
|
THỜI KỲ LỊCH
SỬ ĐEN TỐI VỆ ĐÀ Lời
Giới thiệu: Diệu
Như - Phan Như Diệp Sau
nhiều cuộc xâm lăng diệt chủng tàn khốc, đã tiêu hũy toàn bộ nền văn
minh vĩ đại Cổ Ấn Độ, giống người man rợ Ấn-Âu (Indo-Aryans) đã thực
sự đưa Ấn Độ vào những Thời Kỳ Lịch Sử Đen Tối, kéo dài hàng
2,500 năm, từ 1500 trước Tây lịch cho đến 1000 sau Tây lịch. Thời kỳ nầy
còn đen tối hơn cả Thời Kỳ Lịch Sử Đen Tối Ky-tô ở Âu châu. Những
nghiên cứu khoa học đã xác chứng như vậy. Trong Thời Kỳ
Lịch Sử Đen Tối nầy, thiên niên kỷ đầu, 1500 đến 500 trước Tây lịch,
được coi là khủng khiếp nhất. Những cuộc diệt chủng không còn để sót
lại bất cứ một dấu vết văn hóa xã hội địa phương, dưới bất cứ
hình thái nào. Hệ thống đẳng Cấp Xã Hội, được cưởng đặt bởi
người Ấn-Âu (Aryans), xác quyết, như những định nghĩa, rằng chỉ có giới
giáo sĩ Brahmans mới có thể và được phép
đọc và viết. Khoa học gia Ả Rập Al-Beruni xác nhận rằng,
ngay cả trong thế kỷ thứ 10, khi ông đến thăm Ấn Độ, hầu hết giới
giáo sĩ, và chỉ có họ thôi, đã mới là những người được phép ghi nhớ
kinh văn. Ông ta đã dẫn chứng chủ trương trì trệ trí tuệ trong thời Tiền
Hồi Giáo ở Ấn Độ. Người ta có thể tha thứ cho người Ấn-Âu (Aryans)
qua những “đức tin” như vậy hồi 1500 trước Tây lịch. Nhưng dựa vào
sự kiện những người Hy Lạp đầu tiên đã vào Ấn Độ từ thế kỷ thứ
3 và 2 trước Tây lịch, thì sự bảo thủ những “đức tin” cổ lỗ nầy quả đã là hết sức hẹp hoài
khắc nghiệt. Những giáo sĩ Hồi giáo có quyền thế đã ngự trị trên
Ấn Độ trong cả 1000 năm qua, nhưng nhiều hội đoàn văn hóa vẫn được
tiếp tục thành lập để cố gắng bảo thủ chứng minh sự đúng đắn của
Vệ Đà - nhất là lúc nầy những kinh điển Vệ Đà đã hoàn toàn bị đồng
hóa bởi các loại sách kinh Hồi giáo, và phần lớn đã bị cưởng bức
biến thái theo những “đức tin” lỗi thời, cố chấp về một sự sáng
tạo với một nhân vật sáng tạo, những hệ thống tổ chức thế quyền
nhân danh đại diện của nhân vật nầy ở thế gian, và tất cả những hệ
luận vô nhân đạo của nó. Tất cả những sự kiện lịch sử nầy chứng
tỏ một sự liên quan mật thiết về ý thức hệ với những gì đã xảy
ra cho nhân loại, nhất là cho các dân tộc Âu châu, Trung Đông, Nam Á, v.v. trong nhiều ngàn năm qua, dưới sự thống
trị khắc nghiệt về tinh thần lẫn vật chất của các giới giáo sĩ độc
thần nói chung, đặc biệt là qua các cuộc chiến tranh tôn giáo mà họ mệnh
danh là “Thánh chiến”, và hơn 400 năm “Tòa Án Dị Giáo” (Inquisitions)
La mã. Nhiều kinh điển
Vệ Đà chứa đầy những tín điều mê tín dị đoan, kể cả những dị
đoan mê lú tồn tại dai dẳng trong lịch sử nhiều ngàn năm của các tôn
giáo độc thần Tây phương; vi dụ, một chúa trời đầy cá tính với thuyết
sáng tạo ngu ngơ phản khoa học, trái đất là dẹp, rằng con rắn đang chống
đỡ trái đất, v.v. Trong thời buổi nầy mà người ta còn nhìn thấy nhiều
tu sĩ trong những bộ đồ cổ lỗ và không bao giờ được giặt giủ, giảng
dạy rằng những hiện tượng nhựt nguyệt thực là do quỷ dữ sa tăng “ăn”
mặt trời và mặt trăng, rằng một con voi chống đỡ trái đất làm cho
nó không bị rơi xuống (?), v.v. Đây là dấu chỉ căn bản về một loại
kiến thức hạn hẹp bảo thủ của người Ấn-Âu, tức Indo-Aryans, những
thứ kiến thức lỗi thời, rất gần với cái tâm cảnh bảo thủ, hẹp
hoài, và phản khoa học của các giới quyền chủ trương các tôn giáo độc
thần. Những niềm
tin như vậy có trong nhiều giống người tiền sử. Đến thế kỷ thứ 10
thì đáng lẽ không còn nữa, và đương nhiên là không thể tồn tại ở
thời buổi nầy, khi mà bao nhiêu viện nghiên cứu trên thế giới (nói
chung) và ở chính Ấn Độ (nói riêng) minh chứng rằng đó chỉ là những
điều dị đoan. Tôi viết bài
nầy với mục đích góp ý tham luận về: 1.
Ảnh hưởng sâm
đậm của kinh điển Tiền Hồi giáo trên nền văn hóa Cổ Ấn Độ: Tôi cố gắng
ghi lại những chứng tích lịch sử về những ảnh hưởng tiêu cực về
ý thức hệ của các tôn giáo độc thần Tây phương trên các nền văn hóa
Đông phương, mà cụ thể là sự đô hộ và đồng hóa sâu đậm của nền
văn hóa Tây phương thời Tiền Hồi giáo với “đức tin” về một “Chúa”
và sự “sáng tạo“ trên xã hội Cổ Ấn Độ qua các cuộc xâm lăng diệt
chủng của các giống người Ấn-Âu. 2.
Các loại
ngôn ngữ Cổ Ấn Độ, đã phát triển trước thời Đức Phật Thích Ca: Lịch sử chứng
minh rằng nhiều ngôn ngữ đã thực sự phát triển, kể cả văn viết đã
xuất hiện, từ lâu ngay trong thời Tiền Vệ Đà, trước xa thời Đức Phật
Thích Ca Mâu Ni. Phật Thích Ca, cũng như các thế hệ nối tiếp, đã không
dùng văn tự để phô diễn Phật pháp, không phải vì lý do “không biết
chữ” hay “mù chữ” (Xin xem mục “Vài vấn đề từ ngữ”, Illiterate
= mù chữ), nhưng có lẽ một phần vì ảnh hưởng nặng nề của các cuộc
diệt chủng trên nền văn hóa lúc đó, văn tự vẫn còn trong tình trạng
không được phổ biến; và nhất là vì các mục đích rất tâm linh, lo sợ
người đời sau chấp trước vào ngôn từ, “dĩ từ” mà làm “hại ý”,
“y ngữ” mà quên “nghĩa”. Cũng vì vậy mà trước khi nhập diệt, Phật
đã để lại một minh ngôn, “Trong hơn 45 năm thuyết Pháp, Ta chưa từng nói
lời nào!” 3.
Sơ lược lịch
sử các ngôn ngữ khác trên thế giới: Căn cứ vào
những di tích văn hóa hiện có trên thế giới, nhiều sử gia và nhà khảo
cổ đồng ý rằng, mặc dầu người ta có nhiều chứng liệu bằng chữ viết
về các ngôn ngữ Ấu châu, Trung Đông, hay Nam Á, như Hebrew, La tinh cổ xưa
hơn những di tích sử liệu về chữ viết của các ngôn ngữ Vệ Đà; nhưng
người ta cũng có nhiều chứng liệu khảo cổ để kết luận rằng nền
văn hóa, kể cả các hình thức chữ viết, Vệ Đà thực sự cổ xưa hơn
nhiều. Đi xa hơn về phương Đông, người ta hẳn không thể không kể đến
một loại ngôn ngữ khác, tiếng Trung Hoa, mà hiện thế giới còn có vô số
chứng tích về văn hóa, văn chương, xưa cổ, nhiều ngàn năm trước Tây lịch,
xa xưa hơn cả các loại ngôn ngữ dùng trong các loại kinh sách của các
tôn giáo độc thần phuơng Tây. 4.
Vài nhận xét
về ngôn ngữ máy tính: Chúng ta
không quên rằng, cho dầu là ngôn ngữ gì, cách kết câú qua sự biểu thị
bằng chữ vẫn chung nhất là những mẫu tự có tính hình tượng, và cho dầu
là các loại ký tự (characters – trong chữ Trung Hoa, . .), hay mẫu tự
(letters) La tinh a, b, c, . hay là gì đi nữa,
thì khi áp dụng vào ngôn ngữ máy tính điện tử, tất cả cũng chỉ dùng
chung một loại mẫu tự đơn sơ duy nhất, mẫu tự 0 và 1,
Âm và Dương,
Có và Không, Ngắn và Dài một lọai
mẫu tự rất quy ước mà người ta đã từng có một lịch sử xử dụng
từ lâu trong ngành truyền thông, và nhất là trong các ngành triết học Đông
phương - xin xem thêm Kinh Dịch. 5.
Chữ “Quốc
ngữ” và chữ Nôm: Trong lịch sử
truyền giáo, với quyết tâm đổi đạo, diệt chủng, tiêu diệt các nền
văn hóa khác, một phương tiện hữu hiệu nhất của các chuyên gia truyền
giáo Tây phương là xuyên tạc lịch sử, hũy hoại các ngôn ngữ địa
phương. Với quyết tâm chinh phục văn hóa cổ điển Á đông, họ đã
tích cực phát triển các loại ngôn ngữ (chữ viết) phiên âm, dùng các mẫu
tự La tinh. Mặc dầu bọn thực dân không thành công mấy ở các nơi khác,
như Trung Hoa, Nhựt Bản, Đại Hàn, . . nhưng Việt Nam phải kể là một chiến
thắng vĩ đại, một sự nghiệp lớn lao của họ; mà đó cũng phải được
ghi nhận là một thất bại nặng nề cho nền văn hóa của dân tộc chúng
ta. a.
Chữ “Quốc
ngữ” hiện nay (chữ tôi đang dùng) chỉ là một loại chữ phiên âm:
Chữ phiên âm luôn luôn có cái giới hạn của một loại ngôn ngữ không
có nguồn gốc, ngữ căn vững vàng. Khó khăn nhất về ngôn ngữ trong thời
kỳ hiện đại nầy là phải luôn luôn sẳn sàng phát triển đồng nhịp với
sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học, ngôn ngữ trên thế giới, mà chắc
chắn một ngôn ngữ mà chữ viết chỉ được đặt cơ sở trên nguyên tắc
“phiên âm” thì không thể nào thực hiện được. b.
Chữ Nhật, chữ
Đại Hàn, và chữ Hán: Vì lý do bảo
vệ nền văn hóa lâu đời (có giá trị rất cao) địa phương, và cũng vì
nhiều nhược điểm không thể vượt qua của các loại ngôn ngữ phiên
âm, Nhật, Đại Hàn là hai quốc gia tiêu biểu nhất đã giữ được phong
hóa đặc biệt của dân tộc, giữ vững dân tộc tính, và liên tục bảo
vệ được nền độc lập tự quyết. Cũng như Trung Hoa, họ củng cố được
ngôn ngữ truyền thống và phát triển theo kịp các xã hội xữ dụng những
ngôn ngữ tiến bộ của thế giới. Đó là chưa kể, trong tương lai, họ còn
có nhiều cơ sở để có thể vượt qua. c.
Chữ Nôm: Ngoài cái ý
nghĩa lịch sử dân tộc, văn hóa, tinh thần, chữ Nôm có tất cả các ưu
điểm cần thiết cho sự phát triển, tiến bộ trong tương lai, như chữ Nhật,
Đại Hàn. Chúng ta có thể thấy trước rằng, mọi sự phát triển ngộn
ngữ trong tương lai sẽ thực sự đòi hỏi những quyết tâm và hy sinh, lớn
lao và thường xuyên, mà thường một dân tộc với một ngôn ngữ chắp
vá, hậu tiến (chữ Quốc ngữ) như Việt Nam, có thể có rất nhiều rủi
ro sẽ bị bỏ lại phía sau. d.
Có phải đã đến
lúc Việt Nam phải “TRỞ VỀ VỚI DÂN TỘC”, từ bỏ loại chữ phiên
âm, gọi là “Quốc ngữ”, để trở về với chữ Nôm? Đây chắn chắc
phải là, và phải nên là, một luận đề lớn trong sự nghiệp phát triển
mà bất cứ ai có trách nhiệm với tiền đồ và tương lai của dân tộc nầy,
đều phải suy ngẫm. Lưu ý I: Bàn về chử
phiên âm “Quốc ngữ” và chữ Nôm không phải là mục tiêu của bài viết
nầy. Ở đây tôi nhân tiện, chỉ đưa ra vài nhận xét cơ bản, giản dị,
nhưng rất tích cực và trách nhiệm về những nhược điểm ngôn ngữ (chữ
viết) hiện nay chúng ta đang dùng, nhất là đối với tương lai phát triển
của nó, và những ưu điểm chắc chắn có của (một loại) chữ Nôm mà nếu
chúng ta can đảm phục hồi. Tất nhiên
tôi sẽ trở lại cố gắng góp công nghiên cứu đề tài lớn lao nầy
trong những dịp khác. Ở đây, tôi chỉ ước mong gợi lên cho quý vị có
trách nhiêm về văn hóa dân tộc vài điều suy tư căn bản, để rồi may
ra có được một sự đồng thuận mạnh mẽ, chúng ta sẽ có dịp cùng
nhau phát huy PHONG TRÀO TÁI CẢI CÁCH NẦY. Lưu
ý II:
Trong phần
“Mục đích và Nguồn gốc kinh Vệ Đà”,
khi trích thuật ý kiến của ông David
Frawley, có ý ca ngợi nguồn gốc, ý nghĩa, và giá trị khoa học (nếu có)
của các kinh văn Vệ Đà, cũng như khi ghi lại quan điểm của vài tác giả
khác, biện bát những mê tín dị đoan của những kinh điển nầy, tôi chỉ
có mục đích là để làm thêm rõ nét những mâu thuẩn và ô nhiễm sau khi
bị cưởng bách đồng hóa với các loại thần học Hồi giáo Tây phương.
Việc ca ngợi những giá trị huyền bí, hay phê phán những tín điều dị
đoan của hệ thống kinh điển và nền văn hóa nầy, hoàn toàn nằm ngoài
khuôn khổ và chủ trương của bài viết.
Vài vấn đề
từ ngữ:
Tôi đề cập đến vấn đề định
nghĩa của một vài từ ngữ thông dụng với mục đích làm sáng tỏ thêm
ý nghĩa và cách xử dụng ngôn từ, mạo muội đóng góp ý kiến rằng người
viết cần phải hết sức thận trọng trong việc xử dụng từ ngữ. Xin kể
một vài ví dụ:
*
“Chữ”, hay “chữ cái” (Letters, Characters): Bất cứ ngôn ngữ nào cũng
phải bắt đầu bằng những “ký hiệu có tính hình vẻ” làm đơn vị
cho chữ viết, dầu được gọi là “letters”, hay “characters”, hay là
gì gì đi nữa. Tập trung tất cả “chữ cái” trong một ngôn ngữ được
gọi là “Bảng chữ cái”. Trong ngôn ngữ La tinh, hệ thống nầy đuợc gọi
là “Alphabet”; trong chữ Trung Hoa, gọi là “Nét”, hay “Bộ thủ”;
v.v. hình thức có khác nhau, nhưng luôn luôn có chung một nguyên tắc. Đặc
biệt trong thời kỳ hiện đại nầy, dưới phương tiện máy tính điện tử
chung nhất, mọi thứ ngôn ngữ chung quy đều được biểu thị bằng một
hệ thống “Chữ cái” đơn giản và phổ quát, “Không”
và “có”.
*
“Mù chữ” (Illiterate – Illiteracy): “Từ” nầy không phải chỉ có một
ý nghĩa đơn thuần là “không biết chữ”! Đó là chưa kể, dầu chỉ
trong cái nghĩa đơn thuần đó thôi, “từ” cũng còn hàm chứa một giả
sử là “phải có chữ”! Trong một xã hội “không có chữ”, thì không
thể có người “mù chữ” (Vì có chữ đâu mà mù?). Ngoài ra người viết,
hay nói, phải luôn luôn thận trọng với những ý nghĩa khác (khác hơn là
ý nghĩa mà mình muốn phô diễn) của từ ngữ mình đang dùng. Vì, ví dụ,
như trong phần định nghĩa, “mù chữ” còn có nghĩa là “thất học”,
“có ít hay không có giáo dục”, “không thể đọc hay viết”. Đây là
những hệ lụy rất nguy hiễm trong việc xử dụng từ ngữ một cách thiếu
tế nhị qua các biện luận, diễn giải.
*
Vài định nghĩa theo tự điển: - (c)2000
Zane Publishing, Inc. and Merriam-Webster, Incorporated.
All rights reserved.
1let•ter \"le-tr\ n - chữ 1 : a
symbol that stands for a speech sound and constitutes a unit of an alphabet – một dấu hiệu biểu trưng cho một âm nói và
lập thành một đơn vị mẫu tự 2 : a written or printed communication
- một cách truyền thông bằng viết hay in
ấn 3 pl : literature - NỀN VĂN HỌC; also : learning - HỌC
4 : the literal meaning – nghĩa đen <the ~ of the law> 5 : a single piece of
type - một đơn vị đánh máy 2letter vb - chữ: to mark with
letters – Làm dấu bằng mẫu tự :
inscribe – GHI,
KHẮC — let•ter•er n 1word \"wrd\ n –từ 1 :
something that is said – cái được nói ra;
esp : a brief remark - một nhận
xét ngắn 2 : a speech sound or series of speech sounds that communicates a
meaning - một âm nói hay một nhóm âm nói
truyền tải một ý nghĩa; also : a graphic representation of such
a sound or series of sounds - một dạng vẻ biểu
diễn một âm hay một nhóm âm 3 : order,
command – YÊU CẦU, LỆNH 4 often
cap : the 2d person of the Trinity – ngôi
thứ 2 trong “Ba ngôi”; also : gospel – SÁCH
PHÚC ÂM 5 : news, information
– TIN, TIN TỨC 6 : promise - LỜI HỨA
7 pl : quarrel, dispute - LỜI BIỆN CẢI, TRANH CHẤP 8 :
a verbal signal - một âm hiệu: password — word•less adj 2word vb - từ: to
express in words – phô diễn lời nói:
phrase - DIỄN
ĐẠT text \"tekst\ n - bản văn: 1 :
the actual words of an author's work 2 : the main body of printed or written matter
on a page 3 : a scriptural passage chosen as the subject - , esp. of a sermon 4
: theme, topic 5 : textbook — il•lit•er•acy n. pl.-cies - sự thất học, nạn mù chữ: 1. the quality
or state of being illiterate; esp, inability to read or write 2. a mistake or crudity (as
in speaking) typical of one who is illiterate. 1.
tình trạng hay đặc tính không biết chữ; vd. Không có khả năng đọc hay
viết 2. một nhầm lẫn hay vụng về (như trong văn nói) thông thường của
một người mù chữ. il•lit•er•ate
\il-"li-t-rt\ adj – mù chữ, thất học 1 :
having little or no education – có ít hay không
có giáo dục; esp : unable to read or write – không thể đọc hay viết 2 : showing a
lack of familiarity with the fundamentals of a particular field of knowledge – chứng tỏ thiếu sự quen thuộc với những
căn bản kiến thức về một phạm trù nào đó — il•lit•er•a•cy \-"li-t-r-s\ n — illiterate n lit•er•a•ture
\"li-tr-'chur,
-t-r-, -chr\ n – văn hóa, nền văn
hóa 1 : the production of written works having excellence of form or
expression and dealing with ideas of permanent interest - sản phẩm của những công trình viết văn có
giá trị cao về hình thức hay cách diễn đạt, đối với những tư tưởng
về một giá trị có tính trường cửu 2
: the written works produced in a particular language, country, or age – (tổng hợp) những tác phẩm văn viết sáng
tác bằng một ngôn ngữ, trong một quốc gia, hay một thời đại đặc biệt
nào đó. lit•er•acy
n
- sự biết chữ:
the
quality or state of being literate - sự/đặc tính biết chữ: n. Tính, đặc tính,
tình trạng biết chữ.
lit•er•ary
adj.
– thuộc về hay liên quan đến văn học,
có văn hóa:
1.a.
of, relating to, or having the characteristics of human learning or literature - của,
liên hệ đến, hay có đặc tính văn hóa hay sự học hỏI của con người
B. BOOKISH, c. of or relating to books - của, liên hệ đến sách, knh. 2.a.
WELL-READ - ĐỌC KỶ (VÀ HIỂU), b. of or relating to authors or scholars or
to their professions - của, hay liên hệ đến, tác giả hay trường phái hay
chuyên môn của họ..
lit•er•ate
\"li-trt,
-t-rt\ adj.
- biết chữ 1 : educated CÓ GIÁO DỤC; also :
able to read and write – có thể (khả năng) để đọc và viết 2 :
literary – CÓ VĂN HÓA; also :
polished - HIỂU BIẾT, TRÔI CHẢY, lucid
– THÔNG SUỐT — lit•er•a•cy \"li-tr-s, -t-r-\ n — literate n
Theo
tự điển: The Random House Dictionary of the English language - Second Edition -
Unabridge - Copyright c 1987, by Random House, Inc., Character
n. - chữ, văn tự, ký tự, đặc tính, nhân vật,
. . 1.
a symbol as used in a writing
system, as a letter in the alphabet – một ký hiệu
dùng trong hệ thống viết, như một chữ trong vần a, b, c. - the symbols
of a writing system collectively - những ký hiệu
của một hệ thống chữ viết. 2.
a significant visual mark or
symbol - một dầu hiệu hay ký hiệu nhìn
thấy được có ý nghĩa. 3.
a style of writing or printing - một hình thức viết hay in ấn. Letter
n - chữ – dt. Hình biểu tượng, Ký hiệu, hay Chữ: 1. a symbol
or character that is conventionally used in writing and printing to represent a speech
sound and that is part of an alphabet - một ký
hiệu hay dấu hiệu biểu tượng được dùng có quy ước trong viết và in
ấn để biểu diễn một âm vận nói và là một phần của mẫu tự. 2. a piece
of printing type bearing such a symbol or character - một bộ phận (miếng) trong một loại in ấn
mang ký hiệu hay dấu hiệu như thế. Word \"wrd\ n - Từ - dt. A unit of language, consisting of one or
more spoken sounds or their written representation, that functions as a principal carrier
of meaning. Words are composed of one or more morphemes and are either the smallest unit
susceptible of independent use or consist two or three such units combined under certain
linking conditions, as with the loss of primary accent that distinguishes black’ bird
from black’ bird’. Words are
usually separated by spaces in writing, and are distinguished phonologically, as by
accent, in many languages. “Từ”
- Một đơn vị của ngôn ngữ,
gồm một hay nhiều âm nói hay cách biểu diễn bằng viết của nó, giữ
nhiệm vụ chuyển tải chính một ý nghĩa. “Từ” bao gồm một hay nhiều
đơn vị “chữ” và hoặc là một đơn vị căn bản nhỏ nhất được xử
dụng độc lập, hay gồm hai hay nhiều đơn vị như vậy, dưới những điều
kiện liên kết nào đó - như trong sự kiện ảnh hưởng của những dấu
nhấn. “Từ” thông thường được
phân cách bởi khoảng trống trong cách viết, và được phân biệt trong âm
vận bằng những dấu nhấn trên các “chữ” của nó trong nhiều ngôn ngữ. il•lit•er•acy n., pl. – cies - sự mù chữ: 1.
a lack of ability to read and
write – không có khả năng đọc hay viết. 2.
the state of being illiterate;
lack of any or enough education – tình trạng
mù chữ; không được giáo dục (education) hay không được giáo dục đủ. 3.
a mistake in writing or
speaking, felt to be characteristic of an illiterate or semiliterate person: a letter that
was full of illiteracies - sự nhầm lẫn trong
viết hay nói, tình trạng giống như một người không có học chữ hay
không biết chữ (trong một môi trường đã có chữ). il•lit•er•ate
\il-"li-t-rt\ adj - mù chữ: 1.
unable to read and write: an
illiterate group – Không thể đọc và viết
(trong môi trường đã có chữ để đọc, viết): vd. một lớp người mù
chữ. 2.
having or demonstrating very
little or no education – không có hay có rất
ít giáo dục (education) hoặc chứng tỏ như vậy. 3.
showing lack of culture, esp. in
language and literature - chứng tỏ không có văn
hóa, vd. Trong ngôn ngữ hay văn học. 4.
displaying a marked lack of
knowledge in a particular field: He is musically illiterate - chứng tỏ dấu hiệu của sự thiếu kiến thức
trong một phạm trù nào đó: vd. Hắn mù tịt về âm nhạc. 5.
an illiterate person – vd. một người mù chữ. lit•er•a•ture
\"li-tr-'chur,
-t-r-, -chr\
n - văn hóa: 1.
Writing in which expression and
form, in connection with ideas of permanent and universal interest, are characteristic or
essential features, as poetry, novels, history, biography, and essays - Các hình thức viết, ghi khắc liên hệ và để
phô diễn những ý tưởng có tính thường xuyên và vì những lợi ích có
quy ước, là những phương tiện biểu diễn những đặc tính và ý nghĩa,
như thơ phú, truyện ký, tiểu thuyết, lịch sử, diễn tả, hay tự sự. 2.
the entire body of writing of a
specific language, period, people, etc.: the literature of England – toàn bộ hệ thống của tất cả các sản phẩm
bằng viết của một ngôn ngữ, trong một thời kỳ, hay thuộc về một
dân tộc riêng biệt, v.v. vd..văn chương Anh quốc. 3.
the writings dealing with a
particular subject: the literature of ornithology - những
mô tả, văn viết về một sự kiện chuyên biệt; văn bản 4.
the profession of a writer or
author - nghề nghiệp hay nghệ thuật viết văn
của một người viết hay tác giả. 5.
literacy work or production - sự, công trình, sáng tác văn. 6.
any kind of printed material, as
circulars, leaflets or hand-bills: literature describing company products - bất cứ loại in ấn nào, như giấy tờ lưu
chuyển, tờ giấy rời, hay thư tay; bản văn mô tả những sản phẩm của
một công ty. lit•er•ary adj. -
về, hoặc liên quan đến, văn học: 1.
the quality or state of being
literate; esp. the ability to read and write – tình
trạng hay đặc tính biết chữ; như trong khả năng biết đọc và viết. 2.
possession of education: to
question someone’s literacy – có giáo dục;
vd. chất vấn về tình trạng biết chữ của một người nào. 3.
a person’s knowledge of
particular subject or field: to acquire computer literacy - kiến thức của một người nào đó về một
sự kiện gì hay một phạm trù nào; vd. để bồi đắp kiến thức về máy
tính điện tử. lit•er•ate
\"li-trt,
-t-rt\ adj
- biết chữ: 1.
able to read and write – có thể đọc và viết 2.
having or showing knowledge of
literature, writing, etc.; literary; well-read – có
hay chứng tỏ có kiến thức về văn chương, viết lách, v.v. 3.
characterized by skill,
lucidity, polish, or the like: His writing is literate but cold and clinical - thể hiện bằng văn tài, sự trong sáng, lưu
loát, hay những đặc tính tương tự; vd. Văn ông ta lưu loát nhưng lạnh lùng
và buồn tẻ. 4.
having knowledge or skill in a
specified field: literate in computer usage –
có kiến thức hay tài năng trong một phạm trù nào đó; vd. Tài tình trong vịệc
xử dụng máy tính. 5.
having an education, educated
– có giáo dục, đã được giáo dục. 6.
a
person who can read and write, a learned person - một người có thể đọc hay viết. *
Định nghĩa và giải thích vài từ vựng đặc biệt dùng trong Vệ đà: Flat
Earth - Bình Địa, Vùng đất bị
sang bằng Earth-Serpent -
Đất Thần Rắn, Vùng đất được chống giữ bởi thần-rắn-ngàn-đầu. Demonic
Eclipses - Qủy Nhựt-Nguyệt Thực,
Hai qủy nuốt trái đất và mặt trăng, dẫn tới nhựt-nguyệt thực. Trillion-Year-Old
Universe - Vũ trụ ngàn tỉ năm tuổi,
Vũ trụ có 26 ngàn tỉ năm tuổi 700,000 mile Dung
Medicine - Thuốc phân, thuốc
Ayurvedic chứa nước tiểu và phân của nhiều loại súc vật. Alcohol
Universe
- Vũ trụ rượu, Vũ trụ chứa đầy rượu. *
Vài định nghĩa theo tự điển: The Upanishad: dt. mỗi sách trong bộ kinh văn Ấn Độ giáo
viết bằng chữ Sanskrit khoảng từ năm 800 đến 200 trước kỷ nguyên, giải
thích các kinh điển Vệ Đà bằng những nghĩa ngữ huyền bí, có tính phổ
quát trong thời tiền triết học. Veda: Có 4 loại
kinh Vệ Đà. Rig Veda, Sama Veda, YajurVeda, và Atharva Veda (Sanskrit) Rig
Veda: Ấn Độ giáo, những kinh
điển cổ xưa và căn bản nhất, một tập hợp của 1,028 bài “thánh vinh”
được sáng tác trong thiên niên kỷ thứ 2 trước kỷ nguyên bằng tiếng
Sanskrit cổ. A-thar-va
Veda: Ấn Độ giáo, một tập hợp của những
bài ca và những xướng ngôn thờ phượng, viết bằng chữ Sanskrit cổ và
sau nầy được thêm vào trong hệ thống Vệ Đà và Ấn Độ giáo ngày nay. Pa-li: dt. một ngôn ngữ Ấn Độ, liên hệ gần gủi
với Sanskrit, được dùng trong các kinh sách Phật giáo Tiểu thừa. Pali được
phát triển ở bắc Ấn Độ trong các thế kỷ từ 5 đến 2 trước kỷ
nguyên. * Vài
định nghĩa theo Tự điển: Merriam Webster’s
Collegiate Dictionary – Tenth Edition: Aryan adj. belonging to the people speaking an
Indo-European dialect who migrated into northern Aryan
n. 1. a member of the Indo-European speaking
people early occupying the Iranyan plateau or entering Indo- combo form 1. Indo-Aryan n. 1. a member of one of the peoples of India of
Aryan speech and physique 2. one of the early Indo-European invaders of Indo-Aryan adj. thuộc nhóm, những dân
tộc nói, ngôn ngữ Ấn-Âu Indo-European adj. of, relating to , or constituting the
Indo-European languages - của, liên hệ với,
hay là thành phần lập nên các ngôn ngữ Ấn-Âu Indo-European n. Indo-European
languages n. pl. a family of languages
comprising those spoken in most of Europe and in the parts of the world colonized by
Europeans since 1500 and also Persia, the subcontinent of India, and some of other parts
of Asia - họ các ngôn ngữ gồm những ngôn
ngữ ở hầu hết Ấu châu, và những phần trên thế giới bị người Âu
châu chiếm làm thuộc địa từ 1500, và kể cả vùng vịnh, các tiểu lục
địa của Ấn Độ, và một số vùng khác của Ấ châu Vedic: tt. Thuộc về kinh Vệ Đà, hay ngôn ngữ viết
các loại kinh điển nầy, lịch sử hay văn hoá Ấn Độ giáo giữa thế kỷ
15 và 5 trước kỷ nguyên. Sơ
lược Các Niên Đại Lịch Sử Ấn Độ: ·
1. Cổ
Ấn: (4000 – 1500 trước Tây lịch) ·
2.
Thời Kỳ Cổ Bà La Môn (1500 trước Tây lịch – 1000 sau Tây lịch) o
2.1
Thời Kỳ Lịch sử Tối Tăm Vệ Đà (1500 – 500 trước Tây lịch) §
Thời
Kỳ Đô Hộ của người Ấn-Âu - Rig Vệ Đà (1500 – 1200 trước Tây lịch) §
Sự
Hũy Diệt của Nền Văn Hóa Cổ Ấn Semito-Dravidian §
Sự
Diệt Chủng của các dân tộc Sudra-Blacks §
Thời
Sanskrit và Thời Hũy Hoại §
Sự
phát triển Hệ Thống Đẳng Cấp Kỳ Thị Chủng Tộc §
Những
cuộc chinh phục Vệ Đà về sau của dân Ấn-Âu (1200 – 1000 trước Tây lịch) §
Những
cuộc chiến tranh diệt chủng Mahabharatan (1000 – 700 trước Tây lịch) §
Cuộc
chinh phục Miền Nam Dravidian của dân Ấn-Âu Ramaite (700 – 500 trước Tây lịch) §
Sự
Hũy Diệt của nền Văn minh Dravidian §
Sự
Ấn-Âu Hóa và Bắt Đầu của sự Diệt Chủng hay Đẳng Cấp ở o
2.2
Cổ Puranic hay Thời Đại Cổ Bà La Môn (500 trước Tây lịch – 1000 sau
Tây lịch) §
2.3
Thời đại Bất Chính Thống Heterodox §
2.3.1
Sự phát sinh chủ nghĩa Phân Bang và Bất Chính Thống, hay Janapadas (Quốc
gia) và Arhats (Sự Giải Thoát) §
2.3.2
Những Vương quốc Scytho Cổ Hy Lạp §
2.4
Sự Hồi phục Vệ Đà - Sự Phục hồi của nền Văn hóa Vaishnava của
Chính Thống giáo Ấn-Âu Tân-Vệ Đà §
Sự
Hãy diệt của những Vương quốc Scytho Cổ Hy Lạp §
Sự
Diệt chủng của những dân tộc Scythians §
Sự
Đàn áp và Nô lệ hóa các Đẳng Cấp thấy hèn §
Sự
chống đối của những tôn giáo Bất Chính Thống §
Chiến
tranh Tôn giáo ·
3.
Thời Đại Hindustani ciliate của ·
4.
Thời đại Hậu Delhi (1857 - về sau) o
4.1
Những cuộc Đô hộ Dã man o
4.2
Nền Thuộc địa Âu châu và sự Chia phân §
Nền
Vương quốc phụ thuộc Bồ đào Nha §
Vương
quốc Anh §
Những
Tiểu vương quốc o
4.3
Thời kỳ Hậu-Thuộc Địa Epoch (1947 - về sau) §
Cộng
Hòa Ấn Độ - Sự Hội nhập của 500 tiểu bang. §
Những
cuộc chiến tranh Ấn - Hồi ( Cuộc
xâm lăng của người Ấn-Âu và sự Tan rả của Đế Quốc Ấn Độ:
Dân
du mục Ấn-Âu xâm lăng lãnh thổ Ấn Độ vào khoảng thế kỷ thứ 16 trước
Tây lịch (1,500’s B.C.), hũy diệt toàn bộ văn hóa miền tây bắc và vùng
trung châu Ấn, và tiêu diệt hoàn toàn các dân tộc Ấn Độ. Sự kiện nầy
đã chấm dứt một nền văn hóa sáng lạng nhất của thế giới cổ xưa.
Hậu quả của những cuộc xâm lăng nầy là Ấn Độ đã bị chìm đắm
trong thời đại 2,500 năm Đen Tối của Lịch sử Vệ Đà. Mỗi lần các
thành phố được xây dựng lại, mọi sự đều được đặt dưới ảnh
hưởng của Hy Lạp Scytho. Trước
hết xin giải thích sơ lược một số từ vựng được dùng một cách phổ
thông trong nhiều tài liệu (như là những danh tự riêng) để diển tả những
sự kiện diệt chủng từ thời đại lịch sử bi thương đó: |