
MỘT NHÀ KHOA HỌC VÀ MỘT THÁNH
Năm 1996 và 1997 chứng
kiến cái chết của Carl Sagan và Mẹ Teresa. Báo
chí đã đăng những lời từ biệt kính ngưỡng và xứng đáng đối với
Carl Sagan. Những người ngưỡng mộ
Carl Sagan trên khắp thế giới đều cảm thấy đau buồn trước sự mất mát
này. Tôi (Judith Hayes) là một trong số
những người này. Agnes Gonxha Bojaxhiu
(còn được biết dưới tên Mẹ Teresa) đã xuất hiện trên trang nhất của
báo chí trong suốt 10 ngày, với những bài viết của hầu hết các nghiệp
đoàn báo chí, ngoài những tin trên trang nhất.
Các đài truyền hình cũng không ngớt đưa lên màn ảnh bộ mặt
của Mẹ Teresa. Một ước tính cho thấy,
về cái chết của Teresa, bộ mặt của Teresa được đưa lên những diễn
đàn công cộng nhiều hơn gấp 10 lần về cái chết của Sagan. Xã hội cần phải đánh giá lại những
ưu tiên của nó. Nếu trong chúng ta đã
từng có những vĩ nhân, thì Carl Sagan là một trong những vĩ nhân này. Hầu như là đơn độc, kiên trì chống lại
những người cùng giới, Sagan đã thay đổi bộ mặt của khoa học. Ông ta đã cứu những sự kỳ diệu của
khoa học ra khỏi những quan niệm cũ kỹ lỗi thời, và trình bày chúng trước
toàn thể thế giới để cho chúng ta
chiêm ngưỡng. Hơn ai hết, Sagan đã
đưa sự tưởng tượng của chúng ta vào sự hiểu biết và thích thú trong
việc khám phá không gian, và chỗ đứng của chúng ta trong vũ trụ. Chúng
ta nhìn lên những ngôi sao trên trời và suy nghĩ, thực sự suy nghĩ, về chúng. Nhiều người trong chúng ta, đây có lẽ
là lần đầu tiên. Vấn đề có sự sống
ở những nơi khác trong vũ trụ không còn là lãnh vực chuyên biệt của
khoa học giả tưởng. Chúng ta đều
được hưởng một vũ trụ quan mới, kỳ diệu, và hấp dẫn, và cuối
cùng đã vứt bỏ những quan niệm lạc hậu về vũ trụ… So sánh Carl Sagan với
Mẹ Teresa có lẽ không được công bằng, có lẽ là trường hợp so sánh
táo với cam. [Chính xác hơn, có lẽ
chúng ta phải nói là so sánh rồng với tôm, phượng hoàng với chim sẻ. TCN] Nhưng
tôi cần phải làm sự so sánh này để nhấn mạnh đến sự kiện là
chúng ta vẫn tiếp tục tin cậy một cách nguy hiểm vào những điều cũ kỹ
hoàn toàn vô dụng trong thế giới ngày nay. Sagan
nhìn vào tương lai với sự sáng suốt mà ít người trong chúng ta có được. Teresa chỉ nhìn về quá khứ, thời
mà người ta cho rằng các phù thủy là có thực, và những chuyện đuổi
quỷ ám ra khỏi con người là có nghĩa. Chúng
ta không thể tự cho phép nhìn về phía sau. (Teresa looked only
bacward, to a time when witches were deemed real and exorcisms eminent sensible. We can no longer afford to look backward.) Tôi tự hỏi những
tín đồ mê tín, sợ ma quỷ, trốn tránh nghĩa địa, có ý gì khi nói: “Hãy
để yên cho người đã chết”. Tại
sao vậy? Nếu chúng ta muốn nói điều
gì không hay về một người thì có phải tốt hơn là chọn một người đã
chết hơn là người còn sống, vì người sống có thể buồn phiền về những
lời nói của chúng ta? Tôi thường
được nghe lý luận là người chết không thể tự vệ được nữa. Phải chăng như vậy là chúng ta không nên
nói gì về Hitler, Stalin v..v.. vì họ không còn sống để mà tự vệ? Thực ra thì lý luận trên phản ánh một sự
mê tín cổ xưa – sự sợ hãi về một hồn ma người chết có thể theo
đuổi để làm hại ta nếu ta nói năng điều gì không hay về nó. Tuy nhiên, tôi không hề sợ hãi về một hồn
ma của Teresa ở trên trời theo đuổi để hại tôi, cho nên tôi nói ra đây
những ý nghĩ của tôi. Cảnh xun xoe tán tụng Mẹ Teresa trên
khắp thế giới là cơn ác mộng của một người theo chủ nghĩa nhân bản. Ký giả chen lấn nhau để giành lấy máy
vi âm và tìm những danh từ quá mức để mô tả cái người gốc Macedonie
(Teresa) không có gì nổi bật, đầu óc ở trên mây, với tâm cảnh thuộc
thế kỷ thứ 9 này... Trong khi những người than khóc về cái chết của
Teresa, rồi vui mừng vì hi vọng bà ta được phong thánh, tất cả làm cho
tôi và chắc chắn là làm cho nhiều người khác nữa thực sự đau đầu.
Thật là một sự tôn sùng nồng nhiệt không nhằm chỗ. (The spectacle of the
obsequious, worlwide eulogizing of Mother Teresa was a humanist's nightmare. Reporters fell all over themselves as they raced
for microphones and searched for superlatives to describe this bland, head-in-the-clouds
Macedonian with a ninth-century mentality. While
mourners gushed sentimentally, cheered by the expectation of sainthood, the whole thing
gave me, like many otheres for I’m sure, a monumental headache. What misplaced, ardent
idolization !) Chúng ta thường yêu
quí những anh hùng, và không có gì sai lầm với điều này. Nhưng từ đâu mà tôn họ lên làm anh hùng
là một điều quan trọng. Không có mấy
ai lại đề nghị Charles Manson, và đây là điều hay. Nhưng Mẹ Teresa, chắc chắn không phải là
Manson, nhưng chắc chắn sẽ chịu trách
nhiệm về cái chết của nhiều người hơn là Manson nhiều, nhiều ngàn người
hơn. Chút ít điều tốt bà làm chẳng đáng gì so với những số tác hại
không thể tính được mà bà đã làm. ( The little good she did was
overwhelmingly dwarfed by the incalculable harm she did.) “Dân số trên thế
giới chưa đến nỗi tuyệt vọng, nhưng nếu chúng ta cứ tiếp tục sinh sản
theo một nhịp độ điên rồ, chẳng bao lâu nữa sẽ không còn hi vọng.
Tài nguyên trên trái đất thì hữu hạn, bất kể đến lập trường con đà
điểu của Giáo hội Ca-Tô, và chúng ta phải nhìn về tương lai, sử dụng
mọi phương tiện khoa học mà chúng ta có, để tránh tai họa [nhân mãn]
đang đe dọa. Điều này gồm có việc
ngừa thai một cách khá dễ dàng. Sự
đau khổ mà chúng ta có thể phòng ngừa qua phương pháp ngừa thai này thật
là vô lượng. Do đó chúng ta không
được nhìn về dĩ vãng, cúi đầu trong những lời cầu nguyện vô vọng,
trong khi con cháu chúng ta chết.” (Our population figures
are not yet hopeless, but if we continue at our insane growth rate, they soon may be. The earth's resources are finite, notwithstanding
the Catholic Church's ostrich position, and we must look ahead, using every scientific
tool at our disposal, to avert the looming catastrophe.
That includes the fairly easily employed practice of birth control. The amount of suffering that could be prevented by
this one practice alone is immeasurable. So we
can not and must not look back, bowing our heads in futile prayers, while our children
die.) Tương lai của chúng
ta, nếu chúng ta còn có một tương lai nào đó, tùy thuộc vấn đề chúng
ta có nhận thức được những sự đe dọa hiển nhiên đối với nền văn
minh. Cuộc khủng khoảng về nạn nhân
mãn, một trong những cuộc khủng khoảng nghiêm trọng nhất, là điều hiển
nhiên, rất hiển nhiên, và cấp bách, cần đến sự quan tâm của cả thế
giới. Không chỉ đơn giản là một
thuyết lý về sự có thể, nếu chúng ta tiếp tục sinh sản theo nhịp độ
này, dẫn đến sự chết chóc khủng khiếp cho nhiều triệu người. Đây là một điều chắc chắn. Nếu chúng ta không chấm dứt sự sinh sản
theo cấp lũy thừa (exponential growth rate), thiên nhiên sẽ chấm dứt thay cho
chúng ta bằng nạn chết đói. Câu sáo ngữ lập
đi lập lại của Mẹ Teresa về “Thượng đế sẽ cung cấp đầy đủ”
(God will provide) là một sự mạ lỵ đối với những người có đầu óc. Nếu có một Thượng đế có thể cung cấp
đầy đủ cho nhân loại, thì ông ta đã chứng tỏ là ông ta không muốn
làm như vậy. Hàng ngày càng có nhiều
trẻ con chết đói… [Mỗi ngày trên thế giới có trên 40000 (bốn mươi ngàn)
trẻ con dưới 5 tuổi chết đói hoặc chết vì thiếu dinh dưỡng. TCN] Teresa còn nói: "Tôi
nghĩ rằng thật là quá đẹp cho những người nghèo chấp nhận số phận
của họ.. thế giới đang được phục vụ nhiều bởi sự đau khổ của
những người nghèo" ( Teresa also said: I think it is very beautiful for the
poor to accept their lot...the world is being much helped by the suffering of the poor
people). Tôi (Judith Hayes) thấy câu này
thật là tục tĩu (obscene). Đó là
lòng từ bi hay sao? Khi được hỏi là
bà có đồng ý là ở Ấn Độ có quá nhiều trẻ con hay không, bà Teresa đã
trả lời: "Tôi không đồng ý
vì Thượng đế bao giờ cũng cung cấp
đầy đủ" (I do not agree because God always provides). Thật vậy sao? Về vấn đề hòa bình trên thế giới, bà
ta nói: “Ngày nay, phá thai là tội ác tệ hại nhất và là kẻ thù lớn
nhất của hòa bình.” Thật là một
tư tưởng điên rồ. Nếu có người nào
giải thích cho tôi biết tại sao tự quyết định phá thai lại là một sự
đe dọa cho nền hòa bình thế giới thì tôi xin sẵn sàng nghe. Sự cuồng tín vào
nghiệp vụ thừa sai của Ca Tô Giáo La Mã đã hướng dẫn Teresa trong mọi
hoạt động. Bà ta huấn luyện những
“sơ” dưới quyền bà hỏi những bệnh nhân sắp chết là có muốn một
"vé lên thiên đường" hay không?
Nếu họ trả lời muốn thì sẽ có ngay một lễ rửa tội cấp
bách để kéo họ vào trong Ca Tô Giáo (She trained her workers to ask dying
patients if they would like a "ticket to heaven" and a positive response
prompted a speedy baptism into Roman Catholicism). [Nếu
chúng ta biết đến lời tuyên bố của giáo hoàng John Paul II là không làm
gì có thiên đường ở trên các tầng mây thì thiên đường của bà Teresa
đúng là một thiên đường mù. Đó
không phải là thiên đường của những người mù mắt mà là của những
người mù quáng tin vào một điều mà ngày nay đã không còn chỗ đứng
trong thế giới tiến bộ. TCN] Bà ta thường
xuyên rao giảng chống kiểm soát sinh đẻ ngay cả khi xung quanh có những trẻ
em chết đói. (She preached relentlessly against birth control even though
surrounded by starving children.) Chúng ta hãy so sánh
quan điểm trên với quan điểm của Tiến sĩ Sagan: “Nếu thế giới có
thể thoát được hậu quả nguy hiểm nhất của tình trạng tăng gia dân số
thì chúng ta phải phát minh ra những phương pháp hữu hiệu và an toàn tăng
gia thực phẩm.. Cũng cần phải có biện
pháp ngăn ngừa thụ thai, hiện đã có
rộng rãi trên thế giới, phải tiến lên sự bình đẳng nam nữ trong chính
trị, và nâng cao mức sống của những người nghèo khổ nhất.” Trong khi bà Teresa
nói chuyện tầm phào về một Thượng
đế cung cấp tất cả (prattled about a providing God) thì ngay trên đất Ấn
Độ của bà có 423 triệu người sống trong sự tuyệt đối nghèo khổ
(living in absolute poverty), 73.1 triệu trẻ em dưới 5 tuổi thiếu dinh dưỡng,
và 350 triệu mù chữ? [Lẽ dĩ nhiên,
đối với bà thì Thượng đế quả là đã cung cấp đầy đủ, quá đầy
đủ, vì bà ngồi trên đống tiền của thiên hạ đóng góp để bà làm việc
"từ thiện". Xin đọc trong phần
sau về bà đã dùng tiền của thiên hạ như thế nào. TCN] Carl Sagan nói: “Những bánh xe răng cưa
của sự nghèo khổ, dốt nát, vô vọng, và tự ti đã tạo nên một guồng
máy muôn đời thất bại có tác dụng nghiền nát những mơ ước của con
người từ thế hệ này sang thế hệ khác. Tất
cả chúng ta đều phải trả giá cho sự duy trì guồng máy đó để nó tiếp
tục chạy. Thất học chính là cái chốt
của bánh xe đó." Không cho bệnh nhân
dùng thuốc giảm đau mạnh (tại sao?) Mẹ Teresa nói với một bệnh nhân bị
bệnh ung thư đang ở thời kỳ cuối, đau quằn quại, sắp chết, "Con
nên nghĩ rằng con cũng đang đau đớn như Chúa Giê-su đang bị đóng đinh
trên thập giá; Chúa hẳn là đang hôn con đó" Bệnh nhân đó trả lời: "Vậy xin mẹ
nói với ông ta là đừng hôn con nữa." (Eschewing strong painkillers
(why?!) Mother Teresa told a dying patient in the agonizing last stage of cancer,
"You are suffering like Christ on the cross. So
Jesus must be kissing you." To which the
patient replied, "Then please tell him to stop kissing me"). Sagan nói: “Thế giới thật quá kỳ diệu,
với những tình thương yêu và đạo đức, cho nên chúng ta không có lý do
nào để mà tự lừa dối bằng những câu chuyện thích thú nhưng chẳng có
gì để làm bằng chứng.” Khi người ta phỏng đoán về việc
phong Thánh cho bà Teresa, người ta đã bàn cãi nhiều về bằng chứng của
những phép lạ, một điều kiện để được phong Thánh. Nhưng tôi nói rằng có một bằng chứng
rõ ràng về một phép lạ của bà Teresa. Đó
là bà đã xoay sở thuyết phục được hàng triệu người tin rằng bà ta
là đồ tốt cho nhân loại. Những hoạt
động thuộc thời Trung Cổ của bà được gói ghém lại và bán cho nhân
loại như là một lợi ích thế gian, thay vì thực chất của chúng là cản
trở, ngăn chận sự tiến bộ của con người. Trong khi những bệnh
nhân” của bà chỉ được chữa chạy một các tác trách thì khi chính bà
đau ốm, bà lại vào những nhà thương Tây phương đắt tiền nhất để
chữa trị. Có ai thấy sự đạo đức
giả ở đây không? Bà thường xuyên nói như con vẹt (parroting) về lập
trường Ca Tô là ngăn ngừa kiểm soát thụ thai là không hợp với thiên
nhiên. Lẽ dĩ nhiên là không hợp với
thiên nhiên, cũng như là mổ để cắt ruột dư, hoặc gắn một máy để
cho tim đập điều hòa (pacemaker) mà Mẹ Teresa đã làm năm 1989, hay không hợp
với thiên nhiên khi bà được thông một
mạch máu bị tắc năm 1993 . Đó là những
việc không hợp với thiên nhiên mà bà Teresa đã làm. Thật là đạo đức giả rất rõ ràng
(unambiguous hypocrisy). [Tại sao bà Teresa không chịu đựng những sự bất
thường đau đớn trong cơ thể bà như là Chúa Giê-su chịu đựng trên thập
giá. Tại sao bà không nghĩ rằng những
khi bà bị bệnh đó chính là Chúa đang hôn bà?
Tại sao bà phải vào những nhà thương đắt tiền nhất (tiền
đóng góp cho việc từ thiện của quần chúng), có nhiều phương tiện tối
tân nhất, để chữa trị cho bà, trong khi bà không chịu chữa trị đúng mức
cho những bệnh nhân trong những nhà thương "từ thiện" của chính
bà? TCN] Đối với những
người theo chủ nghĩa nhân bản, chức vị Thánh thật chẵng có nghĩa gì
(Sainthood means nothing at all to humanists..) Đó
chỉ là một tấm băng xanh huyễn hoặc gắn trên ngực trong một cuộc sống
huyễn hoặc sau khi chết, chẳng khác gì mấy tấm băng tuyên dương một nữ
sinh hướng đạo (Girl Scout merit badge). Nhưng
đối với tôi, tôi không thấy bất cứ cái gì trong đời sống hoặc ký
ức của bà Teresa để mà tôn kính, xét đến sự đau khổ mà bà ta đã tạo
ra cho hàng triệu người. (But I, personally, can find nothing about Mother Teresa's
life or memory to revere, in light of the suffering she helped to create for untold
millions.) Ngược lại, những
đóng góp to lớn của Carl Sagan cho kiến thức tổng quát của con người,
đặc biệt là về khoa học, không còn nghi ngờ gì nữa là đã mang lại
nhiều lợi ích cho nhiều triệu người. Khó
mà có thể ước tính được số người đã tìm cảm hứng hay cảm thấy
thích thú vì sự khuyến khích của Sagan trước những kỳ diệu của khoa học. Sagan đã dẫn chúng ta trên con đường mở
mang kiến thức về thế giới thiên nhiên, và chúng ta đã vui vẻ đi theo
con đường này. Có nhiều tỷ người
trên thế giới. Nhưng chỉ có một
Carl Sagan. Và khi chúng ta nói về ông
ta chúng ta nói về một cái gì vĩ đại. Chúng
ta nhảy từng bước một trong kiến thức vì thiên tài của Sagan. Tôi (Judith Hayes) cho rằng chúng ta còn phải
chờ rất lâu mới thấy xuất hiện một Carl Sagan khác. Những ký ức về ông ta đáng để cho cho
chúng ta kính ngưỡng nhất mực. Lẽ dĩ
nhiên ông ta sẽ không bao giờ được “phong Thánh”, và cũng lẽ dĩ nhiên
ông ta chẳng bao giờ muốn được như vậy. Tuy nhiên, nếu danh từ
“Thánh” được dùng trong nghĩa thế tục về một người có ích thực sự
cho nhân loại, một người mang đến cho thế giới nhiều hơn là lấy đi từ
thế giới, thì Carl Sagan, con người khả ái, tôn thượng kiến thức và
lý trí, sẽ là người thắng quyết định trong cuộc đua ngựa tay đôi
này [giữa Sagan và Teresa]. * Vài Tài Liệu Bổ Túc Về Bộ Mặt
Thật Của Teresa.
B. S. Rajneesh, tác giả cuốn Linh Mục và
Chính Trị Gia: Những Mafia của Linh Hồn (Priests & Politicians: The Mafia
of the Soul), viết như sau, trang 25: Nếu con người
nghèo đói, họ có thể dễ bị dụ vào Ki Tô Giáo, đặc biệt là Ca Tô
Giáo. Những trường học, nhà thương,
và viện mồ côi của họ chẳng qua cũng chỉ là những xưởng để dụ
người ta trở thành tín đồ Ca Tô (If people are poor and hungry, they can be
easily converted to Christianity, particularly into the Catholic Church. Their schools, their hospitals, their orphanages
are nothing but factories for converting people into Catholics). Tôi không nói là
các việc từ thiện của CaTô giáo không có ích lợi gì. Lẽ dĩ nhiên chúng có góp phần để làm vơi
bớt sự khó khăn và đau khổ mà con người gặp phải. Tôi cũng không nói là trong Giáo hội Ca Tô
La Mã không có người giầu lòng bác ái. Trong
mọi xã hội, mọi tôn giáo, đều có những người giầu lòng bác ái,
không chỉ người Ca Tô mới giầu lòng bác ái.
Nhưng chỉ cần đọc chút ít và biết chút ít về một số
các cơ sở từ thiện của Giáo hội Ca-Tô trên khắp thế giới là chúng
ta có thể thấy cái động cơ đằng sau những công việc từ thiện này
và phương cách xử dụng thì chẳng thiện chút nào. Trường hợp những cơ sở “từ thiện”
của dòng tu “Thừa sai bác ái” do bà Teresa thành lập, được thổi phồng
và quảng cáo nhiều nhất, là trường hợp điển hình. Sau đây là vài tài liệu về thực chất
những công việc “từ thiện” của bà Teresa. Tờ Newsweek, số
ngày 13 tháng 11, 1995, David Gates có điểm cuốn sách "The Missionary Hitchens cũng ghi chú rằng Mẹ đã vào
"điều trị ở một vài bệnh viện tốt nhất và đắt tiền nhất
ở Tây phương." Hitchens lý
luận rằng "Mẹ làm công việc từ thiện không phải vì chính sự
từ thiện mà chỉ để mong một ngày nào đó được kể như một vị
Thánh thành lập một dòng tu mới trong giáo hội." (Hitchens' Mother Teresa is an anti abortion
"demagogue" and a "servant of earthly powers," cozying up to such a
slime as S & L (Savings & Loans) swindler Charles Keating, on whose behalf she
wrote to Judge Lance Ito during his 1992 trial. In
a well-reasoned reply, a deputy D.A. explained to her how Keating stole the money he'd
donated and suggested she return it to "its rightful owners"; she never
answered. ...Hitchens notes, she
herself has "checked into some of the finest and costliest clinics and hospitals in
the West." She does charitable work, he
argues, "not for its own sake but...so that she may one day be counted as the
beatific founder of a new order and discipline within the Church itself.") Ngoài ra, một học giả chuyên
gia viết tiểu sử, Anne Sebba, đã sang tận Calcutta và nhiều nơi khác để
quan sát những "cơ sở từ thiện" của bà Teresa và tìm hiểu sự
thực về những "công cuộc từ thiện" của bà Teresa. Kết quả nghiên cứu trong nhiều năm được
viết thành cuốn "Mother Teresa: Beyond The Image" (Mẹ Teresa:
Ngoài Cái Hình Ảnh Được Tạo Nên"), Doubleday, New york, 1997, trong đó tác giả đã dùng hơn nửa cuốn
sách dày gần 300 trang để viết về một số những sự thực về cái gọi
là "công cuộc từ thiện" của
bà Teresa mà chính tác giả đã đích thân đến tận nơi quan sát, tìm hiểu
cùng qua nhiều cuộc phỏng vấn những nhân vật có thẩm quyền như bác sĩ,
nữ tu, những người đứng đầu các cơ quan từ thiện, những nhân viên
thiện nguyện và cả những cựu nữ tu trong dòng "Thừa Sai Bác
Ái" (Missionaries of Charity) của bà Teresa (I am full of questions and have put
as many as I can to people qualified to answer them including doctors, nuns, heads of
charities, volunteers and former Missionaries of Charity).
Sau đây là
vài điểm chính mà tác giả, Anne Sebba, đã khám phá ra: * Về tiểu sử,
bà Teresa không có gì đặc biệt, chúng ta thấy cùng một niềm
tin tôn giáo đã hướng dẫn bà trong mọi việc. (Preface: Biographically speaking, Mother Teresa's
life is not interesting; there is the same straightforward religious faith that guides her
in everything...) * Công việc từ thiện của bà Teresa
không bắt nguồn từ chính lòng từ thiện mà động cơ thúc đẩy chính
là để làm sáng danh Chúa và để truyền đạo. Ngay cái tên của dòng "Thừa Sai Bác
Ái" cũng đã nói lên rõ ràng mục đích truyền đạo của các thừa
sai trong những thế kỷ qua. Bà
Teresa biết rõ về lịch sử truyền đạo ở Ấn Độ và toan tính KiTô
hóa quốc gia này trong 400 năm qua. Bà
Teresa đã khẳng định rằng công việc bà làm là để phục vụ Chúa,
không phải phục vụ con người, phục vụ Chúa bằng cách kiếm thêm
nhiều tín đồ cho Chúa mà những sự đau khổ, bất hạnh của con người
là những cơ hội để bà làm "việc thiện", chứng tỏ
"lòng từ bi" của Bà. Bà
không phải là cứu tinh của nhân loại, những việc bà làm chỉ có
tính cách tượng trưng bề ngoài. [Trong
cái niềm tin của Bà Teresa, bà cố ý lờ đi chuyện những đau khổ, bất
hạnh của con người cũng là do Chúa tạo ra.
Cũng như gần đây GH John Paul II tuyên bố: Mẹ Teresa là quà của
Thượng đế cho những người nghèo khổ (gift of God for the poor) nhưng Ngài
không hề nói tới những người nghèo khổ là quà của Thượng đế cho
ai? Chắc là cho Bà Teresa để Bà có cơ hội làm việc thiện vinh danh Chúa.
Một mặt Chúa tạo ra những đau khổ, một mặt khác Chúa nhờ bà Teresa,
qua dòng "Thừa sai bác ái", quảng
bá lòng thương của Chúa qua những việc từ thiện chỉ có tính cách tượng
trưng. Ấy thế mà vẫn có nhiều người ca tụng lòng yêu thương của Chúa
đối với nhân loại, và lòng "bác ái" của bà Teresa. TCN] Tác giả Anne Sebba còn đưa ra nhiều hình
ảnh của bà Teresa, trái ngược hẳn với những hình ảnh đã được bộ
máy tuyên truyền của giáo hội trên thế giới đưa ra, thí dụ như: "đạo đức
giả, ve vãn giới truyền thông, thân cận với một số lãnh tụ độc tài
trên thế giới, bất minh về vấn đề tiền bạc, nhận tiền thụt két
nhà băng của một tên lừa đảo (Charles Keating) và khi Tòa án viết thơ
khuyên Bà nên trả lại số tiền đó thì lờ đi không trả lời, dùng tiền
của thiên hạ đổ vào các tu viện thay vì nhà thương và để cho các cơ
sở từ thiện rất thiếu thốn, mù quáng theo lệnh của Vatican chống mọi
kế hoạch hóa gia đình v..v.." (personal hypocrisy, consorting with dictators, courting the media and - perhaps most serious of
all - "operating ...as the roving
ambassador of a highly political papacy,"
blindly objecting to all forms of family planning, refused to return the stolen money that
Keating had donated, alledgedly spent millions of pounds on convents rather than building
new hospitals, administering dubious medical
treatment). Đó là thực chất
những công việc "từ thiện" của Mẹ Teresa, người mà các tín đồ
Ca Tô được nhồi vào trong đầu óc hình ảnh của một Thánh nhân. Ngày nay, đã có thêm nhiều tài liệu về
bà Teresa do chính những người trước đây cộng tác với bà, như các sơ
(soeur, sister), viết ra. Họ không phải là người ngoài mà là chứng nhân
trong cái gọi là dòng tu "Thừa sai bác ái" của bà Teresa. Hình ảnh
của bà Teresa mà họ đưa ra không thánh thiện như giáo hội đã cấy vào
đầu óc các tín đồ mà thực ra là : đạo đức giả, lừa bịp,
gian dối, tàn nhẫn, cuồng tín, lạc hậu v..v... như chúng ta sẽ thấy
trong vài tài liệu sau đây. Để quảng cáo kiếm
tiền, Giáo hội đưa ra hình ảnh bà Teresa đang bồng ru một em bé Ấn độ
ốm yếu, làm mủi lòng nhiều người. Giáo
hội cũng quảng cáo là dòng "Thừa sai bác ái" của bà Teresa đã
thiết lập những "cơ sở từ thiện" trong hơn 25 quốc gia với những
nhà thương, viện mồ côi, trường học v..v..
[Việt Nam, có lẽ đã biết rõ thực chất những "hoạt động
từ thiện" của bà Teresa nên đã từ chối, không chấp nhận đề nghị
lập viện mồ côi tại Việt Nam của bà Teresa ngay khi Mỹ còn đang cấm vận. Đây là một quyết định khôn ngoan của
chính quyền, không rơi vào cái bẫy "từ thiện để kiếm thêm linh hồn
cho Chúa" của thế lực đen quốc tế. TCN] Ai cũng biết, công
việc "từ thiện" của bà Teresa tập trung ở Calcutta, Ấn độ, và
quảng cáo rầm rộ nhất cũng là những hoạt động của dòng "thừa
sai bác ái" ở Ấn độ. Những
tài liệu của Christopher Hitchens và Anne Sebba ở trên đã cho chúng ta thấy
phần nào mặt trái của các cơ sở "từ thiện" đó. Sau khi bà Teresa chết thì có một số sơ
trước đây đã cộng tác với bà trong tổ chức "Thừa sai bác
ái" đã tiết lộ nhiều chi tiết thuộc loại động trời. Thí dụ, sơ Susan Shields đã viết trong tờ Free
Inquiry, số mùa đông 1998, tiết lộ rằng: “Một phần nhiệm vụ của sơ là
giúp trong việc giữ sổ sách về số tiền, lên đến nhiều triệu đô la,
do những người có từ tâm đóng góp để bà Teresa làm việc "từ thiện"
vì tin ở những lời tuyên truyền quảng cáo của dòng tu "Thừa sai
bác ái", nhưng hầu hết những số tiền đó lại để trong nhiều
ngân hàng khác nhau mà không dùng gì đến, trong khi các sơ hàng ngày phải
đi ăn mày (beg) thức ăn của các thương gia địa phương, vì bà Teresa chủ
trương "nghèo khổ" là một đức tính.
Ngày nào xin không đủ thì các em mồ côi hoặc các bệnh
nhân dưới sự "săn sóc" của hội "thừa sai bác ái" phải
ăn đói. Đó là từ thiện hay sao? Với
hàng triệu đô la nằm ì trong các ngân hàng mà bà Teresa vẫn thường xuyên kêu gọi đóng góp thêm cho công cuộc từ
thiện của bà, thật là hoàn toàn vô nghĩa.” (Judith Hayes trong The
Happy Heretic, p. 66-67: Shields revealed
that part of her job was to help keep track of the millions of dollars donated to Teresa's
"charity" work. Unfortunately, most
of that money sat unused in various bank accounts while the sisters literally had to beg
for food from local merchants, since "poverty" is supposedly a virtue. If the locals couldn't help out, the soup kitchens
did without. This is charity? With millions sitting idle and Teresa constantly
asking for more donations, it makes no sense at all.) Trước những tiết
lộ trên của sơ Shields, một ký giả viết cho Knight Ridder, Clark Morphew, đã viết bài biện bạch cho bà Teresa, nhưng
chính những lý luận biện bạch này lại càng làm sáng tỏ thực chất
công cuộc "từ thiện" của bà Teresa.
Morphew viết rằng bà Teresa tin rằng sự đau khổ của con
người là một điều tốt, và ngừa thai bao giờ cũng sai. (..among
Teresa's beliefs were the ideas that suffering is good and ..birth control is
always wrong.); chủ tâm của bà Teresa không phải là xóa nghèo và nạn mù
chữ. (wiping out poverty and illiteracy was not Teresa's focus). Morphew cũng còn
viết là người ta sẽ tiếp tục chỉ trích bà Teresa cho đến khi có
"một sự cải tiến sâu rộng" (criticism of Teresa will continue
until "some serious reform comes about), và rằng sơ Nirmala, người thay thế
bà Teresa điều hành dòng "thừa sai bác ái" có thể có những thay
đổi rộng lớn. (Since Sister Nirmala had taken over the reigns as Teresa's
successor, "grand changes could happen") Bình luận về những
lời biện bạch trên của Clark Morphew, nữ học giả Judith Hayes đã đặt
ra vài câu hỏi: Nếu những nhà thương
của bà Teresa được tài trợ rộng rãi mà được điều hành một cách
trôi chảy không có vấn đề gì, lương thiện và từ bi, thì tại sao lại
cần phải có bất cứ sự cải tiến sâu rộng nào? và tại sao lại cần những thay đổi rộng
lớn nếu không có sự sai lầm trong đó? (Ibid., p.67: But if Teresa's generously financed clinics were running smoothly,
honestly, and compassionately, why would any reform be needed at all? Again, why should "grand changes could
happen" unless something was wrong to begin with?).
Tác giả Judith Hayes còn phê phán: Tôi chưa từng nghe thấy một
người nào có lòng từ bi mà nghĩ rằng sự đau khổ của con người là một
điều tốt. Từ bi là đức tính tối
thiểu của một người mà chúng ta cho là xứng đáng được phong Thánh. Nếu
những điều Morphew viết là đúng thì chúng ta phải đặt bà Teresa đâu đó
giữa sự tàn ác và ngu đần, mà hay thay, trong tự điển từ Thánh (Saint)
nằm giữa 2 từ Tàn Ác (Sadistic) và
Ngu Đần (Stupid). [Tác giả đã chơi
chữ ở đây: (If all of that is true, it places Teresa somewhere between
"sadistic" and "stupid" which, interestingly, is where
"saint" appears in the dictionary)] Một ác cảnh khác
trong các nhà thương "từ thiện" của bà Teresa không thể chấp nhận
được là những sơ và những người thiện nguyện làm việc cho bà phải
dùng đi dùng lại những ống chích không được tẩy trùng để chích những
thuốc vô hiệu lực và thuốc trụ sinh không đủ mạnh cho các bệnh nhân
khiến cho họ càng đau đớn trong cơn hấp hối. (Judith Hayes, p. 68: Her
employees and volunteers used and reused unsterelized syringes to administer ineffective
drugs and mild antibiotics to terminally ill people, who suffered the resulting agonies) Trước những sự thực
phũ phàng về bộ mặt "từ thiện" thật của bà Teresa ở trên,
tác giả Judith Hayes, người đã từng nổi tiếng với tác phẩm Chúng Ta
Tin Thiên Chúa! Nhưng Là Thiên Chúa Nào? (In God We Trust! But Which One?), và
cũng là người mà qua những phương tiện truyền thông của Giáo hội đã
một thời tin rằng bà Teresa là một vị Thánh sống, sau khi biết rõ sự
thực đã vạch trần mặt trái của bà Teresa trong cuốn The Happy Heretic: "Nhân danh Thiên Chúa" bà
Teresa đã thu được hàng triệu đô la rồi vội vàng dấu kín nó đi như một
con sóc để dành thức ăn cho mùa Đông. "Nhân
danh Thiên Chúa", bà ta cũng cải đạo nhiều người trước khi họ tắt
hơi... Tôi tự hỏi, trong cái tầm
nhìn thô thiển của bà ta, có phải là bất cứ bà làm điều gì cho Thiên
Chúa là để cho bà được điểm cao (như các em hướng đạo sinh đi bán
bánh kẹo, ai bán được nhiều thì được đoàn trưởng gắn huy chương
khen thưởng. TCN) trong đời sau. Có lẽ
đối với bà ta thế giới này không hề có một ý nghĩa nào, chẳng qua chỉ
là cái mê hồn trận thách đố của Thiên Chúa để quyết định xem ai chiếm
được mẩu tốt nhất trên thiên đường. Nếu
thật là như vậy thì chúng ta có thể giải thích, vì không có gì khác có thể giải thích
được, tại sao bà ta có thể nhẫn tâm ngồi trên nhiều triệu đô la như
vậy trong khi trẻ con, ngay cả ở nơi bà hoạt động ở Ấn Độ, đang chết
đói. Điều này chống lại mọi giải
thích hợp lý, và tôi thách đố bất cứ ai, từ Morphew cho đến chính
giáo hoàng, có thể giải thích được sự kiện đó. (Teresa collected her
millions of dollars "in the name of God" and then promptly hid them away like a
squirrel readying for winter. She also
converted souls "in the name of
God", many just before they expired... I wonder if, in her simplistic view of things,
anything she did for God would earn her big-time brownie points in the afterlife. For her, perhaps, this world had no meaning
whatsoever, and was just some challenging religious maze, designed by God to determine who
gets the best bits of paradise. If so, it
might explain, since nothing else can, how she could be so callous as to sit on those
millions of dollars while children, even in her own part of “Hiển nhiên là
mục đích của bà ta là vơ vét tích tụ tiền bạc. Để làm gì, ai mà biết được.” (Apparently her goal was to hoard the money. To what end, though, is anybody's guess.) Thật là lạ
lùng, không có ai vạch trần những hoạt động đáng nghi ngờ của bà
Teresa sớm hơn. Mà chúng ta ai cũng biết
chuyện các linh mục hiếp dâm các trẻ em trai, có phải không - vậy tại
sao mà những chuyện về bà Teresa để quá lâu mới bị phanh phui? Câu trả lời thật là đơn giản, Giáo hội Ca Tô Rô Ma có những quyền lực
hăm dọa thật đáng sợ. Cho đến khi
tác phẩm mở mắt con người của Christopher Hitchen xuất bản năm 1995, cuốn
The Missionary Position, tôi không hề biết gì về những hoạt động trong những
"nhà thương" của bà Teresa. Cũng
như mọi người khác, tôi nghĩ rằng bà
ta là một Thánh sống. Tôi đã lầm.
Bất kể động cơ hành động của người đàn bà ở (It is surprising that
no one came forward sooner to talk about Teresa's questionable practices. But then that's everyone said about priests raping
little boys, isn't it - what took so long for the stories come out? Of course the answer is simple. The Roman Catholic Church has awesome, itimidating
powers. Until the publication of Christopher
Hitchen's eye-opening 1995 book, The Missionary Position, I had no idea what was going on
in Teresa's "clinics". Like everyone else, I thought she was literally a
saint. I was wrong. Whatever the motives of
the woman from Calcutta, I have seen enough human suffering in loved ones to recoil in
horror at the thought of terminal, tormented people being told that their suffering is a
good thing. Suffering is never a good thing. Especially today, when we have the ability to
alleviate so much pain, the mental image of those unfortunates who ended up in a Teresa
"clinic" is saddening and angering.) Tưởng chúng ta cũng nên biết thêm một
sự kiện về những tổ chức "từ thiện" của Trong Ca Tô Giáo có
không thiếu gì người tốt, vì bản tính của họ tốt, chứ không phải
vì Ca Tô Giáo tốt, xét đến cái lịch sử của giáo hội Ca Tô trong 2000 năm
qua. Nhiều người vô thần cũng tốt vậy
thôi. Không nên nghĩ rằng vô thần là
CS bởi vì vô thần đã có cả hơn ngàn năm nay.
Cho nên, chuyện các linh mục hay bà sơ săn sóc người cùi
v..v.. cũng có gì là đặc biệt đâu? Những
công việc từ thiện như vậy đâu phải chỉ mình Ca Tô Giáo mới có?
Trước khi Ca Tô Giáo ra đời, trên thế gian này cũng đã có
bao nhiêu là cơ sở từ thiện được lập ra, do chính quyền cũng như do cá
nhân. Vậy có gì đâu mà Ca Tô Giáo
lúc nào cũng phải mang nhãn hiệu bác ái giả tạo ra mà khoe? Nhưng sách lược của
Ca Tô Giáo là “có ít thì xít ra nhiều” và luôn luôn đưa ra bộ mặt thánh
thiện giả tạo của mình ra để lừa dối quần chúng, che đậy những động
cơ nhơ nhớp nấp đàng sau những khoa trương hoa mỹ, che đậy cái lịch sử
ô nhục của giáo hội, để giữ vững đức tin trong đám tín đồ thấp kém.. Nhưng thế giới ngày nay đã khác xưa nhiều
lắm, trí tuệ con người đã mở mang, thông tin điện tử đã giúp con người
tìm hiểu cặn kẽ mọi vấn đề. Do
đó các Giáo hội Ca Tô, mẹ cũng như con, đừng có hòng tiếp tục lừa dối
quần chúng bằng những thông tin sai lạc. Bộ
mặt thánh thiện của Teresa do giới truyền thông Ca Tô đưa lên nay đã bị
lem luốc, đầy những vết nhơ qua những thông tin chính xác về thực chất
công việc “từ thiện” của bà ta. Có
một chân lý ngàn đời không thay đổi: đó là, muốn cho người khác
không biết thì đừng có làm. Trong
2000 năm qua, giáo hội Ca Tô La Mã chưa từng biết đến chân lý này. © Copyright 2006 giaodiem.com |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com