
Nguyễn
Mạnh Quang | bài 2
Người Việt Trước đây,
khi đọc cuốn Xóm Đạo (Đông Kinh, Nhật Bản: Tân Văn, 2003), tôi đã thấy
tác giả có vài điều sai lầm như: 1.- Khi nhân vật Thông giải thích không đúng
với sự thật lịch sử cho nhân vật “thằng Anh” (em của nhân vật
Trâm) liên quan đến đạo Da-tô và việc Pháp xâm lăng. 2.- Khi nói về
đồng lương hàng tháng của anh em tân binh quân dịch và của giới công chức
hạng trung trong thời Đệ Nhất Cộng Hòa ở miền Nam Việt 3.- Khi nói về
tội ác dụ dỗ gái vị thành niên của một tu sĩ Da-tô, tác giả đã đánh
đồng các ông tu sĩ Da-tô với các nhà tu hành Phật giáo mà không biết rằng
chủ đích, phương cách, nếp sống và lề lối tu hành của các nhà tu
hành Phật giáo hoàn toàn khác hẳn với chủ đích, phương cách, lề lối
và nếp sống tu hành của các ông tu sĩ Da-tô. Đầu tháng
5/2006, khi xem cuốn băng Paris By Night 81,
nhân nói về sự phát triển của phim Hàn Quốc, người viết lại thấy nhà
văn Nguyễn Ngọc Ngạn nhận xét sai lạc về một số sự kiện lịch sử
rồi dựa vào đó mà phát biểu những ý kiến rất chủ quan. Lời phát biểu
này được ghi như sau: “Sau Đệ Nhị Thế Chiến thứ II, trên thế giới
có ba nước giống hệt nhau, cùng bị chia đôi, Cộng Sản chiếm đóng một
nửa, và một bên là quốc gia, là: Đức, Triều Tiên (tức là Bắc Hàn và
Nam Hàn) và Việt Nam. Chúng ta thấy là ba quốc gia giống hệt nhau. Nhưng mà
Tây Đức đứng đầu thế giới về khoa học kỹ thuật. Nam Hàn phát triển
cực nhanh và trở thành một tiểu cường quốc trên thế giới, và ngày
nay thống trị về điện ảnh. Chỉ
còn có mỗi Việt Tại sao như
vậy ? Là vì Bắc Hàn không xâm lăng Những người
không hiểu biết lịch sử thế giới có thể cho rằng lời phát biểu của
ông Nguyễn Ngọc Ngạn là đúng. Nhưng đối với giới học sử và dạy sử,
lời phát biểu của ông Nguyễn Ngọc Ngạn có hai điều không ổn: 1.- Không đúng với sự thật lịch sử khi
ông Nguyễn Ngọc Ngạn nói rằng: “Bắc
Hàn không xua quân tấn công 2.- Thiếu kiến thức về lịch sử thế giới,
đặc biệt là bối cảnh lịch sử của 3 quốc gia Đức, Triều Tiên và Việt
Nam khi bị chia đôi. Thật là một
điều sai lầm khi ông chỉ nói đến sự
kiện đã xẩy ra rồi vội vàng kết luận bằng những ý kiến chủ quan
(subjective opinion) mà không cần biết đến
bối cảnh lịch sử và nguyên nhân đưa đến tình trạng của mỗi quốc
gia bị chia cắt được nêu lên. Vì chủ đề
của bài viết này là trình bày một số những sai lầm của ông Nguyễn Ngọc
Ngạn khi phát biểu về những vấn đề lịch sử, thể hiện rõ ràng nhất
là trong cuốn băng Paris By Night 81 và trong tác phẩm Xóm Đạo, người viết
chia bài viết này ra làm những phần như sau: Phần A: Về lời tuyên bố của ông Nguyễn Ngọc Ngạn
trong cuốn Paris By Night 81. (5) Phần B: Về một số sai lầm của ông Ngạn trong cuốn
Xóm Đạo. (31) Phần C: Về lời tuyên bố rằng chính quyền Việt
Phần này chia ra như
sau: I.- Bắc Hàn có xâm
lăng Nam Hàn hay không? II.- Bối cảnh lịch
sử của ba nước Đức, Triều Tiên và Việt III.- Nội tình của
Tây Đức, Nam Hàn và Miền Nam Việt IV.- Về ý kiến “Nếu
miền Bắc không phát động chiến tranh xâm lăng miền Bốn mục này sẽ
được lần lượt trình bày như sau. I.- VỀ CÂU NÓI “BẮC HÀN KHÔNG XÂM
LĂNG Người viết xin khẳng
đinh rằng lời tuyên bố trên đây của ông Nguyễn Ngọc Ngạn hoàn toàn không đúng với sự thật lịch sử.
Có thể sự sai lầm này là do ông Ngạn đã không được học lịch sử thế
giới, rồi cũng không tìm đọc lịch sử thế giới trong thời cận và hiện
đại, và cũng có thể ông Ngạn nói như vậy với chủ đích nào đó. Sự thật trong lịch
sử, Bắc Hàn đã tấn công Nam Hàn và gây nên cuộc chiến vô cùng khốc
liệt kéo dài hơn ba năm trời. Cuộc chiến tranh này được gọi là Chiến
Tranh Triều Tiên và được các sách sử thế giới cũng như sách sử Hoa Kỳ
đều nói tới. Sách Đệ Nhị Thế Chiến Và Chiến Tranh Lạnh (cùng tác giả
Nguyễn Mạnh Quang) ghi lại cuộc chiến tranh này khá đầy đủ. Dưới đây
là phần tóm lược: “Ngày 25/6/1950, đại quân Bắc Hàn với sự yểm
trợ của không lực và thiết giáp binh ào ào vượt vĩ tuyến 38 tràn vào
lãnh thổ Nam Hàn, tiến thẳng xuống thành phố thủ đô Nam Hàn. Quân đội
Nam Hàn không chống cự nổi, phải tháo chạy xuống phía Cũng vào ngày 25/6/1950, Tổng Thống Truman đưa
việc quân đội Bắc Hàn xâm lăng Trong
khi Đại Hội Đổng Bảo An Liên Hiệp Quốc biểu quyết lên án chính quyền
Bắc Hàn thì đại biểu Liên Xô tẩy chay cuộc họp. Nhờ vậy mà quyết
định của Đại Hội Đồng Bảo An can thiệp vào cuộc chiến không bị
Liên Xô phủ quyết. Ngay khi đó, các đại biểu các đại cường đều tiên
đoán rằng rất có thể Liên Xô và Trung Cộng sẽ nhẩy vào vòng chiến
bên cạnh Bắc Hàn nếu các nước Tây Phương nhẩy vào cứu Nam Hàn…. Ngày
26/6/1950, Hoa Kỳ ra lệnh cho hải, lục và không quân Hoa Kỳ tại Viễn Đông
phải hỗ trợ cho quân đội Nam Hàn chống lại quân Bắc Hàn. Hạm đội số
7 được phái đến vùng biển Đài Loan để đề phòng có thể có những
biến cố bất ngờ do đối phương gây ra. Tổng Thống Tưởng Giới Thạch
cũng được khuyến cáo là phải chấm dứt mọi hành động quân sự chống
Trung Hoa lục địa. Nói một cách khác là Hoa Kỳ đã trung lập hóa hải đảo
Đài Loan. Ngày 27/6/1950, Hội Đồng Bảo An lên
tiếng kêu gọi các quốc gia hội viên Liên Hiệp Quốc hãy tích cực góp
phần (góp quân đội) vào cuộc viện trợ cứu Trong khi đó, quân đội Sau những cuộc thăm dò, ngày
10/7/1951, đại diện hai phe đối nghịch nhốm họp tại Xin chú thích thêm rằng
khi được đưa về dạy tại trường trung học Kiểu Mẫu Thủ Đức (KMTD)
ở Sài Gòn, người viết có biên soạn
một tập tài liệu về sử thế giới tựa đề là “Đệ Nhị Thế Chiến
và Chiến Tranh Lạnh” . Tập sách này được dùng làm tài liệu giáo khoa
cho các lớp 12 tại trường trung học này trong những năm 1970 - 1975. Nhà xuất bản Sáng Tạo Sài Gòn xuất bản
quyển này vào năm 1972. Ở Mỹ, tập sách này được đánh máy lại và
được Tacoma Public Schools tái xuất bản nhiều lần. Lần chót tái bản là
năm 1994. Ông Ngạn có thể
vào bất kỳ một thư viện ở bất kỳ quốc gia nào, tìm đọc sách sử
nói về chiến tranh Triều Tiên để kiểm chứng vấn đề này. II. BỐI CẢNH LỊCH SỬ CỦA BA NƯỚC ĐỨC, TRIỀU TIÊN VÀ VIỆT Trước khi bị chia cắt lãnh thổ, bối cảnh lịch
sử của cả ba nước Đức, Triều Tiên và Việt Nam đều ở trong hoàn cảnh
lịch sử khác nhau và nguyên nhân đưa đến tình trạng đất nước bị
chia cắt cũng khác nhau. Phần trình bày dưới đây cho chúng ta thấy rõ sự
kiện này. A.- Bối Cảnh Lịch
Sử Nước Đức.- Trước khi bị Đồng Minh Mỹ, Nga, Anh, Pháp đưa nước
Đức lên bàn mổ chia cắt ra làm bốn mảnh, Đức là một trong ba nước nằm
trong phe Trục Đức – Ý - Nhật và cũng là một trong ba nước chủ chiến
thi hành chính sách xâm lăng gây ra Đệ Nhị Thế Chiến (thực sự bùng nổ
vào ngày 1 tháng 9 năm 1939). Cuộc chiến này thực sự chấm dứt ở Âu
Châu vào sáng sớm ngày 7/5/1945 khi Tướng Đức Gustav Jodt phải nhân danh Tổng
Tư Lệnh quân đội và nhân dân Đức thân hành đến Bộ Tổng Hành Dinh của
Tướng Eisenhower tại Reims (Đống Bắc nước Pháp) ký nhận đầu hàng Đồng
Minh vô điều kiện. Hiệp ước đầu hàng này được chính phủ Đức phê
chuẩn vào ngày 8/5/1945. Trong khi đó cuộc chiến vẫn còn tiếp diễn tại
mặt trận Á Châu cho đến khi Nhật chính thức đầu hàng Đồng Minh vô
điều kiện vào ngày 15/8/ 1945. Tóm lại, Đức là nước gây chiến, nhưng lại là
nước thua trận và số phận nước Đức nằm trong mọi quyết định của
nước Đồng Minh thắng trận. Theo sách Đệ Nhị Thế Chiến Và Chiến
Tranh Lạnh, các nước Đồng Minh Mỹ, Nga, Anh và Pháp nhóm họp tại
Cecilienhof gần Potsdam (phía Tây Nam thành phố Berlin) từ ngày 17/7/1945 đến
ngày 2/8/1945) để thảo luận việc trừng phạt nước Đức và cuối cùng
họ đạt được một thỏa hiệp về vấn đề này. Theo thỏa hiệp này,
ngoài việc phải bồi thường chiến tranh, Đức còn phải trừng phạt nặng
nề: Về phương diện lãnh thổ, vùng đất nằm
ở phía đông hai con sông Oder và Về phương diện kinh tế, Đồng Minh kiểm soát
chặt chẽ các hoạt động kinh tế để: 1.- Thực hiện việc tháo gỡ các cơ sở kỹ nghệ
trước kia. 2.- Bảo đảm việc sản xuất chỉ nhằm đáp ứng
cho nhu cầu các lực lượng chiếm đóng và để giữ cho mức sống của dân
Đức không thể cao hơn mức sống của nhân dân các quốc gia khác ở Âu
Châu. 3.- Bảo đảm sự phân phối những sản phẩm thiết
yếu sao cho được đồng đều giữa các vùng chiếm đóng nhằm mục đích
giữ cho nền kinh tế được quân bình khắp trong nước Đức và cũng là
giảm thiểu nhu cầu phải nhập cảng. 4.- Kiểm soát nền kỹ nghệ và thương mại Đức
nhằm mục đích không thể tăng cường tiềm lực chiến tranh. 5.- Phân tán kinh tế Đức, thủ tiêu mọi tổ hợp,
…. Về phương diện chính trị, trong hoàn cảnh
hiện tại, Đức chưa thể được phép thiết lập một chính quyền trung
ương. Dù là đã quyết định như vậy, nhưng rồi thời
cuộc biến đổi khiến cho ba nước Đồng Minh Mỹ, Anh và Pháp cũng phải
thay đổi chính sách đối với các vùng Đức do ba cường quốc này chiếm
đóng. Năm 1946, tam cường đồng thuận cho phép nhân dân Đức trong các
vùng bị chiếm đóng được phép đi bầu để chọn các nhân viên chính
quyền địa phương. Năm 1947, họ lại được phép đi bầu để chọn đại
diện vào các cơ quan lập pháp tại các tiểu bang trong vùng. Năm 1948, tam cường Đồng Minh Anh, Mỹ và Pháp nhóm
họp tại Luân Đôn có các đại diện của các nước Bỉ, Hòa Lan và Lục
Xâm Bảo tham dự để thảo luận vấn đề sáp nhập khu vực Pháp chiếm
đóng vào hai khu vực Anh và Mỹ chiếm đóng thành một vùng hợp nhất.
Vùng hợp nhất này được gọi là Tây Đức. Hội nghị mong muốn nhân
dân trong cả ba vùng Anh, Pháp, Mỹ kiểm soát thiết lập các cơ cấu chính
quyền hầu có thể đảm nhiệm việc điều hành guồng máy chính quyền
và chỉ cần tuân hành một số điều kiện của Đồng Minh. Các vị thống
đốc quân sự của Đồng Minh được lệnh chỉ thị cho phép các nhà hữu
trách các tiểu bang thuộc ba vùng chiếm đóng của Anh, Pháp và Mỹ triệu
tập quốc hội lập hiến để soạn thảo hiến pháp cho Cộng Hòa Liên
Bang Đức. Mọi việc đã diễn ra đúng như ý muốn của hội nghị. Như vậy, Tây Đức đã được trao trả quyền độc
lập, nhưng vẫn bị ràng buộc bởi một số những điều kiện trong Hiệp
Ước đầu hàng vô điều kiện như đã nói ở trên. Vì thế, lúc đó cho
đến nhiều năm sau này, Tây Đức chỉ có lực lượng cảnh sát để duy
trì trật tự và lo việc nội an, quân đội vẫn bị giới hạn, chỉ đủ
cho nhu cầu nội an mà thôi. Ngoài ra, quân đội Đồng Minh vẫn còn trú đóng
ở Tây Đức. Từ cuối năm 1949, quân đội Đồng Minh trú đóng tại Tây
Đức còn lãnh thêm nhiệm vụ canh chừng những hoạt động quân sự của
khối Cộng Sản do Liên Xô lãnh đạo. Đồng thời, cũng vào năm 1948, Liên Xô cũng tổ chức
chính quyền trong vùng chiếm đóng của họ và gọi là chính quyền Đông
Đức, rồi trả độc lập cho Đông Đức dưới quyền lãnh đạo của đảng
viên Cộng Sản là Friedrich Abert, giống như các nước Anh, Pháp, Mỹ đã
làm ở Tây Đức. Dĩ nhiên là Đông Đức cũng bị ràng buộc bởi những
điều kiện đầu hàng vô điều kiện được ký kết giữa chính quyền Đức
và Đồng Minh vào ngày 7/5/1945. Như vậy, ngoài việc bị ràng buộc bởi những
điều kiện quy đình trong hiệp ước đầu hàng Đồng Minh, cả Tây Đức
và Đông Đức đều bị quân đội Đồng Minh Trú đóng tại Tây Đức để
theo dõi và kìm kẹp. Với tình trạng này, cả Tây Đức và Đông Đức đều
không có sức mạnh quân sự và cũng không có căn bản pháp lý hay chính
nghĩa để phát động cuộc chiến thống nhất đất nước hay xua quân xâm
lăng lẫn nhau. B.- Bối cảnh lịch
sử Triều Tiên: Nước Triều Tiên còn có tên là Cao Ly hay Đại Hàn. Với
diện tích rộng chừng 220 ngàn cây số vuông (bằng khoàng 2/3 diện tích Việt
Nam), Triều Tiên là một tiểu quốc nằm ở phía nam Mãn Châu, và cũng là
một bán đảo nằm giữa Hoàng Hải và Biển Nhật Bản (Đông Bắc Trung
Hoa), chỉ cách Nhật Bản qua eo biển Nhật Bản giống như bán đảo Florida
(Hoa Kỳ) cách Cuba qua eo biển Florida. Trong quá khứ, Triều Tiên vốn là một
quốc gia nằm trong vùng ảnh hưởng của Trung Hoa, giống như tình trạng Việt
Trong thời Đệ Nhị Thế Chiến, Nhật Bản chiếm
đóng quốc gia này và cũng có bọn Hàn gian làm tay sai tiếp tay cho Nhật
trong bộ máy đàn áp nhân dân và lo việc quản trị hành chánh (giống như
chính quyền Bảo Đại được mệnh danh là “chính quyền quốc gia” ở
Việt Nam trong nhũng năm 1945-1954.) Dĩ nhiên là cũng có một vài tổ chức của
nhân dân Triều Tiên nổi lên chống Nhật, nhưng không có tổ chức nào
thành công như phong trào kháng chiến chống Liên Minh Pháp - Vatican ở Việt
Nam do Mặt Trận Việt Minh Lãnh đạo trong cuộc chiến 1945-1954. Ngày 15/8/1945, Nhật đầu hàng Đồng Minh vô điều
kiện. Các cường quốc Đồng Minh phải lo việc giải giới quân đội Nhật
ở Triều Tiên cũng như ở Việt Mãi tới ngày 8/9/1945, quân đội Hoa Kỳ mới đổ
bộ vào Nam Hàn để thi hành sứ mạng giải giáp quân đội Nhật, trong khi
đó, Hồng Quân Liên Xô đã tràn vào Bắc Hàn từ ngày 8/8/1945. Chỉ trong
vòng ba tuần lễ, quân đội Liên Xô đã thủ tiêu xong các cơ cấu chính
trị, hành chánh thân Nhật, và thiết lập xong các uỷ ban hành chánh nhân
dân để điều hành bộ máy cai trị tại Bắc Hàn. Tháng 12/1945, Ủy Ban
Lâm Thời và Mặt Trận Thống Nhất Quốc Gia được thành lập tại Bình
Nhưỡng (thủ đô Bắc Hàn). Theo Hội Nghị Mạc Tư Khoa (nhóm họp vào hồi
tháng 12/1945), Hoa Kỳ và Liên Xô cùng thỏa thuận tìm một giải pháp trao
trả độc lập cho Hàn quốc, nhưng mãi tới mùa thu năm 1947, hai đại cường
Mỹ và Nga cũng vẫn chưa đạt được một thỏa hiệp nào để thực hiện
quyết định này. Tháng 9/1947, Hoa Kỳ đề nghị tổ chức một cuộc tổng
tuyển cử đặt dưới quyền giám sát của Liên Hiệp Quốc để bầu quốc
hội và chính phủ lâm thời cho cả hai miền Nam - Bắc Hàn, nhưng bị Liên
Xô bác bỏ. Hoa Kỳ bèn đưa đề nghị này ra Đại Hội Đồng Liên Hiệp
Quốc. Trong khi đó, Liên Xô lại đưa ra một đề nghị
khác, theo đó thì Hoa Kỳ và Liên Xô cùng triệt thoái quân đội ra khỏi
hai miền Nam và Bắc Hàn vào đầu năm 1948. Liên Hiệp Quốc bác bỏ đề
nghị này của Liên Xô, và quyết định chấp thuận việc thành lập chính
phủ lâm thời cho cả hai miền Ngày 10/5/1948, chính quyền Nam Hàn tổ chức tổng
tuyển cử và đặt dưới quyền giám sát của Liên Hiệp Quốc để bầu
quốc hội lập hiến. Sau đó, Lý Thừa Vãn được bầu làm tổng thống nước
Công Hòa Triều Tiên (Nam Hàn) và Hán Thành được chọn làm thủ đô. Hoa Kỳ
và Trung Hoa Quốc Gia (Tưởng Giới Thạch) công nhận chính phủ của ông
Lý Thừa Vãn. Hoa Kỳ loan báo sẽ viện trợ kinh tế cho chính quyền Nam
Hàn. Tháng 10/1948, chính phủ Liên Xô loan báo sẽ triệt
thoái toàn bộ quân Nga ra khỏi Bắc Hàn vào cuối năm 1948. Đầu năm 1949,
Hoa Kỳ cũng loan báo sẽ triệt thoái quân đội Hoa Kỳ ra khỏi Nam Hàn vào
cuối tháng 6/1949 và chỉ để lại một phái bộ cố vấn quân sự ở
trên phần đất này. Như vậy, việc chia đôi Hàn quốc ra làm hai miền
Việc Bắc Hàn tấn công xuống Nam Hàn vào ngày
25/6/1950 gây nên cuộc chiến vô cùng khốc liệt như đã nói ở trên. Theo
hiệp ước ngưng chiến được ký kết vào ngày 27/7/1953, quân đội Hoa Kỳ
được trú đóng tại Nam Hàn để canh chừng Bắc Hàn. Vì lẽ này, nếu
không được sự tích cực ủng hộ của Liên Xô và Trung Quốc, Bắc Hàn
không thể nào lại có thể phát động cuộc chiến thống nhất đất nước
lần thứ hai được nữa (Nguyễn Mạnh Quang, Sđd., tr. 276-278) C.- Bối cảnh lịch
sử nước Việt Nam: Trước khi đất nước bị chia đôi, bối cảnh lịch
sử Việt Nam hoàn toàn khác biệt với bối cảnh lịch sử của nước Đức,
và cũng hoàn toàn khác với bối cảnh lịch sử của Triều Tiên như liệt
kê dưới đây . 1.- Việt Với chiến thắng Điện Biên Phủ vào ngảy
7/5/1954, Mặt Trận Việt Minh đã hoàn thành được sứ mạng cao cả mà
các tổ chức nghĩa quân kháng chiến của những vị anh hùng tiền bối “chỉ thành nhân mà không thành công”.
Giả dụ như không có Mặt Trận Việt Minh, hay Mặt Trận Việt Minh không
thành công trong sứ mạng cao cả này, tất nhiên là sẽ có một hay nhiều
tổ chức nghĩa quân kháng chiến khác đứng lên tiếp nối cho đến khi đất
nước sạch bóng quân thù. Chắc chắn các tổ chức này không phải là của
tín đồ Da-tô cuồng nô vô tổ quốc hay những người trong giới quan lại
đã từng làm tay sai đắc lực cho Liên Minh Thánh Pháp – Tại sao người viết lại khẳng định như vây? Xin
thưa rằng, tín đồ Da-tô được dạy dỗ rằng Giáo Hội La Mã là Mẹ của
họ, họ phải tuyệt đối vâng lời và triệt để tuân hành những lệnh
truyền của Giáo Hội như vâng lời một người Mẹ. Giáo Hội cấu kết với
Pháp thành lập Liên Minh Thánh Pháp - Vatican đem quân tấn công Việt Nam từ
năm 1858 và thống trị Việt Nam cho đến
năm 1954. Trong suốt thời kỳ này, tín đồ Da-tô “ngoan đạo” người Việt
đã triệt để thi hành “đức vâng lời” của họ đối với Toà Thánh
Vatican . Đức vâng lời này của họ được thể hiện ra trong cung cách
hành từ suy tư đến lời nói và hành động mà người ta có thể thấy
rõ trong các sách sử . Với thực tế như vậy và với tinh thần tuyệt đối
vâng lời Giáo Hội như vậy, làm sao tín đồ Da-tô người Việt có thể
đứng ra tổ chức nghĩa quân kháng chiến đánh đuổi người Mẹ của họ
đang nằm trong chính quyền bảo hộ thời bấy giờ được? 2.- Chính sách Chia Rẽ. Trong thời kỳ thống
trị Việt Nam, Liên Minh Pháp – Vatican đã thi hành chính sách chia để trị
bằng cách xé nước Việt Nam ra ba miền, mỗi miền thi hành một chính
sách cai trị khác nhau về tổ chức hành chánh và luật pháp. Thâm độc và
dã man hơn nữa, trong những năm 1945-1954, chúng thi hành chính sách: a.- Xé nước Việt Nam ra làm nhiều mảnh vụn theo
biên giới địa lý Bắc Trung Nam, theo biên giới sắc tộc để thành lập
các tiểu quốc Tây Kỳ ở Cao Nguyên Nam Trung Bộ, tiểu quốc Thái ở vùng
Tây Bắc Bắc Bộ, theo biên giới tôn giáo tức là lập ra hai giáo khu tự
trị Phát Diệm và Bùi Chu. b.- Dùng người Việt đánh người Việt bằng “Giải
Pháp Bảo Đại” (the Bao Dai Solution), thành lập chính quyền Bảo Đại làm
tay sai cho chúng và khoác cho chính quyền Việt gian này cái nhãn hiệu “chính
quyền Quốc Gia” với những tên Việt gian khét tiếng như Bảo Đại (các
nhà viết sử gọi là một tên ăn chơi đàng điếm (playboy), Nguyễn Văn Xuân,
Nguyễn Văn Tâm, Phan Văn Giáo, Trần Văn Hữu, và những tên hoạt đầu cơ
hội chủ nghĩa như Vũ Hồng Khanh, Trần Trung Dung, Trần Chánh Thành, v.v….
Những tên phản quốc này được chúng khoác cho cái nhãn hiệu là “Người
Việt Quốc gia chân chính”. Đồng thời, chúng (qua linh-mục Trần Hữu
Thanh) lại chế ra lá cờ vàng ba sọc đỏ và bảo rằng đây là lá cờ
chính nghĩa của “những người Quốc Gia chân chính” biểu tượng cho cái
mà chúng gọi là “chính nghĩa quốc gia”, mà thực tế là chiến đấu
cho quyền lợi của Vatican và của Pháp. Đây là dụng quái chiêu sử dụng
danh xưng “người Việt Quốc Gia chân chính” làm bức bình phong để che
đậy và tẩy xóa những thành tích “cõng rắn cắn gà nhà” cho những
tên Da-tô Việt gian phản quốc đã từng bán nước cho Liên Minh Xâm Lăng
Pháp – Vatcian từ thời Giám-mục Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine) móc nối
và kết thân với Nguyễn Ánh cho đến năm 1948 và sau đó. Một trong những
thằng Việt gian này là tên tứ đại Việt gian Da-tô Ngô Đình Diệm. Cũng
vì thế mà những người như Trần Lục, Trần Bá Lộc, Lê Hoan, Ngô Đình
Khả, Nguyễn Hữu Bài, Huyện Sĩ, Petrus Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Công Tấn,
Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Thục, Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Cẩn, Lê Hứu Từ,
Nguyễn Trường Tộ, Phạm Ngọc Chi, Hoàng Quỳnh, Mai Ngọc Khuê, Đinh Xuân
Hải, Nguyễn Lạc Hóa, Nguyễn Văn Thiệu, Đỗ Cao Trí, Hoàng Xuân Lãm, Ngô
Du, Nguyễn Văn Toàn, Đặng Văn Quang, Trần Khắc Kính, Ngô Thế Linh, Lê
Quang Tung, Lê Quang Triệu, Dương Văn Hiếu, Phan Quang Đông, Nguyễn Văn Hai,
v.v… đều được chúng vinh danh là “những người Quốc Gia chân chính”
cả. c.- Dùng tín đồ Da-tô để cai trị đại khối nhân
dân thuộc các tôn giáo cổ truyền của dân tộc. 3.- Việc chia đôi lẽ ra chỉ có hai năm. Sau đây là diễn biến tiến đến Thỏa Hiệp
Genève năm 1954 và việc chia đôi lãnh thổ. a. Từ năm 1950,
ngay khi Liên Quân Xâm Lăng Pháp – Vatican bị đại bại tại các tỉnh Lạng
Sơn, Cao Bằng và Bắc Kạn, Vatican đã sớm nhìn ra là Pháp cũng sẽ không
thể nào tiếp tục duy trì quyền lực ở Đông Dương. Vì lẽ này, Vatican
đã ra lệnh cho Giám-mục Ngô Đình Thục dẫn tín đồ ngoan đạo Da-tô
Ngô Đình Diệm sang Mỹ giao cho Hồng Y Francis Spellman vận động thành lập
Liên Minh Thánh Mỹ - Vatican và tìm cách đưa ông Diệm lên cầm quyền để
làm tay sai phục vụ cho quyền lợi của cả Mỹ và Vatican ở Việt Nam. b.- Khi thấy rằng không thể tiếp tục tái chiếm
được Việt Nam, Pháp bằng lòng nghiêm chỉnh thương thuyết với chính quyền
kháng chiến Việt Nam tại Hội Nghị Genève 1954, công nhận quyền độc lập
của dân tộc Việt Nam và rút quân về nước. c.- Ngay khi Hội Nghị Genève 1954 đang thương thuyết
về việc chấm dứt chiến tranh Đông Dương, Mỹ làm áp lực với cả Nga
và Trung Cộng để hai quốc gia này phải chấp nhận giải pháp tạm thời
chia đôi Việt Nam và sẽ được tái thống nhất qua một cuộc tổng tuyển
cử do Thỏa Hiệp Genève quy định vào tháng 7 năm 1956. d.- Sợ rằng nếu làm găng với Mỹ thì sẽ có thể
phải đương đầu với Mỹ và có thể đưa đến chiến tranh nguyên tử
trong khi khả năng nguyên tử còn yếu kém nếu so với Mỹ, cho nên Nga Sô
đã nhân nhượng và thuyết phục chính phủ Kháng Chiến Việt Nam bằng
lòng chấp nhận giải pháp tạm thời chia đôi Việt Nam như trên. e.- Về phần Trung Quốc, một mặt vì dã tâm không
muốn có một quốc gia hùng mạnh ở sát biên giới cho nên không muốn Việt
Nam thống nhất, mặt khác vì cũng sợ rằng nếu làm găng với Mỹ thì sẽ
phải đụng độ với Mỹ ở Đông Dương như ở Triều tiên trước đó,
cho nên chủ tịch Mao Trạch Đông và Thủ Tướng Châu Ân Lai cũng thuyết
phục chính quyền Việt Nam Kháng Chiến phải chấp nhận giải pháp tạm thời
chia đôi Việt Nam. f.- Thấy rằng cả Nga và Trung Quốc đều không ủng
hộ lập trường cứng rắn đòi Pháp phải công nhận chủ quyền độc lập
và sự toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc Việt Nam, chính quyền Kháng Chiến
Việt Nam đành phải chấp nhận giải pháp tạm thời chia đôi đất nước,
coi như là phải nín thở qua sông, dù sao lãnh thổ cũng sẽ được thống
nhất qua cuộc Tổng Tuyển Cử hai năm sau đó. 4.- Thống Nhất lẽ ra đã có nếu Tổng Tuyển Cử
được thi hành. Dân tộc Việt Nam đã theo đuổi cuộc chiến đánh đuổi
Liên Minh Pháp – Vatican kéo dài cả gần một thế kỷ, đến khi Liên Quân
Xâm Lăng Pháp - Vatican bị đại bại tại Điện Biên Phủ, Pháp phải công
nhận chủ quyền độc lập cùng sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam và
rút lui quân về nước, thì Hoa Kỷ ỷ thế mạnh của một siêu cường nhẩy
vô làm áp lực với cả hai phe, buộc hai phe phải chấp nhận giải pháp
chia đôi Việt Nam để rồi vi phạm luôn cả điều khoản tổ chức tổng
tuyển cử thống nhất đất nước đã được quy định tổ chức vào
tháng 7 năm 1956. 5.- Miền 6.- Vô kế khả thi. Vì không thể thống nhất
bằng đường lối hòa bình bằng một cuộc tổng tuyển cử, vô kế khả
thi, chính quyền miền Bắc (Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa) đành phải quyết
đình thống nhất đất nước bằng lực lượng vũ trang. Qua phần trình bày
trên đây, chúng ta nhận thấy công lao chiến đấu gian khổ của biết bao
nhiêu thế hệ Việt Với tình trạng bị
ức hiếp như vậy, làm sao nhân dân Việt Nam nói chung, và miền Bắc nói
riềng, lại có thể ngồi yên bất động để cho đất nước tiếp tục bị
phân chia, để cho một nửa vẫn còn nằm trong tay của kẻ thù bất cộng
đái thiên của dân tộc là Vatican và bọn Việt gian Da-tô hoành hành tác
oai tác quái? Do đó, chúng ta có
thể khẳng định rằng đứng trên lập trường dân tộc, miền Bắc phát
động cuộc chiến thống nhất đất nước là thi hành sứ mạng cao cả của
lịch sử và đáp lại được khát vọng thống nhất của dân tộc. Đó
là việc mà bất cứ quốc gia nào nếu chẳng may ở vào tình trạng như Việt
[1] Nguyễn Mạnh
Quang, Đệ Nhị Thế Chiến Và Chiến Tranh Lạnh
(Tacoma, WA: Public Schools, 1994), tr. 280-286. © Copyright 2006 giaodiem.com |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com