giaodiem copyright
          posted: 16.6.2006
Nguyễn Mạnh Quang
KHI NHÀ VĂN NÓI CHUYỆN LỊCH SỬ
 
MỘT SỐ SAI LẦM CỦA NHÀ VĂN
NGUYỄN NGỌC NGẠN
TRONG NHỮNG LỜI TUYÊN BỐ
VỀ LỊCH SỬ

 THƯ NGỎ GỬI

NHÀ VĂN NGUYỄN NGỌC NGẠN

Từ khi bắt đầu làm người điều khiển chương trình (MC) một cách thành công cho các đêm văn nghệ giải trí Paris by Night, nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn đã được mọi người ái mộ qua phong cách nói năng và cái "duyên thầm" gói ghém trong văn chương cũng như kỹ thuật kể chuyện. Cũng từ đó nhiều người đã trở thành đọc giả mến mộ ông qua các truyện tiểu thuyết xã hội đầy tính nhân bản.  “Văn tức là người”. Qua lời văn viết trong tác phẩm hay những lời phát biểu của một người, người ta có thể nhìn ra nếp sống văn hóa, tín ngưỡng và trình độ kiến thức của người đó. Bài viết này không có mục đích bình luận văn chương của một nhà văn đã có tên tuổi và đã được cảm tình của biết bao nhiêu người trong đó có cả chúng tôi. Tuy nhiên về mặt chuyên môn lịch sử thế giới và sử Việt Nam của giai đoạn mà chúng tôi nghiên cứu, chúng tôi đã nhận thấy một vài điều sai lầm đó đây trong các tác phẩm viết hay nói của nhà văn cần được nêu lên.  Xin được mượn tập sách nhỏ này để trình bày.

Những câu văn viết trong tác phẩm Xóm Đạo và những lời phát biểu của ông trong cuốn băng nhạc Paris By Night 81 liên hệ đến lịch sử đã chứng tỏ ông chưa đủ kiến thức về lịch sử. Theo sự hiểu biết của người viết, khi còn học ở bậc trung học, ông Ngạn không hề được học toàn bộ lịch sử thế giới, và cũng không được học đầy đủ những bài học lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại. Thật ra không phải chỉ có ông Ngạn, mà có thể nói tất cả học sinh ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 đều như thế cả. Đây không phải là lỗi của ông Ngạn và cũng không phải lỗi của nhà trường, mà là do chính sách giáo dục của chính quyền miền Nam bị đặt dưới quyền kiểm soát của Giáo Hội La Mã qua Hội Đồng Giám Mục và các tu sĩ Da-tô.

Vì bị kiểm soát cho nên bộ sử thế giới do học giả Nguyễn Hiến Lê và ông Thiên Giang biên soạn vào năm 1956 bị cấm lưu hành, tác giả Nguyễn Hiến Lê bị sỉ vả là “đầu óc đầy rác ruởi” và bị mật vụ theo dõi. [1]

Vì bị kiểm soát nên sách giáo khoa lịch sử Việt Nam được Bộ Giáo Dục chấp nhận cho lưu hành ở miền Nam thời đó bị cắt xén như sau:

1.- Giấu nhẹm việc Giáo Hội chủ trương đánh chiếm Việt Nam và cả ba lần Vatican gửi người đến kinh thành Paris vận động chính quyền Pháp liên kết với Giáo Hội xuất quân đánh chiếm Việt Nam để cùng thống trị và cùng chia nhau lợi nhuận.

2.- Giấu nhẹm vai trò của Giáo Hội liên kết với Pháp trong việc đánh chiếm và thống trị Việt Nam suốt trong thời kỳ từ 1858 cho đến mùa thu năm 1945.

Hành động khuất tất này dẫn đến các thiếu sót liên hệ trong chương trình giáo dục làm cho các nhân vật lịch sử bị nhìn một cách sai lạc đến ngược chiều.  Những sự kiện bị bưng bít có thể sơ lược như sau.

3.- Không hề nói đến sự hiện diện của các nhà truyền giáo và tu sĩ Da-tô trong đoàn quân viến chinh Pháp với nhiệm vụ dẫn đường đưa lối cho Liên Quân Pháp - Vatican trong các chiến dịch tấn chiếm Việt Nam từ năm 1858 cho đến khi Hiệp Ước Giáp Thân 1884 ra đời.

4.- Không hề nói đến vai trò của Linh-mục Trần Lục dẫn 5 ngàn giáo dân có võ trang đến tiếp viện cho đoàn quân Pháp dưới quyền chỉ huy của Trung-tá Metzinger và Đại Úy Joffre trong chiến dịch tấn công và tiêu diệt lực lượng nghĩa quân kháng chiến dưới quyền chỉ huy của cụ Đinh Công Tráng tại chiến lũy Ba Đình vào cuối năm 1886 và kéo dài trong nhiều năm.

5.- Không hề nói đến vai trò của ông Ngô Đình Khả (phụ thân của các ông Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Thục, Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Cẩn, Ngô Đình Luyện) cùng với Nguyễn Thân trong chiến dịch tấn công và tiêu diệt căn cứ nghĩa quân kháng chiến dưới quyền chỉ huy của nhà ái quốc Phan Đình Phùng. Ông Ngô Đình Khả cũng là người chủ động trong việc đào mả cụ Phan lấy hài cốt đem đốt thành tro, trộn với thuốc súng, rồi bắn xuống sông Lam Giang để trả thù theo truyền thống Da-tô đã có ở Âu Châu từ thời Trung Cổ.

6.- Không hề nói việc ông Ngô Đình Khả được Liên Minh Thánh Pháp - Vatican gài vào triều đình Huế để theo dõi thái độ và hành động của ông vua gỗ Thành Thái rồi báo cáo với chính quyền bảo hộ.

7.- Không giải thích cho học sinh biết tường tận về cái thâm ý của Vatican và Pháp đồng thuận với nhau trong việc bổ nhậm cựu Linh-muc Thierry d’ Argenlieu (vừa là người của Giáo Hội La Mã vừa là người của Pháp) nắm giữ chức vụ Cao Ủy Đông Dương từ ngày 17/8/1945 cho đến ngày 15/3/1947.

8.- Giấu nhẹm vai trò của Giáo Hội La Mã và giáo dân Việt Nam chiến đấu bên cạnh quân Pháp suốt trong thời Kháng Chiến Chống Pháp 1945-1954.

9.- Bóp méo sự xuất hiện vai trò chính quyền Bảo Đại được dựng nên để phục vụ cho quyền lợi cho cả Pháp và Vatican.

10.- Lúng túng không giải thích vai trò của nhân vật Bảo Đại trong việc tái lập vương quyền cho nhà Nguyễn, nghĩa là đi ngược với trào lưu tiến hóa của nhân loại đang tiến hành phong trào giải thực và dân chủ hóa chính quyền.

11.- Lúng túng trong việc khoác cho chính quyền bù nhìn Bảo Đại cái danh xưng “chính quyền quốc gia” và “chính nghĩa quốc gia” đưa đến tình trạng lúng túng khi phải gọi những tên Việt gian như Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Văn Tâm, Phan Văn Giáo, Trần Văn Hữu, Lê Văn Viễn v.v… và những tên Việt gian quan lại trong chính quyền bảo hộ Liên Minh Pháp Vatican trong thời kỳ từ mùa Xuân năm 1945 trở về trước là “những người Việt quốc gia chân chính” (nghe ra “không ổn”.)

12.- Nhập nhằng đánh lận con đen bằng cách gom chung những tên Việt gian đã được nêu trên đây vào cùng với những người yêu nước chân chính trong các đảng phái và phong trào cách mạng chống Liên Minh Pháp – Vatcian trong thời kỳ 1858-1945.

13.- Không đưa những bài học về Hội Nghị Genève và Hiệp Định Genève 1954 vào chương trình học và cố tình không cho phổ biến thoả hiệp này để giấu nhẹm hành động vi phạm điều khoản quy định việc tổng tuyển cử thống nhất đất nước vào tháng 7/1956.

14.- Không dạy sự chuyển hướng mục tiêu tranh đấu đánh đuổi Liên Minh Pháp-Vatican để giành lại chủ quyền độc lập cho dân tộc. Trong sự chuyển hướng này, có mục nói về loại bỏ chế độ quân chủ dưới mọi hình thức kể cả trung ương tập quyền lẫn quân chủ lập hiến.

Từ những việc làm bất chính và tình trạng lúng túng nêu lên trong các mục trên đây đưa đến nhiều lúng túng khác.

Ngoài việc không cho dạy toàn bộ môn lịch sử thế giới ở trong chương trình trung học (nếu có, thì chỉ cho dạy lẩy một số bài), ngoài việc cắt xén và bóp méo lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại như đã trình bày ở trên, Giáo Hội còn cho thi hành chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ, đặc biệt là ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975. Cũng vì chính sách ngu dân này mà việc đào tạo giáo chức cho các trường tiểu học và trung học ở miền Nam Việt Nam trong thời gian này bị coi nhẹ. Môn học bị coi nhẹ nhất là môn Sử Địa và Công Dân. Vì thế mà các giáo viên phụ trách dạy môn Sử Địa và Công Dân lại càng bị coi nhẹ hơn. Cũng vì thế mà phần lớn những giáo viên phụ trách dạy môn học này tại các trường trung học tư thục do Giáo Hội làm chủ đều do các ông linh-mục đưa vào, và là những người vừa không có đủ tiêu chuẩn về bằng cấp, vừa không có khả năng kiến thức về môn học này. Trong thực tế, sự hiện diện môn học này và việc thuê mướn giáo viên phụ trách tại các trường tư thục do Giáo Hội làm chủ chỉ là một sự miễn cưỡng và bất đắc dĩ. 

Trong thực tế, hầu hết các ông bà chủ (giám đốc) các trường trung học tư thục ở miền Nam Việt Nam trong thời gian này đều nặng đầu óc kinh tài hơn là tinh thần phục vụ việc học hành của các em học sinh. Vì thế, tại các trường này, môn Sử Địa (đặc biệt là môn sử thế giới và lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại) và môn Công Dân bị coi như là không có, và nếu có, thì ngay cả giáo viên phụ trách cũng ở vào tình trạng vừa không đủ tiêu chuẩn về bằng cấp vừa dốt đặc cán mai táu về môn học này. Họ chỉ là những người học thuộc lòng bài học trong sách giáo khoa ngày hôm trước, rồi hôm sau đến lớp trả bài cho học sinh. Họ là những người do các ông Cha hay ban giám đốc nhà trường đưa vào dạy chỉ vì họ là tín đồ Da-tô hay có quan hệ thân tình với các ông linh mục hay ban giám đốc nhà trường, chứ không phải là một giáo viên có bằng cấp hay kiến thức vững chắc về môn Sử Địa và Công Dân. Các trường trung học ở các tỉnh dù là do các ông Cha làm chủ hay những người khác làm chủ cũng ở trong tình trạng này. Lý do, như đã nói ở trên, vì việc mở trường tư thục hay mở lớp dạy học tư ở miền Nam Việt Nam vào thời bấy giờ là một nghiệp vụ kinh doanh (business). Các ông chủ trường đều có mẫu số chung là tích cực tăng thu và giảm chi đến mức tối đa. Cũng vì thế mà những môn học như Sử Địa, Vẽ (họa), Hát (âm nhạc) Thể Dục, Nữ Công Gia Chánh đều bị chước giảm tối đa và mướn những người dạy càng kém phẩm chất càng có thể trả giá rẻ hơn.

Tệ hại hơn nữa là các môn Sử Địa và Công Đân này không nằm trong chương trình thi viết của các kỳ thi Trung Học Đệ Nhất Cấp (đến năm 1962), Tú Tài I, Tú Tài II, và bị quy định là môn học phụ với hệ số 1. Trong khi đó các môn Toán, Lý. Hóa, Anh, Pháp, Việt Văn, Vạn Vật, được coi là môn chính vừa nằm trong chương trình thi viết vừa có hệ số 4, hệ số 3, tệ lắm thì cũng có hệ số 2. Như là một hệ quả tất nhiên, tình trạng này đã khiến cho học sinh các trường công lập cũng như tư thục đều lơ là không thiết tha gì với môn học Sử Địa và Công Dân.

Những phần trình bày trên đây cho chúng ta thấy rõ tại sao những thế hệ học qua chương trình trung học ở Việt Nam trong thời Liên Minh Pháp – Vatican đô hộ (1884-1954) và ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1862-1975 đều ở vào tình trạng không biết gì về lịch sử thế giới và hiểu sai lạc lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại.  Oái oăm thay, khi ra đời, trong những lúc trà dư tửu hậu, hay bàn luận chính trị hoặc thời cuộc, hoặc viết báo viết sách, người ta lại hay phát biểu về những đề tài liên hệ đến môn học này, một môn học bị coi rẻ nhất.

Trong cuốn Xóm Đạo của ông Nguyễn Ngọc Ngạn, khi giải thích về lịch sử cho nhân vật “thằng Anh”  tác giả đã sai lầm. Gần đây trong mục Ca nhạc Paris By Night 81, khi phát biểu về tình trạng chia đôi của ba nước Đức,Triều Tiên và Việt Nam ông Ngạn lại sai lầm lần nữa. Như đã nói ở trên, chúng tôi không trách gì cá nhân nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn, vì qua bao nhiêu lần được là thính giả của ông, chúng tôi nhận xét ông là người rất ngay lành. Chỉ vì những điều này nói lên hậu quả của chương trình giáo dục miền Nam do ảnh hưởng của chính sách ngu dân của Giáo Hội Công Giáo, đã xem nhẹ môn Sử Địa và Công Dân một cách vô ý thức.

Chỉ có điều đáng trách đối với ông Ngạn là môn lịch sử không phải là lãnh vực chuyên môn của ông, nhưng ông cứ tưởng rằng ông đã am tường giống như các ông thày dạy chuyên môn. Vì thế, khi phát biểu một vấn đề gì có liên hệ đến lịch sử, ông không cần tham khảo tài liệu hay các nhà chuyên môn gì cả.   Là một nhà giáo, có lẽ ông còn nhớ lời cụ Khổng đã dạy “Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri dã” (Biết thì bảo là biết, không biết thì bảo không biết, thế gọi là biết vậy.) và lời triết gia Socrates (470-399 B.C.) dạy “Know yourself” (hãy biết chính mình). Chúng tôi tin rằng nếu ông biết được những sự thật bị cắt xén và bóp méo một cách đau lòng về bộ môn Sử Địa và Công Dân, có lẽ ông đã nhìn ra phạm vi kiến thức của ông ở chỗ nào tránh được tình trạng phát biểu bừa bãi về những lãnh vực này.

Thưa ông Nguyễn Ngọc Ngạn,

Chúng tôi phải viết những trang giấy này là điều vạn bất đắc dĩ do lương tâm của một người theo học ngành sử, dạy môn sử tại các trường trung học ở Việt Nam cũng như ở Hoa Kỳ ròng rã hơn ba mươi năm trời. Nghề dạy môn sử là cái nghề phải nói cho học sinh biết và hiểu rõ những sự thật đã xẩy ra trong quá khứ, cái nghề nói phải có sách, mách phải có chứng, phải nói sao cho thuận lý, và phải làm sáng tỏ những gì khuất tất, lươn lẹo có thâm ý xuyên tạc hay bóp méo lịch sử như trường hợp Hồng Y Nguyễn Văn Thuận mà chúng tôi sẽ trình bày trong bài viết này. Vì thói quen nghề nghiệp, chúng tôi không cầm được lòng khi thấy những điều không đúng với sự thật lịch sử, nên mới viết bài viết (sẽ được trình bày tiếp theo đây) để góp ý với ông với hy vọng ông sẽ xem xét lại và tìm hiểu xem những điều chúng tôi trình bày trong bài viết này ĐÚNG hay là SAI. Nếu thấy rằng những điều chúng tôi trình bày là ĐÚNG, xin ông hãy lên tiếng đính chính những sai lầm của ông mà chúng tôi đã nêu lên ở đây. Nếu thấy rằng chúng tôi SAI, xin ông chỉ dẫn cho công luận và chúng tôi biết rằng chúng tôi SAI ở những chỗ nào.

Mong rằng ông sẽ không buồn lòng vì những điều tôi nêu lên trong bài viết sau đây. Thân chúc ông và gia đình cùng những người thân thương của ông được vạn sự như ý.

Trân trọng,

Nguyễn Mạnh Quang

Ngày 1/6/2006


[1]  Nguyễn Hiến Lê, Đời Viết Văn Của Tôi; (Westminster, California: Văn Nghệ, 1986,) tr. 99-101.

Đọc tiếp bài 2 à
 

© Copyright 2006 giaodiem.com

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com