giaodiem copyright
          posted: 16.6.2006
       Nguyễn Mạnh Quang | bài 2
KHI NHÀ VĂN
NÓI CHUYỆN LỊCH SỬ
 
MỘT SỐ SAI LẦM CỦA NHÀ VĂN
NGUYỄN NGỌC NGẠN
TRONG NHỮNG LỜI TUYÊN BỐ
VỀ LỊCH SỬ  
Emcee Ngan Paris by night 81

Người Việt Nam ta thường nói “thánh nhân còn có khi lầm” và “nhân vô thập toàn”. Tác giả Nguyễn Ngọc Ngạn không phải là thánh, cho nên, dù có kỹ lưỡng bao nhiêu đi nữa thì tác giả cũng có những sơ sót hay sai lầm. Những sơ sót hay sai lầm này quan trọng hay không đáng kể là tùy theo cái nhìn của từng người. Đối với những người không bị những sai lầm này làm tổn thương thì họ coi như những sai lầm đó không có gì là quan trọng cả. Thế nhưng, đối với những người bị tổn thương vì những sai lầm này gây ra, thì đó lại là một vấn đề hết sức quan trọng. Những sai lầm về lịch sử của nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn mà chúng tôi nêu lên ở đây là những sai lầm làm tổn thương đến tình tự đất nước và dân tộc. Tập sách này ra đời là vì chúng tôi cho rằng rất cần thiết để trình bày những tổn thương của lịch sử dân tộc đã bị che lấp lâu đời.  Cũng như khi ông cho rằng người ta hiểu sai về việc đạo Da-tô (thời Đệ Nhất Cộng Hòa được đặt tên mới là Công Giáo) đem người Pháp vào chiếm Việt Nam, ông đã phải viết để cải chính lại theo ý của ông trong quyển “Xóm Đạo” . Thật ra, vì đượt đặt trong hình thức một tiểu thuyết, phán đoán của ông Ngạn có tính cách chủ quan vì không có những dữ kiện chứng minh. Trái lại những phê phán về lịch sử phải được hỗ trợ bởi nhiều dữ kiện đan kết chặt chẽ nhau.

Trước đây, khi đọc cuốn Xóm Đạo (Đông Kinh, Nhật Bản: Tân Văn, 2003), tôi đã thấy tác giả có vài điều sai lầm như:

1.- Khi nhân vật Thông giải thích không đúng với sự thật lịch sử cho nhân vật “thằng Anh” (em của nhân vật Trâm) liên quan đến đạo Da-tô và việc Pháp xâm lăng.

2.- Khi nói về đồng lương hàng tháng của anh em tân binh quân dịch và của giới công chức hạng trung trong thời Đệ Nhất Cộng Hòa ở miền Nam Việt Nam.

3.- Khi nói về tội ác dụ dỗ gái vị thành niên của một tu sĩ Da-tô, tác giả đã đánh đồng các ông tu sĩ Da-tô với các nhà tu hành Phật giáo mà không biết rằng chủ đích, phương cách, nếp sống và lề lối tu hành của các nhà tu hành Phật giáo hoàn toàn khác hẳn với chủ đích, phương cách, lề lối và nếp sống tu hành của các ông tu sĩ Da-tô.

Đầu tháng 5/2006, khi xem cuốn băng Paris By Night 81, nhân nói về sự phát triển của phim Hàn Quốc, người viết lại thấy nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn nhận xét sai lạc về một số sự kiện lịch sử rồi dựa vào đó mà phát biểu những ý kiến rất chủ quan. Lời phát biểu này được ghi như sau:

Sau Đệ Nhị Thế Chiến thứ II, trên thế giới có ba nước giống hệt nhau, cùng bị chia đôi, Cộng Sản chiếm đóng một nửa, và một bên là quốc gia, là: Đức, Triều Tiên (tức là Bắc Hàn và Nam Hàn) và Việt Nam. Chúng ta thấy là ba quốc gia giống hệt nhau. Nhưng mà Tây Đức đứng đầu thế giới về khoa học kỹ thuật. Nam Hàn phát triển cực nhanh và trở thành một tiểu cường quốc trên thế giới, và ngày nay thống trị về điện ảnh.  Chỉ còn có mỗi Việt Nam là còn lẹt đẹt mãi .

Tại sao như vậy ? Là vì Bắc Hàn không xâm lăng Nam Hàn, Đông Đức không đánh sang Tây Đức, mà người ta lo kinh tế. Nếu miền Bắc VN chúng ta không đánh vào miền Nam, tôi nghĩ, Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta ngày nay không thua gì Nam Hàn, là vì trí thông minh của người Việt chúng ta có thể nói là không thua  các quốc gia nào tại Á Châu.”

Những người không hiểu biết lịch sử thế giới có thể cho rằng lời phát biểu của ông Nguyễn Ngọc Ngạn là đúng. Nhưng đối với giới học sử và dạy sử, lời phát biểu của ông Nguyễn Ngọc Ngạn có hai điều không ổn:

1.- Không đúng với sự thật lịch sử khi ông Nguyễn Ngọc Ngạn nói rằng: “Bắc Hàn không xua quân tấn công Nam Hàn.”

2.- Thiếu kiến thức về lịch sử thế giới, đặc biệt là bối cảnh lịch sử của 3 quốc gia Đức, Triều Tiên và Việt Nam khi bị chia đôi.

Thật là một điều sai lầm khi ông chỉ nói đến sự kiện đã xẩy ra rồi vội vàng kết luận bằng những ý kiến chủ quan (subjective opinion) mà không cần biết đến bối cảnh lịch sử và nguyên nhân đưa đến tình trạng của mỗi quốc gia bị chia cắt được nêu lên.

Vì chủ đề của bài viết này là trình bày một số những sai lầm của ông Nguyễn Ngọc Ngạn khi phát biểu về những vấn đề lịch sử, thể hiện rõ ràng nhất là trong cuốn băng Paris By Night 81 và trong tác phẩm Xóm Đạo, người viết chia bài viết này ra làm những phần như sau:

Phần A: Về lời tuyên bố của ông Nguyễn Ngọc Ngạn trong cuốn Paris By Night 81. (5)

Phần B: Về một số sai lầm của ông Ngạn trong cuốn Xóm Đạo. (31)

Phần C: Về lời tuyên bố rằng chính quyền Việt Nam tàn ác quá cho nên người dân mới phải bỏ nước ra đi. (50) 

PHẦN A 
LỜI TUYÊN BỐ CỦA ÔNG NGẠN
TRONG CUỐN BĂNG PARIS BY NIGHT SỐ 81 

Phần này chia ra như sau:

I.- Bắc Hàn có xâm lăng Nam Hàn hay không?

II.- Bối cảnh lịch sử của ba nước Đức, Triều Tiên và Việt Nam trước khi bị chia đôi và nguyên nhân khiến cho lãnh thổ bị chia đôi.

III.- Nội tình của Tây Đức, Nam Hàn và Miền Nam Việt Nam

IV.- Về ý kiến “Nếu miền Bắc không phát động chiến tranh xâm lăng miền Nam, thì ngày nay Việt Nam Cộng Hòa không thua gì Nam Hàn.”

Bốn mục này sẽ được lần lượt trình bày như sau. 

I.- VỀ CÂU NÓI “BẮC HÀN KHÔNG XÂM LĂNG NAM HÀN.”

Người viết xin khẳng đinh rằng lời tuyên bố trên đây của ông Nguyễn Ngọc Ngạn hoàn toàn không đúng với sự thật lịch sử. Có thể sự sai lầm này là do ông Ngạn đã không được học lịch sử thế giới, rồi cũng không tìm đọc lịch sử thế giới trong thời cận và hiện đại, và cũng có thể ông Ngạn nói như vậy với chủ đích nào đó.

Sự thật trong lịch sử, Bắc Hàn đã tấn công Nam Hàn và gây nên cuộc chiến vô cùng khốc liệt kéo dài hơn ba năm trời. Cuộc chiến tranh này được gọi là Chiến Tranh Triều Tiên và được các sách sử thế giới cũng như sách sử Hoa Kỳ đều nói tới. Sách Đệ Nhị Thế Chiến Và Chiến Tranh Lạnh (cùng tác giả Nguyễn Mạnh Quang) ghi lại cuộc chiến tranh này khá đầy đủ. Dưới đây là phần tóm lược:

Ngày 25/6/1950, đại quân Bắc Hàn với sự yểm trợ của không lực và thiết giáp binh ào ào vượt vĩ tuyến 38 tràn vào lãnh thổ Nam Hàn, tiến thẳng xuống thành phố thủ đô Nam Hàn. Quân đội Nam Hàn không chống cự nổi, phải tháo chạy xuống phía Nam

Cũng vào ngày 25/6/1950, Tổng Thống Truman đưa việc quân đội Bắc Hàn xâm lăng Nam Hàn ra Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc. Chiều hôm đó, Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc nhóm họp khẩn cấp và lên án việc Bắc Hàn xua quân xâm lăng Nam Hàn, đồng thời kêu gọi Bắc Hàn hãy chấm dứt những hành động thù nghịch chống Nam Hàn và lui binh về phía bắc vĩ tuyến 38.

Trong khi Đại Hội Đổng Bảo An Liên Hiệp Quốc biểu quyết lên án chính quyền Bắc Hàn thì đại biểu Liên Xô tẩy chay cuộc họp. Nhờ vậy mà quyết định của Đại Hội Đồng Bảo An can thiệp vào cuộc chiến không bị Liên Xô phủ quyết. Ngay khi đó, các đại biểu các đại cường đều tiên đoán rằng rất có thể Liên Xô và Trung Cộng sẽ nhẩy vào vòng chiến bên cạnh Bắc Hàn nếu các nước Tây Phương nhẩy vào cứu Nam Hàn….

Ngày 26/6/1950, Hoa Kỳ ra lệnh cho hải, lục và không quân Hoa Kỳ tại Viễn Đông phải hỗ trợ cho quân đội Nam Hàn chống lại quân Bắc Hàn. Hạm đội số 7 được phái đến vùng biển Đài Loan để đề phòng có thể có những biến cố bất ngờ do đối phương gây ra. Tổng Thống Tưởng Giới Thạch cũng được khuyến cáo là phải chấm dứt mọi hành động quân sự chống Trung Hoa lục địa. Nói một cách khác là Hoa Kỳ đã trung lập hóa hải đảo Đài Loan.

Ngày 27/6/1950, Hội Đồng Bảo An lên tiếng kêu gọi các quốc gia hội viên Liên Hiệp Quốc hãy tích cực góp phần (góp quân đội) vào cuộc viện trợ cứu Nam Hàn.

Trong khi đó, quân đội Nam Hàn bị dồn về phía Nam và đang cố gắng thiết lập phòng tuyến tại phía Nam Hán Thành. Ngày 29/6/1950, Tướng Doughlas MacArthur, Tư Lệnh Tối Cao Lực Lượng Đồng Minh tại Viễn Đông, báo cáo về Hoa Thịnh Đốn rằng từ khi Bắc Hàn khởi sự xâm lăng (ngày 25/6/1950) Nam Hàn, quân đội Nam Hàn bị thiệt hại tới 50%. Bộ Tham Mưu Hoa Kỳ quyết định cần phải dùng biện pháp mạnh. Ngay khi đó các chiến tầu và các chiến đấu cơ của Hoa Kỳ được lệnh oanh tạc các căn cứ quân sự của Bắc Hàn. Lục quân Hoa Kỳ được lệnh phải triệt để bảo vệ hải cảng Phú Sơn (Pusan). Hai sư đoàn Hoa Kỳ đang trú đóng tại Nhật được lệnh di chuyển cấp tốc tới Nam Hàn. Tướng MacArthur được chỉ định giữ chức vụ Tổng Tư Lệnh Lực Lượng Liên Hiệp Quốc tại Triều Tiên. Các nước Anh, Pháp, Bỉ, Hy Lạp, Columbia, Ethiopia, Gia Nã Đại, Úc Đại Lợi, Hy Lạp, Hòa Lan, Tân Tây Lan, Thái Lan, Liên Bang Nam Phi, Thổ Nhĩ Kỳ và Phi Luật Tân lần lượt gửi quân tới tham chiến dưới cờ Liên Hiệp Quốc….

Sau những cuộc thăm dò, ngày 10/7/1951, đại diện hai phe đối nghịch nhốm họp tại Kaesong để bàn về việc ngưng bắn. Tuy nhiên, tại hội nghị Cộng Sản lại tỏ ra không sốt sắng tiến đến một thỏa hiệp đình chiến. Cuộc thương thuyểt kéo dài năm này qua năm khác, trong khi ngoài mặt trận quân đội Liên Hiệp Quốc vẫn tiếp tục ác chiến với Hồng Quân. Súng vẫn nổ, bom vẫn rền vang thi nhau tàn phá đất nước Triều Tiên, khói lửa vẫn mịt mù. Thanh niên nam nữ vẫn tiếp tục ngã gục ngoài chiến tuyến. Ông già, bà cả cùng những bà mẹ lếch thếch bồng bế con thơ, dắt dìu nhau chạy trốn cảnh binh đao, lang thang trên khắp ngả đường xó chợ, sống cò bơ cò bất không biết nơi đâu là chỗ an toàn. Cho mãi tới tháng 7/1953, hai bên mới đạt được thỏa hiệp ngưng bắn, theo đó thì lệnh ngưng bắn sẽ được thi hành vào 10 giờ đêm ngày 27/7/1953. Tính ra cuộc thương thuyết đã kéo dài 2 năm 17 ngày.” [1]

Xin chú thích thêm rằng khi được đưa về dạy tại trường trung học Kiểu Mẫu Thủ Đức (KMTD) ở Sài Gòn,  người viết có biên soạn một tập tài liệu về sử thế giới tựa đề là “Đệ Nhị Thế Chiến và Chiến Tranh Lạnh” . Tập sách này được dùng làm tài liệu giáo khoa cho các lớp 12 tại trường trung học này trong những năm 1970 - 1975.  Nhà xuất bản Sáng Tạo Sài Gòn xuất bản quyển này vào năm 1972. Ở Mỹ, tập sách này được đánh máy lại và được Tacoma Public Schools tái xuất bản nhiều lần. Lần chót tái bản là năm 1994.

Ông Ngạn có thể vào bất kỳ một thư viện ở bất kỳ quốc gia nào, tìm đọc sách sử nói về chiến tranh Triều Tiên để kiểm chứng vấn đề này.

II. BỐI CẢNH LỊCH SỬ CỦA BA NƯỚC

ĐỨC, TRIỀU TIÊN VÀ VIỆT NAM

Trước khi bị chia cắt lãnh thổ, bối cảnh lịch sử của cả ba nước Đức, Triều Tiên và Việt Nam đều ở trong hoàn cảnh lịch sử khác nhau và nguyên nhân đưa đến tình trạng đất nước bị chia cắt cũng khác nhau. Phần trình bày dưới đây cho chúng ta thấy rõ sự kiện này.

A.- Bối Cảnh Lịch Sử Nước Đức.- Trước khi bị Đồng Minh Mỹ, Nga, Anh, Pháp đưa nước Đức lên bàn mổ chia cắt ra làm bốn mảnh, Đức là một trong ba nước nằm trong phe Trục Đức – Ý - Nhật và cũng là một trong ba nước chủ chiến thi hành chính sách xâm lăng gây ra Đệ Nhị Thế Chiến (thực sự bùng nổ vào ngày 1 tháng 9 năm 1939). Cuộc chiến này thực sự chấm dứt ở Âu Châu vào sáng sớm ngày 7/5/1945 khi Tướng Đức Gustav Jodt phải nhân danh Tổng Tư Lệnh quân đội và nhân dân Đức thân hành đến Bộ Tổng Hành Dinh của Tướng Eisenhower tại Reims (Đống Bắc nước Pháp) ký nhận đầu hàng Đồng Minh vô điều kiện. Hiệp ước đầu hàng này được chính phủ Đức phê chuẩn vào ngày 8/5/1945. Trong khi đó cuộc chiến vẫn còn tiếp diễn tại mặt trận Á Châu cho đến khi Nhật chính thức đầu hàng Đồng Minh vô điều kiện vào ngày 15/8/ 1945.

Tóm lại, Đức là nước gây chiến, nhưng lại là nước thua trận và số phận nước Đức nằm trong mọi quyết định của nước Đồng Minh thắng trận. Theo sách Đệ Nhị Thế Chiến Và Chiến Tranh Lạnh, các nước Đồng Minh Mỹ, Nga, Anh và Pháp nhóm họp tại Cecilienhof gần Potsdam (phía Tây Nam thành phố Berlin) từ ngày 17/7/1945 đến ngày 2/8/1945) để thảo luận việc trừng phạt nước Đức và cuối cùng họ đạt được một thỏa hiệp về vấn đề này. Theo thỏa hiệp này, ngoài việc phải bồi thường chiến tranh, Đức còn phải trừng phạt nặng nề:

Về phương diện lãnh thổ, vùng đất nằm ở phía đông hai con sông Oder và Neisse bị cắt xén nhường cho Ba Lan, tính ra Đức mất đi tới 24% lãnh thổ. Phần lãnh thổ còn lại bị chia ra làm 4 vùng, mỗi vùng giao cho một trong bốn cường quốc đồng minh thắng trận quản trị, v.v

Về phương diện kinh tế, Đồng Minh kiểm soát chặt chẽ các hoạt động kinh tế để:

1.- Thực hiện việc tháo gỡ các cơ sở kỹ nghệ trước kia.

2.- Bảo đảm việc sản xuất chỉ nhằm đáp ứng cho nhu cầu các lực lượng chiếm đóng và để giữ cho mức sống của dân Đức không thể cao hơn mức sống của nhân dân các quốc gia khác ở Âu Châu.

3.- Bảo đảm sự phân phối những sản phẩm thiết yếu sao cho được đồng đều giữa các vùng chiếm đóng nhằm mục đích giữ cho nền kinh tế được quân bình khắp trong nước Đức và cũng là giảm thiểu nhu cầu phải nhập cảng.

4.- Kiểm soát nền kỹ nghệ và thương mại Đức nhằm mục đích không thể tăng cường tiềm lực chiến tranh.

5.- Phân tán kinh tế Đức, thủ tiêu mọi tổ hợp, ….

Về phương diện chính trị, trong hoàn cảnh hiện tại, Đức chưa thể được phép thiết lập một chính quyền trung ương.

Dù là đã quyết định như vậy, nhưng rồi thời cuộc biến đổi khiến cho ba nước Đồng Minh Mỹ, Anh và Pháp cũng phải thay đổi chính sách đối với các vùng Đức do ba cường quốc này chiếm đóng. Năm 1946, tam cường đồng thuận cho phép nhân dân Đức trong các vùng bị chiếm đóng được phép đi bầu để chọn các nhân viên chính quyền địa phương. Năm 1947, họ lại được phép đi bầu để chọn đại diện vào các cơ quan lập pháp tại các tiểu bang trong vùng.

Năm 1948, tam cường Đồng Minh Anh, Mỹ và Pháp nhóm họp tại Luân Đôn có các đại diện của các nước Bỉ, Hòa Lan và Lục Xâm Bảo tham dự để thảo luận vấn đề sáp nhập khu vực Pháp chiếm đóng vào hai khu vực Anh và Mỹ chiếm đóng thành một vùng hợp nhất. Vùng hợp nhất này được gọi là Tây Đức. Hội nghị mong muốn nhân dân trong cả ba vùng Anh, Pháp, Mỹ kiểm soát thiết lập các cơ cấu chính quyền hầu có thể đảm nhiệm việc điều hành guồng máy chính quyền và chỉ cần tuân hành một số điều kiện của Đồng Minh. Các vị thống đốc quân sự của Đồng Minh được lệnh chỉ thị cho phép các nhà hữu trách các tiểu bang thuộc ba vùng chiếm đóng của Anh, Pháp và Mỹ triệu tập quốc hội lập hiến để soạn thảo hiến pháp cho Cộng Hòa Liên Bang Đức. Mọi việc đã diễn ra đúng như ý muốn của hội nghị.

Như vậy, Tây Đức đã được trao trả quyền độc lập, nhưng vẫn bị ràng buộc bởi một số những điều kiện trong Hiệp Ước đầu hàng vô điều kiện như đã nói ở trên. Vì thế, lúc đó cho đến nhiều năm sau này, Tây Đức chỉ có lực lượng cảnh sát để duy trì trật tự và lo việc nội an, quân đội vẫn bị giới hạn, chỉ đủ cho nhu cầu nội an mà thôi. Ngoài ra, quân đội Đồng Minh vẫn còn trú đóng ở Tây Đức. Từ cuối năm 1949, quân đội Đồng Minh trú đóng tại Tây Đức còn lãnh thêm nhiệm vụ canh chừng những hoạt động quân sự của khối Cộng Sản do Liên Xô lãnh đạo.

Đồng thời, cũng vào năm 1948, Liên Xô cũng tổ chức chính quyền trong vùng chiếm đóng của họ và gọi là chính quyền Đông Đức, rồi trả độc lập cho Đông Đức dưới quyền lãnh đạo của đảng viên Cộng Sản là Friedrich Abert, giống như các nước Anh, Pháp, Mỹ đã làm ở Tây Đức. Dĩ nhiên là Đông Đức cũng bị ràng buộc bởi những điều kiện đầu hàng vô điều kiện được ký kết giữa chính quyền Đức và Đồng Minh vào ngày 7/5/1945.

Như vậy, ngoài việc bị ràng buộc bởi những điều kiện quy đình trong hiệp ước đầu hàng Đồng Minh, cả Tây Đức và Đông Đức đều bị quân đội Đồng Minh Trú đóng tại Tây Đức để theo dõi và kìm kẹp. Với tình trạng này, cả Tây Đức và Đông Đức đều không có sức mạnh quân sự và cũng không có căn bản pháp lý hay chính nghĩa để phát động cuộc chiến thống nhất đất nước hay xua quân xâm lăng lẫn nhau.

B.- Bối cảnh lịch sử Triều Tiên: Nước Triều Tiên còn có tên là Cao Ly hay Đại Hàn. Với diện tích rộng chừng 220 ngàn cây số vuông (bằng khoàng 2/3 diện tích Việt Nam), Triều Tiên là một tiểu quốc nằm ở phía nam Mãn Châu, và cũng là một bán đảo nằm giữa Hoàng Hải và Biển Nhật Bản (Đông Bắc Trung Hoa), chỉ cách Nhật Bản qua eo biển Nhật Bản giống như bán đảo Florida (Hoa Kỳ) cách Cuba qua eo biển Florida. Trong quá khứ, Triều Tiên vốn là một quốc gia nằm trong vùng ảnh hưởng của Trung Hoa, giống như tình trạng Việt Nam trước năm 1884. Từ khi Nhật trở nên một cường quốc tiền tiến và bành trướng ảnh hưởng vào lục địa Trung Hoa, Triều Tiên lại chịu thêm ảnh hưởng của Nhật Bản. Tình trạng này khiến cho Triều Tiên ở vào vị thế nằm giữa hai gọng kìm Trung Hoa và Nhật Bản giống hệt như vị thế của Ba Lan nằm giữa hai nước Đức và Nga, và vị thế Cao Miên nằm giữa Việt Nam và Thái Lan.

Trong thời Đệ Nhị Thế Chiến, Nhật Bản chiếm đóng quốc gia này và cũng có bọn Hàn gian làm tay sai tiếp tay cho Nhật trong bộ máy đàn áp nhân dân và lo việc quản trị hành chánh (giống như chính quyền Bảo Đại được mệnh danh là “chính quyền quốc gia” ở Việt Nam trong nhũng năm 1945-1954.) Dĩ nhiên là cũng có một vài tổ chức của nhân dân Triều Tiên nổi lên chống Nhật, nhưng không có tổ chức nào thành công như phong trào kháng chiến chống Liên Minh Pháp - Vatican ở Việt Nam do Mặt Trận Việt Minh Lãnh đạo trong cuộc chiến 1945-1954.

Ngày 15/8/1945, Nhật đầu hàng Đồng Minh vô điều kiện. Các cường quốc Đồng Minh phải lo việc giải giới quân đội Nhật ở Triều Tiên cũng như ở Việt Nam và nhiều nơi khác. Theo sách Đệ II Thế Chiến Và Chiến Tranh Lạnh, các nước Đồng Minh thắng trận nhóm họp ở Yalta (nằm trên bán đảo Crimée thuộc Nga) vào tháng 2/1945 và tại Potsdam (gần Bá Linh) từ 17/7/1945 –28/1945 để bàn về vấn đề này. Riêng tại Triều Tiên, các hội nghị đã quyết định việc giải giới quân đội Nhật được trao cho Liên Xô đảm trách từ vĩ tuyến 38 trở lên phía Bắc, và Hoa Kỳ từ vĩ tuyến 38 trở xuống phía Nam.

Mãi tới ngày 8/9/1945, quân đội Hoa Kỳ mới đổ bộ vào Nam Hàn để thi hành sứ mạng giải giáp quân đội Nhật, trong khi đó, Hồng Quân Liên Xô đã tràn vào Bắc Hàn từ ngày 8/8/1945. Chỉ trong vòng ba tuần lễ, quân đội Liên Xô đã thủ tiêu xong các cơ cấu chính trị, hành chánh thân Nhật, và thiết lập xong các uỷ ban hành chánh nhân dân để điều hành bộ máy cai trị tại Bắc Hàn. Tháng 12/1945, Ủy Ban Lâm Thời và Mặt Trận Thống Nhất Quốc Gia được thành lập tại Bình Nhưỡng (thủ đô Bắc Hàn).

Theo Hội Nghị Mạc Tư Khoa (nhóm họp vào hồi tháng 12/1945), Hoa Kỳ và Liên Xô cùng thỏa thuận tìm một giải pháp trao trả độc lập cho Hàn quốc, nhưng mãi tới mùa thu năm 1947, hai đại cường Mỹ và Nga cũng vẫn chưa đạt được một thỏa hiệp nào để thực hiện quyết định này. Tháng 9/1947, Hoa Kỳ đề nghị tổ chức một cuộc tổng tuyển cử đặt dưới quyền giám sát của Liên Hiệp Quốc để bầu quốc hội và chính phủ lâm thời cho cả hai miền Nam - Bắc Hàn, nhưng bị Liên Xô bác bỏ. Hoa Kỳ bèn đưa đề nghị này ra Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc.

Trong khi đó, Liên Xô lại đưa ra một đề nghị khác, theo đó thì Hoa Kỳ và Liên Xô cùng triệt thoái quân đội ra khỏi hai miền Nam và Bắc Hàn vào đầu năm 1948. Liên Hiệp Quốc bác bỏ đề nghị này của Liên Xô, và quyết định chấp thuận việc thành lập chính phủ lâm thời cho cả hai miền Nam - Bắc Hàn. Liên Xô phản đối và tuyên bố sẽ không tiếp nhận đại diện Liên Hiệp Quốc tại Bắc Hàn.

Ngày 10/5/1948, chính quyền Nam Hàn tổ chức tổng tuyển cử và đặt dưới quyền giám sát của Liên Hiệp Quốc để bầu quốc hội lập hiến. Sau đó, Lý Thừa Vãn được bầu làm tổng thống nước Công Hòa Triều Tiên (Nam Hàn) và Hán Thành được chọn làm thủ đô. Hoa Kỳ và Trung Hoa Quốc Gia (Tưởng Giới Thạch) công nhận chính phủ của ông Lý Thừa Vãn. Hoa Kỳ loan báo sẽ viện trợ kinh tế cho chính quyền Nam Hàn.

Tháng 10/1948, chính phủ Liên Xô loan báo sẽ triệt thoái toàn bộ quân Nga ra khỏi Bắc Hàn vào cuối năm 1948. Đầu năm 1949, Hoa Kỳ cũng loan báo sẽ triệt thoái quân đội Hoa Kỳ ra khỏi Nam Hàn vào cuối tháng 6/1949 và chỉ để lại một phái bộ cố vấn quân sự ở trên phần đất này.

Như vậy, việc chia đôi Hàn quốc ra làm hai miền Nam và Bắc qua vĩ tuyến 38 đã được mặc nhiên công nhận. Triều Tiên nghiễm nhiên thành hai quốc gia theo hai chế độ chính trị khác hẳn nhau và đối nghịch nhau. Tuy nhiên, cả hai chính quyền Nam và Bắc Hàn đều không thỏa mãn với sự chia cắt này. Cả hai chính quyền của hai miền đều tuyên bố rằng chủ quyền của họ bao trùm lên toàn thể lãnh thổ Triều Tiên.

Việc Bắc Hàn tấn công xuống Nam Hàn vào ngày 25/6/1950 gây nên cuộc chiến vô cùng khốc liệt như đã nói ở trên. Theo hiệp ước ngưng chiến được ký kết vào ngày 27/7/1953, quân đội Hoa Kỳ được trú đóng tại Nam Hàn để canh chừng Bắc Hàn. Vì lẽ này, nếu không được sự tích cực ủng hộ của Liên Xô và Trung Quốc, Bắc Hàn không thể nào lại có thể phát động cuộc chiến thống nhất đất nước lần thứ hai được nữa (Nguyễn Mạnh Quang, Sđd., tr. 276-278)

C.- Bối cảnh lịch sử nước Việt Nam: Trước khi đất nước bị chia đôi, bối cảnh lịch sử Việt Nam hoàn toàn khác biệt với bối cảnh lịch sử của nước Đức, và cũng hoàn toàn khác với bối cảnh lịch sử của Triều Tiên như liệt kê dưới đây .

1.- Việt Nam bị Pháp Thuộc. Liên Minh Thánh Pháp – Vatican đem quân đến đánh chiếm vào năm 1858 và thống trị cho đến ngày 7 tháng 5 năm 1954. Trong thời gian này, liên minh giặc luôn luôn phải đối phó với các tổ chức nghĩa quân kháng chiến của nhân dân ta vì rằng ngay từ khi tiếng súng xâm lăng vừa mới khai hỏa tấn công, ngoại trừ một nhóm thiểu số Việt gian mãi quốc cầu vinh, và một thiểu số tín đồ Da-tô cuồng tín, toàn thể nhân dân ta đều đồng lòng nô nức hăng hái lên đường đi chống giặc cứu nước. Khi nhà Nguyễn còn khả năng kháng chiến, quân sĩ triều đình liều chết chống giặc đến hơi thở cuối cùng. Nguyễn Tri Phương bị thương, thất trận và bị giặc bắt, nhất định không chịu trị thương và nhịn ăn mà chết, Hoàng Diệu không giữ được thành đành phải tuẫn tiết chết theo thành. Khi giặc tiến chiếm kinh thành Huế, Tôn Thất Thuyết dìu vua Hàm Nghi đi trốn để lập chiến khu chống giặc và ban hành lệnh kêu gọi “Cần Vương” cứu nước. Khi triều đình bất lực không còn khả năng chống giặc, nhân dân ta khắp nơi từ Nam ra Bắc tự động nổi lên tổ chức thành những lực lượng nghĩa quân chống giặc và chống cho đến cùng. Các tổ chức nghĩa quân của các nhà ái quốc như Trương Công Định, Nguyễn Trung Trực, Mai Xuân Thưởng, Phan Đình Phùng, Nguyễn Thiện Thuật, Hoàng Hoa Thám, Lương Ngọc Quyến, Trịnh Văn Cấn, tổ chức Tâm Tâm Thư Xã với cái chết oai hùng của Phạm Hồng Thái, tổ chức Quốc Dân Đảng của nhà ái quốc Nguyễn Thái Học, vân vân, và sau cùng là Mặt trận Việt Minh, tất cả nói lên tinh thần bất khuất của dân tộc Việt Nam ta.

Với chiến thắng Điện Biên Phủ vào ngảy 7/5/1954, Mặt Trận Việt Minh đã hoàn thành được sứ mạng cao cả mà các tổ chức nghĩa quân kháng chiến của những vị anh hùng tiền bối “chỉ thành nhân mà không thành công”. Giả dụ như không có Mặt Trận Việt Minh, hay Mặt Trận Việt Minh không thành công trong sứ mạng cao cả này, tất nhiên là sẽ có một hay nhiều tổ chức nghĩa quân kháng chiến khác đứng lên tiếp nối cho đến khi đất nước sạch bóng quân thù. Chắc chắn các tổ chức này không phải là của tín đồ Da-tô cuồng nô vô tổ quốc hay những người trong giới quan lại đã từng làm tay sai đắc lực cho Liên Minh Thánh Pháp – Vatican.

Tại sao người viết lại khẳng định như vây? Xin thưa rằng, tín đồ Da-tô được dạy dỗ rằng Giáo Hội La Mã là Mẹ của họ, họ phải tuyệt đối vâng lời và triệt để tuân hành những lệnh truyền của Giáo Hội như vâng lời một người Mẹ. Giáo Hội cấu kết với Pháp thành lập Liên Minh Thánh Pháp - Vatican đem quân tấn công Việt Nam từ năm 1858  và thống trị Việt Nam cho đến năm 1954. Trong suốt thời kỳ này, tín đồ Da-tô “ngoan đạo” người Việt đã triệt để thi hành “đức vâng lời” của họ đối với Toà Thánh Vatican . Đức vâng lời này của họ được thể hiện ra trong cung cách hành từ suy tư đến lời nói và hành động mà người ta có thể thấy rõ trong các sách sử . Với thực tế như vậy và với tinh thần tuyệt đối vâng lời Giáo Hội như vậy, làm sao tín đồ Da-tô người Việt có thể đứng ra tổ chức nghĩa quân kháng chiến đánh đuổi người Mẹ của họ đang nằm trong chính quyền bảo hộ thời bấy giờ được?     

2.- Chính sách Chia Rẽ. Trong thời kỳ thống trị Việt Nam, Liên Minh Pháp – Vatican đã thi hành chính sách chia để trị bằng cách xé nước Việt Nam ra ba miền, mỗi miền thi hành một chính sách cai trị khác nhau về tổ chức hành chánh và luật pháp. Thâm độc và dã man hơn nữa, trong những năm 1945-1954, chúng thi hành chính sách:

a.- Xé nước Việt Nam ra làm nhiều mảnh vụn theo biên giới địa lý Bắc Trung Nam, theo biên giới sắc tộc để thành lập các tiểu quốc Tây Kỳ ở Cao Nguyên Nam Trung Bộ, tiểu quốc Thái ở vùng Tây Bắc Bắc Bộ, theo biên giới tôn giáo tức là lập ra hai giáo khu tự trị Phát Diệm và Bùi Chu.

b.- Dùng người Việt đánh người Việt bằng “Giải Pháp Bảo Đại” (the Bao Dai Solution), thành lập chính quyền Bảo Đại làm tay sai cho chúng và khoác cho chính quyền Việt gian này cái nhãn hiệu “chính quyền Quốc Gia” với những tên Việt gian khét tiếng như Bảo Đại (các nhà viết sử gọi là một tên ăn chơi đàng điếm (playboy), Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Văn Tâm, Phan Văn Giáo, Trần Văn Hữu, và những tên hoạt đầu cơ hội chủ nghĩa như Vũ Hồng Khanh, Trần Trung Dung, Trần Chánh Thành, v.v…. Những tên phản quốc này được chúng khoác cho cái nhãn hiệu là “Người Việt Quốc gia chân chính”. Đồng thời, chúng (qua linh-mục Trần Hữu Thanh) lại chế ra lá cờ vàng ba sọc đỏ và bảo rằng đây là lá cờ chính nghĩa của “những người Quốc Gia chân chính” biểu tượng cho cái mà chúng gọi là “chính nghĩa quốc gia”, mà thực tế là chiến đấu cho quyền lợi của Vatican và của Pháp. Đây là dụng quái chiêu sử dụng danh xưng “người Việt Quốc Gia chân chính” làm bức bình phong để che đậy và tẩy xóa những thành tích “cõng rắn cắn gà nhà” cho những tên Da-tô Việt gian phản quốc đã từng bán nước cho Liên Minh Xâm Lăng Pháp – Vatcian từ thời Giám-mục Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine) móc nối và kết thân với Nguyễn Ánh cho đến năm 1948 và sau đó. Một trong những thằng Việt gian này là tên tứ đại Việt gian Da-tô Ngô Đình Diệm. Cũng vì thế mà những người như Trần Lục, Trần Bá Lộc, Lê Hoan, Ngô Đình Khả, Nguyễn Hữu Bài, Huyện Sĩ, Petrus Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Công Tấn, Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Thục, Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Cẩn, Lê Hứu Từ, Nguyễn Trường Tộ, Phạm Ngọc Chi, Hoàng Quỳnh, Mai Ngọc Khuê, Đinh Xuân Hải, Nguyễn Lạc Hóa, Nguyễn Văn Thiệu, Đỗ Cao Trí, Hoàng Xuân Lãm, Ngô Du, Nguyễn Văn Toàn, Đặng Văn Quang, Trần Khắc Kính, Ngô Thế Linh, Lê Quang Tung, Lê Quang Triệu, Dương Văn Hiếu, Phan Quang Đông, Nguyễn Văn Hai, v.v… đều được chúng vinh danh là “những người Quốc Gia chân chính” cả.

c.- Dùng tín đồ Da-tô để cai trị đại khối nhân dân thuộc các tôn giáo cổ truyền của dân tộc.  

3.- Việc chia đôi lẽ ra chỉ có hai năm.  Sau đây là diễn biến tiến đến Thỏa Hiệp Genève năm 1954 và việc chia đôi lãnh thổ.

a.  Từ năm 1950, ngay khi Liên Quân Xâm Lăng Pháp – Vatican bị đại bại tại các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng và Bắc Kạn, Vatican đã sớm nhìn ra là Pháp cũng sẽ không thể nào tiếp tục duy trì quyền lực ở Đông Dương. Vì lẽ này, Vatican đã ra lệnh cho Giám-mục Ngô Đình Thục dẫn tín đồ ngoan đạo Da-tô Ngô Đình Diệm sang Mỹ giao cho Hồng Y Francis Spellman vận động thành lập Liên Minh Thánh Mỹ - Vatican và tìm cách đưa ông Diệm lên cầm quyền để làm tay sai phục vụ cho quyền lợi của cả Mỹ và Vatican ở Việt Nam.

b.- Khi thấy rằng không thể tiếp tục tái chiếm được Việt Nam, Pháp bằng lòng nghiêm chỉnh thương thuyết với chính quyền kháng chiến Việt Nam tại Hội Nghị Genève 1954, công nhận quyền độc lập của dân tộc Việt Nam và rút quân về nước.

c.- Ngay khi Hội Nghị Genève 1954 đang thương thuyết về việc chấm dứt chiến tranh Đông Dương, Mỹ làm áp lực với cả Nga và Trung Cộng để hai quốc gia này phải chấp nhận giải pháp tạm thời chia đôi Việt Nam và sẽ được tái thống nhất qua một cuộc tổng tuyển cử do Thỏa Hiệp Genève quy định vào tháng 7 năm 1956.

d.- Sợ rằng nếu làm găng với Mỹ thì sẽ có thể phải đương đầu với Mỹ và có thể đưa đến chiến tranh nguyên tử trong khi khả năng nguyên tử còn yếu kém nếu so với Mỹ, cho nên Nga Sô đã nhân nhượng và thuyết phục chính phủ Kháng Chiến Việt Nam bằng lòng chấp nhận giải pháp tạm thời chia đôi Việt Nam như trên.

e.- Về phần Trung Quốc, một mặt vì dã tâm không muốn có một quốc gia hùng mạnh ở sát biên giới cho nên không muốn Việt Nam thống nhất, mặt khác vì cũng sợ rằng nếu làm găng với Mỹ thì sẽ phải đụng độ với Mỹ ở Đông Dương như ở Triều tiên trước đó, cho nên chủ tịch Mao Trạch Đông và Thủ Tướng Châu Ân Lai cũng thuyết phục chính quyền Việt Nam Kháng Chiến phải chấp nhận giải pháp tạm thời chia đôi Việt Nam.

f.- Thấy rằng cả Nga và Trung Quốc đều không ủng hộ lập trường cứng rắn đòi Pháp phải công nhận chủ quyền độc lập và sự toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc Việt Nam, chính quyền Kháng Chiến Việt Nam đành phải chấp nhận giải pháp tạm thời chia đôi đất nước, coi như là phải nín thở qua sông, dù sao lãnh thổ cũng sẽ được thống nhất qua cuộc Tổng Tuyển Cử hai năm sau đó.

4.- Thống Nhất lẽ ra đã có nếu Tổng Tuyển Cử được thi hành. Dân tộc Việt Nam đã theo đuổi cuộc chiến đánh đuổi Liên Minh Pháp – Vatican kéo dài cả gần một thế kỷ, đến khi Liên Quân Xâm Lăng Pháp - Vatican bị đại bại tại Điện Biên Phủ, Pháp phải công nhận chủ quyền độc lập cùng sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam và rút lui quân về nước, thì Hoa Kỷ ỷ thế mạnh của một siêu cường nhẩy vô làm áp lực với cả hai phe, buộc hai phe phải chấp nhận giải pháp chia đôi Việt Nam để rồi vi phạm luôn cả điều khoản tổ chức tổng tuyển cử thống nhất đất nước đã được quy định tổ chức vào tháng 7 năm 1956.

5.- Miền Nam từ chối Tổng Tuyển Cử.  Khi tới thời điểm hai miền Bắc và Nam Việt Nam phải ngồi lại với nhau thảo luận về phương cách tổ chức tổng tuyển cử để thống nhất đất nước theo như Hiệp Ước Genève đã quy định, chính quyền miền Nam từ chối, không chịu ngồi với miền Bắc để bàn thảo tiến hành vấn đề này, nghĩa là có dã tâm duy trì tình trạng chia đôi đất nước theo ý muốn của Hoa Kỳ và đặc biệt nhất là của Vatican.

6.- Vô kế khả thi. Vì không thể thống nhất bằng đường lối hòa bình bằng một cuộc tổng tuyển cử, vô kế khả thi, chính quyền miền Bắc (Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa) đành phải quyết đình thống nhất đất nước bằng lực lượng vũ trang.

Qua phần trình bày trên đây, chúng ta nhận thấy công lao chiến đấu gian khổ của biết bao nhiêu thế hệ Việt Nam từ cuối thập niên 1858, liên tục nối tiếp nhau theo để đánh đuổi liên Minh Thánh Xâm Lăng Pháp – Vatican để giành lại chủ quyền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ cho dân tộc. Lớp người trước ngã xuống, lớp người sau tiến lên, cho mãi đến năm 1954, sắp sửa thành công, thì bỗng dưng Vatican lại cấu kết với siêu cường Hoa Kỳ. Thế lực mới này đã phỗng tay trên một nửa nước và đặt dưới quyền thống trị của họ .

Với tình trạng bị ức hiếp như vậy, làm sao nhân dân Việt Nam nói chung, và miền Bắc nói riềng, lại có thể ngồi yên bất động để cho đất nước tiếp tục bị phân chia, để cho một nửa vẫn còn nằm trong tay của kẻ thù bất cộng đái thiên của dân tộc là Vatican và bọn Việt gian Da-tô hoành hành tác oai tác quái?

Do đó, chúng ta có thể khẳng định rằng đứng trên lập trường dân tộc, miền Bắc phát động cuộc chiến thống nhất đất nước là thi hành sứ mạng cao cả của lịch sử và đáp lại được khát vọng thống nhất của dân tộc. Đó là việc mà bất cứ quốc gia nào nếu chẳng may ở vào tình trạng như Việt Nam lúc bấy giờ cũng phải làm như vậy. Vì bối cảnh lịch sử Việt Nam của chúng ta hoàn toàn khác hẳn với bối cảnh lịch sử của nước Đức và nước Triều Tiên, chúng ta không thể đem việc nước ta bị chia đôi để so sánh với việc chia đôi của hai quốc gia này. Làm như vậy chẳng hóa ra chúng ta đã đánh đồng một cách vô ý thức lắm sao!


[1] Nguyễn Mạnh Quang, Đệ Nhị Thế Chiến Và Chiến Tranh Lạnh (Tacoma, WA: Public Schools, 1994), tr. 280-286.

(xem tiếp phần III : NỘI TÌNH CÁC NƯỚC SAU KHI QUÁ PHÂN) à
 

© Copyright 2006 giaodiem.com

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com