giaodiem copyright
          posted: 12.6.2006
       MỘT NHÀ KHOA HỌC VÀ MỘT THÁNH
Trần Chung Ngọc phiên dịch
[“A Scientist and a Saint” By Judith Hayes] 

Năm 1996 và 1997 chứng kiến cái chết của Carl Sagan và Mẹ Teresa.  Báo chí đã đăng những lời từ biệt kính ngưỡng và xứng đáng đối với Carl Sagan.  Những người ngưỡng mộ Carl Sagan trên khắp thế giới đều cảm thấy đau buồn trước sự mất mát này.  Tôi (Judith Hayes) là một trong số những người này.  Agnes Gonxha Bojaxhiu (còn được biết dưới tên Mẹ Teresa) đã xuất hiện trên trang nhất của báo chí trong suốt 10 ngày, với những bài viết của hầu hết các nghiệp đoàn báo chí, ngoài những tin trên trang nhất.   Các đài truyền hình cũng không ngớt đưa lên màn ảnh bộ mặt của Mẹ Teresa.  Một ước tính cho thấy, về cái chết của Teresa, bộ mặt của Teresa được đưa lên những diễn đàn công cộng nhiều hơn gấp 10 lần về cái chết của Sagan.  Xã hội cần phải đánh giá lại những ưu tiên của nó. 

Nếu trong chúng ta đã từng có những vĩ nhân, thì Carl Sagan là một trong những vĩ nhân này.  Hầu như là đơn độc, kiên trì chống lại những người cùng giới, Sagan đã thay đổi bộ mặt của khoa học.  Ông ta đã cứu những sự kỳ diệu của khoa học ra khỏi những quan niệm cũ kỹ lỗi thời, và trình bày chúng trước toàn thể  thế giới để cho chúng ta chiêm ngưỡng. 

Hơn ai hết, Sagan đã đưa sự tưởng tượng của chúng ta vào sự hiểu biết và thích thú trong việc khám phá không gian, và chỗ đứng của chúng ta trong vũ trụ. Chúng ta nhìn lên những ngôi sao trên trời và suy nghĩ, thực sự suy nghĩ, về chúng.  Nhiều người trong chúng ta, đây có lẽ là lần đầu tiên.  Vấn đề có sự sống ở những nơi khác trong vũ trụ không còn là lãnh vực chuyên biệt của khoa học giả tưởng.  Chúng ta đều được hưởng một vũ trụ quan mới, kỳ diệu, và hấp dẫn, và cuối cùng đã vứt bỏ những quan niệm lạc hậu về vũ trụ… 

So sánh Carl Sagan với Mẹ Teresa có lẽ không được công bằng, có lẽ là trường hợp so sánh táo với cam.  [Chính xác hơn, có lẽ chúng ta phải nói là so sánh rồng với tôm, phượng hoàng với chim sẻ.  TCN]  Nhưng tôi cần phải làm sự so sánh này để nhấn mạnh đến sự kiện là chúng ta vẫn tiếp tục tin cậy một cách nguy hiểm vào những điều cũ kỹ hoàn toàn vô dụng trong thế giới ngày nay.  Sagan nhìn vào tương lai với sự sáng suốt mà ít người trong chúng ta có được.   Teresa chỉ nhìn về quá khứ, thời mà người ta cho rằng các phù thủy là có thực, và những chuyện đuổi quỷ ám ra khỏi con người là có nghĩa.  Chúng ta không thể tự cho phép nhìn về phía sau.

(Teresa looked only bacward, to a time when witches were deemed real and exorcisms eminent sensible.  We can no longer afford to look backward.) 

Tôi tự hỏi những tín đồ mê tín, sợ ma quỷ, trốn tránh nghĩa địa, có ý gì khi nói: “Hãy để yên cho người đã chết”.  Tại sao vậy?  Nếu chúng ta muốn nói điều gì không hay về một người thì có phải tốt hơn là chọn một người đã chết hơn là người còn sống, vì người sống có thể buồn phiền về những lời nói của chúng ta?  Tôi thường được nghe lý luận là người chết không thể tự vệ được nữa.  Phải chăng như vậy là chúng ta không nên nói gì về Hitler, Stalin v..v.. vì họ không còn sống để mà tự vệ?  Thực ra thì lý luận trên phản ánh một sự mê tín cổ xưa – sự sợ hãi về một hồn ma người chết có thể theo đuổi để làm hại ta nếu ta nói năng điều gì không hay về nó.  Tuy nhiên, tôi không hề sợ hãi về một hồn ma của Teresa ở trên trời theo đuổi để hại tôi, cho nên tôi nói ra đây những ý nghĩ của tôi. 

Cảnh xun xoe tán tụng Mẹ Teresa trên khắp thế giới là cơn ác mộng của một người theo chủ nghĩa nhân bản.  Ký giả chen lấn nhau để giành lấy máy vi âm và tìm những danh từ quá mức để mô tả cái người gốc Macedonie (Teresa) không có gì nổi bật, đầu óc ở trên mây, với tâm cảnh thuộc thế kỷ thứ 9 này... Trong khi những người than khóc về cái chết của Teresa, rồi vui mừng vì hi vọng bà ta được phong thánh, tất cả làm cho tôi và chắc chắn là làm cho nhiều người khác nữa thực sự đau đầu. Thật là một sự tôn sùng nồng nhiệt không nhằm chỗ.

(The spectacle of the obsequious, worlwide eulogizing of Mother Teresa was a humanist's nightmare.  Reporters fell all over themselves as they raced for microphones and searched for superlatives to describe this bland, head-in-the-clouds Macedonian with a ninth-century mentality.  While mourners gushed sentimentally, cheered by the expectation of sainthood, the whole thing gave me, like many otheres for I’m sure, a monumental headache. What misplaced, ardent idolization !) 

Chúng ta thường yêu quí những anh hùng, và không có gì sai lầm với điều này.  Nhưng từ đâu mà tôn họ lên làm anh hùng là một điều quan trọng.  Không có mấy ai lại đề nghị Charles Manson, và đây là điều hay.  Nhưng Mẹ Teresa, chắc chắn không phải là Manson,  nhưng chắc chắn sẽ chịu trách nhiệm về cái chết của nhiều người hơn là Manson nhiều, nhiều ngàn người hơn. Chút ít điều tốt bà làm chẳng đáng gì so với những số tác hại không thể tính được mà bà đã làm. ( The little good she did was overwhelmingly dwarfed by the incalculable harm she did.) 

“Dân số trên thế giới chưa đến nỗi tuyệt vọng, nhưng nếu chúng ta cứ tiếp tục sinh sản theo một nhịp độ điên rồ, chẳng bao lâu nữa sẽ không còn hi vọng. Tài nguyên trên trái đất thì hữu hạn, bất kể đến lập trường con đà điểu của Giáo hội Ca-Tô, và chúng ta phải nhìn về tương lai, sử dụng mọi phương tiện khoa học mà chúng ta có, để tránh tai họa [nhân mãn] đang đe dọa.  Điều này gồm có việc ngừa thai một cách khá dễ dàng.  Sự đau khổ mà chúng ta có thể phòng ngừa qua phương pháp ngừa thai này thật là vô lượng.  Do đó chúng ta không được nhìn về dĩ vãng, cúi đầu trong những lời cầu nguyện vô vọng, trong khi con cháu chúng ta chết.”

(Our population figures are not yet hopeless, but if we continue at our insane growth rate, they soon may be.  The earth's resources are finite, notwithstanding the Catholic Church's ostrich position, and we must look ahead, using every scientific tool at our disposal, to avert the looming catastrophe.   That includes the fairly easily employed practice of birth control.  The amount of suffering that could be prevented by this one practice alone is immeasurable.  So we can not and must not look back, bowing our heads in futile prayers, while our children die.) 

Tương lai của chúng ta, nếu chúng ta còn có một tương lai nào đó, tùy thuộc vấn đề chúng ta có nhận thức được những sự đe dọa hiển nhiên đối với nền văn minh.  Cuộc khủng khoảng về nạn nhân mãn, một trong những cuộc khủng khoảng nghiêm trọng nhất, là điều hiển nhiên, rất hiển nhiên, và cấp bách, cần đến sự quan tâm của cả thế giới.  Không chỉ đơn giản là một thuyết lý về sự có thể, nếu chúng ta tiếp tục sinh sản theo nhịp độ này, dẫn đến sự chết chóc khủng khiếp cho nhiều triệu người.  Đây là một điều chắc chắn.  Nếu chúng ta không chấm dứt sự sinh sản theo cấp lũy thừa (exponential growth rate), thiên nhiên sẽ chấm dứt thay cho chúng ta bằng nạn chết đói. 

Câu sáo ngữ lập đi lập lại của Mẹ Teresa về “Thượng đế sẽ cung cấp đầy đủ” (God will provide) là một sự mạ lỵ đối với những người có đầu óc.  Nếu có một Thượng đế có thể cung cấp đầy đủ cho nhân loại, thì ông ta đã chứng tỏ là ông ta không muốn làm như vậy.  Hàng ngày càng có nhiều trẻ con chết đói… [Mỗi ngày trên thế giới có trên 40000 (bốn mươi ngàn) trẻ con dưới 5 tuổi chết đói hoặc chết vì thiếu dinh dưỡng.  TCN] 

Teresa còn nói: "Tôi nghĩ rằng thật là quá đẹp cho những người nghèo chấp nhận số phận của họ.. thế giới đang được phục vụ nhiều bởi sự đau khổ của những người nghèo" ( Teresa also said: I think it is very beautiful for the poor to accept their lot...the world is being much helped by the suffering of the poor people).  Tôi (Judith Hayes) thấy câu này thật là tục tĩu (obscene).  Đó là lòng từ bi hay sao?  Khi được hỏi là bà có đồng ý là ở Ấn Độ có quá nhiều trẻ con hay không, bà Teresa đã trả lời:  "Tôi không đồng ý vì Thượng đế  bao giờ cũng cung cấp đầy đủ" (I do not agree because God always provides). Thật vậy sao?  Về vấn đề hòa bình trên thế giới, bà ta nói: “Ngày nay, phá thai là tội ác tệ hại nhất và là kẻ thù lớn nhất của hòa bình.”  Thật là một tư tưởng điên rồ.  Nếu có người nào giải thích cho tôi biết tại sao tự quyết định phá thai lại là một sự đe dọa cho nền hòa bình thế giới thì tôi xin sẵn sàng nghe. 

Sự cuồng tín vào nghiệp vụ thừa sai của Ca Tô Giáo La Mã đã hướng dẫn Teresa trong mọi hoạt động.  Bà ta huấn luyện những “sơ” dưới quyền bà hỏi những bệnh nhân sắp chết là có muốn một "vé lên thiên đường" hay không?   Nếu họ trả lời muốn thì sẽ có ngay một lễ rửa tội cấp bách để kéo họ vào trong Ca Tô Giáo (She trained her workers to ask dying patients if they would like a "ticket to heaven" and a positive response prompted a speedy baptism into Roman Catholicism).  [Nếu chúng ta biết đến lời tuyên bố của giáo hoàng John Paul II là không làm gì có thiên đường ở trên các tầng mây thì thiên đường của bà Teresa đúng là một thiên đường mù.  Đó không phải là thiên đường của những người mù mắt mà là của những người mù quáng tin vào một điều mà ngày nay đã không còn chỗ đứng trong thế giới tiến bộ. TCN]  Bà ta thường xuyên rao giảng chống kiểm soát sinh đẻ ngay cả khi xung quanh có những trẻ em chết đói. (She preached relentlessly against birth control even though surrounded by starving children.) 

Chúng ta hãy so sánh quan điểm trên với quan điểm của Tiến sĩ Sagan: “Nếu thế giới có thể thoát được hậu quả nguy hiểm nhất của tình trạng tăng gia dân số thì chúng ta phải phát minh ra những phương pháp hữu hiệu và an toàn tăng gia thực phẩm..  Cũng cần phải có biện pháp ngăn ngừa thụ thai,  hiện đã có rộng rãi trên thế giới, phải tiến lên sự bình đẳng nam nữ trong chính trị, và nâng cao mức sống của những người nghèo khổ nhất.” 

Trong khi bà Teresa nói chuyện tầm phào  về một Thượng đế cung cấp tất cả (prattled about a providing God) thì ngay trên đất Ấn Độ của bà có 423 triệu người sống trong sự tuyệt đối nghèo khổ (living in absolute poverty), 73.1 triệu trẻ em dưới 5 tuổi thiếu dinh dưỡng, và 350 triệu mù chữ?  [Lẽ dĩ nhiên, đối với bà thì Thượng đế quả là đã cung cấp đầy đủ, quá đầy đủ, vì bà ngồi trên đống tiền của thiên hạ đóng góp để bà làm việc "từ thiện".  Xin đọc trong phần sau về bà đã dùng tiền của thiên hạ như thế nào. TCN]  Carl Sagan nói: “Những bánh xe răng cưa của sự nghèo khổ, dốt nát, vô vọng, và tự ti đã tạo nên một guồng máy muôn đời thất bại có tác dụng nghiền nát những mơ ước của con người từ thế hệ này sang thế hệ khác.  Tất cả chúng ta đều phải trả giá cho sự duy trì guồng máy đó để nó tiếp tục chạy.  Thất học chính là cái chốt của bánh xe đó."  

Không cho bệnh nhân dùng thuốc giảm đau mạnh (tại sao?) Mẹ Teresa nói với một bệnh nhân bị bệnh ung thư đang ở thời kỳ cuối, đau quằn quại, sắp chết, "Con nên nghĩ rằng con cũng đang đau đớn như Chúa Giê-su đang bị đóng đinh trên thập giá; Chúa hẳn là đang hôn con đó"  Bệnh nhân đó trả lời: "Vậy xin mẹ nói với ông ta là đừng hôn con nữa." (Eschewing strong painkillers (why?!) Mother Teresa told a dying patient in the agonizing last stage of cancer, "You are suffering like Christ on the cross.  So Jesus must be kissing you."  To which the patient replied, "Then please tell him to stop kissing me").  Sagan nói: “Thế giới thật quá kỳ diệu, với những tình thương yêu và đạo đức, cho nên chúng ta không có lý do nào để mà tự lừa dối bằng những câu chuyện thích thú nhưng chẳng có gì để làm bằng chứng.” 

Khi người ta phỏng đoán về việc phong Thánh cho bà Teresa, người ta đã bàn cãi nhiều về bằng chứng của những phép lạ, một điều kiện để được phong Thánh.  Nhưng tôi nói rằng có một bằng chứng rõ ràng về một phép lạ của bà Teresa.  Đó là bà đã xoay sở thuyết phục được hàng triệu người tin rằng bà ta là đồ tốt cho nhân loại.  Những hoạt động thuộc thời Trung Cổ của bà được gói ghém lại và bán cho nhân loại như là một lợi ích thế gian, thay vì thực chất của chúng là cản trở, ngăn chận sự tiến bộ của con người. 

Trong khi những bệnh nhân” của bà chỉ được chữa chạy một các tác trách thì khi chính bà đau ốm, bà lại vào những nhà thương Tây phương đắt tiền nhất để chữa trị.  Có ai thấy sự đạo đức giả ở đây không? Bà thường xuyên nói như con vẹt (parroting) về lập trường Ca Tô là ngăn ngừa kiểm soát thụ thai là không hợp với thiên nhiên.  Lẽ dĩ nhiên là không hợp với thiên nhiên, cũng như là mổ để cắt ruột dư, hoặc gắn một máy để cho tim đập điều hòa (pacemaker) mà Mẹ Teresa đã làm năm 1989, hay không hợp với thiên nhiên khi  bà được thông một mạch máu bị tắc năm 1993 .  Đó là những việc không hợp với thiên nhiên mà bà Teresa đã làm.  Thật là đạo đức giả rất rõ ràng (unambiguous hypocrisy). [Tại sao bà Teresa không chịu đựng những sự bất thường đau đớn trong cơ thể bà như là Chúa Giê-su chịu đựng trên thập giá.  Tại sao bà không nghĩ rằng những khi bà bị bệnh đó chính là Chúa đang hôn bà?   Tại sao bà phải vào những nhà thương đắt tiền nhất (tiền đóng góp cho việc từ thiện của quần chúng), có nhiều phương tiện tối tân nhất, để chữa trị cho bà, trong khi bà không chịu chữa trị đúng mức cho những bệnh nhân trong những nhà thương "từ thiện" của chính bà? TCN] 

Đối với những người theo chủ nghĩa nhân bản, chức vị Thánh thật chẵng có nghĩa gì (Sainthood means nothing at all to humanists..)  Đó chỉ là một tấm băng xanh huyễn hoặc gắn trên ngực trong một cuộc sống huyễn hoặc sau khi chết, chẳng khác gì mấy tấm băng tuyên dương một nữ sinh hướng đạo (Girl Scout merit badge).  Nhưng đối với tôi, tôi không thấy bất cứ cái gì trong đời sống hoặc ký ức của bà Teresa để mà tôn kính, xét đến sự đau khổ mà bà ta đã tạo ra cho hàng triệu người. (But I, personally, can find nothing about Mother Teresa's life or memory to revere, in light of the suffering she helped to create for untold millions.) 

Ngược lại, những đóng góp to lớn của Carl Sagan cho kiến thức tổng quát của con người, đặc biệt là về khoa học, không còn nghi ngờ gì nữa là đã mang lại nhiều lợi ích cho nhiều triệu người.  Khó mà có thể ước tính được số người đã tìm cảm hứng hay cảm thấy thích thú vì sự khuyến khích của Sagan trước những kỳ diệu của khoa học.  Sagan đã dẫn chúng ta trên con đường mở mang kiến thức về thế giới thiên nhiên, và chúng ta đã vui vẻ đi theo con đường này. 

Có nhiều tỷ người trên thế giới.  Nhưng chỉ có một Carl Sagan.  Và khi chúng ta nói về ông ta chúng ta nói về một cái gì vĩ đại.  Chúng ta nhảy từng bước một trong kiến thức vì thiên tài của Sagan.  Tôi (Judith Hayes) cho rằng chúng ta còn phải chờ rất lâu mới thấy xuất hiện một Carl Sagan khác.  Những ký ức về ông ta đáng để cho cho chúng ta kính ngưỡng nhất mực.  Lẽ dĩ nhiên ông ta sẽ không bao giờ được “phong Thánh”, và cũng lẽ dĩ nhiên ông ta chẳng bao giờ muốn được như vậy. 

Tuy nhiên, nếu danh từ “Thánh” được dùng trong nghĩa thế tục về một người có ích thực sự cho nhân loại, một người mang đến cho thế giới nhiều hơn là lấy đi từ thế giới, thì Carl Sagan, con người khả ái, tôn thượng kiến thức và lý trí, sẽ là người thắng quyết định trong cuộc đua ngựa tay đôi này [giữa Sagan và Teresa]. 

*

Vài Tài Liệu Bổ Túc Về Bộ Mặt Thật Của Teresa. 

 Trong những năm cuối thế kỷ 20, điều mà giáo hội Ca Tô La Mã quảng cáo nhiều nhất và ồn ào nhất là những công tác từ thiện của Giáo hội.  Bất cứ có một cơ hội nào là Giáo hội và các  con chiên ngoan đạo Việt Nam lại mang Mẹ Teresa, người mà Giáo hội tôn là Thánh Mẹ (Holy Mother), ra làm bình phong từ thiện, lạc dẫn dư luận, làm như   Mẹ là con người rất mực thánh thiện, rất giầu lòng bác ái, và tất cả tín đồ CaTô đều như Mẹ Teresa cả.  Nghiên cứu tường tận về các công việc từ thiện của Giáo hội từ xưa tới nay, chúng ta rất ít thấy ở đâu là thuần túy từ thiện, mà mục đích chính của các công việc từ thiện là dùng vật chất để truyền đạo, để làm giàu cho Giáo hội trên sự đau khổ của con người, và chúng ta phải công nhận đây là nguyên nhân chính về sự thành công của CaTô giáo trong những thế kỷ qua.  Mở  đầu là  Đại Đế Constantine, người đã dùng mọi cách và đã bỏ của cải ra mua toàn thể các tỉnh, các thị trấn để cho dân chúng đi theo đạo mới (Malachi Martin: "The Rise and Fall of The Roman Church", trg. 36.)   Và từ đó cho đến ngày nay, của cải vật chất với nhãn hiệu từ thiện đã là vũ khí hữu hiệu nhất của CaTô giáo để thu nhặt tín đồ.  Kinh nghiệm Việt Nam cho thấy từ thời các giáo sĩ thừa sai đầu tiên xâm nhập Việt Nam cho tới thời Ngô Đình Diệm ở miền Nam,  bả vật chất đã là một phương tiện hữu hiệu để truyền đạo và thu nhặt tín đồ của Ca Tô Giáo. Dưới thời Ngô Đình Diệm, các linh mục Việt Nam được toàn quyền xử dụng viện trợ từ thiện của Mỹ và dùng nó như một vũ khí để ép người vào đạo và để bỏ túi, khoan kể đến chuyện bắn pháo binh vào những làng không theo đạo để ép buộc dân trong làng theo đạo để đổi lấy sự an toàn của làng xóm.  Người Việt Nam đâu đã có ai quên cái câu bất hủ được truyền tụng trong dân gian: "Theo đạo có gạo mà ăn."  Cảnh này cũng lại tiếp diễn trong  các  trại tị nạn di cư mà các linh mục được sự viện trợ của các cơ quan từ thiện KiTô giáo, họ giữ chặt của viện trợ cho giáo dân và chỉ cho người ngoài khi bằng lòng theo đạo. 

 B. S. Rajneesh, tác giả cuốn Linh Mục và Chính Trị Gia: Những Mafia của Linh Hồn (Priests & Politicians: The Mafia of the Soul), viết như sau, trang 25: 

Nếu con người nghèo đói, họ có thể dễ bị dụ vào Ki Tô Giáo, đặc biệt là Ca Tô Giáo.  Những trường học, nhà thương, và viện mồ côi của họ chẳng qua cũng chỉ là những xưởng để dụ người ta trở thành tín đồ Ca Tô (If people are poor and hungry, they can be easily converted to Christianity, particularly into the Catholic Church.  Their schools, their hospitals, their orphanages are nothing but factories for converting people into Catholics). 

Tôi không nói là các việc từ thiện của CaTô giáo không có ích lợi gì.  Lẽ dĩ nhiên chúng có góp phần để làm vơi bớt sự khó khăn và đau khổ mà con người gặp phải.  Tôi cũng không nói là trong Giáo hội Ca Tô La Mã không có người giầu lòng bác ái.  Trong mọi xã hội, mọi tôn giáo, đều có những người giầu lòng bác ái, không chỉ người Ca Tô mới giầu lòng bác ái.   Nhưng chỉ cần đọc chút ít và biết chút ít về một số các cơ sở từ thiện của Giáo hội Ca-Tô trên khắp thế giới là chúng ta có thể thấy cái động cơ đằng sau những công việc từ thiện này và phương cách xử dụng thì chẳng thiện chút nào.  Trường hợp những cơ sở “từ thiện” của dòng tu “Thừa sai bác ái” do bà Teresa thành lập, được thổi phồng và quảng cáo nhiều nhất, là trường hợp điển hình.  Sau đây là vài tài liệu về thực chất những công việc “từ thiện” của bà Teresa. 

Tờ Newsweek, số ngày 13 tháng 11, 1995, David Gates có điểm cuốn sách "The Missionary Mission" của Christopher Hitchens viết về bà Teresa.  Theo Hitchens thì "Mẹ Teresa là một kẻ "mị dân" chống phá thai và là kẻ "phục vụ cho những quyền lực thế gian.", thân thiện với hạng người không tin cậy được như tên lừa đảo Charles Keating ở Ngân Hàng Tiết Kiệm và Tín Dụng, mà nhân danh hắn Mẹ đã viết cho ông Tòa Lance Ito trong vụ xử hắn năm 1992.   Trong một bức thư trả lời với đầy đủ lý lẽ , ông Phó Biện Lý của Tòa giải thích cho Mẹ Teresa biết bằng cách nào mà Keating đã ăn cắp món tiền đã biếu cho Mẹ, và đề nghi Mẹ hoàn trả lại số tiền đó cho các "sở hữu chủ với đầy đủ pháp lý"; Mẹ đã không hề hồi âm. [Bắc thang lên hỏi Chúa trời, mang tiền cho Thánh có đòi được không? TCN]

   Hitchens cũng ghi chú rằng Mẹ đã vào "điều trị ở một vài bệnh viện tốt nhất và đắt tiền nhất ở Tây phương."  Hitchens lý luận rằng "Mẹ làm công việc từ thiện không phải vì chính sự từ thiện mà chỉ để mong một ngày nào đó được kể như một vị Thánh thành lập một dòng tu mới trong giáo hội."

   (Hitchens' Mother Teresa is an anti abortion "demagogue" and a "servant of earthly powers," cozying up to such a slime as S & L (Savings & Loans) swindler Charles Keating, on whose behalf she wrote to Judge Lance Ito during his 1992 trial.  In a well-reasoned reply, a deputy D.A. explained to her how Keating stole the money he'd donated and suggested she return it to "its rightful owners"; she never answered.

...Hitchens notes, she herself has "checked into some of the finest and costliest clinics and hospitals in the West."  She does charitable work, he argues, "not for its own sake but...so that she may one day be counted as the beatific founder of a new order and discipline within the Church itself.") 

    Ngoài ra, một học giả chuyên gia viết tiểu sử, Anne Sebba, đã sang tận Calcutta và nhiều nơi khác để quan sát những "cơ sở từ thiện" của bà Teresa và tìm hiểu sự thực về những "công cuộc từ thiện" của bà Teresa.  Kết quả nghiên cứu trong nhiều năm được viết thành cuốn "Mother Teresa: Beyond The Image" (Mẹ Teresa: Ngoài Cái Hình Ảnh Được Tạo Nên"), Doubleday, New york, 1997,  trong đó tác giả đã dùng hơn nửa cuốn sách dày gần 300 trang để viết về một số những sự thực về cái gọi là "công cuộc  từ thiện" của bà Teresa mà chính tác giả đã đích thân đến tận nơi quan sát, tìm hiểu cùng qua nhiều cuộc phỏng vấn những nhân vật có thẩm quyền như bác sĩ, nữ tu, những người đứng đầu các cơ quan từ thiện, những nhân viên thiện nguyện và cả những cựu nữ tu trong dòng "Thừa Sai Bác Ái" (Missionaries of Charity) của bà Teresa (I am full of questions and have put as many as I can to people qualified to answer them including doctors, nuns, heads of charities, volunteers and former Missionaries of Charity).  

Sau đây là vài điểm chính mà tác giả, Anne Sebba, đã khám phá ra: 

*  Về tiểu sử,   bà Teresa không có gì đặc biệt, chúng ta thấy cùng một niềm tin tôn giáo đã hướng dẫn bà trong mọi việc.

 (Preface: Biographically speaking, Mother Teresa's life is not interesting; there is the same straightforward religious faith that guides her in everything...)

*  Công việc từ thiện của bà Teresa không bắt nguồn từ chính lòng từ thiện mà động cơ thúc đẩy chính là để làm sáng danh Chúa và để truyền đạo.  Ngay cái tên của dòng "Thừa Sai Bác Ái" cũng đã nói lên rõ ràng mục đích truyền đạo của các thừa sai trong những thế kỷ qua.  Bà Teresa biết rõ về lịch sử truyền đạo ở Ấn Độ và toan tính KiTô hóa quốc gia này trong 400 năm qua.  Bà Teresa đã khẳng định rằng công việc bà làm là để phục vụ Chúa, không phải phục vụ con người, phục vụ Chúa bằng cách kiếm thêm nhiều tín đồ cho Chúa mà những sự đau khổ, bất hạnh của con người là những cơ hội để bà làm "việc thiện", chứng tỏ "lòng từ bi" của Bà.  Bà không phải là cứu tinh của nhân loại, những việc bà làm chỉ có tính cách tượng trưng bề ngoài.  [Trong cái niềm tin của Bà Teresa, bà cố ý lờ đi chuyện những đau khổ, bất hạnh của con người cũng là do Chúa tạo ra.   Cũng như gần đây GH John Paul II tuyên bố: Mẹ Teresa là quà của Thượng đế cho những người nghèo khổ (gift of God for the poor) nhưng Ngài không hề nói tới những người nghèo khổ là quà của Thượng đế cho ai? Chắc là cho Bà Teresa để Bà có cơ hội làm việc thiện vinh danh Chúa. Một mặt Chúa tạo ra những đau khổ, một mặt khác Chúa nhờ bà Teresa, qua dòng "Thừa sai bác ái",  quảng bá lòng thương của Chúa qua những việc từ thiện chỉ có tính cách tượng trưng. Ấy thế mà vẫn có nhiều người ca tụng lòng yêu thương của Chúa đối với nhân loại, và lòng "bác ái" của bà Teresa. TCN] 

   Tác giả Anne Sebba còn đưa ra nhiều hình ảnh của bà Teresa, trái ngược hẳn với những hình ảnh đã được bộ máy tuyên truyền của giáo hội trên thế giới đưa ra, thí dụ như:  

"đạo đức giả, ve vãn giới truyền thông, thân cận với một số lãnh tụ độc tài trên thế giới, bất minh về vấn đề tiền bạc, nhận tiền thụt két nhà băng của một tên lừa đảo (Charles Keating) và khi Tòa án viết thơ khuyên Bà nên trả lại số tiền đó thì lờ đi không trả lời, dùng tiền của thiên hạ đổ vào các tu viện thay vì nhà thương và để cho các cơ sở từ thiện rất thiếu thốn, mù quáng theo lệnh của Vatican chống mọi kế hoạch hóa gia đình v..v.."

(personal hypocrisy,  consorting with dictators,  courting the media and - perhaps most serious of all -  "operating ...as the roving ambassador  of a highly political papacy," blindly objecting to all forms of family planning, refused to return the stolen money that Keating had donated, alledgedly spent millions of pounds on convents rather than building new hospitals,  administering dubious medical treatment). 

Đó là thực chất những công việc "từ thiện" của Mẹ Teresa, người mà các tín đồ Ca Tô được nhồi vào trong đầu óc hình ảnh của một Thánh nhân.  Ngày nay, đã có thêm nhiều tài liệu về bà Teresa do chính những người trước đây cộng tác với bà, như các sơ (soeur, sister), viết ra. Họ không phải là người ngoài mà là chứng nhân trong cái gọi là dòng tu "Thừa sai bác ái" của bà Teresa. Hình ảnh của bà Teresa mà họ đưa ra không thánh thiện như giáo hội đã cấy vào đầu óc các tín đồ mà thực ra là : đạo đức giả, lừa bịp, gian dối, tàn nhẫn, cuồng tín, lạc hậu v..v... như chúng ta sẽ thấy trong vài tài liệu sau đây. 

Để quảng cáo kiếm tiền, Giáo hội đưa ra hình ảnh bà Teresa đang bồng ru một em bé Ấn độ ốm yếu, làm mủi lòng nhiều người.  Giáo hội cũng quảng cáo là dòng "Thừa sai bác ái" của bà Teresa đã thiết lập những "cơ sở từ thiện" trong hơn 25 quốc gia với những nhà thương, viện mồ côi, trường học v..v..   [Việt Nam, có lẽ đã biết rõ thực chất những "hoạt động từ thiện" của bà Teresa nên đã từ chối, không chấp nhận đề nghị lập viện mồ côi tại Việt Nam của bà Teresa ngay khi Mỹ còn đang cấm vận.  Đây là một quyết định khôn ngoan của chính quyền, không rơi vào cái bẫy "từ thiện để kiếm thêm linh hồn cho Chúa" của thế lực đen quốc tế. TCN] 

Ai cũng biết, công việc "từ thiện" của bà Teresa tập trung ở Calcutta, Ấn độ, và quảng cáo rầm rộ nhất cũng là những hoạt động của dòng "thừa sai bác ái" ở Ấn độ.  Những tài liệu của Christopher Hitchens và Anne Sebba ở trên đã cho chúng ta thấy phần nào mặt trái của các cơ sở "từ thiện" đó.  Sau khi bà Teresa chết thì có một số sơ trước đây đã cộng tác với bà trong tổ chức "Thừa sai bác ái" đã tiết lộ nhiều chi tiết thuộc loại động trời.

Thí dụ, sơ  Susan Shields đã viết trong tờ Free Inquiry, số mùa đông 1998, tiết lộ rằng:  

“Một phần nhiệm vụ của sơ là giúp trong việc giữ sổ sách về số tiền, lên đến nhiều triệu đô la, do những người có từ tâm đóng góp để bà Teresa làm việc "từ thiện" vì tin ở những lời tuyên truyền quảng cáo của dòng tu "Thừa sai bác ái", nhưng hầu hết những số tiền đó lại để trong nhiều ngân hàng khác nhau mà không dùng gì đến, trong khi các sơ hàng ngày phải đi ăn mày (beg) thức ăn của các thương gia địa phương, vì bà Teresa chủ trương "nghèo khổ" là một đức tính.   Ngày nào xin không đủ thì các em mồ côi hoặc các bệnh nhân dưới sự "săn sóc" của hội "thừa sai bác ái" phải ăn đói.  Đó là từ thiện hay sao? Với hàng triệu đô la nằm ì trong các ngân hàng mà bà Teresa vẫn thường xuyên  kêu gọi đóng góp thêm cho công cuộc từ thiện của bà, thật là hoàn toàn vô nghĩa.”

(Judith Hayes trong The Happy Heretic, p. 66-67:  Shields revealed that part of her job was to help keep track of the millions of dollars donated to Teresa's "charity" work.  Unfortunately, most of that money sat unused in various bank accounts while the sisters literally had to beg for food from local merchants, since "poverty" is supposedly a virtue.  If the locals couldn't help out, the soup kitchens did without.  This is charity?  With millions sitting idle and Teresa constantly asking for more donations, it makes no sense at all.) 

Trước những tiết lộ trên của sơ Shields, một ký giả viết cho Knight Ridder, Clark Morphew,  đã viết bài biện bạch cho bà Teresa, nhưng chính những lý luận biện bạch này lại càng làm sáng tỏ thực chất công cuộc "từ thiện" của bà Teresa.   Morphew viết rằng bà Teresa tin rằng sự đau khổ của con người là một điều tốt, và ngừa thai bao giờ cũng sai. (..among Teresa's beliefs were the ideas that suffering is good and ..birth control is always wrong.); chủ tâm của bà Teresa không phải là xóa nghèo và nạn mù chữ. (wiping out poverty and illiteracy was not Teresa's focus). Morphew cũng còn viết là người ta sẽ tiếp tục chỉ trích bà Teresa cho đến khi có "một sự cải tiến sâu rộng" (criticism of Teresa will continue until "some serious reform comes about), và rằng sơ Nirmala, người thay thế bà Teresa điều hành dòng "thừa sai bác ái" có thể có những thay đổi rộng lớn. (Since Sister Nirmala had taken over the reigns as Teresa's successor, "grand changes could happen") 

Bình luận về những lời biện bạch trên của Clark Morphew, nữ học giả Judith Hayes đã đặt ra vài câu hỏi:  Nếu những nhà thương của bà Teresa được tài trợ rộng rãi mà được điều hành một cách trôi chảy không có vấn đề gì, lương thiện và từ bi, thì tại sao lại cần phải có bất cứ sự cải tiến sâu rộng nào?  và tại sao lại cần những thay đổi rộng lớn nếu không có sự sai lầm trong đó? (Ibid., p.67: But if Teresa's  generously financed clinics were running smoothly, honestly, and compassionately, why would any reform be needed at all?  Again, why should "grand changes could happen" unless something was wrong to begin with?).   Tác giả Judith Hayes còn phê phán: Tôi chưa từng nghe thấy một người nào có lòng từ bi mà nghĩ rằng sự đau khổ của con người là một điều tốt.  Từ bi là đức tính tối thiểu của một người mà chúng ta cho là xứng đáng được phong Thánh. Nếu những điều Morphew viết là đúng thì chúng ta phải đặt bà Teresa đâu đó giữa sự tàn ác và ngu đần, mà hay thay, trong tự điển từ Thánh (Saint) nằm giữa 2 từ Tàn Ác (Sadistic)  và Ngu Đần (Stupid).  [Tác giả đã chơi chữ ở đây: (If all of that is true, it places Teresa somewhere between "sadistic" and "stupid" which, interestingly, is where "saint" appears in the dictionary)] 

Một ác cảnh khác trong các nhà thương "từ thiện" của bà Teresa không thể chấp nhận được là những sơ và những người thiện nguyện làm việc cho bà phải dùng đi dùng lại những ống chích không được tẩy trùng để chích những thuốc vô hiệu lực và thuốc trụ sinh không đủ mạnh cho các bệnh nhân khiến cho họ càng đau đớn trong cơn hấp hối. (Judith Hayes, p. 68: Her employees and volunteers used and reused unsterelized syringes to administer ineffective drugs and mild antibiotics to terminally ill people, who suffered the resulting agonies) 

Trước những sự thực phũ phàng về bộ mặt "từ thiện" thật của bà Teresa ở trên, tác giả Judith Hayes, người đã từng nổi tiếng với tác phẩm Chúng Ta Tin Thiên Chúa! Nhưng Là Thiên Chúa Nào? (In God We Trust! But Which One?), và cũng là người mà qua những phương tiện truyền thông của Giáo hội đã một thời tin rằng bà Teresa là một vị Thánh sống, sau khi biết rõ sự thực đã vạch trần mặt trái của bà Teresa trong cuốn The Happy Heretic: 

"Nhân danh Thiên Chúa" bà Teresa đã thu được hàng triệu đô la rồi vội vàng dấu kín nó đi như một con sóc để dành thức ăn cho mùa Đông.  "Nhân danh Thiên Chúa", bà ta cũng cải đạo nhiều người trước khi họ tắt hơi...  Tôi tự hỏi, trong cái tầm nhìn thô thiển của bà ta, có phải là bất cứ bà làm điều gì cho Thiên Chúa là để cho bà được điểm cao (như các em hướng đạo sinh đi bán bánh kẹo, ai bán được nhiều thì được đoàn trưởng gắn huy chương khen thưởng. TCN) trong đời sau.  Có lẽ đối với bà ta thế giới này không hề có một ý nghĩa nào, chẳng qua chỉ là cái mê hồn trận thách đố của Thiên Chúa để quyết định xem ai chiếm được mẩu tốt nhất trên thiên đường.  Nếu thật là như vậy thì chúng ta có thể giải thích,  không có gì khác có thể giải thích được, tại sao bà ta có thể nhẫn tâm ngồi trên nhiều triệu đô la như vậy trong khi trẻ con, ngay cả ở nơi bà hoạt động ở Ấn Độ, đang chết đói.  Điều này chống lại mọi giải thích hợp lý, và tôi thách đố bất cứ ai, từ Morphew cho đến chính giáo hoàng, có thể giải thích được sự kiện đó.

(Teresa collected her millions of dollars "in the name of God" and then promptly hid them away like a squirrel readying for winter.  She also converted  souls "in the name of God", many just before they expired... I wonder if, in her simplistic view of things, anything she did for God would earn her big-time brownie points in the afterlife.  For her, perhaps, this world had no meaning whatsoever, and was just some challenging religious maze, designed by God to determine who gets the best bits of paradise.  If so, it might explain, since nothing else can, how she could be so callous as to sit on those millions of dollars while children, even in her own part of India, were dying of starvation.  This defies rational explanation, and I challenge anyone, from Morphew to the pope himself, to explain it.) 

“Hiển nhiên là mục đích của bà ta là vơ vét tích tụ tiền bạc.  Để làm gì, ai mà biết được.”

 (Apparently her goal was to hoard the money.  To what end, though, is anybody's guess.) 

Thật là lạ lùng, không có ai vạch trần những hoạt động đáng nghi ngờ của bà Teresa sớm hơn.  Mà chúng ta ai cũng biết chuyện các linh mục hiếp dâm các trẻ em trai, có phải không - vậy tại sao mà những chuyện về bà Teresa để quá lâu mới bị phanh phui?  Câu trả lời thật là đơn giản,  Giáo hội Ca Tô Rô Ma có những quyền lực hăm dọa thật đáng sợ.  Cho đến khi tác phẩm mở mắt con người của Christopher Hitchen xuất bản năm 1995, cuốn The Missionary Position, tôi không hề biết gì về những hoạt động trong những "nhà thương" của bà Teresa.  Cũng như  mọi người khác, tôi nghĩ rằng bà ta là một Thánh sống.  Tôi đã lầm. Bất kể động cơ hành động của người đàn bà ở Calcutta kia (Teresa) là như thế nào, tôi đã thấy quá đủ những sự đau khổ trong những người đã phải khủng khiếp trùn lại với tư tưởng của bà Teresa: đau khổ là một điều tốt.  Đau khổ không bao giờ là một điều tốt.  Nhất là ngày nay, khi chúng ta có khả năng làm giảm đi khá nhiều sự đau đớn, hình ảnh tâm thần của những người bất hạnh bị vào một "nhà thương" của bà Teresa thật là đáng buồn và đáng giận.

(It is surprising that no one came forward sooner to talk about Teresa's questionable practices.  But then that's everyone said about priests raping little boys, isn't it - what took so long for the stories come out?  Of course the answer is simple.  The Roman Catholic Church has awesome, itimidating powers.  Until the publication of Christopher Hitchen's eye-opening 1995 book, The Missionary Position, I had no idea what was going on in Teresa's  "clinics".  Like everyone else, I thought she was literally a saint.  I was wrong.

Whatever the motives of the woman from Calcutta, I have seen enough human suffering in loved ones to recoil in horror at the thought of terminal, tormented people being told that their suffering is a good thing.  Suffering is never a good thing.  Especially today, when we have the ability to alleviate so much pain, the mental image of those unfortunates who ended up in a Teresa "clinic" is saddening and angering.) 

Tưởng chúng ta cũng nên biết thêm một sự kiện về những tổ chức "từ thiện" của Vatican.  Báo chí và TV Âu Mỹ đã phanh phui ra vụ Vatican dùng những cơ quan từ thiện như Caritas International, Red Cross và một số tu viện làm những đường giây gọi là "Giây chuột" (Ratlines) với những dịch vụ như cấp căn cước giả, thông hành  giả, tài chánh v..v.. cho nhiều tội phạm chiến tranh Đức Quốc xã  ẩn náu trong các tu viện chờ cơ hội chuồn sang Nam Mỹ, phần lớn là sang Á Căn Đình (Argentina).    

Trong Ca Tô Giáo có không thiếu gì người tốt, vì bản tính của họ tốt, chứ không phải vì Ca Tô Giáo tốt, xét đến cái lịch sử của giáo hội Ca Tô trong 2000 năm qua.  Nhiều người vô thần cũng tốt vậy thôi.  Không nên nghĩ rằng vô thần là CS bởi vì vô thần đã có cả hơn ngàn năm nay.   Cho nên, chuyện các linh mục hay bà sơ săn sóc người cùi v..v.. cũng có gì là đặc biệt đâu?  Những công việc từ thiện như vậy đâu phải chỉ mình Ca Tô  Giáo mới có?   Trước khi Ca Tô Giáo ra đời, trên thế gian này cũng đã có bao nhiêu là cơ sở từ thiện được lập ra, do chính quyền cũng như do cá nhân.  Vậy có gì đâu mà Ca Tô Giáo lúc nào cũng phải mang nhãn hiệu bác ái giả tạo ra mà khoe?   

Nhưng sách lược của Ca Tô Giáo là “có ít thì xít ra nhiều” và luôn luôn đưa ra bộ mặt thánh thiện giả tạo của mình ra để lừa dối quần chúng, che đậy những động cơ nhơ nhớp nấp đàng sau những khoa trương hoa mỹ, che đậy cái lịch sử ô nhục của giáo hội, để giữ vững đức tin trong đám tín đồ thấp kém..  Nhưng thế giới ngày nay đã khác xưa nhiều lắm, trí tuệ con người đã mở mang, thông tin điện tử đã giúp con người tìm hiểu cặn kẽ mọi vấn đề.  Do đó các Giáo hội Ca Tô, mẹ cũng như con, đừng có hòng tiếp tục lừa dối quần chúng bằng những thông tin sai lạc.  Bộ mặt thánh thiện của Teresa do giới truyền thông Ca Tô đưa lên nay đã bị lem luốc, đầy những vết nhơ qua những thông tin chính xác về thực chất công việc “từ thiện” của bà ta.  Có một chân lý ngàn đời không thay đổi: đó là, muốn cho người khác không biết thì đừng có làm.  Trong 2000 năm qua, giáo hội Ca Tô La Mã chưa từng biết đến chân lý này.

 
 

© Copyright 2006 giaodiem.com

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com