thuyền nữa. Thuyền buôn Lãng sa vào ba cửa biển chỉ nộp
thuế thuyền một lần. Như có sang hai nước Thanh, Xiêm rồi quay lại ba cửa
biển ấy đều có bằng chiếu trình nghiệm thì mỗi sáu tháng nộp thuế
thuyền một lần. Nếu trở về các nước khác và về Tây mà quay lại ba
cửa biển ấy, mỗi lần đều theo lệ mà nộp thuế thuyền. . Khoản thứ
21 : Thuyền Lãng sa như nộp xong thuế thuyền, thuế hàng hoá, quan Thương bạc
cấp ngay cho họ Thực thu phiếu, đưa đến quan Lãnh sự nghiệm rõ, liền
đem thuyền bài giao hoàn ngay, cho lịnh ra đi. Tiền nộp thuế phải là bạc
ròng, mỗi đồng đủ 7 tiền 2 phân 97 , cứ chiếu theo như thế mà
tính. . Khoản thứ
22 : Thương nhân Lãng sa thông thương cửa biển ấy, đã đem thuế hàng
hóa nộp xong, chuyển ý muốn chở sang cửa biển thông thương kia mua bán,
báo rõ quan Lãnh sự tư cho quan Thương bạc đem hàng kiểm nghiệm quả còn
nguyên phong, cấp cho bài chiếu chú rõ hàng ấy từng đã thu thuế ở cửa
biển Mỗ đợi thương nhân ấy đến cửa biển kia đem bài đưa quan lãnh
sự chuyển đưa quan Thương bạc tra nghiệm miễn thuế . Khoản thứ
23 : Dân nước Nam bằng lòng xuất khẩu đi các xứ thuộc Lãng sa hoặc đất
khác ngoài Lãng sa làm công, đều cho phép lập thỏa ước với người Lãng
sa làm bằng để đến ba cửa biển ấy, xuống thuyền Lãng sa. Quan hai nước
đều tra chiếu tình hình cho họ cùng định chương trình khiến kẻ thuê
khỏi ép công để bảo toàn họ. Người Lãng sa như muốn làm công cho người
nước . Khoản thứ
24 : Giá hàng hóa của hai nước phải bàn định trước để tiện nộp thuế,
nhưng tùy thời giá, nếu có cao thấp thì thuế cũng có tăng giảm, tương
lai có thể châm chước về thuế thì theo chương trình đã định, thương
nhân Lãng sa phải chiếu theo đó mà tuân. Quan nước . Khoản thứ
25 : Các chương trình về sự tình các thuyền buôn bán lập theo cuộc thương
nghị này, sau khi trao lẫn cho nhau rồi thì lấy 10 năm làm hạn để tuân
hành. Được 9 năm 12 tháng như có một nước không muốn buôn bán làm ăn
nữa thì có thể nói trước, đợi đến 10 năm 12 tháng mới bàn đình chỉ.
Nếu đến hạn mà cả hai đều không nói đình chỉ thì có thể áp dụng
luôn. Nếu ngoài hạn 10 năm mà năm nào muốn đình thì trước năm đó 12
tháng nói rõ đình chỉ. Hoặc có một nước muốn có ước nghị về
chương trình buôn bán làm ăn phải đợi đủ 9 năm 12 tháng mới có thể
nói trước đợi mãn một năm mới hội đồng sửa lại, sau đó muốn đình
chỉ hoặc ước nghị đều chiếu lệ này mà giải quyết . . Khoản thứ
26 : Chương trình về sự tình các thuyền buôn bán đã thương nghị toàn
quyền đại thần của hai nước hội đồng bàn định, mỗi bên đều đóng
dấu. - Tâu lên :
Tính từ ngày đóng ấn, hạn trong sáu tháng thì đôi bên trao lẫn cho nhau
tại Kinh đô nước - Tháng 8,
can việc thuộc ty viết nhầm trong phiếu xin bổ Hoàng chính Nghị làm suất
đội, bộ phạt bổng 3 tháng. Cơ
mật viện tâu : Vừa rồi được giao xét việc quan Thừa phủ là bọn Đặng Hạnh dâng phiếu xin xét đưa ra các
lao ở trấn làm lính. Kính vâng phê chuẩn cho bọn thần tuân vâng xét kỹ. Lâu
nay phát vãng sổ tĩnh man 59 , định man 98 đi làm lính
ở hạt ấy thì bọn ác côn lũ lượt trốn về gây án, truy lũ tiểu nhân
tập thói ác đã thành tính nhưng xét lỗi là do phần nhiều là vì không
có sản nghiệp mà ra. Quan phủ xin xét đưa số ấy trong hạt cùng ở Trị,
Bình ra giao cho Trấn Lao bảo 99 để khẩn 100 ruộng,
ghép buộc thành đội ngũ cho được an cư lạc nghiệp mọi bề, nghĩ cũng
là cách xử trí có phương pháp, có thể không lo ngại nữa. Chỉ còn khoản thuế ruộng, xét ra ở trung châu thì vỡ ruộng thành thục ba năm rồi mới thu thuế, nhưng ở Bảo ấy thuộc khu vực mọi bị xua đi làm nông, tình thế không như ở trung châu, nơi có nước tốt, đất bằng phẳng hơn. Tưởng nên khiến các viên chức ở bảo siêng lo giúp đỡ, khuyến khích, nhưng xin rộng nới về niên hạn để lôi kéo họ tới. Tên nào khẩn được chừng nào thì cho chúng được hưởng làm thế nghiệp 101 , đợi cư trú ngày càng đông thêm, nền tảng đã thành, sau đó mới khám theo thực chất mà dựa vào số lượng để thu cho bọn ấy được th |