
| Phần
2. Phan
Như Diệp Mục Đích và
Nguồn Gốc Kinh Vệ Đà: Vệ Đà nghĩa là
kiến thức. “Từ” nầy thuộc tiếng Sanskrit và suy từ động từ gốc
“vid”, nghĩa là “biết”. Nguyên thủy các kinh Vệ Đà được kết hợp
bằng tiếng Sanskrit. Có hai loại Sanskrit, vaidika và laukika. Tiếng Sanskrit
trong Vệ đà được gọi là vaidika và phức tạp hơn về cả hai, văn phạm
cũng như cách dùng, nhất là với một số từ tìm thấy trong các kinh Vệ
Đà. Tiếng Sanskrit được biết nhiều trên thế giới và phổ thông được
gọi là laukika. Đó là ngôn ngữ của các sắc dân puranas và itihasas. Các
kinh Vệ Đà không cho biết nhiều về nguồn gốc hay mục đích của chính
chúng, và có thể nói, không mấy được quan tâm bởi các trường phái
Tây phương, họ cho chúng là những tín điều và thần học bán khai. Phần
kinh điển Vệ Đà được ca tụng và biết đến nhiều nhất không nghi ngờ
gì là Rg-Vệ Đà. Từ rg là do động từ gốc rc, nghĩa là “cầu nguyện”.
Cũng từ động từ gốc nầy, dẫn ra danh tự cái rc, có nghĩa là “Câu
nguyện” hay “ngâm vịnh”, đặc biệt là câu ngâm vịnh dâng hiến trong
lời cầu nguyện của thánh thần. Vậy ta có thể hiểu nghĩa trực tiếp của
Rg-Vệ Đà là “Kiến thức của sự dâng nguyện” hay, như thường
được định nghĩa trong từ điển, “Vệ Đà của sự nguyện cầu”. Rg-Vệ Đà, hầu
như được xem là nền văn hóa (literature) cổ kính nhất của thế giới, gồm
1017 bài thơ vịnh (hymns). Nếu kể luôn thơ vịnh Valaakhilya tổng cọng sẽ
là 1028. Thơ vịnh được sắp đặt thành 8 Astakas hay 10 Mandalas. Mandalas thứ
2 đến thứ 8 chứa những nhóm thơ vịnh, mỗi nhóm được ghép với một
tác giả hay một phần tử đặc biệt trong gia đình Rsi. Mandaias thứ 9 gồm
thơ vịnh được xướng ca ở các buổi lễ soma. Mandalas thứ 1 và thứ 10
có hình thái ngôn ngữ khá khác biệt và được coi như sáng tác bởi một
nhóm lớn tác giả khác nhau. Chúng ta sẽ bàn về vấn đề niên kỷ của
các kinh Vệ đà trong một chương sau. Để hiểu rõ Vệ
Đà là gì, nguồn gốc và mục đích của chúng ra sao, tốt nhất chúng ta
hãy thử nghiên cứu một số lời kinh tiêu biểu trích trực tiếp trong văn
hóa Vệ Đà để minh tường giải thích những vấn đề nầy. Trong những
trường phái triết học Tây phương, người ta có khuynh hướng không quan
tâm đến chính những câu kinh xác định sở quyền mà kinh Vệ Đà đã tự
minh định, mà trái lại hay đi tìm tác giả đã sáng tác kinh Vệ Đà, thời
kỳ, nơi chốn, và mục đích. Trong
Brhad-aranyaka Upanishad 4.5.11 có nói rằng, “Bốn Vệ Đà – tên gọi
Rg-Veda, Yajur-Veda, Sama-Veda, và Atharva-Veda – là tất cả diệu nghĩa thoát
ra từ hơi thở của một nhân vật vĩ đại đứng đầu các thần.”
Trong Bhagavata Purana, có nói, “Những Vệ Đà trực tiếp là ngôi tối
cao của các thần, Narayana, và tự sinh.” (Bh.P. 6.1.40). Cũng kinh nầy giải
thích mục đích của Vệ Đà, “Cái được mô tả trong Vệ đà là
liên thể của dharma, những nguyên tắc tôn giáo, và là ngược với những
gì không phải là tôn giáo.” Bây giờ có thể phản bát rằng những
điều nầy chỉ đơn thuần là những lời trích từ Upanishads và Puranas,
không đúng hẳn phải là thành phần của Vệ Đà, đặt biệt là Rg-Vệ Đà. Tuy nhiên, theo tập
quán, Upanishads được chấp nhận là thuộc vào Vệ Đà; và thật ra, chúng
được dùng để giải thích kinh Vệ Đà. Mỗi Vệ đà có một bộ phận
Upanishads kết hợp với nó. Mô tả kết cấu và tổ chức của văn hóa Vệ
Đà sẽ được trình bày ở phần cuối bài nầy. Puranas được gọi theo
phong tục là “Vệ Đà thứ Năm” và chính điều nầy cũng được
thành lập bởi những nhân vật thẩm quyền trong văn hóa Vệ Đà. Chúng ta
hãy thử chứng minh bằng những trich dẫn về nguồn gốc và mục đích của
Vệ Đà, được nêu lên ngay trong kinh điển Puranas và Vệ Đà. Điều nầy
có lẽ cho chúng ta niềm tín cẩn lớn lao hơn, và nhiều thẩm quyền hơn,
là cách biện giải mơ hồ của các môn phái triết học hiện đại, bởi
vì chúng sẽ gần gủi hơn với chính văn hóa Vệ Đà nguyên thủy, không
chỉ dẫn chứng bằng ngày tháng và nơi chốn, mà còn căn cứ trên những
nguyên tắc tâm hành của chính những tác giả và người sáng lập. Trong phần dưới
đây, chúng ta sẽ trích dẫn một số câu quan trọng trong chương thứ 11 của
kinh Bhagavata Purana. Đây là một đoạn của bộ kinh nổi tiếng Uddhava-Gita
và sẽ cung cấp cho ta lời giải thích rất hấp dẫn và chính xác về
dòng chính Vệ Đà (Bh.P. 11.21.35-42): “Kinh Vệ Đà,
được chia là ba bộ môn, thuyết về sự sống huyền diệu như là linh hồn
cao khiết. Tuy nhiên đạo đức và sự huyền diệu của Vệ Đà đề cập
qua những từ ngữ chuyên biệt, và ta [Krishma] cũng được thỏa mãn bởi
những cách mô tả kín đáo nầy. Âm vận cao khiết của Vệ Đà rất khó
hiểu và được diễn tả trên những trình độ khác nhau trong prana, ý nghĩa,
và trí tuệ. Âm vận Vệ Đà nầy
không có giới hạn, rất sâu đậm, và không thể hiểu nổi, y hệt như biển
cả. Vì “Cá tính” không giới hạn, không thay đổi, và quyền năng của
Chúa tối cao hiện diện trong mọi sinh vật, ta tự ý lập thành sự rung
chuyển âm vận Vệ Đà dưới hình thức omkara trong mọi thể sống. Vì vậy
nó phải được nhìn một cách tài tình, như một sợi đơn trong xơ của
ngó sen. Giống như là một con nhện nhả tơ từ trái tim ra ngả miệng của
nó, Cá thể tuyệt vời của Chúa tối cao tự diễn tả chính Ngài như là
bầu không khí sơ khai phản ánh sống động, gồm tất cả nghĩa lý Vệ Đà
cao cả và tràn đầy phúc ấm bình an. Như vậy Chúa, từ không gian e-te của
trái tim ngài sáng tạo ra âm vận Vệ Đà hùng mạnh và không giới hạn,
qua sự trợ lực của trí tuệ Ngài, làm phát sinh ra những âm thanh muôn
màu sắc như những sparsas. Âm thanh Vệ Đà vang dội ra ngàn hướng, tạo
ra nhiều chữ khác nhau bùng phát từ một âm vận đơn thuần, “om”: những
phụ âm nguyên âm, âm gió, và bán nguyên âm. Vệ Đà từ đó phát triển
ra tập hợp mớ động từ phong phú, được diễn tả qua nhiều hình thái,
mỗi hình thái lại có thêm 4 vần nhiều hơn vần trước nó. Tuyệt diệu
hơn nữa là Chúa lại lôi kéo mọi hình thức âm vận Vệ Đà trong sự diễn
tả của Ngài về cho chính Ngài. Những hình thái Vệ Đà là Gayatri, Usnik,
Anustup, Brhati, Pankti, Tristup, Jagati, Aticchanda, Atyasti, Atijagati và Ativirat.
Trong toàn thế giới, chỉ có mình Ta, không có ai khác, thật sự hiểu được
mục đính của kiến thức Vệ Đà. Vì vậy người ta không biết thưc sự
Vệ Đà diễn tả cái gì trong sự kết hợp hiến nguyện với thần
karma-kanda, hay thực sự mục tiêu nào đã được nêu lên trong những phương
thức thờ phượng tìm thấy trong kinh upasana-kanda, hay điều gì đã được
bàn thảo một cách cặn kẻ trong quá nhiều nguyên lý khác nhau, trong chương
jnana-kanda của kinh Vệ Đà.” Ghi chú: Theo kiến thức
Vệ Đà, âm thanh Vệ Đà được chia là bốn phần chỉ được liễu đạt
bởi các giáo sĩ Ấn giáo “thông thái” nhất mà thôi. Lý do là vì
ba trong bốn phần nầy đã được tìm ẩn ở chính bên trong mọi sinh vật
và chỉ có phần thứ tư là được thể hiện tự bên ngoài, như kinh đã
nói. Chính phần âm vận Vệ Đà thứ tư nầy, được gọi là vaikhari, rất
khó hiểu cho người bình thường. Ông Srila Visvanatha Cakravathi Thakura giải
thích những phần nầy như sau: Phần âm vận prana Vệ Đà, gọi là pana, nằm
trong kinh adharacakra; phần tinh thần, được biết dưới pasyanti, nằm ở vùng
rốn, trên manipuraka-cakra; phần thông minh, được biết dưới tên madhyama,
nằm ở vùng trái tim, trong khu anahata-cakra. Sau hết, phần thể hiện cảm
giác âm vận Vệ Đà được gọi là vaikhari. Phần âm vận Vệ Đà nầy
là ananta-para, vì nó thu gồm toàn bộ năng lượng của vũ trụ và bao quát
hơn cả vũ trụ nữa và vì vậy không thể chia cắt bởi thời gian hay
không gian. Trong sách “Gods,
Sages, and Kíng”, David Frawley giải thích vị trí của vần thiêng liêng “om”
trong kinh văn Vệ Đà. Ông viết: “Trong khi chúng ta không thấy vần “om”
được nói đến một cách đặc biiệt trong kinh Vệ Đà, thì trong suốt cuốn
kinh nầy, người ta luôn luôn nhấn mạnh đến chữ hay lời ca linh thiêng,
mantras, như là sự toàn năng của các Thần dạt dào đó đây. “Từ”
thiêng liêng nầy rõ ràng là âm vận của tiếng “om”. Hãy nhìn xem qua những
chương sau, sách đã diễn giải chữ nầy như thế nào.” Kinh Upanishads: Ai là nguồn gốc
những lời ca vịnh, thể hiện dưới mọi hình thức; người đã được
sinh ra từ những lời ca vịnh bất tử; có phải chăng chính Indra đã sinh
ra ta với trí thông minh. (Taittiriya Up. 1.3.1) “Âm vận vang
dội của những lời ca vịnh chính là “om”. Nó được minh định trong
Indra, thần trước hết các thần Vệ Đà. Indra trong Rig Vệ Đà chinh phục
năng lượng bóng tối với ngôn ngữ thần thánh của Brahman. “ “Bốn là số
sừng của ngài, ba là số chân của ngài, hai là số đầu của ngài, và bảy
là số tay của ngài. Ba tiếng gầm vang dội, Chúa toàn năng đã đi vào sự
bất diệt.” (IV.58.2, Mahanarayana Up. Ĩ.1, Bh.P. 8.16.31) “Điều nầy
được nói ra bởi nhiều chứng luận khác nhau như Sayana, như là một giải
thích của “om”. “ Những hình
thái Dirghatamas trong Rg-Vệ Đà Âm vận dâng hiến
của ca vịnh trong môi trường e-te tối thượng, trong đó mọi thần an ngự,
người ta không biết có thể làm được gì với Vệ đà? (I.164.39) “Vần đâng hiến
mà Vệ Đà ngự bên trong chính là “ Tới đây David
Frawley kết luận. Nói đến một điều gì đó trong Vệ đà thì thật đơn
giản. Ít có ai thông thạo Sanskrit đủ để biện giải nhiều hơn nữa.
Nhưng, để có một sự quân bình, hãy căn cứ vào những trích luận mà
Frawley đã dựa vào, để xem chúng xuất hiện trong những kinh luận nào và
những nhà luận giải Ấn Độ thuở trước đã bàn như thế nào. Chúng ta
sẽ dùng ấn bản Ramakrsna Matha của Mahanarayanopanisad, xuất bản ở Trong ấn bản,
các câu thơ được viết dưới dạng 12.10, và được coi như rất giống với
Rg-Vệ Đà IV.58.3. Trong Sanskrit, viết như sau: “catvari srnga
trayo asya pada dvesirse sapta hastaso asya “Âm vận “om”
được ghi nhận như một thần Bò Mộng (Bull) có bốn sừng, ba chân, và
hai đầu. Ngài có bảy tay. Thần Bò được kết nối bằng ba quy tắc,
dũng mãnh tuyên cáo Ngôi tối thượng. Thần tự soi sáng nhập thể vào mọi
sinh vật ở khắp mọi nơi.” Đoạn phiên dịch
nầy rất giống với đoạn đã được đề cập ở trên. Nhưng trong lời
bình luận, Svami Vimalananda cũng đã đưa ra hai cách giảng giải có thể chấp
nhận. Chúng ta sẽ trích lại một phần bình luận của ông ở phần sau. “Đây là những
bài thơ thiêng liêng được rất nhiều người biết của Rg-Vệ Đà
IV.58.3, đã được diễn dịch qua rất nhiều tác phẩm. Patanjali, trong Great
Commentary on Panini, giải thích nó như là biểu trưng cho những hình thái
thuyết giảng linh động khác nhau; Bhattabhaskara xem nó như một hình thái
nguyện cầu trong sự dâng hiến; và Sayana diễn giải ở đây như âm vận
“om” đã từng được đồng hóa như một con bò mộng. “Từ” vrsabha
có nghĩa quy ước là bò và theo ngữ nguyên có nghĩa là nhiều mưa. Cầu
nguyện với thần Pranava được cho là sẽ được bang bố một trí tuệ
sung mãn. Thần vrsabha hay Pranava có bốn sừng như đã đề cập trong đoạn
trước. “Om” chính là “Chân lý” được nó phô diễn, và “Chân lý”
sẽ được tìm thấy qua ba chân, tức là ba “bước”, theo danh từ, là
tình trạng đi, ngủ, và chiêm bao của linh hồn cá nhân, và cũng là của vũ
trụ; linh hồn được hiển hiện tràn đầy trong vũ trụ là lý do bất biến.
Hai thể cao và thấp của Prakrti, được dạy trong kinh Gita, chương VII, được
xem như hai cái đầu của ngài. Đặc biệt bảy thế giới được xem là (bảy)
tay của ngài. Là nguyên do của mọi sự hiện hữu, thần vrsabha nầy có
liên hệ tới hình thái tam-thể của mọi sự vật và vũ trụ. Thần
vrsabha hay con bò mộng rống lớn; và ở đây thần Pranava mạnh mẽ khẳn
định Chân lý tuyệt đối. Sự tuyên bố ở đây còn ngầm ý sự hiện diện
của Paramatman trong mọi tạo vật. Ngài chống giữ chúng. Theo Bhattabhaskara
bốn sừng là bốn thần phụng hiến, Adhvaryu, Hotr, Brahman, và Udgatr; ba
chân là Garhapgtya, Ahavanija, và Anvaahryapacana, những cái đầu là sự chỉ
đạo của thần phụng hiến và vợ của ông ta, Prayanija và Udayanija. David Frawley viết,
“Những cơ sở văn tự cổ nhất mà chúng tôi có từ thế giới cổ Hy
Lạp là những tác phẩm của Homer (700 trước Tây lịch). Từ Trung Đông,
những cuốn sách cổ nhất là các sách “Kinh thánh Hebriew”. Trong khi đó
nhiều phần của “Kinh cựu ước” còn cổ xa hơn nhiều, và nói chung, phần
nhiều đã được viết lại sau 500 trước Tây lịch. Sách Gathas của
Zoroaster cũng rất cổ, được ghi nhận từ trước khi thành lập nền Đế
quốc Persian (525 trước Tây lịch), nhưng chắc chắn là sau Vệ đà. Các
kinh Vệ Đà đã bị phân tán từ khi phần lớn bị phá hũy trong các cuộc
xâm lăng “Văn hóa Vệ
Đà cung cấp cho chúng ta nhiều những kinh luận, lời giảng có nguồn gốc
cổ xưa còn hơn tất cả những gì chúng ta có thể tìm thấy từ tất cả
các nền văn hóa nào khác trên hoàn vũ. Ngay cả những người bảo thủ nhất
cũng ước lượng tuổi của bốn Vệ Đà ít nhất cũng là vào khoảng
1500-1000 trước Tây lịch, còn có thể trước xa hơn nữa, và quan niệm nầy
tồn tại lâu dài trong văn học sử cho đến nay. Nhiều kinh Brahmanas và
kinh cổ Upanishad có trước thời Phật Thích Ca. Sự ghi nhận như vậy rất
đáng được đặc biệt quan tâm trong một xứ sở nhiệt đới như Ấn Độ,
là nơi mà mọi thứ tài liệu bằng văn tự đều có thể bị thoái mục dễ
dàng. Ấn Độ còn phải sống còn qua nhiêu cuộc xâm lăng - mà một số,
như những cuộc tấn công của Hồi giáo, có tính tuyệt đối hung bạo và
diệt chủng - nhưng nó đã chứng tỏ khả năng bảo tồn nhiều chứng liệu
cổ sử. Ngay cả trong thời đại nầy, Brahmins diễn thuật lại Vệ Đà,
qau những vũ trụ quan được tin là cổ điển và có tính truyền thống nhất,
hầu như rất giống với các tập quán xã hội địa phương 3,000 năm trước,
hay còn xa hơn thế nữa. Điều nầy chứng minh một sự suy tôn độc nhất
vô nhị cho những điều dạy dỗ và phong tục, ít ra rất đáng giá để
được ghi nhận.” Trong thời buổi
tân tiến nầy, nền văn minh Vệ Đà đã từng được nghiên cứu và dịch
giải bởi nhiều học giả Tây phương, như Mueller, Wilson, Keith, Griffith, và
Bergaine. Họ không có cái nhìn thật sâu sắc vào bên trong những tác phẩm
của nền văn hóa Vệ Đà, mà thường chỉ bị quyến rủ bởi những động
lực giải đáp những thắc mắc mang tính chấp trước. Vào thế kỷ thứ
19, chính phủ Anh quốc đã chính thức công bố một chính sách phải tìm mọi
biện pháp để chứng tỏ rằng văn minh Tây Âu, căn cứ trên phong tục Ai
Cập, và xa hơn nữa đã được kích động bởi tâm thuật tín điều Ky-tô,
phải là cao hơn nền văn minh Vệ Đà. Cuốn Tự Điển Sanskrit của Monier
Williams được viết với mục đích chủ yếu sau đây: Để phỉ báng và tận
diệt hững kinh văn bằng Sanskrit cổ và thay thế chúng bằng những tác phẩm
Sanskrit của nền văn hóa Ky-tô. Điều nầy thật khó có thể được gọi
là “quý phái” (noble) và dĩ nhiên không thể là một nguyên tắc khoa học. Về vấn đề nầy,
David viết, “Tác phẩm thơ ca vịnh vĩ đại
Ấn Độ, Mahabharata, chẳng hạn, diễn tả cuộc chiến tranh, lôi kéo toàn
bộ vùng bắc và trung Ấn, xảy ra vào khoảng thời gian trước Phật Thích
Ca. Mọi vua trên toàn lãnh thổ lúc đó đã được kể là đều bị lôi cuốn
vào cuộc chiến. Sự kiện nầy đã bị chúng ta (người Tây phương) biến
đổi thành một cuộc xung đột địa phương nho nhỏ giữa các hoàng tử
thứ cấp ở vùng tây bắc Ấn Độ, mà sau đó đã được các nhà thơ phóng
đại. Chúng ta đã mặc nhiên giả dụ một sự phóng đại, nếu không phải
là sự lừa dối, của người xưa, hơn là đáng lẽ phải ngợi khen họ về
những gì họ thật sự đã nói, khi sự thể đã đi ngược lại với những
gì chúng ta đã gán cho họ. . Những vấn đề hiểu biết về Vệ Đà còn
khó khăn hơn nữa, vì rất nhiều ý tưởng như vậy đã từng được mặc
nhiên xem như những dữ kiện, mặc dù chúng hoàn toàn ngụy biện và không
chứng minh được qua các văn sử liệu. Một ý tưởng tân thời cho rằng
các dân tộc Vệ Đà chỉ là những sắc tộc (thiểu số - Ấn-Âu). Họ
được coi là đã từng xăm lăng Ấn Độ trong thiên niên kỷ thứ hai trước
Tây lịch, như là giống dân du mục tiền sử từ vùng Trung Á”. Rg-Vệ Đà xem
như đã được viết ở miền Pujnab vùng tây bắc Ấn Độ, từ thời khởi
đầu của cuộc xâm lăng. Đây là những ý tưởng dùng để giải thích
các kinh điển cổ. Những kinh điển nầy không được tìm thấy ở đây.
Mà trong thực tế, cần phải biến đổi nghĩa ngữ và thay đổi cả khuynh
hướng luận giải thì mới có thể làm cho chúng có nhiều ý nghĩa. Tuy nhiên,
hầu như ngày nay không có ai đọc Vệ Đà dưới dạng Sanskrit nguyên thủy.
Chúng ta thường đọc các bản diễn giải và lẽ đương nhiên chúng chỉ
chứng tỏ những sự diễn giải. Nếu chúng ta tìm ra những chứng liệu
có tính vũ trụ quan của những thời trước (trước 2000 trước Tây lịch)
trong Vệ Đà, chúng ta không thể nói rằng những điều nầy còn quá sớm
để thành sự thật. Dù sao, đây không phải là một học thuật, mà chỉ
là những suy diễn.” Tới đây tôi
xin sơ lược trình bày một số chứng cớ để chứng minh ngày sinh của Vệ
Đà còn sớm hơn tất cả những gì mà các học giả Tây phương và ngay cả
một số học giả Ấn Độ đã nói. Rg-Vệ Đà chứa đựng nhiều chứng cớ
có tính vũ trụ quan đặt cơ sở trên những kiến thức về những hiện tượng
xoay vần của các thiên thể. Văn minh Vệ Đà được mô tả suốt trong
kinh Rg-Vệ Đà đã xử dụng (cách tính) thời gian theo thiên thể. Chẳng hạn
như, thời điểm xuân phân và đông chí được mô tả như đã xảy ra hay
đang xảy ra hiện tượng lạ trong quần thể mặt trời, gọi là naksatras.
Từ cơ sở nầy, người ta có thể đơn giản tính ra thật đúng những
ngày tháng của xuân phân và đông chí, được mô tả trong kinh điển, thích
hợp với lịch hiện hành của chúng ta. Bằng cách nầy,
chúng ta có thể dẫn ra bản sau đây:
Ngày tháng trong
bản trên có thể được chứng minh bằng rất nhiều trích dẫn ngay trong Vệ
Đà, e rằng sẽ có quá nhiều để kể ra đây. Cần thêm chi tiếc, xin xem
David Frawley ở chương Vedic Astronomy. Ông viết, “Trong khi những chứng
minh trước về Krttikas (xuân phân Taurus) không mấy sáng tỏ, thì dẫn chứng
nầy hoàn toàn xãc định. Ngôn ngữ của nó cũng minh tường như chính hiện
tượng đã được diễn tả, “Giờ đây là thời xuân phân tiền Taurus.”
Nó đã chứng minh rằng dầu dân Vệ Đà là ai và dầu họ sống ở bất cứ
nơi đâu, văn hóa của họ lúc đó vẫn ở vào thời kỳ 2000 trước Tây lịch.
Với dẫn chứng chân thực nầy, những chứng tích khác đều trở thành
không thể bỏ qua. . Với những chứng tích có tính vũ trụ quan trong toàn
bộ các kinh văn Vệ Đà, làm sao chúng ta có thể chối từ? Nếu Rg-Vệ Đà
đã dùng đúng từ ngữ dùng trong thiên văn học ngày nay, chúng ta không
còn có thể nói rằng chúng sai lầm hay đã dẫn luận cho những điều gì
khác hơn vì chúng không thích hợp với lý thuyết của chúng ta. Lý thuyết
của chúng ta có thể sai, những các ngôi sao thì không thể. Một dẫn chứng tuyệt vời khác có thể kể
là về ngày tháng của Kali-yuga. Kali-yuga, theo những chứng tích về Punanic
cũng như những dẫn chứng từ Jyutisa-sastras, bắt đầu vào ngày 18 tháng
2, năm 3102 trước Tây lịch. Kinh sastras khai thị rằng đã xảy diễn sự xếp
thẳng hàng các tinh tú của bảy hành tinh.” Tiến sĩ Richard
Thomson, trong sách Vedic Cosmography and Astronomy,
đã chỉ dẫn làm thế nào để kiểm chứng hiện tượng xếp hàng nầy bằng
cách làm vài phép tính trên những chương trình máy tính hiện đại. Cách
nhìn rất chung chung của các trường phái Tây phương cho rằng ngày nầy,
định cho sự bắt đầu của Kali-yuga, là giả tưởng. Thật vậy, những
trường phái nầy luôn giữ chắc một quan điểm rằng chính cuộc chiến
đấu của Kuruksetra cũng là giả tưởng. Chúng ta không có đủ chỗ để
giới thiệu lại ở đây một cách chi tiết hơn tất cả công trình nghiên
cứu sáng giá của Tiến sĩ Thomson. Sách
của ông sẽ được liệt kê trong phần tham khảo ở cuối bài nầy. Bộ
Sury-a-siddhanta, có lẽ là một trong những công trình nổi tiếng nhất trong
ngành thiên văn học Ấn Độ, chứa tràn đầy dữ kiện thiên văn chính
xác và kỳ lạ. Công trình nầy cho chúng ta hình ảnh những chu kỳ tinh tú
trong quỷ đạo quay bằng divya-yuga. Một divya-yuga bằng 4,320,000 năm mặt trời.
Một ngàn chu kỳ divya-yugas như vậy tương đương với một ngày của
Brahma, gọi là kalpa. Ở cuối mỗi kalpa, sẽ có một đợt hũy diệt từng
phần. Chúng ta đưa ý tưởng nầy vào đây để dẫn chứng cái khung hình
thời gian rất dài được chấp nhận cho những hiện tượng vũ trụ chu kỳ
trong Punamas và trong những văn sử Vệ Đà khác. “Sách
Surya-siddhanta nói về chính nó, và cho biết rằng những điều nầy đã
được tiên tri, thần mặt trời, Surya, nói cho Maya Danava vào cuối thời kỳ
Satya-yuga vừa qua. Đúng là một khoảng thời gian quá dài, nhưng cũng đã
có nhiều công bố rất ngoạn mục trong sách, cho nhúng ta nhiều suy tư. Chẳng
hạn như sự diễn tả những chùm sao, mà những dử kiện thiên văn về vị
trí hình như đã có vẻ sai lạc. Tuy nhiên, nếu dùng máy vi tính với những
chương trình hiện đại, vị trí tìm thấy chỉ sai lạc vào khoảng 50,000
năm. Với những phương tiện thô sơ thời đó, và trong cái khung thời gian
vĩ đại như vậy, sai số nầy quả đã có thể hiểu được“. “Một
sự kiện nữa có liên quan đến cái khung thời gian Puranic và bốn chu kỳ
yugas của nó. Một câu trong Rg-Vệ Đà, “Bốn
là sừng của ngài, ba là chân của ngài, hai là đầu của ngài, và bảy
là tay của ngài.” (IV58.3), có thể được diễn giải tượng hình
như là 4, 3, 2, và 7 con số không ở sau. Đó chính là thời gian của một
kalpa, hay một ngàn lần của khối lượng bốn yugas, hay 4,320,000,000 năm.” Vài tín điều
huyền hoặc của Vệ Đà về địa dư, thiên nhiên, mà người ta nghi ngờ
đã chịu ảnh hưởng của quan niệm sáng thế phương Tây: 1- Con rắn/rùa
chống đỡ trái đất Kinh văn Ấn-Âu
luôn luôn, lặp đi lặp lại, xác nhận rằng quả đất được chống đỡ
bởi một con rắn. Có 7 quả đất, quả nầy chồng lên trên quả kia, và
quả trên hết chia ra 7 miền [al-B.i.228]. Có một con rắn, tên là Seshakhay,
ở dưới quả đất thấp nhất. Nó có 1,000 cái đầu, vì vậy nó không cảm
thấy đau đớn khi chống đở những quả đất chồng chất lên nhau ở
bên trên [al-B.i.237]. Những kinh văn khác xác nhận trái đất được chống
đỡ bởi một con rùa khổng lồ. Còn những kinh văn khác nữa thì cho rằng
con rùa nầy, đến lược nó, nằm trên một con rắn vĩ đại [Kovoor 158]. Một
số kinh văn khác nữa thì nói rằng trái đất được chống giữ bởi bốn
cái trụ, giữ chặc bởi một con voi, ngồi trên một con rùa lớn [Panda
69]. Theo kinh Balaphadra, trái đất lơ lũng trên nước, phần thấp chìm trong
nước và phần ở trên mặt nước thì tròn giống như cái lưng con rùa
[al-B.i.273]. Một điều rất đáng ngạc nhiên là những kinh văn nầy đã
được viết vào thời những thế kỷ đầu sau Tây lịch, khi mà những giới
chức lớn của Hy Lạp đã đến Ấn Độ nhiều thế kỷ trước công
nguyên, mà vẫn không hề thấy có để lại một dấu chỉ nào của “sự
khai hóa”, nếu có, do ảnh hưởng nầy. Nhiều kinh văn Hy Lạp rõ ràng đã
được chép lại bằng Sanskrit, nhưng không tìm thấy có được một nội
dung cải cách tiến bộ nào. Về phương diện địa dư, Ấn Độ triền miên
chìm đắm trong những Thời Kỳ Lịch Sử Đen Tối Vệ Đà cho đến thế kỷ
thứ 10 và trong suốt thời kỳ thâm nhập của Hồi giáo. 2- Núi Meru
100,000 lần cao hơn núi Everest Kinh điển Arya
viết trong một thời kỳ khác về sau nầy (thế kỷ thứ năm) vẫn còn giữ
chặc một “đức tin” về núi Meru giả tưởng trong Vệ Đà. Nó được
xem như một trăm ngàn lần cao hơn núi Everest! Kinh Matsya Purana nói về núi
nầy như sau, ”Nó (núi Meru) làm bằng vàng và sáng ánh
như lửa. Màu sườn núi phía đông thì trắng như màu của những thần
Brahmans, sườn phía bắc thì đỏ như màu thần Kshatrivas, phía nam thì vàng
như Vaishvas, phía tây thì đen như màu của Sudras. Nó cao 86,000 “yojanas”,
và 16,000 “yojanas” nằm bên trong trái đất. Mỗi một “sid”, trong bốn
“sids”, bằng 34,000 “yojanas”. . Có nhiều căn nhà bằng vàng đẹp đẻ
dành cho những thần ngự, như thần Devas, các xướng ca của thần
Gandharyas và nữ tỳ thị dục của thần Apsaras. Còn có các thần Asuas,
Daitysa, và Rakshasas cũng ở trong đó.” - [Matsya Pur. - al-B.i.247] Một cách tổng
quát, 1 yojana = 8 miles = 32000 yards và 1 kroh = 1/2 yojana [al-B i.167]. Như vậy núi
Meru phải cao 8x86,000 = 704,000 miles, nhiều lần hơn đường kính trái đất.
Núi Everest, để so sánh, chỉ cao 29,000 ft., hay dưới 6 miles. Vậy núi Meru
cao 100,000 lần hơn núi Everest! Kinh
Kurma Purana nói như sau về vấn đề nầy, "Trái
đất gồm bảy lục địa, kể luôn biển cả, trải dài suốt 500,000,000
yojanas. Thánh địa Jambudvipa nằm ở trung tâm các lục địa; núi Meru được
cho biết nằm ở giữa, sáng như vàng. Chiều cao của nó là 84,000 yojanas,
và nó nằm sâu 16,000 yojanas ở dưới mặt đất; Bề ngang trên đỉnh là
32,000 yojanas, và đường kính ở dưới chân là 16,000 yojanas." -
[Kurma Purana - Classical, trg. 52] Núi Meru có một
độ cao không tưởng, đó là nguồn của những con sông thực tế của Ấn
Độ, như sông Sita: “Ganga, con
sông thiên đàng chảy từ chân núi Meru, tràn qua quỷ đạo mặt trăng, rồi
rơi xuống vùng chung quanh thành phố Brahma.” Sơ
lược về Ngôn Ngữ Ấn Độ: Bài nghiên
cứu dựa theo những tài liệu lịch sử đáng tin cậy, nhất là những tác
phẩm của TS Tagore, giải Noble văn học. Lục địa
Ấn Độ bao gồm một số lớn những cộng đồng có nhiều ngôn ngữ khác
nhau. Người Ấn nói nhiều thứ tiếng và các loại tiếng lóng mà hầu hết
có thể xem như được cô đọng trong 15 ngôn ngữ chính. Vài
ngôn ngữ Ấn có lịch sử văn hóa lâu đời – Văn hóa Sanskrit kéo dài
hơn 5,000 năm, Tamil 3,000 năm. Ấn Độ cũng có vài ngôn ngữ không có chữ
viết. Có tất cả 18 ngôn ngữ được chính thức chấp nhận ở Ấn Độ
(Konkani, Manipuri, và Nepali cũng đã được thêm vào danh sách, vào năm 1992),
và mỗi ngôn ngữ đó đã có một lịch sử văn hóa sinh động và phong
phú. Mặc
dầu có nhiều phần khác biệt, tất cả đã tiêu biểu cho một nền văn hóa
thống nhất, có ý nghĩa của một nền văn minh Ấn Độ vĩ đại. Đây là
một sự tiến hóa trong một lãnh thổ của nhiều loại ngôn ngữ. Số lượng
người nói chung một thứ tiếng trong các ngôn ngữ đó cũng khác nhau rất
xa. Ví dụ, có hơn 250 triệu người nói tiếng Hindi, nhưng tương đối rất
ít người nói tiếng Andamanese. Mặc
dầu vài loại ngôn ngữ bị coi là có tính “bộ lạc”, hay “không
nguyên thủy”, những cộng đồng nầy lại lớn hơn các cộng đồng nói
các thứ tiếng thái Âu. Ví dụ, Bhili và Santali, cả hai đều là ngôn ngữ
bộ lạc, nhưng số người nói lại lên đến 4 triệu mỗi ngôn ngữ. Gondi
được khoảng 2 triệu người dùng. Các trường học ở Ấn Độ dạy tất
cả 58 ngôn ngữ khác nhau. Các loại báo chí toàn quốc dùng 87 thứ tiếng,
các đài truyền thanh dùng 71 thứ tiếng, và phim ảnh dùng 15 thứ. Ngôn
ngữ Ấn Độ thuộc vào 4 họ chính: Indo-European, Dravidian, Mon-Khmer, và
Sino-Tibetan. Indo-European và Dravidian được dùng bởi một đa số lớn lao dân
chúng Ấn Độ. Bốn họ ngôn ngữ trên được phân chia đại lược theo địa
dư. Nhóm tiếng Indo-European được phổ biến ở miền bắc và những khu
trung thổ Ấn Độ. Những
ngôn ngữ dùng ở miền nam hầu như là nhóm Dravidian. Vài nhóm sắc tộc
ở Người nói
54 ngôn ngữ khác nhau trong nhóm Indo-European chím ba phần tư dân số Ấn Độ.
Hai mươi ngôn ngữ Dravidian được dùng bởi hầu như một phần tư dân số
còn lại. Người nói 20 loại tiếng Mon-Khmer và 98 tiếng Sino-Tibetan toàn bộ
chỉ chiếm khoảng 2% dân số mà thôi. Văn minh Cổ Vệ
Đà: Văn hóa Ấn Độ bắt đầu
bằng các loại kinh Vệ Đà (Kinh Vệ đà dùng chữ Sanskrit, có nghĩa là “trí
tuệ”). Kinh Vệ Đà là một hệ thống những bài viết tế lễ dùng trong
những lễ cũng tế tôn giáo và được tác chế bằng tiếng Sanskrit
(Sanskrit Vệ Đà). Ngay cả trong thời hiện đại nầy, kinh Vệ Đà vẫn
được coi là nền tản của Ấn Độ giáo. Các tài liệu
viết thành chữ cổ xưa nhất của các kinh Vệ Đà là hệ thống Rig-Vệ
Đà, xuất hiện từ thế kỷ thứ 13 trước công nguyên (1,300’s B.C.). Những
tài liệu nầy hầu hết là những bài thơ thần thoại ca ngợi những vị
thần Tiền Vệ Đà – Thần Chiến Tranh Indra, thần Lửa Agni, thần Mặt Trời
Surya, và thần Gìn Giữ Thiên Đường và Trái Đất Varuna. Những sách Vệ
Đà sau đó là Yajur Veda (chuyên dùng trong tế lễ), Sama Vệ Đà (thơ từ hệ
thống Rig Vệ Đà, được biến cải thành những bài ca cầu nguyên bi
tráng) và Atharva Vệ Đà (những câu thơ ca ngợi sự bình an và thịnh vượng,
và cuộc sống thường ngày của xã hội loài người). Nhiều ca dao tục
ngữ phô diễn kinh nghĩa Vệ Đà được viết vào những thời kỳ trước
kỷ nguyên. Trước hết là Brahmanas (Những giảng giải về giáo luật) và
Aranyakas (Những kinh luận), giải thích vai trò và mục đích của tế lễ
và sự liên hệ giữa con người và vũ trụ. Một nhóm ngôn
ngữ sau nữa là Upanishads (Những bài giảng về tâm linh), viết dưới dạng
thơ ca, tiếp tục tán thán cuộc sống tự nhiên. Upanishads là những hình
thức tư tưởng cổ điển vĩ đại của triết lý và tâm linh. Rig Vệ Đà: Là hình thức
cổ điển nhất của nền văn minh Vệ Đà, nó giữ vai trò quan trọng nhất,
vì chính nó là những tài liệu văn hóa giá trị của Ấn Độ cổ xưa. Có
tất cả 10 sách hay mạn-đà-la chứa đựng 1,028 bài thơ của những thế hệ
nối tiếp của Rishis (những người thông thái). Người ta tin rằng trong thời
Tiền Vệ Đà, nhiều bài thơ bằng ngôn ngữ Rig Vệ Đà được nhớ thuộc
lòng, và truyền khẩu từ đời nầy qua đời khác trước khi được ghi khắc
lại dưới hình thức chữ viết một thời kỳ khá lâu sau. Có rất nhiều
loại linh bùa, như Gayatri, đã được khắc ngay trong nhà của người theo
Ấn Độ giáo. Họ nói rằng chúng tượng trưng cho tiếng nói của các Thần.
Nhiều bài thơ được viết dưới dạng những lời cầu nguyện các Vị Thần
thiên nhiên khác nhau. Hệ thống Rig Vệ Đà cho chúng ta nhiều hiểu biết
không những về tôn giáo cổ Vệ Đà và các Vị Thần của họ, mà còn về hoàn cảnh xã hội của những
ngày xa xưa đó nữa. Nó cho biết một dân tộc được an cư, một xã hội
trật tự, và một nền văn minh phát triển phong phú thờI Tiền Vệ Đà. Sam Vệ Đà: Chuyên chứa
những câu thơ trích từ Rig Vệ Đà, liên hệ đến các tế lễ Soma. Những
bài thơ nầy được phổ nhạc. Sam Vệ Đà có những bài thơ chỉ có ý
nghĩa cho các thầy giảng khi hát lên trong lễ phụng sự Thần Yajnas. Nó gợi
cho chúng ta rất nhiều cảm tính về nhạc cổ của người Ấn Thái Âu. Yajur Vệ Đà: Chứa những
câu ca vịnh về việc dâng hiến. Nghiên cứu Vệ Đà nầy cho ta biết được
người Aryans tạo lập kiến thức về việc phụng hiến trong thời kỳ nầy.
Nó đã làm thay đổi sâu đậm những điều kiện xã hội và tôn giáo đã
đến với dân chúng trong thời kỳ Rg-Vệ Đà. Yajur Vệ Đà chia làm hai phần
- phần trắng và phần đen. Phần trắng gồm những câu thơ vịnh, và phần
đen chứa những lời răn. Atharva Vệ đà: Chứa đựng
những câu thần chú (mantras) về ba đề tài – gnana (kiến thức), Karma
(hành – deeds), và Upasana (niệm chú – invocation). Nhu cầu hiểu biết về
lịch sử phát triển ở Ấn Độ thiết tưởng cũng rất quan trọng. Những
hình thức xướng tụng thần chú đa dạng rất phổ thông trong quần
chúng. Vệ Đà nầy ảnh hưởng mạnh mẽ niềm tin trong dân chúng. Một số
câu thần chú có nghĩa là đem lại được thành công trong đời sống,
trong khi những câu khác có thần lực đánh đuổi trừ ma quỷ, trách nhiệm
cho bệnh hoạn và khổ đau. Người ta tin rằng Vệ Đà nầy đã được viết
lại sau nầy mặc dầu còn chứa đựng một số dử kiện không phải có
nguồn gốc Ấn-Âu (Aryan). Hình như nó đã được viết vào buổi giao thời
giữa hai nền văn hóa Cổ Ấn Độ và Ấn-Âu. Theo
Bách khoa Wikipedia:
Kinh
điển Vệ Đà được xem như là biểu trưng cho một hệ thống văn hóa
tôn giáo cổ điển Ấn-Âu (Indo-Aryan), đã được hội nhập với nền Văn
minh Vệ Đà và được tín đồ Ấn Độ giáo xem như sự thể hiện tri kiến.
Nhiều tín đồ Ấn giáo tin rằng Vệ Đà đã không phải được viết bởi
bất cứ ai (kể cả “Chúa”), mà đã vĩnh cửu hiện diện (apaurusheya).
Trong khi đó nhiều sử gia coi Vệ Đà là một trong vài di tích văn viết cổ
điển khác còn lưu tồn, và họ ước tính đã được viết ra giữa 1500
đến 500 trước Tây lịch (xin xem “Ancient Egyptian Text” trong “Story of
Sinhue”, và “Ipuwer Papyrus”, cả hai đều được viết vài thời 1800 trước
Tây lịch). Những kinh Vệ Đà mới nhất ước tính được viết vào khoảng
500 trước Tây lịch; và những kinh cổ nhất, được tìm thấy ngày nay,
có niên kỷ vào khoảng 1500 trước Tây lịch. Nhưng hầu hết những nhà
nghiên cứu văn hóa Ấn Độ đều cho rằng Vệ Đà đã trải qua một thời
kỳ rất dài với phong tục dùng lời (thuộc lòng mà không được viết
ra), trước khi được viết ra. Vệ Đà biểu tượng cho nguồn gốc căn bản
của văn chương Ấn Độ và, theo những nhà giáo dục tân thời, đã được
viết ra dưới hình thức những ngôn ngữ trong văn hóa Sanskrit. Mặc dầu
Sanskrit Vệ Đà được coi là đã được dùng để viết kinh Vệ Đà, họ
vẫn cho rằng đây có lẽ là vì một nhầm lẫn về niên kỷ; nghĩa là
ngôn ngữ nầy còn có thể đã được dùng phổ thông hơn trong quá khứ xa
xưa. “Từ” “Vệ
Đà” có nghĩa là “kiến thức”, và được lấy từ ngữ căn “vid”,
nghĩa là “biết” trong Sanskrit, viết lại như đã được lấy từ ngữ
că n “weid-” của “Pro-Indo-European”, có nghĩa là “thấy” hay “biết”.
“Weid-“ cũng là nguồn gốc của từ “wit” trong tiếng Anh, cũng như “vision”
trong Latin. Ngôn ngữ Sanskrit: Sanskrit cổ
(old) được gọi là Vệ Đà hay Sanskrit Vệ Đà, phức tạp hơn những hình
thái Sanskrit về sau, và được gọi là Sanskrit cổ điển (classical). Ngôn
ngữ Vệ Đà trở nên đơn giản hơn, khi được biến đổi thành Sanskrit cổ
(classical). Vào thế kỷ thứ Năm trước Tây lịch (400’s B.C.), nhà văn phạm
Panini đã viết ra một mô tả khá chi tiết về Sanskrit cổ điển. Công
trình nầy làm cho hình thức văn viết của ngôn ngữ nầy từ đó không
còn thay đổi thêm nữa. “Từ”
Sanskrit có nghĩa là “Đã được chọn lọc và trau chuốt”. Sanskrit
tượng trưng cho trình độ cao nhát của các loại ngôn ngữ Ấn Thái Âu. Mặc
dầu ngày nay chúng ta vẫn còn nhận thấy khó phát âm, Sanskrit đã được
liệt kê là ngôn ngữ được toàn quốc công nhận, trong Chương VIII Híên
Pháp. Ngôn ngữ
Sanskrit là chữ viết cổ điển nhất của Ấn Độ và là căn bản của rất
nhiều ngôn ngữ Ấn Độ hiện đại, kể cả Hindi và Urdu. Hình thức đối
thoại xưa nhất của Sanskrit Vệ Đà, đã được người Ấn Thái Âu dùng.
Sanskrit biến mất trong ngôn ngữ thường nhật vào khoảng thế kỷ thứ 2
trước kỷ nguyên (100 B.C.). Tuy nhiên, Sanskrit đã tiếp tục, như tiếng
Latin ở phương Tây, giữ vai trò ngôn ngữ của công pháp, thơ văn, và kịch
nghệ. Nó cũng được dùng trong các tài liệu khoa học, triết học, và
tôn giáo. Ngay hiện nay, một số trường học ở Ấn Độ vẫn còn dạy
nói và viết tiếng Sanskrit. “Từ”
Sanskrit có nghĩa là đã “được chọn lọc hay làm cho sáng sủa”.
Từ nầy phản nghĩa với từ Prakrit, nghĩa là “chung” hay “phổ
thông”, được dùng như những ngôn ngữ phổ chúng và được suy diễn
từ tiếng Sanskrit trong một thời kỳ dài nhiều thế kỷ. Những ngôn ngữ
nầy, tự chúng, lại trở thành nguồn gốc của những ngôn ngữ tiến bộ
sau nầy của Ấn Độ, như Bengali, Hindi, và Punjabi. Sanskrit chứa đựng
một mớ phong phú các âm vận chọn lọc. Mặc dầu đơn giản hơn tiếng
Sanskrit cổ Vệ Đà, Sanskrit cổ điển vẫn phức tạp hơn các ngôn ngữ tiến
bộ. Tiếng nầy có 10 nguyên âm đơn giản và 4 nguyên âm trọng (nguyên âm
kép phát thanh như một vần đơn giản). Nó còn gồm có 25 phụ âm căn bản,
4 bán nguyên âm (những chữ, như y, phát âm giống nguyên âm nhưng giữ vai
trò phụ âm), và 3 phụ âm kép, phát ra âm gió. Thêm vào đó, nó còn có 2
âm thở, và 1 âm mũi. Sanskrit có một
văn phạm phức tạp. Ví dụ, danh tự và tỉnh tự có những 3 giống (đực,
cái, và trung tính). Chúng biến thể theo 3 số lượng văn phạm (số ít hay
đơn, kép, và số nhiều). Chúng cũng có 8 trường hợp xử dụng. Hệ thống
động từ cũng phức tạp như vậy. Sanskrit có 8 trường
hợp văm phạm (diễn tả hình thức danh từ, đại danh từ, và tỉnh tự).
Cũng có 3 “số lượng”, đó là số ít, số nhiều, và số kép (một lọai
danh tự, tỉnh tự, và động tự riêng để dùng cho hai người hay vật).
Sanskrit cũng có một hệ thống đánh vần gọi là “sandhi”, trong đó một
từ được kết thúc tùy thuộc vào những âm vận trước và sau nó. Cũng
theo tài liệu
bách khoa Wikipedia. Sanskrit
Vệ Đà là ngôn ngữ Vệ Đà, những kinh văn tế lễ sớm nhất của Ấn
Độ. Kinh văn Vệ Đà cổ nhất, là Rig Vệ Đà, đã được viết trong suốt
hai thiên niên kỷ trước Tây lịch, và việc xử dụng ngôn ngữ có nhiều
tiếng lóng Vệ Đà đã được tiếp tục để viết những kinh văn tôn
giáo cho đến khoảng 500 trước Tây lịch, khi mà thời đậi ngôn ngữ Hậu-Vệ
Đà bắt đầu xuất hiện. Hiìh
thức Sanskrit của Vệ Đà là hậu duệ sớm nhất của nền ngôn ngữ Ấn-Âu
Nguyên thủy (Proto-Indo-Iranian - ngôn nói
vào khoảng 2000 trước Tây lịch), và vẫn còn rất giống (mặc dầu đã bị
xóa bỏ có lẽ vào khaỏng 1500 trước Tây lịch)
với ngôn ngữ Ấn-Âu Nguyên thủy. Sanskrit Vệ Đà được xác
nhận là ngôn ngữ cổ nhất của chi nhánh văn hóa Ấn-Âu (Indo-Iranian Branch), của họ ngôn ngữ Ấn
Độ-Âu châu (Indo-European Family). Nó cũng
vẫn còn liên hệ rất gần gủi với Aveston,
một ngôn ngữ Iranian cổ nhất còn tồn
tại. Văn
minh Vệ Đà là một nền văn minh theo phong tục Ấn-Âu hội nhập với
Vệ Đà. Nhiều nhà giáo dục đã đặt nền văn minh Vệ Đà vào thiên
niên kỷ thứ 2 và thứ 1 trước Tây lịch; trong khi nhiều nhà ngôn ngữ
Ấn Độ xác định niên kỷ sớm hơn nhiều, vào khoảng thiên niên kỷ thứ
7 trước Tây lịch, bắt đầu từ phong tục Mehrgarh. Việc xử dụng
Sanskrit Vệ Đà kéo dài cho đến thế kỷ thứ 6 trước Tây lịch, khi mà tập
quán xã hội bắt đầu biến đổi sang hình thức Ấn giáo cổ điển. Sự
tái lập lịch sử Ấn Độ Vệ Đà được căn cứ vào chi tiếc nội dung
các loại kinh văn Vệ Đà. Theo ngôn ngữ, kinh điển Vệ Đà được chia ra
làm năm giai đoạn lịch sử phát triển: 1.
Rig Vệ Đà: Rig Vệ Đà là
kinh văn Vệ Đà cổ nhất còn lưu giữ được, và nó chứa đựng nhiều dữ
kiện lịch sử chung của nền văn hóa Ấn-Âu, về cả hai phương diện, ngôn
ngữ và nội dung, không hề thấy có trong các kinh văn Vệ Đà khác. Sự
hình thành của nó phải trải qua nhiều thế kỷ, trước xa nhiều hình thức
kinh điển khác, và người ta tin rằng nó phải được hoàn tất vào khoảng
1500 trước Tây lịch. Về
phương diện khảo cổ, thời kỳ nầy có lẽ thích hợp với nền văn hóa
Gandhara Grave, và những thế hệ tiếp nối
nền Văn minh Thung Lũng Ấn Độ (Indus Valley Civilization-IVC), những tập quán
Cemetery-H trong nền văn hóa Punjab và Sành
sứ Nhuộm màu Ochre (OCP) ở xa hơn về phía đông. Không thể chối cải
được, nhất là điều nầy đã được nhấn mạnh bởi các trương phái
Ấn Độ, rằng nó đã có thể hiện một phần quan trọng sự tiếp nối của
nền văn hóa IVC bản địa. Về phương diện ngôn ngữ, ngay cả trong Rig Vệ
Đà, cũng thể hiện ảnh hưởng của nền tảng văn minh Dravidian. Một
bản đồ Ấn Độ về thời kỳ Đồ Sắc Vệ Đà theo Witzel (1989) cho
chúng ta hình ảnh phối trí sinh hoạt các sắc tộc Realms, các sắc tộc
ngoại lai, sắc tộc Vệ Đà Shakhas, sông
ngoài, kể cả sa mạc Thar. 2.
Ngôn ngữ Mantra: Thời kỳ nầy bao gồm
cả hai hình thức, thơ và văn xuôi, của Atharva
Vệ Đà (Paippalada và Shaunakiya), Rig Vệ
Đà Khilani, Sama Vệ Đà, Samhita (chứa đến 75 bài thơ không thấy
có trong Rig Vệ Đà), và thơ của Yajur Vệ Đà. Những kinh văn nầy phần lớn
được đẫn từ Rig Vệ Đà, nhưng cũng chứng tỏ một ít thay đổi căn bản,
về cả hai phương điện, văn tự và cách diễn giải. Những thay đổi dễ
nhận ra nhất gồm có sự biến đổi
từ vishva “all” bằng từ sarva, và sự xử dụng rộng rải tiếp-động-từ kuru (cho Rig Vệ Đà krno). Đây là thời kỳ Tiền Đồ Sắc ở
vùng Tây-Bắc Ấn Độ, tương ứng với nền văn hóa Black and Red Ware (BRW), và vương quốc Kurus, trong thế kỷ thứ 12 trước Tây lịch. 3.
Tiểu thuyết Sanhita: Thời kỳ nầy
(1100 - 800 BC) đánh dấu sự bắt đầu của sự nghiệp tập hợp và điển
chế luật lệ Vệ Đà. Một thay đổi quan trong về ngôn ngữ là sự biến
mất hoàn toàn của các thể mệnh lệnh,
điều kiện cách, trong thể xác định.
Phần tường thuật của Yajur Vệ Đà (MS,
KS) thuộc vào thời kỳ nầy. Theo tài liệu khảo cổ, thời đại Văn
Hoá Đồ Sơn Xám (PGW) từ 900 trước Tây
lịch, tương ứng với thời điểm chuyển biến trung tâm chính trị từ
Kuru đến Pancalas ở Ganges. Một phần
nền văn hóa Black Yajur Vệ Đà cũng
thuộc vào thời kỳ nầy. 4.
Tiểu thuyết Brahmana: Những kinh văn
Brahmanas của 4 pho Vệ Đà thuộc vào cùng thời đại nầy, cũng như bộ
Upanishads cổ nhất (BAU, 5.
Ngôn ngữ Sutra: Đây là hình thái cuối
cùng của ngôn ngữ Sanskrit Vệ Đà kéo dài cho đến 500 trước Tây lịch,
gồm toàn bộ khối kinh văn khổng lồ Shrauta và Grhya, và một phần
Upanishads (như KathU, MaitrU. Kinh văn Upanishads trẻ tuổi hơn là bộ Hậu-Vệ
Đà). Khi mà Videha, trung tâm chính trị thứ ba, được thành lập. Khoảng
500 trước Tây lịch, tất cả những yếu tố phong tục, chính trị, và
ngôn ngữ đã phối hợp làm cáo chung thời đại Vệ Đà. Điển chế nghi
lễ Vệ Đà lên đến tuyệt đỉnh của nó, và những phong trào chống đối
như Vedanta và Tiền Phật giáo khởi sự thâm nhập xã
hội, dùng các thổ ngữ Pali và Prakrit, hơn là Sanskrit trong các kinh văn. Hoàng Đế Darius I của Persia đã xâm lăng
thung lũng Ấn Độ, và trung tâm chính trị các vương quốc Ấn-Âu dời xa
hơn về phía đông, đến tận vùng đồng bằng Gangetic. Vào khoảng thời gian nầy (thế kỷ
thứ 5 trước Tây lịch), Panini sang định
lại văn phạm của Sanskrit cổ điển. 6.
Sankrit Epic và Paninian: Các loại ngôn gnữ
Epics Mahabharata và Ramayana, và Sanskrit cổ điển diễn tả
bởi kinh sách Panini được xem như là Hậu-Vệ Đà, và thuộc thời kỳ
sau 500 trước Tây lịch. Theo tài liệu khảo cổ, sự phát triển rộng lớn
và nhanh chóng của Thời đại Sành Sứ Đánh Bóng Màu Đen ở miền Bắc (Northern Black Polished Ware-NBP) ra khắp miền
bắc Ấn Độ tương ứng với thời kỳ nầy. Ngôn ngữ Prakrit Vedanta, Buddha, và Pali của kinh điển Phật giáo cũng thuộc
thời kỳ nầy. Sử
liệu chỉ được thành lập sau cuối thời kỳ Vệ Đà, và rất hiếm hoi
trong suốt thời đại Trung Cổ Ấn Độ. Cuối thời Vệ Đà, Ấn Độ được
đánh dấu bằng những thay đổi về ngôn ngữ, phong tục, và chính trị. Văn
phạm Panini đánh dấu đỉnh cao cuối cùng của hệ thống điển chế kinh
văn tế lễ, và đây cũng là thời kỳ bắt dầu ngôn ngữ Sanskrit cổ điển.
Cuộc xâm lăng thung lũng Ấn Độ của Darius I vào cuối thế kỷ thứ
6 trước Tây lịch đánh dấu điểm bắt đầu của ảnh hưởng ngoại lai
mạnh mẽ, tiếp nối tập quán truyền thống của những vương quốc Ấn-Hy
Lạp, những làn sóng di cư mới bắt đầu từ 150 trước Tây lịch (Abhira, Shaka), và đặc biệt là ảnh hưởng
của những Đế quốc Hồi giáo Trung cổ. Tài liệu lịch sử quan trọng nhất
về địa dư và nhân chủng của thời đại Hậu-Vệ Đà ở Ấn Độ là
những tác phẩm giá trị của Arrian, sử gia Hy Lạp vào thế kỷ thứ 2. Văn hóa Sanskrit
Cổ Điển: Trong nền văn hóa
Ấn Độ, rất khó mà vẻ được một lằn ranh phân biệt giữa các triết
thuyết tôn giáo và văn minh thế sự, đặc biệt là những câu chuyện thế
sự thường được phô diễn bằng những luận án tôn giáo. Một số dạng
văn hóa Sanskrit đã được viết để giải trí và để làm vui cho các triều
đại vua chúa. Những giải trí nầy dành cho hàng khán thính giả có kiến
thức. Giải trí là những bi kịch được đạo diễn để trình bày với
giới người trí thức, hạng thượng lưu, và có trình độ văn hóa và cảm
xúc. Khán thính giả phải thuộc giới có trình độ về ngôn ngữ Sanskrit
ngay ở trong gia đình, phải có cái âm giọng của giới thượng lưu trí thức
có tầm vóc quốc gia. Mặc dầu một ít diễn viên trong các bi kịch nói tiến
phổ thông, là Prakrit, biệt tài về ngôn ngữ Sanskrit của người viết kịch
vẫn là yếu tố chính quyết định giá trị của nó. Một
soạn giả bi kịch Sanskrit đáng kính phục nhất là Kalidasa, sinh vào thập
niên 400. Ông ta được coi là một soạn giả bi kịch vĩ đại nhất được
biết dưới danh xưng “Shakespeare của Ấn Độ”. Vở kịch nổi tiếng
nhất của ông ta, Abhigyaan Shakuntala, đặt tên theo vị nữ anh hùng
trong truyện, được căn cứ theo câu chuyện tình sử trong kinh Mahabharata.
Kalidasa cũng đã là một bậc thầy trong nghệ thuật thơ khai phóng, gọi
là kavya. Trong phong tục nầy, thể loại văn chương (literary style and form)
được coi trọng hơn ngay cả nội dung câu chuyện. Bài thơ tự sự
Meghaduta của Kaliđasa (Nhà tiên tri mây) mô tả mây hoạt động như thế nào
trong vai trò môi giới giữa hai người yêu cách biệt. Nó chứa đựng tràn
đầy những thể hiện chi tiết về tình yêu và thiên nhiên. Bản
Gitagovinda (Bài Ca của Govinda), một bài thơ khai phóng quan trọng của thi sĩ
Jayadeva (thi sĩ thập niên 1100), mô tả việc làm tình của Govinda (một tên
khác của Krishma) và Radha, và được hành diễn trên một con đê của sông
Văn hóa Pali,
Sanskrit, và Dravidian cổ: Nhóm ngôn ngữ
Dravidian nói ở miền nam Ấn Độ có một văn hóa cổ điển. Nền văn hóa
nầy hầu như tách biệt với phong tục tập quán Sanskrit, nhưng ngôn ngữ
Dravidian mượn rất nhiều “ngôn từ” từ Sanskrit. Trong nhóm nầy, có bốn
ngôn ngữ chính: Tamil, Telugu, Kannada, và Malayalam. Văn hóa Tamil cổ,
Sangam (cộng đồng), được viết bằng hai nhóm thơ văn. Một nhóm viết thơ
tình ái. Nhóm khác quan chú mô tả lòng can đảm và sự vinh quang của các
vị vua, và chuyên viết về cái thiện và cái ác. Văn hóa Sangam cổ được
chính thức ghi nhận từ thế kỷ thứ Tư trước kỷ nguyên (300’s B.C.).
Chúng bao gồm tám bộ, tập hợp các bài ca văn, và mười bài thơ dài. Có
473 nhà văn, gồm cả 30 nhà văn nữ, là những người nổi tiếng nhất
trong môn phái Avvaiyar. Hai bài thơ tự
sự được sáng tác vào thế kỷ thứ 2, Silappadhikaram (Câu chuyện
Anklet) của tác giả Llango-Adigal, và Manimekalai của tác giả
Chatthanar, cung cấp nhiều dử kiện sống động về xã hội Tamil. Câu
chuyên của manimekalai thể hiện rất chi tiết về những môn phái triết học
Phật giáo. Vào thế kỷ thứ 5, Thiruvalluvar viết kinh Thirukkural, một hướng
dẫn vào cách sống giải thoát. Văn chương,
kinh điển tôn giáo giải thoát đã được viết vào khoảng thế kỷ thứ
6. Một nhóm thi sĩ Tamil gọi là Nayanars đã trở thành môn hộ thần Shiva,
và một nhóm khác, mang tên Alvars, là môn hộ thần Vishnu. Thơ phú của cả
hai môn phái mang màu sắc cá nhân tính mạnh mẻ. Cả hai đều bao gồm nhiều
nữ thi sĩ. Nhiều bài thơ Tamil ca ngợi nhiều đền thờ trong vùng. Một bản
dịch Tamil của Ramayana được sang định bởi thi sĩ Kamban giữa thế kỷ 9
và 11. Văn chương qua
những ngôn ngữ Dravidian khác tiếp nối những thuyết án tương tự, bị
ảnh hưởng bởi phong tục tập quán Tamil và Sanskrit. Văn chương Tamil phản
ánh quan trọng phong tục Ấn giáo và Phật giáo, nhưng Kannada thì bị ảnh
hưởng bởi Jainism nhiều hơn. Văn chương qua những ngôn ngữ nam Ấn Độ
phát triển từ lâu trước các nền văn minh địa phương ở miền bắc Ấn,
và chúng được liên tục phát triển để trở thành những ngôn ngữ quan
trọng ngày nay. Văn
hóa Dravidian: Những
ngôn ngữ ở miền nam Ấn Độ lập thành họ ngôn ngữ Dravidians. Các bộ
tộc nói tiếng Dravidian cũng được hội lập ngay trong những địa phương
mà các loại ngôn ngữ bắc Ấn đã từng thống dụng. Ngôn
ngữ Dravidian làm thành từng nhóm bộ tộc riêng, và không giống như các
vùng nói tiếng Aryan, Austric, hay Sino-Tibetan, họ không có liên hệ với bên
ngoài ở các vùng bán đảo Ấn Độ, ví như Ấn Độ, 1.
Nhánh
phía bắc, gồm ngôn ngữ Brahui được người Baluchistan và Kurukh
dùng, và Malto do người |