giaodiem copyright
          posted: 16.6.2006
      Nguyễn Mạnh Quang | bài 3
 
KHI NHÀ VĂN NÓI CHUYỆN LỊCH SỬ
MỘT SỐ SAI LẦM CỦA NHÀ VĂN
NGUYỄN NGỌC NGẠN
TRONG NHỮNG LỜI TUYÊN BỐ
VỀ LỊCH SỬ
 
PHẦN A
LỜI TUYÊN BỐ CỦA ÔNG NGẠN
TRONG CUỐN BĂNG PARIS BY NIGHT SỐ 81
 

(tiếp theo) 

III.- NỘI TÌNH CÁC NƯỚC
ĐỨC, NAM HÀN VÀ MIỀN NAM VIỆT NAM
 

Sau khi bị qua phân, nội tình của ba nước Đức, Nam Hàn và miền Nam Việt Nam cũng hoàn toàn khác nhau. Phần trình bày dưới đây cho ta thấy rõ sự kiện này:

A.- NỘI TÌNH TÂY ĐỨC

Vào năm 1948, Nga Xô ra lệnh phong tỏa thành phố Berlin khiến cho tình hình thế giối trở nên vô cùng căng thẳng, nhưng rồi vấn đề này cũng được giải quyết. Dù sao thì tình trạng này cũng khiến cho các tam cường Mỹ, Anh và Pháp phải lo ngại, không biết lúc nào Nga Xô lại làm cho tình hình nghiêm trọng nữa! Vì lẽ này mà tam cường quốc Anh, Mỹ Pháp đồng thuận phải nhẹ tay đối với Đức với hy vọng tạo nên một nước Đức đủ sức tự cường về kinh tế và đủ mạnh về chính trị bằng cách hợp nhất ba vùng nằm dưới quyền quản trị của họ thành một vùng gọi là Tây Đức. Tây Đức được tổ chức bầu cử để chọn người vào Quốc Hội Lập Hiến, soạn thảo hiến pháp giống như hiến pháp của các nước dân chủ Tây Phương và Bắc Mỹ, nghĩa là cũng có điều khoản “tôn giáo tách rời khỏi chính quyền”. Nói cách khác, tức là không có vấn nạn Giáo Hội La Mã với tình trạng tu sĩ và tín đồ Da-tô tác oai tác quái, thao túng chính quyền. Nhân viên lãnh đạo chính quyền cũng như dân biểu trong quốc hội Tây Đức do nhân dân Tây Đức tuyển chọn qua các cuộc bầu cử dân chủ công bằng và bỏ phiếu kín, theo từng nhiệm kỳ như đã quy định trong hiến pháp của họ.

Nhờ vậy mà tại Tây Đức, không có một ông giám hay mục sư hoặc ông tu sĩ nào ngồi bên cạnh ông thủ tướng trên khán đài vào những khi có đại lễ hay quốc lễ. Các ông thống đốc các tiểu bang và các ông tỉnh trưởng, quận trưởng tại các địa phương khi mới đến nhậm chức không phải trình diện một ông lãnh chúa áo đen hay ông mục sư nào cả.  

B.- NỘI TÌNH NAM HÀN

Sau khi chiến tranh Triều Tiên chấm dứt vào ngày 27/7/1953, Nam Hàn trở thành một căn cứ quân sự của Hoa Kỳ và chính quyền Nam Hàn dồn nỗ lực vào việc củng cố chính quyền. Trong mấy năm đầu, Nam Hàn nằm dưới quyền lãnh đạo của Tổng Thống Lý Thừa Vãn. Cả cá nhân và chính quyền Lý Thừa Vãn đều có những sai lầm trầm trọng khiến cho nhân dân Nam Hàn nổi lên chống đối. Cuối cùng chính quyền Lý Thừa Vãn bị lật đổ vào ngày 27/4/1960. Sau đó, Nam Hàn cũng rơi vào tình trạng nằm dưới ách thống trị của bọn quân phiệt. Nhưng nhân dân Nam Hàn còn có may mắn:

1.- Các nhà lãnh đạo chính quyền và các vị tướng lãnh trong quân đội không phải là những tên Hàn gian đã từng làm tay sai cho quân xâm lăng Nhật trong thời Nhật chiếm đóng cho đến khi Nhật đầu hàng vào ngày 15/8/1945.

2.- Không có vấn nạn Giáo Hội La Mã, nghĩa là không có vấn nạn tu sĩ và tín đồ Da-tô thao túng chinh quyền, hà hiếp nhân dân và cướp đoạt tài nguyên quốc gia, bòn rút của công để làm của riêng và công hiến cho Giáo Hội La Mã. Nói một cách khác là chính quyền Nam Hàn tuyệt đối không có chủ trương bơi ngược dòng lịch sử, thiết lập chế độ đạo pphiệt Da-tô như các nước Âu Châu trong thời Trung Cổ.

3.- Không có những vụ tẩu tán tài sản, tiền bạc chuyển ra ngoại quốc như ở miền Nam trong những năm 1954-1975.

C.- NỘI TÌNH MIỀN NAM VIỆT NAM

1.- Dù là được khoác cho danh xưng Việt Nam Cộng Hòa hay là gì đi nữa, trong thực tế, miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 vừa là thuộc địa của Hoa Kỳ (đuợc Hoa kỳ dùng làm tiền đồn ngăn chặn làn sóng Cộng Sản theo nhu cầu chiến lược của Hoa Kỳ), vừa là thuộc địa của Vatican (với các nhân vật lãnh đạo chính quyền đều là tín đồ Da-tô do Tòa Thánh Vatican chọn lựa, hay do các vị tu sĩ Da-tô có thế lực ở Việt Nam đưa lên,) ngoại trừ trong một thời gian ngắn từ 1/1/1963 đến ngày 19/6/1966.  Vì là thuộc địa của Vatican, miền Nam mới có vấn nạn Giáo Hội La Mã với thảm trạng tu sĩ và tín đồ Da-tô thi nhau những lạm công quyền, tác oai tác quái, bách hại đại khối nhân dân thuộc các tôn giáo khác. Những người "biệt phái" này nắm độc quyền các phương tiện sản xuất và kiểm soát tất cả mọi phạm vi sinh hoạt trong xã hội để bốc hốt, cướp đoạt tài sản quốc gia, gồm cả kinh tài bất chính, áp bức, bóc lột nhân dân bằng trăm phương ngàn kế và tẩu tán của cải tiền bạc ra ngoại quốc, ăn bớt tiền ngoại viện, chuyển tiền ra ngoại quốc, đi đường vòng để rồi chuyển về nhà kho của nước Chúa nằm ở trên một ngọn đồi bên ven bờ Địa Trung Hải (xin xem các dữ kiện ghi trong đoạn 4 của mục C này).

2.- Chính quyền Việt miền Nam do Hoa Kỳ dựng nên và nuôi dưỡng từ ngày được cho ra đời vào tháng 7/1954 cho đến ngày bị khai tử vào ngày 30/4/1975. Trong thời gian này, tất cả các cơ quan chính quyền cũng như trong quân đội đều do Hoa Kỳ trực tiếp hay gián tiếp quản lý. Tất cả mọi khoản tiền chi phí cho mọi thứ từ đồ trang bị trong các văn phòng, cho đến việc thiết lập các cơ sở, trả lương hàng tháng cho các nhân viên chính quyền từ ông tổng thống cho đến các anh tùy phái hay lao công trong công sở cũng như từ ông đại tuớng nắm giữ cbức vụ tổng tham mưu trưởng cho đến anh binh nhì vô danh tiểu tốt trong quân đội đều do Hoa Kỳ đài thọ và tất cả những người này đều có tên trong sổ lương của Hoa Kỳ.

3.- Cái nhìn của nhân dân đối với những người lãnh đạo của chính quyền miền Nam Việt Nam.- Những người được Hoa Kỳ và Vatican đưa lên cầm quyền ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 hoàn toàn khác hẳn với các nhà lãnh đạo chính quyền Tây Đức và chính quyền Nam Hàn. Cả ba ông lãnh đạo miền Nam trong những năm này là Bảo Đại, Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu. Cả ba người này đều là tín đồ Da-tô và đều do sự sắp đặt của Giáo Hội La Mã (trường hợp hai ông Bảo Đại và Ngô Đình Diệm) hay của các vị tu sĩ Da-tô có quyền thế tại Việt Nam (trường hợp Nguyễn Văn Thiệu) với sự đồng thuận của Pháp hay của Hoa Kỳ. Cả ba ông này đều có thành tích đã từng là Việt gian phản quốc làm tay sai đắc lực cho Liên Minh Xâm Lược Pháp Vatican từ trước năm 1945 (trường hợp Bảo Đại và Ngô Đình Diệm) hay trong thời Kháng Chiến 1945-1954 (trường hợp Nguyễn Văn Thiệu). Dưới mắt người Việt Nam và nhân dân thế giới, cả ba ông này đều bị coi là những tên Việt gian đầu sỏ làm tay sai cho liên quân giặc xâm lăng và đều bị khinh rẻ. Vì cả ba ông này đều là tín đồ Da-tô và đều do sự sắp đặt của Giáo Hội La Mã hay tu sĩ Da-tô đưa lên cầm quyền, cho nên miền Nam Việt Nam mới có “Vấn nạn Giáo Hội La Mã”. Trong khi đó, tại Tây Đức, các vị lãnh đạo của chính quyền Tây Đức là do nhân dân Đức tuyển chọn qua một cuộc bầu cử được tổ chức theo đúng như các quộc bầu cử tự do, bỏ phiếu kín tại các nước tự do khác ở Bắc Mỹ và Tây Âu. Tại Nam Hàn, các nhà lãnh đạo được chọn đưa lên cầm quyền cũng gần giống như các lãnh đạo Tây Đức.

4.- Vấn nạn Giáo Hội La Mã: Vấn nạn Giáo Hội La Mã chỉ xẩy ra ở những nước bị áp đặt theo chế độ đạo phiệt Da-tô, nghĩa là tại các quốc gia mà Tòa Thánh Vatican đã xoay sở đưa được tín đồ Da-tô tin cẩn lên nắm chính quyền làm tay sai cho Giáo Hội. Đây là trường hợp của Croatia trong những năm 1941-1945, miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975, v.v… Nói đến vấn nạn Giáo Hội La Mã là phải nói đến các đặc điểm chính sau đây:

a.- Chủ trương “thần quyền chỉ đạo thế quyền” và thi hành “chính sách bất khoan dung” của Giáo Hội La Mã. Chủ trương này đưa đến việc phải thiết lập chế độ đạo phiệt Da-tô bằng bộ máy cảnh sát trị với những tổ chức cảnh sát, công an, và mật vụ như thiên la địa võng Tại miền Nam Việt Nam, thực trạng này được sử gia Joseph Buttinger ghi lại rõ ràng ở trong cuốn Việt Nam: A Dragon Enmbattled rằng, ở miền Nam Việt Nam trong thời Đệ Nhất Công Hòa có tới 13 tổ chức công an và mật vụ khác nhau (Joseph Buttinger, Việt Nam:A Dragon Enmbattled (New York: Frederick A, Praeger, 1967). Trong cuốn Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi (Westminster, CA: Văn Nghê, 1993, Cụ Đỗ Mậu cũng nói đến các tổ chức công an, mật vụ này ở trang 645. Các tổ chức công an mật vụ này là công cụ cho chính quyền thi hành “chính sách bất khoan dung” bằng bạo lực đối với đại khối nhân dân thuộc các tôn giáo khác.

b.- Về việc thi hành chính sách bất khoan dung bằng bạo lực đối với những nhóm dân thuộc các tôn giáo khác đưa đến việc tàn sát người tập thể bằng trăm phương ngàn kế. Tại miền Nam Việt Nam, chỉ trong thời gian 1954-1963, con số nạn nhân bị sát hại lên đến hơn 300 ngàn người. Độc giả có thể kiểm chứng sự kiện này qua các cuốn sách (1) Đảng Cần Lao của tác giả Chu Bằng Lĩnh (San Diego, CA: Mẹ Việt Nam, 1993, tr. 133), (2) Thập Giá và Lưỡi Gươm của Linh-mục Trần Tam Tỉnh (Paris: Sudestasie, 1978), tr.130-131) và Vịetnam why did we go? của tác giả Avro Manhattan (Chino, CA: Chick Publication, 1984, tr. 117, (4) Nói Chuyện Với Tổ Chức Việt Nam Cộng Hòa Foundation của Nguyễn Mạnh Quang (Houston, TX: Đa Nguyên, 2004), tr. 126-133.

Việc tàn sát người dân thuộc các thành phần tôn giáo khác trong chế độ đạo phiệt Da-tô không phải chỉ xẩy ra ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1963. Việc làm dã man như vậy của Giáo Hội La Mã đã từng xẩy ra trong suốt thời Trung Cổ cũng như trong thời Đệ Nhị Thế Chiến (1939-1945) ở Croatia vào những năm 1941-1945 (trước miền Nam Việt Nam) và ở Rwanda (Phi Châu) vào năm 1994 (sau miền Nam Việt Nam). Sự kiện này chứng tỏ rằng ở bất kỳ thời đại nào và ở bất kỳ nơi nào, hễ có một tín đồ Da-tô của Giáo Hội La Mã lên cầm quyền, thì việc thiết lập chế độ đạo phiệt Da-tô và tàn sát những nhóm dân thuộc các tôn giáo khác là điều tất nhiên không thể nào tránh được.

Việc Giáo Hội tàn sát các sắc dân thuộc các tôn giáo khác ở Croatia trong những năm 1941-1945 được sử gia Avro Manhattan ghi lại như sau:

"Trong thời kỳ Croatia là quốc gia độc lập và lấy đạo Da Tô làm quốc giáo, có trên 700 ngàn đàn ông, đàn bà và trẻ em bị giết hại. Nhiều người bị hành hình, bị tra tấn, bị bỏ cho chết đói, bị thiêu sống và thiêu cho đến chết. Hàng trăm người bị cưỡng bách phải theo đạo Da Tô (Thiên Chúa La Mã). Các ông linh-mục của Giáo Hội La Mã làm quản giáo tại các trại tù tập trung; nhiều tu sĩ khác của Giáo Hội là sĩ quan trong các đơn vị quân đội đã phạm tội ác tàn bạo. 700 ngàn trong tổng số dân có mấy triệu người tức là khoảng 1/3 dân số bị các đoàn lính dân quân Da Tô giết hại." Nguyên văn: During the existence of Croatia as an independent Catholic State, over 700,000 men, women and children perished. Many were executed, tortured, died of starvation, buried alive, or were burned to death. Hundreds were forced to become Catholic. Catholic padres ran concentration camps; Catholic priests were officers of the military corps which committed such atrocities. 700,000 in a total population of a few million, proportionally, would be as if one-third of the USA population had been exterminated by a Catholic militia.” [1]

Việc Giáo Hội tàn sát người ở Rwanda vào năm 1994 được các cơ quan truyền thông ghi nhận và tường trình khá đầy đủ. Dưới đây là nguyên văn bản tin nói về vụ tàn sát này viết bằng tiếng Anh có tựa đề là “Influence of Roman Catholic Church in Acquittal of Rwandan Bishop Debated” lấy ra từ (http://www.christianitytoday.com/ct/2000/125/23.0.html) ngày 29/5/2006 trong đó có mấy đoạn quan trọng với nguyên văn như sau:

Hơn 800 ngàn người, phần lớn là người Tutsis và một số người Hutus ôn hòa, bị tàn sát vào năm 1994. Nhiều nguời sống sót đứng ra tố cáo nam nữ tu sĩ của Giáo Hội La Mã đã chủ mưu trong vụ tàn sát này. Giám-mục Misago là viên chức cao cấp nhất của Giáo Hội bị truy tố. Ở Rwanda, đạo Kitô La Mã là chính.

Narcisse Musoni, quyền Tổng Thư Ký quỹ viện trợ những người sống sót trong vụ diệt chủng này nói rằng nếu không thay đổi bản án tuyên bố vô tội của bị cáo, thì “sẽ là nguyên nhân cho mối nghi ngờ hệ thống tư pháp của chúng ta.”

Mutagwera phàn nàn rằng “cái lối xử lý vụ án diệt chủng này làm hủy hoại hệ thống tư pháp của đất nước chúng ta.”

Mutagwera nói rằng việc đưa ra những lá thư của giáo hoàng có thể làm cho tòa án thiên lệch và xử lý có lợi cho Giám-mục Misago. Tu sĩ Augustin Musada, Tổng Thư Ký của Hội Nghị Kitô La Mã ở Rwanda thì nói rằng điều ngạc nhiên là nếu giáo hoàng “đã không biểu lộ tình liên đới.” Một hậu quả của việc xử án bất công này đã được nói rõ trong tờ New York Times:

KIGALI, Rwanda khi 800,000 Tutsis bị sát hại trong một cuộc tàn sát cách đây 10 năm vào tuần lễ này, nhiều người Rwanda không những mất niềm tin nơi chính quyền của họ mà còn mất luôn cả niềm tin đối với tôn giáo của họ nữa. Ngày nay, ở đất nước mà phần lớn là dân theo đạo Da-tô, đạo Hồi lại là tôn giáo phát triển mau nhất..”

Nguyên văn: “More than 800,000 people, most of them Tutsis and some moderate Hutus, were killed in fighting in 1994. Many survivors have accused priests and nuns of the Roman Catholic Church of complicity in the killing. Bishop Misago was the highest-ranking Catholic charged. Rwanda is primarily Catholic.

Narcisse Musoni, acting general secretary of the Genocide Survivors assistance fund, said if the acquittal is not reversed, "there would be cause to doubt our judiciary."

"The manner in which the justice system is handling genocide cases is destroying our country's justice system," Mutagwera complained.

Mutagwera said the introduction of letters from the pope may have biased the court in favor of Bishop Misago. It would have been surprising if the pope "had not shown solidarity," said the Rev. Augustin Musada, general secretary of the Rwandan Catholic Episcopal Conference. One effect of this injustice has been pointed out in the New York Times:

KIGALI, Rwanda When 800,000 of their Tutsi countrymen were slaughtered in a massacre that began 10 years ago this week, many Rwandans lost faith not only in their government but also in their religion. Today, in what is still a predominantly Roman Catholic country, Islam is the fastest-growing religion.”[2]

Vụ tàn sát dã man này cũng được tờ The News Tribune phát hành ngày Thứ Sáu 15 tháng 7/2005 ghi lại nơi trang A4 ở dưới tấm hình Bà Đệ Nhất Phu Nhân Laura Bush và ái nữ Jenna Bush của bà ôm hai em bé Rwanda với đọan văn dưới đây:

Bà Laura Bush và ái nữ Jenna ẵm hai em bé Rwanda trong giờ lễ trong nhà thờ ở Kigali, Rwanda vào ngày Thứ Năm (14/7). Trong chuyến tham quan này, Bà Bush thuyết phục người Rwanda đừng thất vọng và cố gắng hàn gắn vết thương về nạn diệt chủng ở đất nước họ. Trong năm 1994, dân quân Hutu đã sát hại tới 800 ngàn người thuộc nhóm thiểu số Tutsis và những người Hutu ôn hòa. Bà Laura Bush đã dùng thì giờ đẩy mạnh phương cách để Hoa Kỳ giúp Rwanda trong vấn đề chữa trị những bệnh nhân mắc bệnh sida (AIDS) và vấn đề giáo dục các trẻ em con gái.” (“Laura Bush and her daughter Jenna hold HIV-positive Rwanda children at a church service in Kigali, Rwanda, on Thurday. During her visit, the first lady urged Rwandans not to lose hope as they try to heal the pain of their country’s genecide. In 1994, Hutu militias shot and hacked to death 800.000 minority Tutsis and moderate Hutus. Laura Bush also spent time promoting ways the U.S. is helping Rwanda, such as assisting with the treatment of AIDS patients and helping girls an education.”)

So với con số nạn nhân bị các chính quyền đạo phiệt Da-tô sát hại ở Croatia và ở Rwanda, chúng ta thấy con số nạn nhân bị chính quyền đạo phiệt Da-tô Ngô Đình Diệm sát hại trong những năm 1954-1963 ít hơn rất nhiều, ít hơn một nửa (50%). Tuy nhiên, không phải chính quyền đạo phiệt Da-tô Ngô Đình Diệm và tín đồ Da-tô người Việt hiền lành hay nhân đạo hơn chính quyền ở Croatia và ở Rwanda, mà là vì các lý do sau:

1).- Miền Nam Việt Nam và chính quyền Da-tô Ngô Đình Diệm là do Hoa Kỳ tạo dựng nên, cho nên Hoa Kỳ có trách nhiệm về những việc làm của chính quyền này. Đây là cái trách nhiệm con dại cái mang. Vì thế mà Hoa Kỳ phải ngăn chặn những hành động quá trớn của đứa con mà Hoa Kỳ đã sinh đẻ ra nó.  

2).- Sự hiện diện của Toà Đại Sứ Hoa Kỳ, Phái bộ CIA, các phóng viên báo chí quốc tế và hơn 16 ngàn cố vấn Mỹ ở miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ đã làm cho chính quyền Ngô Đình Diệm, các ông giám mục, linh mục và giáo dân người Việt phải dè chừng, không dám công khai tàn sát nhân dân miền Nam một cách quá lộ liễu và trắng trợn. Dù vậy, chế độ đạo phiệt Da-tô Ngô Đình Diệm cũng đã sát hại tới hơn 300 ngàn người.

 Giang sơn dị cải, bản chất nan di. Trừ phi họ đã thức tỉnh như Phong Trào Lý Trí (Age of Reason, 1500-1789) ở Âu Châu, như bác sĩ Nguyễn Văn Thọ, Giáo-sư Lý Chánh Trung, Linh-mục Trần Tam Tỉnh, học giả Charlie Nguyễn (Bùi Văn Chấn), nhà báo Phạm Hữu Tạo, v.v…, bản chất cuồng tín và chủ trương tàn sát những người thuộc các tín ngưỡng khác của Giáo Hội La Mã và tín đồ Da-tô ngoan đạo ở bất cứ nơi nào cũng vẫn nguyên vẹn. Vì thế mà Giáo Hội La Mã và tín đồ Da-tô ngoan đạo (cuồng tín) người Việt trong những năm 1954-1975 ) vẫn hung hãn, háo chiến, tham tàn, huênh hoang, và ác độc giống như Giáo Hội La Mã và tín đồ Da-tô ở Tây Ban Nha và các nước khác ở Âu Châu trong thời Trung Cổ.  Cứ nhìn xem bản chất cuồng tín của tín đồ Da-tô người Việt qua những thái độ lố bịch trịch thượng đối với những người đồng hương khác tôn giáo, cũng như những ngôn ngữ và hành động thô bạo của họ ở Bắc Mỹ từ năm 1975 cho đến ngày nay. Cứ nhìn vào các "bảng phong thần" do các con chiên ngoan đạo (ông Da-tô Matthiew Trần (Houston, Texas) là một trường hợp) đã công bố và phổ biến trong các diễn đàn thư tín từ mấy năm nay,… chúng ta cũng có thể nhìn ra thảm cảnh của nhân dân miền Nam nằm dưới ách thống trị tham tàn và bạo ngược của các chính quyền đạo phiệt Da-tô trong những năm 1954-1975. Hãy lấy việc sử gia Bernard B. Fall nhận xét dưới đây về đặc tính cuồng tín của ông Ngô Đình Diệm, chúng ta sẽ thấy điều nhận xét trên đây không sai một chút nào cả.

"Tính hiếu chiến của ông Ngô Đình Diệm thuộc loại như thế này: Lòng tin đạo đã biến ông ta thành con người hiếu chiến đến độ tàn nhẫn như một vị Đại Pháp Quan của Tòa Án Dị Giáo trong thời Trung Cổ ở Tây Ban Nha. Quan điểm của ông ta về chính quyền là hình ảnh của một bạo chúa theo truyền thống quan lại phong kiến hơn là hình ảnh của một tổng thống theo hiến định của một nước cộng hòa. Một người Pháp theo đạo Kitô La Mã khi nói chuyện với ông ta cố ý cao giọng những tiếng "tín ngưỡng của chúng ta" thì ông ta thản nhiên trả lời rằng: "Ông biết mà, tôi tự coi tôi như là một tín hữu Kitô La Mã giống như người Kitô Tây Ban Nha," có nghĩa ông ta là một đứa con tinh thần (của Giáo Hội La Mã) với niềm tin hung hăng, dữ tợn và hiếu chiến hơn là một tín đồ dễ dãi và khoan dung giống như người Pháp theo đạo Kitô La Mã."

("Ngo Dinh Diem's militancy is of that kind: His faith is made less of the kindness of the apostles than of the ruthless militancy of the Grand Inquisitor; and his view of government is made less of the constitutional strength of a President of the republic than of the petty tyranny of a tradition-bound mandarin. To a French Catholic interlocutor who wanted to emphazise Diem's bond with French culture by stressing "our common faith," Diem was reported to have answered calmly: "You know, I consider myself rather as a Spanish Catholic," i.e., a spiritual son of a fiercely aggressive and militant faith rather than of the easygoing and tolerant approach of Gallican Catholicism.")[3]

Những sự kiện trình bày trên đây cho chúng ta thấy rằng trong tương lai, nếu vì một hoàn cảnh nào đó mà tín đồ Da-tô (Công Giáo) có cơ hội lên nắm chính quyền ở Việt Nam, chắc chắn là sẽ có cuộc tắm máu vô cùng khủng khiếp, và con số nạn nhân sẽ không giới hạn ở một vài ba triệu người mà phải lên đến hàng chục triệu người. Nạn nhân đầu tiên tất nhiên là mấy triệu đảng viên Cộng Sản và thân nhân ruột thịt của họ. Nạn nhân kế tiếp là những người đã từng tham gia hai cuộc chiến giải phóng dân tộc 1945-1954 và thống nhất đất nước 1954-1975 và thân nhân ruột thịt của họ. Kế tiếp là những người tham gia vào các phong trào chống đối chính quyền đạo phiệt Da-tô Ngô Đình Diệm trong những năm 1954-1963 và thân nhân ruột thịt của họ. Tiếp theo là những người viết sử và những người cầm bút đã từng có những bài viết hay ấn phẩm nói lên những sự thật về những việc làm dã man của Giáo Hội La Mã trong gần hai ngàn năm qua và của các chính quyền đạo phiệt Da-tô ở miền Nam trong những năm 1954-1975. Tất cả những người này đã được ông Da-tô Matthew Trần ở Houston (Texas) ghi vào sổ phong thần của ông ta rồi. Có thể có những ông Da-tô người Việt khác cũng đã thiết lập sổ phong thần tương tự.

c.- Nắm hết các phương tiện sản xuất và khống chế hết tất cả phạm vị sinh hoạt trong xã hội.- Chủ trương này của Giáo Hội La Mã đã được sử gia Malachi Martin ghi lại như sau:

Ngay từ lúc đầu, người Kitô giáo khăng khăng cho rằng tôn giáo của họ là chân lý, rằng tôn giáo của họ nói về thực tế. Họ đưa ra lập luận rằng tôn giáo của họ là một chân lý toàn cầu, rằng chỉ có Kitô giáo mới là tôn giáo đích thực. Vì thế, mọi hệ thống triết lý khác và mọi hệ thống kiến thức khác - bất kỳ ngành họat động nào của con người đều có liên hệ với chân lý – đều phải hài hòa với tôn giáo đích thực là Kitô giáo. Trái lại, đó chỉ là một hệ thống triết lý giả, một kiến thức giả. Tất nhiên là mọi tính cách đạo đức đều từ Kitô giáo mà ra. Kitô giáo thấm nhập vào tất cả mọi lãnh vực trong đời sống thế tục từ kinh tế, chính trị, tài chánh, nghệ thuật, giáo dục cho đến các cơ cấu khác trong xã hội. Tôn giáo và chính trị, tôn giáo và tài sản, tôn giáo và chính quyền, tôn giáo và nghệ thuật, tôn giáo và sự học hỏi – giữa những liên hệ cơ cấu này, không có sự chống đối nào mà không hòa giải được. Những cơ cấu này không thể tách rời được và cũng không thể giữ nó ở trong tình trạng tách rời nhau. Các vấn đề như quân sự, chính trị, tài sản, nghệ thuật và chính quyền, tất cả đều phải bị tôn giáo thống trị tuốt luốt.”

Nguyên văn: “From their beginnings, Christians insisted that their religion was true, that it did speak about reality. They drew the logical conclusion from that: that it was universally true. That there could be only one true religion. Theirs. Hence all philosophy and all knowledge - any branch of human activity that dealt with the truth – had to be, would be reconcilable with the true religion, Christianity. Otherwise, it was a false philosophy, a false knowledge. Automatically, an all embracing morality from this Christianity. It permeated all aspects of temporal life: economics, politics, finance, the arts, education, social structures. Religion and politics, religion and wealth, religion and government, religion and art, religion and learning – between these there was no irreconcilable opposition. They were not separate or to be kept separate. Military matters, matters of politics, wealth, art, government – all became dominated by religion.”)[4]

Bản văn sử trên đây cho chúng ta thấy rõ dã tâm vơ vét và bốc hốt trong hệ thống lý thuyết thần học Ki-tô của Giáo Hội La Mã. Lý thuyết thần học lưu manh như vậy đã tạo nên hoàn cảnh thuận lợi cho tu sĩ và tín đồ Da-tô thao túng chính quyền để bốc hốt. Tại miền Nam Việt Nam, trong những năm 1954-1975, chính quyền đã bị các ông tu sĩ và tín đồ Da-tô thao túng để vơ vét và bốc hốt tận tình. Dưới đây là một số những nhân vật lẫy lừng về vấn đề này mà nhân dân miền Nam trong thời bấy giờ ai cũng biết:

Bà Cả Lễ và ông Ngô Đình Cẩn nắm độc quyền cung cấp gạo cho miền Trung rồi tự ý tăng giá gạo để cắt cổ người dân, nắm độc quyền bao thầu cung cấp thực phẩm cho các trung tâm huân luyện binh sĩ, các trường sĩ quan và hạ sĩ quan trong toàn lãnh thổ. Ngoài ra, ông Cẩn còn nắm độc quyền bao thầu các dịch vụ xây cất các doanh trại cho quân đội và các cở sở của chính quyền.

Giám-mục Phạm Ngọc Chi lãnh 38 triệu đô la tiền viện trợ Mỹ để tùy nghi sử dụng.

Linh-mục Đinh Xuân Hải nổi tiếng về vụ bắt nạt dân trong vùng và ăn cướp đất của dân ở Phú Thọ Hòa (Tân Bình, Gia Định). Đó là chưa nói đến những vụ ăn cắp hàng hóa Mỹ của ông linh mục này và tay chân của ông ta. Báo chí Sài Gòn một thời gian đã tường thuật rõ ràng về việc Linh-mục Hải sai tay chân dùng thanh gỗ đóng đinh 10 phân đánh túi bụi lên thân thể một Thiếu tá phòng vệ an ninh phi cảng Tân Sơn Nhất, khi ông Thiếu tá này phát hiện ra hành động ăn cắp hàng hóa PX Mỹ , giây kẽm gai, cọc sắt từ phi trường Tân Sơn Nhất được tàng trữ tại xóm đạo của ông ta. Ông Thiếu tá Không quân này phải nằm điều trị tại nhà thương gần nửa năm trời vẫn chưa bình phục. Trong khi đó Linh mục Hải và thủ túc vẫn lên mặt vênh váo nhậu Martell với thịt cầy, tuyên bố "thằng nào không biết điều thì cứ nhìn cái gương thằng Ng.” [tên vị Thiếu tá bị hành hung]."

Linh-mục Vũ Thạch Nghi ở Bình Thủy (Cần Thơ) đồng mưu với môt ông tá Không Quân ở Bình Thủy về vụ ăn cắp một chiếc xác máy bay đem bán, bị phát giác.

Linh-mục Nguyễn Lạc Hóa nổi tiếng là một lãnh chúa áo đen ở Biệt Khu Hải Yến (Cà Mâu).

Linh-mục Tô Đình Sơn nổi tiếng trong các chiến dịch "làm sáng danh Chúa" và tàn sát hàng chục ngàn nạn nhân ở Phú Yên.

Linh-mục Nguyễn Bá Lộc, một lãnh chúa áo đen khét tiếng ở Cái Sắn về những hành động bắt nạt dân bên lương trong vùng và làm học bạ giả, rồi ép hiệu trưởng Trường Trung Học Nguyễn Trung Trực (Rạch Giá) phải ký tên ở dưới trong những học bạ này để bán cho khách hàng.

Linh mục Trần Đình Vận khét tiếng là một hung thần ở Dốc Mơ, Long Khánh về thành tích bắt nạt dân bên lương ở vung kế cận và bóc lột đồng bào, xây ngôi nhà thờ lớn nhất miền Nam Việt Nam.

Linh-mục Tông ở Chương Thiện là một trong những hung thần đối với người dân bên lương ở các vùng chung quanh.

Linh-mục Cao Văn Luận nắm độc quyền trong dịch vụ cho sinh viên xuất ngọai du học và cấp học bổng cho sinh viên du học.

Linh-mục Mai Ngọc Khuê quản nhiệm họ đạo Tân Sa Châu (Tân Bình, Gia Định) có liên hệ chặt chẽ với các tổ chức công an, mật vụ trong chính quyền đạo phiệt Da-tô Ngô Đình Diệm và cũng là người cung cấp nhân sự vào làm việc trong các tổ chức ác ôn này.

Linh-mục Trần Dzu và Linh-mục Nguyễn Quang Lãm là hai tên hung thần trong ngành báo chí, và cũng là cán bộ tuyên truyền của Giáo Hội và của chế độ.

Giám-mục Nguyễn Văn Thuận ăn cắp vỏ đồng đại bác đem bán lấy một số tiền lên đến 800,000,000 (8 trăm triệu đồng.)

Bà Ngô Đình Nhu nắm độc quyền bao thầu cung cấp quân nhu và văn phòng phẩm cho quân đội và chính quyền. Những năm 1957-1960, một cái bút chì lọai số 02 giá ở ngoài thị truờng là 02 đồng, giá thành tính với chính phủ (tiền viện trợ Mỹ) là 20 đồng.

Ông Ngô Đình Nhu và sau đó Tướng Ngô D. nắm độc quyền buôn bán thuốc phiện và bạch phiến từ miền Trung chuyển vận về Chợ Lớn phân phối.

Tướng Đỗ Cao Trí nổi danh về tội ác cướp đoạt vợ người, ăn cướp, vơ vét của dân vào những khi hành quân. Theo một nhân chứng, có lần ông Trí còn định bắt một ông Tướng Tư lệnh Sư đoàn phải nạp tiền; nhưng ông này không chịu.

Tướng Nguyễn Văn Toàn nổi tiếng về tham nhũng, được báo chí miền Nam phong cho tước "Quế Tướng quân" trong thời gian nắm Tư lệnh Sư đoàn 2. Thành tích hãm hiếp gái tơ của "Quế Tướng quân" cũng lừng danh thiên hạ.

Tướng Đặng Văn Quang nổi tiếng về việc cầm đầu đường dây buôn bán thuốc phiện và bạch phiến trong những năm sau khi ông Nguyễn Văn Thiệu được Hoa Kỳ và chân tay của Giáo Hội La Mã đưa lên làm tổng thống.

Ông Nguyễn Văn Bửu (em chồng của một người chị hay em của ông Ngô Đình Diệm), tay đầu nậu kinh tài của Đảng Cần lao, nắm độc quyền các đường hàng hải chạy trong nước và quốc ngoại, độc quyền dịch vụ khai thác quế và tôm đông lạnh. Sau năm 1963, tài sản của Bửu được Tướng Edward Lansdale ước lượng vào khoảng 400 triệu Mỹ Kim; nhưng chẳng hiểu lọt vào tay ai.

Bác sĩ Trần Kim Tuyến, Giám Đốc cơ quan mật vụ “Sở Nghiên Chính Trị và Xã Hội Phủ Tổng Thống” cũng là một tay kinh tài khác của Đảng Cần Lao ở miền Nam, có liên hệ mật thiết với dịch vụ buôn bán thuốc phiện và bạch phiến của Ngô Đình Nhu, nắm độc quyền xuất cảng lông vịt, v.v...

Vụ "Còi Hụ Long An" trong thời quân phiệt Da-tô Nguyễn Văn Thiệu đã đi vào lịch sử.

Tệ trạng tham nhũng ở miền Nam trong những năm 1954-1975 đều được rất nhiều tác giả nói đến trong các tác phẩm của họ. Đó là những ấn phẩm Thập Giá và Lưỡi Gươm Linh-mục Trần Tam Tỉnh (Paris, Sudestasie, 1978), Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi của cụ Đỗ Mậu (Wesminster, Caliifornia, Văn Nghệ, 1993), Việt Nam: Một Trời Tâm Sự của cựu Tương Nguyễn Chánh Thi (Los Alamitos, California, 1987), Công Và Tội của ông Nguyễn Trân (Los Alamitos, California, 1992), Cõi Phúc Và Giây Oan Tập Một của nhà văn J. Ngọc (Houston, TX., Văn Hóa, 1995), Nhật Ký của Đỗ Thọ (Sàigon, Đồng Nai, 1970), v.v… Rất nhiều sách báo của các tác giả người Âu Mỹ cũng nói đến tệ trạng tham nhũng ở miền Nam Việt Nam thời bấy giờ. Tình trạng bị giới tu sĩ và tín đồ Da-tô làm mưa làm gió như trên đã làm nẩy sinh ra thành ngữ “Nhất đĩ nhì cha, tam sư tứ tướng”.

5.- Những khoản tiền và của cải bất chính (1) bị nhà thờ cướp đoạt, (2) đã tẩu tán ra ngoại quốc và (3) còn rơi rớt được thu hồi lại.- Những khoản tiền bất chính có liên hệ đến bàn tay của Giáo Hội và bọn Việt gian Da-tô tay sai của Giáo Hội đã được các tác giả viết hồi ký và sử gia ghi lại trong những tác phẩm của họ. Dưới đây là một số trong những khoản tiền và của cải này:

a.- Tác giả Đỗ Mậu viết trong cuốn Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi  như sau:

"Lúc mới cầm quyền, Cẩn còn bỡ ngỡ vì vẫn mang đầu óc của một nhà phú hộ miền quê nên chỉ lo tích trữ bạc giấy 500 đồng. Nhân dịp sửa lại ngôi nhà như tôi đã nói trong một mục trước, Cẩn bèn cho xây trong phòng ngủ của Cẩn (cạnh phòng mụ Luyến) một cái hầm để chứa bạc. Hầm có kích thước bằng bề mặt cái giường của Cẩn nghĩa là độ 1m60 và 2 mét, và bề sâu quá đầu người, muốn xuống hầm phải dùng thang. Giám Đốc Bảo An Trung Phần lúc bấy giờ là Đại Tá Nguyễn Vinh kể cho tôi nghe rằng có lần Đại Biểu Trung Việt Hồ Đắc Khương, Tỉnh Trưởng Hà Thúc Luyện, và cả Vinh được Cẩn huy động vào phòng riêng để đếm bạc và cột lại thành từng bó. Tôi hỏi Vinh tại sao Cẩn lại bắt nhân viên cao cấp đến đếm bạc như vậy thì Vinh cho biết vì Cẩn tin rằng những người đã có chức quyền khi đếm bạc không ăn cắp, không thu dấu.

"Dần dấn Cẩn tỏ ra văn minh hơn, vả lại giấy bạc quá nhiều nên hầm tuy rộng mà vẫn chứa không đủ, nên Cẩn bèn mua vàng, hột xoàn, kim cương, đô la, để lưu trữ và bắt đầu có ý niệm chuyển tiền ra nước ngòai để phòng xa. Theo hồi ký của Tướng Trần Văn Đôn cho biết Cẩn đã gửi ra ngoại quốc 7 (bẩy) triệu đô la. Vào tháng 10 năm 1963, hình như ông Cẩn cảm thấy được tình hình có thể nguy ngập cho chế độ và gia đình nên Cẩn cho chuyển vào nhà thờ Dòng Cứu Thế Huế 14 (mười bốn) thùng vàng (thùng đạn quân đội), riêng Cẩn thì chỉ giữ lại một hộp hột xoàn, kim cương bên mình. Trưa ngày 1/11/1963, khi tiếng súng Cách Mạng bắt đầu nổ tại Sàigòn, Tướng Đỗ Cao Trí, lúc bấy giờ là Tư Lệnh Quân Đoàn I và là thuộc hạ thân tín của Tổng Thống Diệm, bèn ra lệnh cho Đại Tá Nguyễn Văn Mô (Tiểu Khu Trưởng Thừa Thiên) và Thiếu Tá Hiển (Chánh Văn Phòng của (Tướng) Trí "để bảo vệ an ninh cho ông Cố Vấn". Nhưng sáng Mồng Hai, khi nghe tin ông Diệm đã đầu hàng và đã xin Hội Đồng Tướng Lãnh để xuất ngoại, trung đội bảo vệ an ninh cho Cẩn lại được lệnh quay súng vào dinh thự của Cẩn. Sau vụ lật đổ chế độ Diệm, tôi vì quá bộn bề công việc chỉ nghe kể lại rằng hộp hột xoàn kim cương của Cẩn được đổ đầy một mũ sắt nhà binh, và tất cả đồ lề quý giá trong dinh của Cẩn đều về tay Tướng Trí. Tướng Đỗ Cao Trí cũng lấy lại được 7 thùng vàng trong số 14 thùng sau mấy ngày thương lượng gay go với các bề trên Dòng Cứu Thế." [5].

Mười bốn thùng vàng của Ngô Đình Cẩn gửi nhà thờ Cứu Thế là đồ ăn cướp của nhân dân miền Nam. Những tưởng rằng mang danh là nhà thờ Cứu Thế, có nghĩa là “cứu đời”, và cứu đời là phải đứng về phía những người lép vế thế cô, những người dân bị trị để chống lại cường quyền và những phường ăn cướp. Thế nhưng, nhà thờ Cứu Thế này lại toa rập với tên bao chúa Ngô Đình Cẩn, chứa chấp 14 thùng vàng ăn cắp của tên bạo chúa này rồi chiếm ½ những thùng quý kim này làm của riêng. Với hành động ăn cướp như thế, ta phải gọi cái nhà thờ này là “nhà thờ Cướp Thế” mới đúng. Người Tây Phương có câu nói “Đường nào cũng dẫn tới La Mã” (Tous les chemins menent à Rome.) Như vậy là 7 thùng vàng mà cái nhà thờ "cướp thế” này đã chiếm đoạt như đã nói ở trên sớm muộn rồi cũng chuyển về Tòa Thánh Vatican ở La Mã. Dù cho nhà thờ này có chuyển 7 thùng vàng ăn cướp này về Toà Thánh Vatican hay không, theo tinh thần “con dại cái mang”, Tòa Thánh Vatican cũng phải có trách nhiệm bồi hoàn cho nhân dân Việt Nam một số tiền tương đương với trị giá 7 thùng vàng này. Mong rằng Giáo Hoàng Benedict XVI hãy xin lỗi nhân dân Việt Nam và làm tròn cái nghĩa vụ của một người đang nắm quyền lãnh đạo hàng trăm triệu những người tự phong là “Dân Chúa” ở trên khắp thế giới để khỏi mang tiếng “Dân Chúa” thực sự chỉ là quân “ăn cướp”.

b.- Ông Bà Hoàng Ngọc Thành & Thân Thị Nhân Đức viết trong cuốn Những Ngày Cuối Cùng của Tổng Thống Ngô Đình Diệm như sau:

"Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục giao cho người tin cẩn là Sáu Tộ lo việc khai thác (gỗ rừng trong tỉnh Long Khánh và Biên Hòa); Sáu Tộ trả thuế cho Cộng Sản để được tự do khai thác và thâu lợi tức lớn. Sau khi Đức Cha Thục thuyên chuyển ra Huế làm Tổng Giám Mục, bà Nhu tiếp tục việc này. Tổng Giám Mục Thục đã gửi tiền cho một số người Việt và ngoại quốc giữ và tài sản thì cho một người đứng tên thì phải. Sau năm 1963, nhiều người lấy luôn tài sản, như một linh mục người Ý đã giữ 70 (bảy chục) ngàn Mỹ Kim mà Đức Cha Thục đã nhờ cất và bị kiện trước tòa án Ý Đại Lợi."[6]

Cả Tổng Giám-mục Ngô Đình Thục và ông Linh Mục người Ý đều là các nhà tu hành và được giáo dân coi là những người đạo cao đức trọng của Giáo Hội La Mã. Ấy thế mà hai ông tu sĩ này đem nội vụ ra tòa kiện nhau vì tiền ăn cắp. Ông Tổng Giám-mục Ngô Đình Thục ăn cắp tiền của nhân dân Việt Nam. Ông Linh-mục người Ý lường gạt lòng tin của ông Ngô Đình Thục để ăn cắp lại khoản tiền mà Ngô Đình Thục đã ăn cắp của nhân dân Việt Nam. Thằng ăn cắp Ngô Đình Thục chẳng mất gì cả. Người mất cắp là nhân dân Việt Nam. Người được hưởng thụ số tiền này là ông Linh-mục người Ý và cũng là một nhà tu hành được coi là đạo cao đức trọng của Giáo Hội. Nhục nhã thay! Người Việt Nam chúng tôi mong rằng Giáo Hoàng Benedict XVI, vì trách nhiệm "Con dại cái mang", hãy cứu xét sớm sớm vấn đề này để trả lại cho nhân dân Việt Nam những khoản tiền mà những tu sĩ và tín đồ Da-tô trước đây đã dựa vào danh nghĩa và quyền thế của Giáo Hội cũng như dựa vào các chính quyền đạo phiệt Da-tô Ngô Đình Diệm, quân phiệt Da-tô Nguyễn Văn Thiệu để ăn cắp và cướp đoạt của nhân dân Việt Nam chúng tôi.  Mong lắm thay!

c.- Ông Phạm Bá Hoa viết trong cuốn Đôi Dòng Ghi Nhớ như sau:

"Thủ tục giấy tờ xong, tôi được hướng dẫn xuống hầm của Ngân Hàng Quốc Gia. Ôi chao, mặt bằng của tầng hầm có lẽ rộng hơn mặt bằng của tầng trệt thì phải, và tôi nghĩ là nó nằm ngay dưới mặt đường "Bến Chương Dương" nữa đó. Đi một vòng rộng lớn đến chỗ cân trọng lượng... Cả 10 thoi bù qua bù lại vừa đúng 10 kí lô vàng. Xong, đến trước cái tủ sắt thật lớn, 2 nhân viên ngân hàng cùng cho chìa khóa vào và mở một lúc, lại mở thêm cái cửa bên trong nữa, một cái thùng lớn chứa đầy vàng lá óng ánh. Ông Giám Đốc nói: "Đây là 42 kí lô vàng lá do Ủy Ban Tịch Thu Tài Sản Gia Đình Họ Ngô bàn giao tháng trước đó Thiếu Tá. Và 10 kí lô vàng thoi này được đổ chung vào thùng vàng lá luôn."[7]

52 kí lô vàng này cũng là đồ ăn cắp còn vương vãi mà anh em nhà Ngô đã ăn cắp và ăn cướp của nhân dân Miền Nam. Vì Cách Mạng 1/11/1963 xẩy ra bất ngờ và thành công mau lẹ quá khiến cho anh em nhà Ngô và tập đoàn Cần Lao Công Giáo không có đủ thì giờ để tẩu tán cho hết, cho nên số vàng này mới còn có duyên với nhân dân Miền Nam Việt Nam.

d.- Trong bài viết “Thử Đánh Giá Một Vài Hành Động Trong Diễn Biến Hòa Bình của Mỹ và Vatican” đăng trong cuốn Tường Trình Cùng Đồng Bào Trong Nước, ông Phạm Tuấn viêt:

“ … Còn nhớ rằng khi chính quyền miền Nam Việt Nam còn ở trong tay những người Da-tô, chỉ nguyên ở Việt Nam không thôi, Vatican đã thu được 19 tỉ đô la do ông Ngô Đình Diệm ăn cắp được ở Việt Nam gửi cho Tòa Thánh Vatican (19 tỉ đô la vào năm 1963 nay đã thành theo giá trị của năm 1998 là 50 tỉ). Đấy là chưa kể tiền của giáo dân đóng góp. Con số này rất chính xác được vô tình tiết lộ bởi một nhân chứng sống. Đó là Trần Đ. Tr., một giáo dân Da Tô, đạo gốc thuần thành được một vị linh mục ở Khu Tư viết một bức thư giới thiệu với Ngô Đình Diệm. Tr. cầm lá thư rồi vượt tuyến vào Nam năm 1957, và được Ngô Đình Diệm trọng dụng, giao cho Tr. làm nhiệm vụ kinh tài. Sau nhiều năm mang tiền gửi sang Vatican thành công nên Diệm rất tin tưởng. Năm 1963, Tr. mang một số tiền lớn trên đường từ Sàigòn đi Vatican qua ngả Pháp, nhưng vừa đến Paris thì nghe tin Diệm Nhu chết, Tr. bèn lấy luôn số tiền đó gửi ở ngân hàng ngoại quốc và trở thành một người Việt Nam giầu nhất thế giới.

Sau mấy năm lộn xộn, một người Da Tô khác là Nguyễn Văn Thiệu được Mỹ cho lên cầm quyền, Tr. trở vể hợp tác với Thiệu và lập một hãng tầu . . ., chuyên buôn lậu, lại càng giầu thêm. Tr. có rất nhiều vợ. Mỗi bà vợ được Tr. lấy tên đặt tên cho chiếc tầu biển của Tr. Ví dụ như người vợ thứ nhất là Xuân thì đặt tên tầu là Tr. Xuân, người thứ nhì là Lê, đặt tên tầu là Tr. Lê, người thứ ba tên là Hưng thì đặt tên tầu là Tr. Hưng, v.v...

Năm 1975, Tr. di tản đến Mỹ cùng các bà vợ kinh doanh trong ngành khách sạn ở New York và mua cổ phần của các hãng máy bay, v.v... Nhờ có nhiều tiền, Tr. đã hối lộ một số viên chức Cộng Sản nên mang được mẹ từ Khu Tư sang Mỹ. Tr. tổ chức thượng thọ (99 tuổi) cho mẹ ở New York, đã đăng báo mời tất cả Việt kiều ở Mỹ tới New York dự lễ thượng thọ. Bất cứ người Việt nào muốn đến dự dù là ở từ bất kỳ nơi nào trên đất Mỹ, cho dù là những người đó không bao giờ quen thuộc, Tr. cũng mời họ, và gửi vé máy bay khứ hồi đến tận nơi cho họ. Lúc đến New York thì có sẵn nơi ăn chốn ở để chờ dự tiệc linh đình do Tr. khoản đãi. Thật là từ xưa đến nay, cả tỉ phủ Mỹ cũng không dám chơi "xộp" như Tr., vì tổ chức như vậy rất tốn kém. Cứ tính thử một người phải chi tối thiểu là 500 đô la, số người tham dự chỉ tính sơ là 500 người thôi thì tổng số tiền chi ra là 250 chục ngàn USD (Mỹ kim). Chỉ vì đồng tiền Tr. có được không phải là tiền mồ hôi nước mắt, mà là của phi nghĩa nên Tr. mới ngông cuồng như vậy. Có điều người ta chưa thấy Tr. làm một công tác từ thiện nào từ lúc đến Mỹ cho đến giờ. Thật là đau lòng khi nghĩ đến người Việt Nam nghèo khổ, không biết đến bao giờ mới khá được, mà tài nguyên của đất nước bị bọn tay sai (của người ngoại bang) ăn cắp mang ra ngoại quốc để dâng cho quan thày của chúng ở Vatican. Nghĩ đến bao nhiêu chiến sĩ hy sinh vì nước, có những người đã để lại một phần thân thể hiến dâng cho quê hương .. mà ngày nay họ vẫn sống đạm bạc, nghĩ thật là đau lòng. Nay Vatican lại dùng khoản tiền lấy được của Việt Nam trước kia để chi cho bọn tay sai trong âm mưu lật đổ chính quyền tại Việt Nam thì chẳng khác gì dùng gậy ông đập lưng ông."[8]

Tháng 10 năm 2003, trong cuốn băng video Asia 41 với tựa đề là "Mùa Hè Rực Rỡ" ra mắt những người thưởng thức ca nhạc Việt, có mục vinh danh những người Việt đã có những thành tích nổi danh. Trong số những người được vinh danh này có một nhân vât được giới thiệu là ông Trần Đình Trường, một tỷ phú kinh doanh ngành khách sạn ở Hoa Kỳ. Sở dĩ ông Trường được vinh danh là vì ông vốn là chủ tầu Trường Xuân rời Việt Nam mang theo hàng ngàn người Việt đi tị nạn vào ngày 30/4/1975. Năm 1983-1984, nước Ethiopia (Phi Châu) bị nạn đói (không biết có thảm khốc như nạn đói ở Việt Nam vào năm Ất Dậu 1945 hay không), ông đã ủng hộ quốc gia này hai cái máy bay trực thăng và một chiếc phi cơ vận tải trị giá 1.800.000 Mỹ kim. Rồi sau biến cố 11/9/2001 (hai cao ốc ở New York bi quân khủng bố không tặc Hồi Giáo làm sập), ông đã bỏ ra hai triệu (2.000.000) Mỹ kim để ủng hộ nạn nhân trong vụ khủng bố này. Không biết ông Trường này có phải là nhân vật Trần Đ. Tr. được tác giả Phạm Tuấn nêu đích danh trong bài viết mà chúng tôi đã trích dẫn mấy đoạn văn ở trên hay không. Người viết xin ghi sự kiện trên đây để độc giả nhận xét.

e.- Trong cuốn Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa Tòan Thư 1954-1963 (ấn bản 2000), nơi trang 124 có in lại bản tài liệu nói về Ngô Đình Diệm và chiếc cặp da 1 triệu mỹ kim do Tiến-sĩ Vũ Ngự Chiêu sưu tầm, nguyên văn như sau:

"Ngô Đình Diệm & Cặp Da Đựng 1 Triệu Mỹ Kim (Đại Sứ Lodge báo cáo về lời tiết lộ của Tướng Nguyễn Khánh (1964) Tư liệu Tiến-sĩ Vũ Ngự Chiêu.

Ngô Đình Diệm & Một Triệu Mỹ Kim Khi Bị Giết? Theo lời Nguyễn Khánh, khi bị giết tại Chợ Lớn, Ngô Đình Diệm có một chiếc cặp da (briefcase) đựng 1 triệu Mỹ kim. Số tiền này sau đó tàng hình. Khánh nói với Đại-sứ Cabot Lodge rằng Tướng Dương (Big) Minh đọat số tiền trên cùng với 40 kí lô vàng.

176.- Letter From the Ambassador In Vietnam (Lodge) to the Secretary of State.

Saigon , May 26, 1964

Dear Dean: This is for you, the President, Bob MacNamara, and whoever else you think needs to know. It is definitely not a subject which should get into the cable traffic. General Khanh told me on May 25 that when Diem was shot he had in his hand a brief case containing one million dollars U.S. currency "in the largest denominations". He said the General Minh took possession of the brief case and has never yet surrendered it. He added that General Minh at the same time had taken possession of forty kilograms of gold bars. I advised General Khanh not to make this public lest it shake public confidence here in all generals. He hopes that General Minh will make his exit quietly.

As ever yours,

Cabot L.

(Source: Department of State, Rank Files: Lot 72 D 192, Correspondence -I. Top Secret.)[9]

f.- Cựu Tướng Trần Văn Đôn viết trong cuốn Việt Nam Nhân Chứng như sau:

"Hai tháng sau ngày Chỉnh Lý, ông (Tướng) Khánh phái ông (Đại Tá) Lâm Văn Phát liên lạc qua bà Trần Trung Dung (cháu gọi ông Diệm bằng cậu) vào khám nói với ông (Ngô Đình) Cẩn chuyển số tiền sáu (6) triệu Mỹ Kim ông Cẩn có trong ngân hàng Thụy Sĩ qua cho ông Khánh, đổi lại ông Khánh sẽ cho một chiếc phi cơ Dakota đưa ông Cẩn đi Singapore sống tự do. Bà Trần Trung Dung yêu cầu đừng thâu băng khi bà ấy vào khám hỏi ý ông Cẩn. Sau khi nghe bà Dung trình bày, ông Cẩn không chịu giao tiền đó cho ông Khánh. Ông hỏi bà Dung có cần lấy thì ông giao. Lúc đó bà Dung sợ liên lụy nên không dám nhận. Mấy hôm sau, nhân dịp một vị linh mục ra vô làm lễ cho ông Cẩn, ông Cẩn ký giấy ủy quyền cho nhà dòng Cứu Thế số tiền đó. Trong cuốn kinh sách (kinh thánh) một giấy ủy quyền để sẵn cho ông Ngô Đình Cẩn ký tên tặng mấy triệu Mỹ Kim."[10]

Khoản tiền này là tiền ăn cắp của nhân dân Miền Nam Việt Nam. Ông Linh Mục của nhà dòng Cứu Thế này làm nghề đi tu và là tu sĩ của Giáo Hội La Mã, lại dùng kinh sách của Giáo Hội La Mã để che giấu khoản tiền bất chánh này, tức là làm ô uế cả cuốn kinh thánh của Giáo Hội La Mã. Xấu lắm! Thật là nhục nhã cho cuốn kinh thánh lại được một nhà tu hành của Giáo Hội sử dụng để làm một việc làm bất chánh, lưu xú vạn niên. Lại một lần nữa, con dại cái mang. Mong rằng Giáo Benedict XVI cứu xét việc này và trả lại khoản tiền trên đây cho nhân dân Việt Nam mà ông Linh-mục của dòng Cứu Thế đã tiếp nhận một cách lén lút và hết sức bỉ ổi.

Sự kiện ông Linh-mục của nhà Dòng Cứu Thế dùng cuốn kinh thánh Da-tô để làm bức bình phong che đậy hành vi đồng lõa trong việc ăn cắp 6 triệu Mỹ Kim do chánh phạm Ngô Đình Cẩn chủ mưu khiến cho người viết nhớ tới chuyện một ông Linh-mục Tây Ban Nha cũng sử dụng cuốn kinh thánh Da-tô để làm một việc ăn cướp rất ghê tởm và hết sức dã man. Chuyện này được sách sử This Is America’ s Story ghi lại với nguyên văn như sau:

“Hàng ngàn quan quân xúm quanh mình, vua Atahualpa (bộ tộc Inca) chễm chệ ngồi trên chiếc ngai vàng bằng vàng thiệt… Người Tây Ban Nha bèn nẩy ra ý kiến biến cải vua Atahualpa thành tín đồ Da-tô và thôi thúc ông ta tin nhận Chúa. Atahualpa lắng nghe lời vị linh-mục thuyết giảng, nhưng không một mảy may xiêu lòng. Ông ta chỉ lên mặt trời và nói rằng "Thượng Đế của ta còn đang ngự trị ở trên trời cao và đang thương mến nhìn xuống đàn con của Ngài ở dưới thế gian này." Rồi ông ta liệng cuốn Kinh Thánh mà vị linh-mục vừa mới trao cho ông ta. Thật là quá đáng đối với người Tây Ban Nha mộ đạo. Pizarro hạ lệnh khai hỏa. Vua Atahualpa kinh hoàng lặng nhìn người Tây Ban Nha ngoan đạo tàn sát hàng ngàn quần thần và quân sĩ của ông ta. Ngay khi đó, Pizarro bắt Atahualpa giam lại. Thấy người Tây Ban Nha ngoan đạo này ham muốn vàng hết sức, ông vua bị cầm tù quay ra mà cả với Pizarro để được tự do. Atahualpa đứng thẳng người vươn tay lên cao hết tầm tay của ông ta mà hứa rằng nếu được thả ra thì ông ta sẽ biếu Pizarro một số vàng có thể chưa đầy căn phòng này. Pizarro đồng ý. Những ngày kế tiếp, dân Da Đỏ lũ lượt khuân vác báu vật bằng vàng từ các lâu đài, miếu, điện đem đến chất chứa cho đầy căn phòng. Số vàng bạc châu báu này trị giá vào khoảng 15 triệu Mỹ kim. Atahualpa đã thực hiện lời hứa, nhưng Pizarro lại không hề nghĩ tới việc giữ lời hứa. Đối với Pizarro, mà cả chỉ là một cách đơn giản để dễ dàng thâu tóm được vàng của bộ tộc Inca. Sau đó, ông ta tìm cách sát hại Atahualpa bằng cách hạ lệnh cho tên lính dưới quyền bóp cổ cho chết…. Tuy nhiên, thế rồi có nhiều sự ganh ghét tị hiềm và âm mưu tranh giành chiến lợi phẩm (vàng bạc châu báu đã của ăn cướp được) trong những người Tây Ban Nha với nhau. Không bao lâu, Pizarro bị ngay chính những người đồng hương sát hại…"

Nguyên văn: “The ruler, Atahualpa, with thousands of his subjects gathered about him, sat on a throne of gold in the great square. We may well imagine that he did not fear this small band of white men with their weapons, for he had never before seen a gun. The Spaniards tried to persuade Atahualpa to become a Christian and a subject of the king of Spain. A priest talked to him through an interpreter, telling him about the Christian religion and urging him to accept the Christian God. Atahualpa listened, but was not impressed. He pointed to the sun and said, “My god still lives in the heavens and looks down upon his children.” Then he dashed to the ground the Bible which the priest had offered him. This greatly angered the religious Spaniards and Pizarro gave signal to fire. While the Inca looked on in horror from his golden throne, the Spaniards massacred thousands of his subjects. Pizarro took Atahualpa prisoner.

When the royal prisoner saw how eager the Spaniard were for gold, he made a bargain with Pizarro for his freedom. Touching the wall of a small room as high above his head as he could reach, Atahualpa promised to fill the room with gold if his captors would release him. Pizarro agreed, and during the days which followed, a steady stream of Indians entered the room with gold objects from palaces and temples. At last the room was filled. This was indeed a king’s ransom! The room contained treasure worth about fifteen million dollars in gold. Atahualpa had carried out his promise, but Pizarro had no intention of keeping his promise. For him the bargain was simply an easy way to get the Inca gold. Later on, he found an excuse to kill Atahualpa, who was strangled to death by the Spaniards….. There also was much jealous and plotting among the Spaniards themselves. Pizarro died as violently as he had lived, for he was finally assassinated by his own countrymen.”)[11]

Chuyện tu sĩ và tín đồ Da-tô ngoan đạo cướp của giết người trên đây xẩy ra vào năm 1532. Đọc bản văn sử trên đây, chúng ta thấy có một điều khôi hài là mới trước đó, một ông linh-mục cùng đi với Pizarro tay cầm Kinh Thánh, miệng đọc lời Kinh Thánh dạy và thuyết phục Atahualpa nên tin Chúa theo đạo Da-tô. Atahualpa không theo, thì chính ông linh-mục này cùng với Pizarro cướp đoạt vàng bạc châu báu của Atahualpa, rồi bóp cổ Atahualpa cho chết một cách ngon lành. Không hiểu cái đạo lý trong Kinh Thánh của Giáo Hội La Mã dạy người ta như thế nào mà các nhà truyền giáo của Giáo Hội mang Kinh Thánh đi giảng đạo và truyền đạo lại có những hành động bạo ngược và dã man đến như vậy!

Các ông tu sĩ Da-tô của Giáo Hội La Mã không phải chỉ sử dụng cuốn Kinh Thánh để diễn trò ăn cướp ở Châu Mỹ La-tinh và ở Việt Nam như đã trình bày ở trên. Ở Phi Châu họ cũng làm như vậy, sự kiện này được Tu sĩ Desmond Tutu, người chiếm giải Nobel về Hòa Bình vào năm 1994, kể lại như sau:

"Chúng tôi có đất đai và họ tới với cuốn Kinh Thánh của họ. Chúng tôi tin họ, cầm cuốn Kinh Thánh trên tay, nhắm mắt cầu nguyện. Khi chúng tôi mở mắt ra, chúng tôi có cuốn Kinh Thánh và họ có đất đai của chúng tôi."("We have our lands and they came here with their Bible. We believed in them and we pray with the Bible in our hands and our eyes closed. When we opened our eyes, we have the Bible and they have our lands.")[12]

Như vậy là cuốn Kinh Thánh Da-tô là một công cụ cho Giáo Hội La Mã và các ông tu sĩ Da-tô sử dụng để đi ăn cướp và ăn cắp tài sản của nhân dân trong các vùng bị Giáo Hội chiếu cố hay thống trị.   Nếu nội dung của Kinh Thánh chứa đầy những điều thiện thì các ngài thừa sai đã làm ngược với Kinh Thánh. Nếu nội dung của Kinh Thánh có những điều chí lý cho người ta, thì tại sao các ngài phải gạt gẫm, cưỡng ép thiên hạ như thế?

g.- Sử gia William J. Lederer viết trong sách Our Worst Enemy như sau:

"Ngoài sự tăng lên rõ rệt về số vàng dự trữ của Sàigòn, theo các mật báo viên người Thụy Sĩ và người Trung Hoa của tôi, từ năm 1956, một số người Việt Nam (quyên thế) đã chuyển 18 tỉ Mỹ kim vào các nhà ngân hàng ngoại quốc. Sau đó không bao lâu, qua một người hùn vốn kín miệng, tôi được biết bà Ngô Đình Nhu đã mua một ngân hàng lớn hàng thứ nhì tại kinh thành Paris, trả bằng tiền mặt.” (Nguyên văn: In addition to the visible increase in Saigon’s gold reserve, approximately $18 billion, according to my Swiss and Chinese informants, has been sent to foreign banks by private Vietnamese individuals since 1956. Not so long ago, Madame Nhu, through a silent partner, purchased outright the second largest private bank in Paris. For cash.”[13]

h.- Tờ Báo Văn Hóa Magazine Vol. 10, Issue # 109 – 15 Feb. – 15 Mar., 2006 đăng bài viết Paris: Tôi Gặp Đệ Nhất Phu Nhân nền Đệ Nhất Cộng Hòa, trong đó có một đoạn với nguyên văn như sau:

Bà Ngô Đình Nhu ở trong một đơn vị chung cư (apartment) của một tòa nhà mới xây gần tháp Eiffel. Nói là mới để phân biệt với những chung cư san sát ở Paris đã được xây cất cả đến vài ba thế kỷ với những đường nét hoa văn cổ kính. Chung cư của bà Nhu ở có những nét kiến trúc đương đại giống như một cái hộp khổng lồ bằng kính, có lẽ đã được tạo dưng từ 30 đến 40 năm. Bà Nhu là sở hữu chủ của hai (02) đơn vị gia cư ở trên tầng lầu thứ 11 của tòa nhà cao tầng ở khu vực có địa thế rất đẹp và đắt tiền nhất thủ đô Paris, ngay giữa cái nôi của văn hóa và chính trị thế giới. Nơi đây, một tấc đất chẳng biết giá tới mấy chục hay mấy trăm tấc vàng. Cả vùng nảy hầu như là nơi cư ngụ của các nhân viên và phái đoàn ngoại giao trên đất Pháp. Bà Nhu ở một đơn vị và cái thứ hai cho thuê để lấy tiền sinh sống.” [14]

i.- Sách Trần Lệ Xuân - Giấc Mộng Chính Trường viết:

"Chúng tôi có biết sau năm 1963, (Trần) Lệ Xuân (Bà Ngô Đình Nhu) bị kẻ lạ mặt ký chi phiếu giả lấy khoản tiền lớn 1 triệu đô la ở một ngân hàng tại Pháp (viêc này cũng y hệt như Nguyễn Văn Thiệu sau năm 1975 bị kẻ lạ mặt lấy đi mấy chục triêu đô la ở ngân hàng Thụy Sĩ). Đó là do có bàn tay của CIA nhúng vào. CIA biết rằng những kẻ có chức quyền ở các nước nhược tiểu hay để dành tiền ở ngân hàng ngoại quốc. Cho nên, sau khi một chế độ sụp đổ, CIA cho kẻ lạ mặt lấy hết số tiền mà tay sai của họ đã ký cóp từ sự ăn chặn trong số tiền viện trợ Mỹ. Chỉ có bất động sản là khó lấy lại. Vì vậy Lệ Xuân cũng còn vài bất động sản ở Pháp như rạp chiếu bóng Eden ở đại lộ Champs Elysees và ngôi biệt thự ở La Mã.

Sở dĩ người ta biết rõ số bất động sản trên là vì ký giả Francs Fitzgerald đã khui ra như sau: Bà Nhu đã biết lo xa khi tích lũy tài sản và mau chóng làm cho chúng có giá trị trên thị trường Âu Châu. Trong số nhiều bất động sản đó, bà Nhu đã làm chủ một nhà hát lớn tại đại lộ Champs Elysees ở Paris”. Còn nhà báo William J. Lederer đã viết trong cuốn Our Own Worst Enemy như sau: “Theo các mật báo viên người Thụy Sĩ và Trung Hoa của tôi báo cáo, khoảng 18 tỉ đô la được một tư nhân người Việt gửi vào các ngân hàng ngoại quốc kể từ năm 1956. Mới gần đây, qua một cộng tác viên kín, bà Nhu đã mua đứt ngân hàng tư nhân lớn thừ nhì tại Paris. Mua trả hết bằng tiền mặt!” [15]

k.- Sách The Rich Church , Poor Church viết:

"Trên nguyên tắc, hầu hết, trong thực tế, các giáo khu đều độc lập đối với Tòa Thánh La Mã về vấn đề tài chánh và quản trị tài chánh. Các ông giám mục đều có đầy đủ quyền hành trong giáo khu của họ. Là những người đại diện của Giáo Hội tại giáo khu của họ, các ông giám mục được tín nhiệm và trao cho quyền kiểm soát mọi tài sản, động sản, bất động sản, v.v... của Gíáo Hội. Dĩ nhiên, cứ 5 năm một lần, họ phải thân hành đến Tòa Thánh Vatican để tâu trình về những việc làm trong giáo khu của họ đã tiến hành như thế nào và kết quả ra sao. Họ phải giữ tình giao hảo vời vị sứ thần của Tòa Thánh ở quốc gia của họ. Ở Hoa Kỳ, vị sứ thần của Tòa Thánh Vatican cư ngụ trong thành phố thủ đô Washington. Điều đáng để ý là các ông giám mục là một nhà cai trị trong giáo khu của họ. Hàng năm, mỗi giáo khu phải gửi số tiền khổng lồ gọi là Peter's Pence về Vatican. Đây là loại thu nhập hàng năm trong toàn thể Giáo Hội. Thỉnh thoảng, Tòa Thánh Vatican lại đòi các giáo khu phải đóng góp thêm và còn đưa ra "chỉ tiêu" nữa. Trong giáo khu, vị giám mục quản nhiệm cố gắng kiểm soát vấn đề tài chánh trong nội bộ, sử dụng cả quỹ thặng dư và tất cả các tín dụng để được hưởng giá tiền lời hậu hĩ trong các dịch vụ đầu tư với các doanh nghiệp. Tuy nhiên, về công việc quán lý trong nội bộ, Tòa Thánh để cho các giáo khu được tự trị. Từ năm 1947, các dòng tu và các giáo khu đều sử dụng các cơ quan tài chánh của Tòa Thánh Vatican để đầu tư vào các dịch vụ kinh tài." (Nguyên văn: In principle and, very largely, in practice, each diocese is independent of Rome in its fiscal and monetary adminstration. Each bishop has complete power in his territory; as the official representative of the Church there, he holds in trust and controls the property of the Church - liquid asset, real estate, and so on. He must, of course, visit the Vatican every five years in order to give an account of how his diocese is doing, and he must maintain friendly relation with the pope's representatives in his country - in the United States this is the pro-Nuncio who lives in Washington. In the final account, the bishop is the business manager of his his diocese. The largest amount of money that goes to the Vatican from the diocese is Peter's Pence, an annual collection made throughout the Church. From time to time, the Vatican will require additional contributions and "quotas." Within a diocese, the bishop endeavors to control the finances of each parish, utilizing surplus funds and the overall credit rating of the diocese in order to get a favorable interest rate from investment houses. But between Rome and dioceses, the business connection is not very tight. Each diocese is, in effect, autonomous. Since 1947, both religious orders as well as diocese have made use of the Vatican' financial agencies in order to obtain the best investment possible for their funds."[16]

Những bản văn trên đây được trích dẫn từ các sách sử do các nhà viết sử chân chính biên soạn cũng như các bài viết của các vị nhân sĩ đã kinh qua những bước thăng trầm của lịch sử nước nhà từ thập niên 1940, kể cả các sách sử và bài viết của những người cồng đạo với ông Ngô Đình Diệm. Qua những bản văn này, chúng ta thấy rằng chỉ vì lòng cuồng tín tôn giáo và lòng gian tham, tàn ác mà Giáo Hội La Mã và anh em ông Ngô Đình Diệm đã sử dụng tất cả những thủ đoạn gian manh và tàn bạo để cưỡng bách nhân dân Miền Nam theo đạo Da-tô, và thi nhau trổ tài bòn rút tài sản quốc gia, bóc lột nhân dân, ăn chặn tiền ngoại viện, vơ vét cho đầy túi tham mà không cần biết đến nỗi thống khổ của nhân dân ta. Những việc làm tham tàn và bạo ngược này đã khiến cho nhân dân ta hết sức căm thù Giáo Hội La Mã và các chính quyền đạo phiệt Da-tô tại miền Nam trong những năm 1954-1975.

Tình trạng này khiến cho Hoa Kỳ cảm thấy phải có trách nhiệm vì đã tạo dựng nên chính quyền khốn nạn này. Hoa Kỳ đã dùng đủ mọi cách để khuyên răn anh em ông Ngô Đình Diệm phải sớm tỉnh ngộ, thay đổi chính sách hầu làm giảm bớt nỗi căm giận hận thù của nhân dân ta đối với chính quyền Sàigòn và Hoa Kỳ. Khốn nỗi, "ngựa quen đường cũ", một khi lòng cuồng tín đã ăn sâu vào tới tận xương tận tủy, và máu tham đã thấm vào tới lục phủ ngũ tạng rồi thì họ trở thành một thứ người mất hết lương tâm, có đầu mà không có óc, có mắt cũng như không, nhất là vào khi họ đang nắm chính quyền. Ở vào tình trạng này, chỉ còn có súng đạn mới lôi cổ họ ra khỏi chính quyền, mới có hy vọng làm cho họ tỉnh mộng, thoát ra khỏi cái đại dương ngu dốt mà Giáo Hội La Mã đã cố tình xô đẩy và dìm họ vào trong đó bằng chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ. 

Chính Tổng Thống Hoa Kỳ Kennedy gửi điện tín đề ngày 17 tháng 9 (1963) cho ông Đại Sứ Henry Cabot Lodge tại Saigon yêu cầu phải khuyên răn ông Da-tô Ngô Đình Diệm hãy trở về với lẽ phải và lương tâm mà hành động cho quyền lợi của đất nước Việt Nam. Nhưng những lời khuyên đó cũng chỉ là "nước đổ đầu vịt", không ăn nhằm gì hết. Trái lại, anh em ông Ngô Đình Diệm và bọn Da-tô gia nô lại còn bù lu bù loa cho rằng Hoa Kỳ xía vào công việc nội bộ của Việt Nam. 

Bảo rằng Hoa Kỳ xía vào chuyện nội bộ của Việt Nam thì:

- TẠI SAO trong mấy năm từ 1950 cho đến năm 1954, Giáo Hội La Mã lại cho người dẫn ông Ngô Đình Diệm sang tới tận Hoa Kỳ chầu chực, lo lót, chạy chọt và năn nỉ ỉ ôi với những người có thế lực trên chính trường cũng như trong chính quyền Hoa Kỳ để cùng với Vatican làm áp lực với chính quyền Pháp và ông Bảo Đại đưa ông Da-tô Ngô Đình Diệm về Việt Nam cầm quyền?

- TẠI SAO trong những năm 1954-1956, mỗi một việc làm, nhất cử nhất động đều phải thỉnh vấn ông Đại Tá Edward Lansdale?

- TẠI SAO khi Binh Đoàn Nhẩy Dủ của Đại Tá Nguyễn Chánh Thi tiến đến bao vây Dinh Độc Lập vào đêm ngày 10/ 11/1960, anh em ông Ngô Đình Diệm lại đánh điện yêu cầu Hoa Kỳ đem quân vào Việt Nam cứu viện?

Anh em ông Ngô Đình Diệm và bọn Da-tô gia nô có thể lừa gạt những người Da-tô ít học hay cuồng tín, chứ làm sao lừa gạt được những người hiểu biết lịch sử nhất là các nhà trí thức ở Việt Nam cũng như ở Hoa Kỳ và ở khắp mọi nơi trên thế giới!