giaodiem copyright
          posted: 23.6.2006
Tư duy thơ
606-thieu-1.jpg (9469 bytes)
Nguyễn Quang Thiều

 

   ĐÔNG LA

          Con đường đến thành công thường rất khó khăn, với Nguyễn Quang Thiều ( NQT) ngược lại, dường như anh khá dễ dàng đạt được kết quả ở hầu hết các lĩnh vực sáng tạo văn chương. Có điều, lĩnh vực thơ ca mà anh lao tâm khổ tứ nhất, anh cũng giành cho nhiều kỳ vọng nhất, lại gây ra những mâu thuẫn nhất trong sự đánh giá. Sóng gió đã nổi lên trên diễn đàn ngay từ khi tập Sự mất ngủ của lửa của anh được HNV trao giải, rồi từ đó, sau mỗi tác phẩm khác ra đời, sự mâu thuẫn ấy vẫn tiếp diễn, tuy âm thầm nhưng không kém phần gay gắt. Một bên cho thơ anh ở hàng tiên phong trong sự đổi mới, ngược lại, một bên cho là “lai căng”, là rất “non kém về nghệ thuật”!

          Vậy thử gác bỏ mọi thái độ của quan hệ cá nhân, mọi nhận thức cảm tính, chỉ bằng nền tảng của tri thức hiện đại phân tích, thơ NQT có giá trị gì không? Nếu không, chỉ bằng cảm tính, người ta có quyền thích thế này hoặc thế khác, mà thực chất, những cái thích này là vô nghĩa trong việc thẩm định tác phẩm, vì chúng chưa phải phê bình mà mới chỉ là sự phát biểu thái độ.

          Thơ NQT là một hiện tượng đặc biệt. Với người đọc, kể cả đa phần giới sáng tác, nó rất khó hiểu. Trong lần gặp nhau gần đây, tại một bàn cà phê tầng trệt khách sạn Rex nhìn ra công viên trước cửa UBNDTPHCM, với giọng đầy ưu tư, Thiều đã nói với tôi rằng: “Tôi với ông rồi sẽ cô đơn lắm, chẳng ai hiểu chúng ta cả”. Với người khác thì vậy, còn tôi được anh coi là bạn dốc bầu tâm sự, không lẽ cũng không hiểu anh? Chính cái tâm sự ấy đã thôi thúc tôi viết nên bài phê bình này.

          Trước hết, NQT là một thi sĩ viết nhiều, tầm bao quát rộng, thay đổi được cách viết. Trong ba điều này, điều đầu tiên không khó, chỉ cần chịu khó là được và nhiều người cũng đã làm được. Điều thứ hai khó hơn. Nó phụ thuộc vào tầm văn hóa, trình độ học vấn, khả năng tư duy của người viết. Muốn văn chương có tầm khái quát, một tầm cao triết lý, người ta buộc phải có một tầm nhìn rộng để thấy được nhiều chuyện, nhiều vấn đề, mới có thể phân tích, hệ thống hóa, chiêm nghiệm; còn nhìn cái nào chỉ biết riêng cái đó thôi thì không thể. Người ta đã phân định nhà văn lớn, nhỏ từ đặc tính này chăng? Có được khả năng này thật khó nhưng người viết chịu khó học tập, quan sát, suy ngẫm cũng có thể có được. Còn điều thứ ba, có được khả năng thay đổi cách viết, là khó khăn nhất, Thượng Đế thường keo kiệt khi ban phát điều này cho chúng sinh, bởi muốn được vậy, người ta buộc phải vượt qua những thói quen, những quy chuẩn, phải phân thân thoát xác, bứt phá, vượt qua cả tập tính của một cộng đồng.

          NQT cũng là một thi sĩ thường không viết những điều hướng người đọc thích thú mà anh viết những điều buộc người ta phải suy nghĩ. Anh ít viết những gì êm đềm bóng bẩy vui tươi mà viết nhiều những vấn đề gai góc, những bài toán lớn đặt ra trong cuộc sống. Thơ anh không bộc bạch, thổ lộ hoặc thủ thỉ, mà anh thường dựng lên những bức tranh, ở đó, anh dẫn người đọc vào những không gian kỳ lạ với rất nhiều luồng lạch ngõ ngách khác nhau. Chúng hoàn toàn xa lạ với những ai thỏa mãn với những gì quen thuộc. Có phải chính vì vậy mà thơ anh khó hiểu chăng? Khi không hiểu được thi pháp giống như trong tay không có chìa khóa, người ta không thể đi vào ngôi nhà thơ ca của anh được.

          Nhưng để hiểu được thi pháp NQT cũng không dễ. Hành trình thơ ca của anh chính là hành trình tăng dần tính ký hiệu của sự biểu đạt nghệ thuật, sự trăn trở tìm kiếm ngôn ngữ riêng để thể hiện.

          Thủa đầu thơ anh cũng lẫn trong thơ nhiều người, cũng hướng tới những câu thơ đèm đẹp: “Nhớ thời phượng cháy trong tôi / Tiếng ve nhiều quá rối bời tóc em”, rồi: “Có gì như một nỗi đau / Cứa trên lá cỏ gãy nhàu trưa nay”. Trong quá trình thay đổi sự biểu đạt, NQT buộc phải thực hiện sự lạ hóa. Có một sự mâu thuẫn, về trí óc, con người thường dễ tiếp nhận những tri thức quen thuộc, nhưng về mặt tâm lý lại luôn tò mò, thích cái lạ. Vì thế, sự lạ hóa làm tăng sức biểu đạt là một quy luật của sáng tạo, chính nó đã biến những điều bình thường thành thơ. Ví như hai câu: “Hỡi cô tát nước bên đàng / Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi”, nếu viết cho đúng với thực tế hơn phải là : “Hỡi cô tát nước bên đàng / Sao cô múc nước nhịp nhàng đổ đi”, và như vậy, chúng sẽ chỉ là hai câu văn vần . Vậy giống như Nguyễn Du đã “xẻ vầng trăng” trong Kiều, một ẩn dụ biến việc “múc nước” thành “múc ánh trăng” đã biến hai câu văn vần thành hai câu thơ có sức lay động ngàn lần hơn.

          NQT đã tạo ra trong thơ nhiều cấp độ lạ hóa khác nhau, anh luôn thấy những cảnh vật, hiện tượng có những đặc tính khác với những đặc tính vốn có: “Những chân trời gập khúc xuống mùa đông”; anh thực hiện sự biểu tượng hóa khiến chúng mang thêm những ý nghĩa: “Những hơi thở được đốt nóng trở lại”; trong con mắt thơ của anh, không có ranh giới của không gian: “Một bàn tay họ bám vào đầu đòn gánh bé bỏng chơi vơi / Bàn tay kia bấu vào mây trắng”… Trong thế giới của trí tưởng tượng, anh thấy tất cả đều là sinh thể, đây là một hình ảnh ngộ nghĩnh: “Những trái cây chín mê ngủ tuột khỏi cành rơi xuống”; còn ở đây hình ảnh lại được kết hợp với biểu tượng hóa để chuyên chở những tư tưởng: “Chiếc áo cần cù xé ra băng vết thương mùa màng hổ thẹn”, rồi: “Những cánh buồm khổ đau tự xé tự vá lại mình”. Con sông trong thơ NQT là một dấu ấn rất sâu đậm của kỷ niệm, nên anh như giao cho nó cái nhiệm vụ là một biểu tượng chính, chuyên chở nhiều ý tưởng khác nhau của anh: “Sông gục vào bờ đất lần đi”, “Những dòng sông tự cào tướp họng”, rồi: “Ánh đêm đoan trang đang bảo ban những dòng sông lười chảy”.

          Như thế, NQT đã theo đúng quy luật sao còn gây ra mâu thuẫn? Có vậy bởi anh đã theo quy luật nhưng anh không sao chép, dừng lại. Trước nay, người ta dùng sự lạ hóa như sự điểm xuyết, nó được tạo nghĩa trong môt kết cấu logic của những điều bình thường, còn trong thơ NQT, sự lạ không điểm xuyết mà là cách biểu đạt chính. nhiều sự lạ được tạo nghĩa trong sự lạ, các hình ảnh có thể có sự liên hệ, có khi độc lập với nhau. Nếu như trong thơ trước đây, phép ẩn dụ, hoán dụ, đề dụ chỉ dùng như một biện pháp tu từ lạ hóa một yếu tố, thì trong thơ hiện đại hôm nay, tính ẩn ví này được mở rộng biên độ, nó trở thành một phương thức ẩn biểu đạt, mang tính phúng dụ, ám chỉ, ám gợi. Một ẩn dụ giấu đi sự vật cần biểu đạt, còn ẩn biểu đạt giấu đi cả ý tưởng, cả chủ đề. Và cũng có tác dụng như ẩn dụ, nó sẽ làm tăng được độ hàm súc của thơ. Có điều, nếu độc giả không được trang bị tri thức ngôn ngữ, thi pháp, sẽ không đồng cảm được. Người làm thơ không có lỗi bởi quy luật của sáng tạo là phải hết mình, thi sĩ chỉ có thể bứt phá vươn lên chứ có ai lại chiều theo sở thích bình dân mà tụt xuống. Vậy lỗi trước hết thuộc về các nhà lý luận phê bình. Họ là những nhà khoa học về sáng tạo nghệ thuật phải có nhiệm vụ chỉ ra được cái kỹ thuật ấy. Tiếc là nền phê bình nước ta có vô cùng ít nhà phê bình có khả năng này, họ chỉ tài múa may trong giới hạn được đào tạo; một số tiến bộ hơn thì có tiếp cận được với lý luận bên ngoài, nhưng cũng dở là họ lại quên sự sáng tạo, sự độc đáo luôn có tính đơn nhất, nên khi kiếm được cái “khuôn” nào đó, họ mang “ướm” vào các tác phẩm để xét nét, tất sẽ khiên cưỡng, khập khiễng. NQT từng than nhiều lần với tôi là: “Họ chẳng biết gì về thơ cả!”. Còn trên diễn đàn báo chí văn nghệ, đến tận nay vẫn còn khá thịnh hành lối phê bình quanh quẩn với những tri thức thẩm mỹ bình dân, không chú tâm khám phá những tiềm ẩn mà chỉ nêu ra được những điều mà không cần nhà phê bình độc giả cũng biết. Tiếc là cái thẩm mỹ bình dân này lại được gieo mầm ngay từ trong trường học, với những tiêu chí lựa chọn tác phẩm vào sách giáo khoa và cách giảng dạy bình, tán. Một số giáo viên dạy văn tôi quen đã rất thích nhưng lại ngỡ ngàng và kinh ngạc khi đọc vài điều tôi viết, vì họ không hề biết văn học có những cái như thế. Chính vậy, có lúc trên diễn đàn văn chương nưóc ta có tác phẩm giản đơn tếu táo thì người ta xúm lại bàn tán, tổ chức những bàn tròn bàn méo; trái lại, những tác phẩm cao siêu thì thờ ơ, rơi dần vào quên lãng. Ví như thơ của Brodsky, cả thế giới biết đến, nhưng ở ta một lần tôi thấy chỉ in có 200 cuốn mỏng như lá lúa, mà không biết có bán hết không, và khi đọc có mấy người hiểu được?

          Bây giờ tôi thử phân tích cụ thể một số bài thơ của NQT. Trong bài Cái đẹp (tập Sự mất ngủ của lửa), NQT đã dựng lên một hành trình nặng nhọc không biết đâu là đích trong rét buốt, trong gió lộng của một người đàn ông đẩy một chiếc xe bò chở một người đàn bà đẹp trên thùng xe có đống đá; vì chiếc xe đi quá chậm, người đàn bà phải che bớt mặt lại. Thế là hết. Nếu hiểu đơn giản, thấy người đàn ông chỉ là người đàn ông, người đàn bà chỉ là người đàn bà, cái xe, con bò, đống đá, con đường…chỉ là chúng như vốn thế, thì quả thực, không biết ý anh viết về cái gì. Nhưng thơ cốt tả để gợi. Nếu hiểu mỗi chi tiết của bài thơ lại ẩn biểu đạt về một điều của một quá trình, một sự vận động, ta sẽ hiểu anh muốn nói về sự vận động phát triển của nghệ thuật và hơn thế nữa.

           Nếu trong thơ trước đây có những câu thơ tríết lý, ý thơ triết lý, hoặc những bộc bạch suy tư có tính triết lý, thì với cách biểu đạt như vậy, NQT có cả một kết cấu triết lý về một quá trình vận động. Hiện tại chỉ có vài nhà thơ ở ta đạt tới khả năng này, tác phẩm của họ không chỉ là thơ mà còn là thơ của một nhà tư tưởng. Bài Bầy chó của tôi, bài mà Trần Mạnh Hảo cho NQT là : “nhìn con chó thật ghê tởm”, nhìn “một cách kinh hãi”; quả thật, nếu nhìn những con chó chỉ thấy những con chó như người trần mắt thịt thì thấy cảnh NQT tả chúng cắn xé, tranh nhau ăn, đúng là kinh hãi thật; và với một quan điểm thẩm mỹ cho tính thơ cao nhất chỉ là những mây trăng hoa lá, xanh xanh đỏ đỏ thì không thể nào đồng cảm được thật:

                             Bầy chó gầy bẩn thỉu ốm đau

                             Ngày lùng sục kiếm ăn

                             Liếm cả vào lưỡi dao sắc ngọt

                             Lưỡi bị cứa máu trào ra ở đó

                             Con đến sau lại liếm máu bầy mình

          Với tôi đây là những câu thơ hay nhất có thể so với bất cứ câu thơ nào. Xuân Diệu đã rất tài tình khi chọn những hình ảnh tương hợp làm nên hai câu thơ để nói lên một vấn đề lớn của nhân loại là nỗi buồn chúng sinh: “Trái đất ba phần tư nước mắt / Đi như giọt lệ giữa không trung”. Nhưng nói nỗi buồn tức vẫn còn chung chung quá, mà Đức Phật cũng từng nói : “Đời là bể khổ” trước rồi. Còn đoạn thơ trên, NQT đã tiếp cận sâu hơn, cụ thể hơn những vấn đề chính yếu, không chỉ buồn mà còn đau, còn khắc nghiệt, luôn hiện diện trong cuộc sống muôn loài, kể cả loài người chúng ta: sự đấu tranh sinh tồn! Nhắc đến Xuân Diệu không phải mang ông ra để hạ bệ mà vì nền phê bình chúng ta khi thẩm định tác phẩm thường không chỉ căn cứ vào văn bản mà còn lệ thuộc nhiều vào tên tuổi và vô vàn điều phi học thuật khác. Người ta thường dị ứng với kiểu so sánh như vậy, mà lẽ ra, thế hệ hôm nay không có gì so được với cha anh mới là điều vô lý và đáng buồn.

          Sự biểu đạt ẩn không chỉ dừng lại ở cấp độ như vậy mà còn được NQT đẩy tiếp lên nữa. Tính ký hiệu, tính biểu tượng của ngôn ngữ còn được tác giả sử dụng triệt để hơn, “linh kiện ngôn ngữ” còn được lược bỏ nhỏ gọn hơn, và chỉ như thế, tác giả mới có điều kiện tạo ra được một kết cấu nhiều tầng, mới diễn tả được nhiều quá trình, nhiều vấn đề phức tạp của đời sống hiện đại cũng càng ngày càng phức tạp. Chỉ bằng cách cảm lười biếng, người ta còn khó tiếp cận hơn. Nếu những bài thơ ngắn như những bức chân dung tư tưởng đặc tả về một vấn đề thì ba bài thơ dài có tính hoành tráng  sau đây đại diện cho cách biểu đạt tầng tầng lớp lớp đó.

          Bài thứ nhất: Chuyển dịch màu đen (tập Nhịp điệu châu thổ mới), chỉ với hai biểu tượng tối giản là “màu đen” và “màu trắng”, tác giả đã biểu đạt một hiện thực đặc biệt của đất nước ta, về số phận những người vì mưu sinh phải sống tha hương, về những mối quan hệ lớn lao có tính dân tộc không thể hòa tan trộn lẫn, về sự biến đổi tất yếu đã làm thay đổi cả diện mạo thế giới trong những thập kỷ vừa qua.

          Bài thứ hai: Nhịp điệu châu thổ mới, khi tượng trưng hóa mọi cảnh vật, mọi sự việc, NQT đã dựng lên một thế giới của trí tưởng tượng, ở đó không còn ranh giới giữa  sự sống và cái chết, tất cả đều là sinh thể, tất cả đều có linh hồn. Về sự phong phú của trí tưởng tượng trong thơ, có lẽ NQT được xếp đầu bảng. Qua con mắt của một đứa trẻ, cuộc tiễn đưa cái chết của người bà nội được dựng lên như một hành trình về một xứ sở kỳ lạ, ở đó: “Nến được đốt lên sớm hơn một thế kỷ”, có: “ Vầng dương thổn thức trên cánh đồng vải liệm thơm tho”, nơi người bà “thường bay qua cánh đồng mỗi ngày cuối chiều…Khâu lặng lẽ những hơi thở rách”, nơi tất cả đều mang một đời sống mới, từ “ngôi nhà”, “chiếc giuờng”, “dây phơi” đến “ngọn đèn”…, và cả cái chết cũng không phải là cái chết mà là sự gieo cấy một sứ mệnh mới : “Thổ ngữ gieo từ bàn tay Người Nông dân Già vào tay cậu bé / Cậu bé chầm chậm mở vương quốc của mình”; rồi từ đó là “tuôn chảy một dòng sông”, là “mọc lên một quả đồi”, là “mở ra một con đường”, rồi “một cây cầu” đã được dựng lên mà đứa bé “như một trụ cầu mọc lên để đỡ lấy một giọng nói”…Giọng nói ấy chính là THI CA!

          Còn bài thứ ba: Nhân chúng của một cái chết (tập Bài ca những con chim đêm). Qua cái biến cố một thị xã ngập nước, tác giả đóng vai một nhân chứng, chứng kiến cái chết, cái kết thúc của những sự mục ruỗng, sự ngưng trệ trước một thử thách khắc nghiệt, của cái khoảng thời gian mà dòng sông chảy như “một dòng nước đục lạnh tanh”; “Bụi quá nặng làm mái nhà oằn xuống”; khi những câu hỏi “vang lên như bom” mà vẫn không có câu trả lời, khi những thông điệp của ngôn từ “không người nghe”, khi các thi sĩ, những người cất giữ tâm linh thời đại cô đơn đến cùng tận: “họ không bao giờ được cộng vào đám đông và đám đông cũng không bao giờ cộng được họ”…Nhưng như có sự thống nhất trong tư duy nghệ thuật, NQT không dẫn người đọc đến ngõ cụt mà luôn hướng tới một “sự lột vỏ”, tới một “bình minh đang lên”…

          Đúng như Đỗ Minh Tuấn trong bài Trốn lo âu về lại cánh đồng cho thơ NQT phát lộ một tâm thức thời đại. Có điều anh Tuấn đã nói ngược, không phải NQT chạy trốn ánh sáng, chạy trốn văn minh vật chất, mà ngược lại, anh còn muốn mang cả cánh đồng quê hương mình ra ngoài ánh sáng văn minh hiện đại cho cả thế giới được biết. Nếu anh có về lại cánh đồng cũng chỉ để giải lao mà thôi. Bao trùm lên toàn bộ thơ NQT lá cái khao khát cháy bỏng một sự vận động biến đổi về phía ánh sáng, về phía tốt đẹp. Anh viết nhiều về sự ngưng trệ, tù đọng, nhưng cũng là để nói lên sự khao khát ấy.

          Vì chưa tiếp cận được văn bản thơ NQT, đã có những ý kiến không đúng về thơ anh.

          Loại thứ nhất phủ nhận hoàn toàn, cho thơ anh là “lai căng”, là “thơ dịch từ tiếng Việt sang tiếng ta”, là “Tây giả cầy” nhí nhố… Tiếc là đây lại là ý kiến của một số người đã thành danh, đã nhìn bằng con mắt thẩm mỹ cũ, cái thẩm mỹ mà họ đã sử dụng làm nên tác phẩm họ. Ai cũng biết thơ ca ta từng ảnh hưởng thơ Đường Trung Quốc, thơ lãng mạn, tượng trưng Pháp, thơ Nga. Vậy tại sao các nhà thơ hôm nay không có quyền nói giọng điệu của thời hôm nay? Nếu chỉ căn cứ vào hình thức, rồi bằng những nhận xét cảm tính mà đánh giá bản chất của đối tượng, tôi thấy là việc làm phi học thuật nhất. Thơ NQT, hình thức là thơ hiện đại, nhưng bản chất cũng mang bản sắc dân tộc như bất cứ nhả thơ nào.Tràn ngập trong thơ anh là cảnh vật làng quê, là tình yêu quê hương, khi xa cái làng Chùa nửa vòng trái đất, anh còn muốn: “Dòng sông dâng lên ngang trời cho tôi được nhìn thấy” cơ mà. Trong thơ anh cũng tràn ngập những mối quan tâm, những thao thức, những âu lo, những buồn đau…những tình cảm mang đậm bản sắc tâm hồn Việt. Anh viết nhiều về cánh đồng, dòng sông, ruộng lúa, bãi ngô, hoa cải, rau khúc; về con ốc, con châu chấu; về ông, bà, cha, mẹ, vợ, con; về giỗ, tết và cả về những cái tiểu sành nữa. Làm sao thơ nước ngoài có như thế!

          Loại ý kiến thứ hai có phần ủng hộ sự đổi mới của NQT, nhưng cũng vì chưa tiếp cận được văn bản thơ, chưa thực chất nắm được bút pháp, nên có những quan điểm có phần cực đoan, những đánh giá không đúng và tự mâu thuẫn. Một mặt đề cao cái mù mờ vô nghĩa, nhưng khi chỉ ra nét cơ bản nhất của thơ anh, lại chỉ đơn giản xuất phát từ những cảm nhận trực quan, từ những nghĩa đen trần trụi nhất. Chỉ từ một bài Trốn lo âu về lại cánh đồng đã kết luận thơ NQT là loại thơ thể hiện sự khước từ, chạy trốn nền văn minh. Hoặc chỉ từ câu “Hát lên bằng nọc độc trong mình” đã cho “Chấp nhận tiếng hú gào này là chấp nhận thơ Thiiều” bởi ghĩ anh ảnh hưởng thơ Beat Mỹ (vì ông chủ soái Ginsberg có tập thơ Hú gào). Thơ Beat mang tính phản kháng và một thi pháp có phần cực đoan về phía tự nhiên chủ nghĩa, nói “thẳng tuột” mọi cái, mọi vật “chỉ là biểu tượng của chính nó” làm sao giống thơ NQT được.

          Loại ý kiến thứ ba là của những người viết cũng có tham vọng đổi mới thơ ca. NQT được coi là người mở đường, là thần tượng của không ít cây viết trẻ. Thật lạ, ở loại ý kiến này, của những tác giả còn chưa có uy tín trên văn đàn, tuy còn hơi “bốc” và mới cảm nhận định tính, lại đúng với thơ NQT hơn cả. Nhưng do tiếp cận thơ anh không dễ, một số người làm thơ theo huynh hướng chủ quan cực đoan đề cao cái rối rắm bởi chính họ cũng làm thơ rối rắm vô nghĩa. Tôi đã nói với NQT là khi người ta làm thơ rối rắm ngang nhau thì lúc đó ai hay hơn ai? Trong khoa học, một lý thuyết phức tạp có giá trị không ở sự phức tạp mà chính ở công dụng của nó. Thơ cũng vậy thôi, một cấu trúc phức tạp hơn sẽ có giá trị hơn khi nó có sức biểu đạt và biểu cảm cao hơn, nếu không, chỉ là trò chơi, trò làm dáng vô tích sự, rỗng tuếch. Như vậy, để đạt được sự sáng tạo đích thực, người làm thơ lại phải cần những điều muôn thủa: vốn sống, văn hóa, trình độ, khả năng tư duy và kể cả nhân cách nữa. Nếu không, trong đầu không có gì lại luôn muốn làm thế này thế khác, chẳng khác gì người ta nấu ăn mà trong tay chả có thịt cá gì cả, chỉ tìm cách thêm gia vị cho vừa miệng, một món ăn chỉ toàn gia vị!

Có một thực tế kỳ lạ, trong khoa học tự nhiên, những sáng tạo được tôn vinh luôn mang lại lợi ích và tiến bộ cho loài người, còn trong sáng tạo nghệ thuật, đã từng và hiện có nhiều khuynh hướng đi về phía suy đồi, cách nhìn của giới chuyên môn và công chúng (kể cả những người có học vấn cao) luôn có một khoảng cách, có khi còn ngược nhau…

          Sáng tạo thơ ca có những nét tương đồng với chuyện nấu nướng. Tôi không nói NQT đã nấu vừa miệng mọi người, mọi thao thác thi ca của anh là đắc địa cả. Với một thực tế có nhiều khuynh hướng khác nhau, cách nhìn khác nhau, tôi cũng không nói thơ NQT là hướng duy nhất đúng. Nhưng nếu coi sự sáng tạo ra những điều có ý nghĩa tích cực đối với cuộc sống là đặc tính quan trọng nhất của thơ ca, thì NQT là một người lao động thơ chân chính, anh đã đạt được những thành quả. 

(Trích trong cuốn  Biên độ của trí tưởng tượng, NXB Văn học )

 

© Copyright 2006 giaodiem.com

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com