
CHIẾC ÁO CÔ ĐƠN Cư sĩ
Mùa thu lãng đãng trở về đưa theo từng cơn gió nhẹ, dịu mát. Cả
bầu trời như trở mình sống lại, để chuyển rơi rụng những chiếc lá
vàng. Tôi không phải là nhà văn hay thi sĩ để diễn tả những mảng hình
chung quanh, nhưng cả bầu trời tuyệt đẹp. Có ai đã từng nhặt chiếc
lá vàng rơi còn hương nhụy vẫy vùng muốn sống, muốn trở về thân cây
mẹ nên tuôn những hương xót xa, lià cành. Cái mùi hương nầy thật dễ
chịu, thoáng mát. Àø, quên, xin được nói nhỏ, đây chỉ là tưởng tượng
cho ra văn vẻ, chứ đừng nên làm như vậy. Còn nếu muốn chứng tỏ mình
nhiều thi tính, mộng mơ, nên nhớ đừng cho ai thấy, vì khi thấy mình gom
lá nhiều quá, người ta sẽ nghĩ đó là người phu quét rác hoặc nếu mơ
mộng, cứ cầm lá vàng lên ngửi tới ngửi lui, e rằng họ sẽ nghĩ chắc
là từ nhà thương …mới ra. Tôi không nhớ rõ đã
quen được con người nầy bao lâu rồi và trong hoàn cảnh nào. Chỉ biết
là khi mới gặp nhau mà đã như thân lắm. Tôi là một thanh niên mới lớn,
một sinh viên, sống phong trần, xa cha mẹ, anh em, họ hàng …một thân một
mình trên đất
Không biết tại sao tôi lại bị quyến rũ bởi dáng dấp thư thái,
an nhàn, nhưng tôn nghiêm của người nầy hay như một nhân duyên nào đó.
Thực tình, tôi không muốn làm quen với các vị tu sĩ, vì cảm thấy chán
lắm, không có gì để mà sôi động hoặc thích thú cả. Tóc tai thì không
có, cái model kỳ lạ. Tôi nghỉ nếu mà đầu mình láng như ông thầy, có
nuớc phải chạy trốn hết mấy đứa bạn hoặc phải đội tóc giả quá.
Mặt thì lúc nào trang nghiêm, dù hơi cười mỉm. Và ông ta- hình như cũng
chẳng mấy quan tâm đến thái độ của mọi người chung quanh đối với mình,
“kính nhi viễn chi”. Bạn bè rất nhiều,
nhưng rồi tôi lại lân la làm quen với vị tu sĩ nầy. Có lẽ, vì tò mò,
vì khoảng trống vắng đang nở dần trong tâm hồn, cô đơn trước cuộc
đời, bạn bè mỗi ngày thưa dần, đứa bỏ học, bỏ nhà ra đi bụi đời
vì chán hoàn cảnh sống, đứa lên đường vì đất nước cần, đứa
phơi thây ngoài trận địa. Chung quanh tôi, bóng đen đang dần dần bao phủ,
quyện cuộc đời vào tâm trạng khắc khoải, buồn chán, hoang mang của tuổi
trẻ thời chiến. Có nhiều lúc tự hỏi đời sống là gì? Lý tưởng của tuổi trẻ ra sao? Bấp bênh,
vô định v.v.. - Nầy ông , tôi phải
kêu ông như thế nào hả? - Anh cứ gọi tôi tự nhiên, Sư hay Thầy gì cũng
được. - Vậy, gọi là Thầy
nha. Sao Thầy đi tu vậy, đi tu hồi nào vậy?
Thầy có chán đời hay gì gì đó….không? Xin lỗi nha, vì hỏi
như vậy kỳ quá. - Anh nói gì là gì hả? À, anh muốn ám chỉ thất
tình, phải vậy không? Thú thật, tôi đi tu từ còn nhỏ, nên chưa hiểu thất
tình là gì. Mà anh có thấy khi nào đứa
bé 9-10 tuổi thất tình không há?
Cả hai chúng tôi đều cười, nhất là câu hỏi nguợc lại dí dỏm
của ông Sư nầy. Như vậy là tốt rồi. Tình thân giữa tôi và ổng càng
ngày càng gần, bớt khoảng cách. -
Thầy à! Mấy thầy tu có bao giờ biết
yêu không Thầy? Vừa hỏi, tôi nhìn
thẳng vào mặt của Thầy, tò mò muốn khám phá một phần nào bí ẩn đời
sống của vị tu hành. Sao mặt ổng vẫn thản nhiên, cười cuời. Một vẻ
cười an nhiên, tự tại.
- Anh nghỉ sao? Người tu chúng tôi đâu phải là người
ngoài hành tinh xuống, hì hì…Tôi cũng là con người, cũng biết xúc cảm,
biết rung động trước ngoại cảnh, chẳng hạn như sắc đẹp đổ nước
nghiêng thùng. Tuy nhiên, Đạo Phật rất tự do. Khi mình không còn duyên tu
hay đúng hơn, nếu mình không thể cuỡng lại những đam mê, ham muốn hay
yêu đương của mình, mình có thể cởi áo ra tu. không ai cấm hết. Nhưng
nếu đã quyết chí tu, thì do tuơng chao mỗi ngày, nên hì hì…mình sẽ
chuyển những tình yêu cá nhân làm cho thăng
hoa lên. Từ vị mình dần dần sẽ chuyển hoá thành vị nguời. Nè,
vị người là vô ngã đó nha, chứ không phải vị một người nào đâu-
có nghĩa sống cho nhiều người hơn. Khi mình sống vô ngã, mình sẽ thấy
con đường rất thênh thang và tâm hồn mở rộng. Và Thầy chợt đọc bài
thơ ngắn …
- Uả mà Thầy cũng
biết làm thơ nữa hả? Hay thiệt ! Tại sao lại đi tu làm chi cho uổng vậy
đểø phải cạo đầu? Phải mặc áo nâu? Phải ăn chay? Phải tụng kinh?
Phải và phải……??? Tu có phải chán đời không? Nghe những câu hỏi
dồn dập của tôi, ông Thầy cuời quá chừng chừng, làm tôi cũng ngượng.
Dù gì thì tôi cũng không muốn mất người bạn nầy. - Rất nhiều người mang thành kiến
giống anh. Cứ thấy mấy ông sư hay ni
cô là nghỉ rằng họ là những kẻ chán đời hay thất tình mới đi tu. Có
lẻ họ bị ảnh hưỡng của câu chuyện cải luơng ” Chuyện tình Lan và
Điệp ” đó. Nếu mình đi tu mà tất cả giống như ở ngoài, thì còn gì
để nói. Khi lià gia (xuất gia) có nghĩa là chấp nhận cuộc sống khác thuờng
tình, thì mình mới nương vào hình tướng đơn sơ đó làm khuông giữ
mình. Nguời tu phải cạo đầu để hoại sắc, để không còm bám víu vào
những giả tuớng, phải mặc những quần áo tầm thường để khỏi tham
đắm, mê nhiễm và ăn chay là để nuôi dưỡng lòng từ v.v…”
Có lẻ vì muốn cho tôi hiểu, ông còn nói về Tam thường bất túc (ăn, mặc, ngủ phải
không đủ ) của tu sĩ và còn nói, nói nhiều lắm. Oång giảng cho tôi biết
cặn kẽ từng chút một để hiểu và để thông cảm với nhau. Tôi thật
thán phục lối trình bày, khúc chiết và đồng ý với những lý giải đó. - Thực ra, nếu phải nói ai là nguời
yêu đời nhất, thì đó chính là người tu sĩ. Tôi không nói suông đâu
nha. Anh nghĩ xem. Sống ở đời, hầu hết ai nấy đều lo cho mình, bản
thân mình, gia dình mình, người thân mình, những gì liên quan hay thuộc về
mình v.v.. nguời tu sĩ lại khác, biến mỗi nguời thành người thân của
mình. Họ là những người đa tình nhất như Đấng Cha Lành mà họ quy y- sau khi thành Chánh giác, Ngài đã qua 49 năm lăn lội khắp bao nẻo đường, tiếp
cận với tất cả mọi nguời để hướng dẫn đến bờ Giác. Đó là tấm lòng quá cao cả. Cho nên, nguời
tu sĩ yêu con nguời và cũng muốn hoàn thiện mọi người, huớng dẫn tất
cả đến Chân Thiện Mỹ. Sống và yêu lý tưởng đó theo con đuờng “Phục
sự chúng sanh tức là cúng dường chư Phật”… - Thầy nghỉ sao về
cuộc sống hiện sinh của thanh niên hiện nay? Tôi không phải là
con người đang đi tìm cho mình một lý tưởng để sống, nhưng muốn tìm
hiểu, qua vị sư trẻ nầy- quan niệm của
Phật giáo hay tư tuởng của Thầy như thế nào về hiện sinh. Bởi vì,
như nói ở trên. Hoàn cảnh đất nuớc tôi bị chiến tranh và tất cả cho
chiến tranh. Mạng sống con người vô nghĩa. Luân lý, đạo đức cần phải
hỏi lại vì sự chênh lệc giữa mọi giai tầng trong xã hội đang bị giao
độngmãnh liệt. Thanh niên chán đời, sống hiện sinh. Tóc tai dài thược,
quần ống loa, rộng thênh thang và …đó là những nổi đau lòng da diết,
nếu còn chút ý nghĩ về cuộc sống, về xã hội, về con người v.v… - Tôi muốn chia xẻ cùng anh về con
đuờng của Đạo Phật. Anh có biết Phật giáo là con đường Siêu Hiện
Sinh không? Tuy nhiên, hiện sinh của lớp thanh niên hay trí thức v.v.. bây giờ
khác xa với hiện sinh của Phật giáo. Hiện sinh của tầng lớp nguời
đang sôi nổi hiện giờ chỉ là một phong trào hay một lối sống bắt chước
Tây phương. Sau Đệ nhị thế chiến, con nguời của xã hội Tây phương bỗng
trở nên chán nản, vì thấy đời sống quá vô lý. Sự hoang tàn, chết
chóc thê luơng, tàn bạo. Thượng Đế đối với họ đã chết, vì nếu
có thì tại sao lại để cho chiến tranh tàn khốc xẩy ra, tiêu hoang, hũy
diệt biết bao nhiêu sinh mạng con người. Đó không thể cho là mầu nhiệm
thử thách hay trừng phạt v.v.. Cho nên, để phản kháng lại sự vô nghĩa
lý cùng cực nầy, họ lý luận rằng không cần đến thần linh, Thượng
đế. Họ chính là Thượng đế hay là chủ nhân của con nguời họ, sống
bất cần ngày mai, sống cho mình và vì mình. Đó cũng có thể là một phần
trong lý do phát triển của chủ nghiã cá nhân cực đoan và lan tràn qua nhiếu
quốc gia, trong đó, có Việt Descartes nói rằng:”Tôi suy tư tức
là tôi hiện hữu”.Như vậy, nếu tôi không suy tư thì tôi ở đâu, là
gì? Sự hiện hữu của tôi là hiện hữu có điều kiện, lệ thuộc vào một
đối tượng, dù là tinh thần hay vật chất. Câu nói nầy quá nguy hiểm,
đã làm bao nhiêu con thiêu thân lao vào. Tạo sự phản kháng, dù là tiêu cực
để cuộc đời băng hoại, sống cá nhân vị kỹ hay bằng hành động tích
cực, như đả phá thần tượng, phản đối cuộc đời, xã hội. Một Jean Paul Sartre, một Albert camus,
một Francois Sagan và bao lớp nhà trí thức hiện sinh khác nữa v.v…đã đóng
góp thêm cho sự sinh động của quan niệm hiện sinh nầy và hậu quả ra sao thì mọi nguời đều rõ. Tôi không phê phán mà chỉ muốn
chia xẻ với anh hay với họ. Họ rất đáng thương, đáng tội nghiệp vì
bị vẫy vùng trong sự cô đơn. Bởi vì chính những gì họ phản kháng, đập
vỡ… lại vô tình làm cho họ đau khổ,
cô đơn hơn. Tất cả suy tư để hiện hữu chỉ là những vọng tưởng. Ráng
nắm bắt vọng tưởng như một thực hữu, chỉ còn lại là khoảng không.
Họ ráng đi tìm bản ngã, nhưng lại không dám đối diện hay sờ mó bản
ngã, vì nó không thực hữu. Chia cắt nó ra, chỉ còn là tên gọi, họ đâm
ra sợ hãi. Cho nên, hiện sinh chỉ là một phương pháp tạm thời,để chạy
trốn thực tại chứ không phải là cách giải quyết toàn diệ khổ đau. Như tôi đã nói với anh ở trên, người
tu sĩ Phậât giáo là những con người yêu đời và yêu con ngườ. Những
người con của Đức Phật là những người cô đơn, chứ không cô độc
như con nguời hiện sinh vị kỷõ. Họ cô đơn quán chiếu nội tâm và họ
khám phá ra rằng tất cả mọi hiện tượng dù tâm hay vật đều vô thường,
đều không có thực ngã, mà do duyên hợp. Cho nên, bám víu vào đó sẽ
đưa đến đau khổ. Và điều hạnh phúc vô cùng của họ,
chính là khám phá ra rằng trong tâm họ, Tánh giác
thường hằng, rực sáng dù qua bao lớp sóng vô minh và tất cả
mọi người đều có tánh Phật. Đó chính là lý tưởng tuyệt đẹp mà họ
dấn thân. Hoàn thiện con nguời Giác ngộ của mình và giúp mọi nguời đều
hoàn thiện Tánh giác của họ. Họ có biết bao nhiêu là Bậc Trưởng
thượng, Tôn túc, Thầy Tổ v.v…đã làm. đang dấn thân và sau nầy, sẽ
có còn nhiều, nhiều nữa, những con người mang chiếc áo cô đơn tiếp nối,
vì đó là sứ mạng của họ.
Ngài A-nan nguyện rằng:”Xin Đức
Phật chứng minh cho con. Nếu ngày nào còn một chúng sanh chưa thành Phật,
con sẽ không vào Niết bàn”. Ngài Địa Tạng:”Ngày nào còn chúng sanh khổ
dau trong địa ngục, con sẽ không thành Phật”. Đó phải chăng là con đuờng Siêu
Hiện Sinh tuyệt vời. Hiện sinh với mình, sống hiện tại với tâm và
làm nẩy nở Phật chất trong mình và đồng thời, chia xẻ với mọi nguời
để giúp họ nhìn thấy và sống với Tánh Phật của chính họ. Sống với
Tánh giác, đầy đủ suối nguồn Từ bi và trí tuệ, biên giới ích kỷ,
chia cách giữa người người chấm dứt và mọi người đều chan hoà trong
hạnh phúc của cõi Cực Lạc trần gian, biến nơi đây là Tịnh thổ như bản
hoài của Đức Phật. Tôi vội vàng chạy đến ngôi chùa, nơi vị tu sĩ nầy
đang ở. Nghe văn phòng của truờng học, các vị Giáo sư phụ trách lớp
và các bạn sinh viên cùng lớp cho biết vị sư đã qua đời và ngày mai, sẽ
đem đi hoả thiêu. Họ vừa được tin sáng nay, và báo cho tôi, vì ai cũng
biết chúng tôi rất thân với nhau. Tôi giật mình, gằng giọng hỏi: Có thật
vậy không? Và hy vọng câu trả lời của mấy đứa bạn là chỉ đùa giởn.
Không được, cả các Giáo sư cũng đều cho biết như vậy mà. Nếu mấy
tên nầy không thì còn có thể nói là vui đùa được, vì sự sống chết
lúc nầy rất bất thường, đối với mọi người trong thời buổi nhiễu
nhương, chiến tranh. Do đó, chúng tôi thường hay vui đùa với nhau, dù rằng
có đem cái chết ra nói nữa. Trong gian phòng của Vãng Sanh Đường, chiếc
quan tài nằm im lặng, bất động giữa phòng. Chỗ đầu quan tài, trên cao, sát vách tường, có
hình vị Phật cầm hoa sen, tay phải buông xuôi xuống như đang tiếp ruớc.
Khuông hình long lanh hình ảnh của vị Thầy nằm phía dưới, như đang mỉm
cười. Bài vị có tên ho, pháp danhï…. ngày mất 14.07.1972. Như vậy là đúng
rồi! Thầy chết còn trẻ quá. Ước nguyện làm ích lợi cho Đạo, giúp Đời
mà ngày nào Thầy tâm sự cùng tôi còn đó. Từ vị sư nầy, tôi học được
nhiều, nhiều lắm. Cái cách đi, cách nói, đứng, cười, lý giải, cách sống
theo 6 Nguyên tắc sống hoà thuận v.v…đã
bao lần làm tôi bình tỉnh, an tâm trong những lúc hoang mang, cùng quẫn với con đường trước mặt. Tôi không những
quý kính Thầy vì là Thầy tu, mà còn là một người bạn thân thiết. Thầy
ra đi để lại trong tôi khoảng trống vô biên. Nước mắt tôi rơi xuống,
đứng lặng yên thật lâu trước di ảnh của Thầy. Vẫn biết đời sống
con người ngắn ngủi, nhưng tình thân thì thật là dài. Và như không dằn
được, tôi quỳ xuống..Thầy! Thầy ơi! Tôi buột miệng kêu lên và bất
đôäng. Thầy có tuổi trẻ,
tôi cũng vậy. Nhưng con đường Thầy chọn nó đẹp và nên thơ, qua cách sống
và lý tưởng của Thầy. Tuổi trẻ của tôi là những nổi loạn, bất
mãn, chán đời, vì chỉ có những xáo trộn, điên cuồng nầy mới biểu lộ
được sự hiện hữu của chúng tôi. Còn với Thầy thì tuổi trẻ là chia
xẻ, ban cho và đi với người để chỉ đến con đuờng an lạc. Thầy thường
nói Đạo Phật không phải là các tuợng Phật đang được tôn thờ, là những
kinh sách dầy đặc như rừng, mà là phải sống với Tánh Phật của chính
mình, mình mới không bị đau khổ và mới có sự an lạc để đem chia xẻ
đến mọi người. Đó là những dấu
ấn của tâm linh, nuôi dưỡng tâm tôi trong những sắc màu của Phật
giáo. Người ta nói Đạo Phật rất cao siêu, huyền diệu v.v…Nhưng đối
với tôi, qua một khoảng thời gian dài quen biết vị Thầy nầy, với những
bài Pháp ngắn gọn, thực tế, trẻ trung cùng những cách chỉ làm sao chăm
chút ngôi vườn tâm, là những dấu ấn tinh thần sinh động. Hiểu Đạo
Phật đâu cần phải nơi xa, cao siêu, đâu cần phải triết lý nầy hay triết
lý nọ, nếu chúng ta không dẩm chân trên mặt đất nầy, với từng giờ
phút sống hiện tại. Nếu chúng ta cứ bay bổng trên cao vời vợi, nhưng
guơng mặt lúc nào cũng không tươi mát, cau có như… Tôi không tôn thờ
Thầy như một thần tượng, nhưng là một người bạn thân. Thầy đã đến
và chia xẻ với tôi như vậy. Trong Phật giáo không có sự tôn thờ thần
tượng. Khi chúng ta tôn Đức Phật như một vị thần linh, cầu ban phuớc-
mà quên rằng Đức Phật chỉ là vị thầy
chỉ đường cho chúng sanh thấy được tánh Phậât của mình- rồi
chúng ta cầu khẩn, van xin những thứ tầm thường theo uớc vọng của mình,
chúng ta đã đi sai đường và làm mất
ý nghiã của Đạo Phật. Khi chúng ta tôn vị Thầy, dù là bất cứ ai- lên làm thần tượng,
vô tình chúng ta đã biến vị Thầy đó là sở hữu của mình, để biến
hoá vị Thầy theo ý mình muốn hay tình cảm của mình. Biến phương trời
cao rộng của vị Thầy thành những thứ thường tình, lạt lẻo, vô nghĩa. Chúng ta rất vui mừng
vì hiện nay, Phật giáo đang nở rộ, phát triển mạnh tại nhiều quốc
gia trên thế giới. Phật giáo như một biểu tượng của Tình thương - Trí
tuệ sáng suốt và Hoà bình, cùng vơi những truyền thống tâm linh khác, đóng
góp và đem lại niềm an lạc thực sự cho nhân loại. Riêng Việt Nam, suốt
dòng lịch sử truyền thừa của Đạo Phật và truớc năm 1975, trong các vị
Tơn Đức, Tăng Ni … chỉ có vài vị có được học vị ngoài đời với
cấp bằng Tiến sĩ hay Cử nhân v.v..nhưng sức sống tâm linh của Phật
giáo qua các vị Thạc đức- cuồn cuộn đi vào cuộc đời, phổ cập ở mọi
miền đất nuớc, chia xẻ và đem lại an lạc tinh thần cho biết bao nhiêu
nguời Việt. Đơn giản nhất là khi ăn, mà các Ngài vẫn còn nghỉ đến :
“1-Công khó của nguời làm ra vật thực.
2-xem xét đức hạnh của mình. 3- không được tham đắm .4- đây chỉ là lương
dược nuôi sức khoẻ.5-và quan trọng, phải thành Phật quả “.
Qua nhiều lần may mắn
được tiếp xúc với các Bậc Tôn túc, trong
chỗ riêng tư, các Ngài có nổi băn khoăn cho sự phát triển Phật giáo
tại quê nhà. Ngày nay, quý Thầy đang cố gắng để hoàn thành Bộ Tam tạng
bằng chữ Việt cho Phật giáo Việt Nam như một uớc vọng vô cùng quan trọng,
phải có. Bên cạnh đó, Phật
giáo đang có rất nhiều quý Thầy trẻ có học vị cao, hơn 200 Tiến sĩ, Cử
nhân v.v…hãy Nhập thể để phát triển, sống với
Tánh giác, trưởng duỡng thân Huệ mạng và hãy Nhập thế-
đem Từ bi và Trí tuệ- để ban vui, cứu giải các vấn nạn khổ đau, bức
xúc của con người. Chúng tôi mong rằng qua những học vị trí thức, sẽ
hoà cùng sức sống nội tâm do công phu tu tập, Phật giáo tại quê nhà,
qua quý Thầy- những nguời mang chiếc áo
cô đơn, sẽ làm sáng rực Phật giáo đến mọi nguời như các Thầy Tổ
đã làm., thì đó phải chăng là niềm hạnh phúc vô biên của nguời con Phật
! Mong lắm thay!
Mời xem trang nhà của Cư sĩ © Copyright 2006 giaodiem.com |
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com