
ĐÔNG LA
Để
viết nên loạt bài dưới danh nghĩa “góp
ý cho Đảng” đăng trên một số báo trên mạng, Trần Mạnh Hảo (TMH)
đã: “Suốt hai năm qua, chúng tôi đã
vùi đầu đọc lại ngót 60 cuốn sách dày cộp bộ toàn tập
Marx-Engel-Leinne với tâm thế của một nhà nghiên cứu, nhà khoa học”
và được dư luận “trong và ngoài nước”
“động viên, chia xẻ, lo lắng cho sự an
toàn tính mạng”. TMH dẫn ra vài thí dụ: “quý độc giả “vô danh” có số Cách đây cũng mấy
năm, do TMH không hiểu nghĩa ẩn dụ nên đã phê bình cụm từ “Biên độ của trí tưởng tượng”, nhan
đề cuốn phê bình của tôi, cho trí tưởng tượng sao lại có biên độ?
Vậy theo TMH, nếu trí tưởng tượng trong quá trình lao động sáng tạo của
con người không có “biên độ”, nghĩa là không dựa trên nền tảng trí
thức, không tuân theo những quy luật tự nhiên, xã hội và tư duy, một trí
tưởng tượng không giới hạn, thì chỉ là sự tưởng tượng lung tung mà
thôi. Chính vì hiểu vậy, giờ đây, TMH đã tưởng tượng ra cái khả năng
vô hạn của mình. Không có tri thức nền, ngoại ngữ cũng lõm bõm, TMH, từ
một người sáng tác nhảy sang làm phê bình, giờ đây lại leo lên nấc
thang tột đỉnh của lý luận, phê bình triết học, một khoa học khái
quát mọi khoa học; một việc làm giống như một người đi lao động
nhưng trong tay không có công cụ vậy. Theo triết học Mác, cái cần xem xét
không phải sản phẩm mà quan trọng hơn là phải xem công cụ làm ra chúng.
Muốn làm được sản phẩm tốt phải có công cụ tốt. Dù “tay không”
như vậy, TMH lại hoàn toàn tự tin, tung tăng đi trong khu rừng tri thức,
nhưng không hiểu thực chất mình đã lạc ngay từ bìa rừng, chỉ lấy
được ít tai nấm độc lại lóa mắt nhìn thành cổ linh chi, nhổ được
ít củ cải lại cứ tưởng sâm quý ngàn tuổi! Không, muốn tìm được những
thứ vô giá đó, người ta phải biết vượt qua rừng sâu núi thẳm chứ
không thể chỉ loanh quanh nơi hoang mạc! Nếu ai mới biết mặt chữ mà cũng
phê phán được các nhà tư tưởng vĩ đại thì chắc thế giới này đã
có cả tỷ tỷ nhà tư tưởng rồi! TMH, ngay những khái niệm tối cơ bản
của lý luận văn học, triết học, khoa học, cũng không hiểu (điều này
tôi đã viết cụ thể trong một số bài), giờ lại táo gan làm cái việc
có thể ví với dời non lấp biển; vẫn với cái tri thức bình dân, những
suy diễn nôm na, dông dài và rất buồn cười, đã dám phê phán, tố cáo,
quy kết và cuối cùng là phủ nhận hoàn toàn triết học Mác và sự vận
dụng hệ tư tưởng này vào nuớc ta, kể cả trong lịch sử chống ngoại
xâm trước đây và công cuộc xây dựng ngày nay; một điều mà ngay đến
những nhà triết học tư sản, có tư tưởng đối lập với Mác, cũng không
cực đoan như vậy. Về đấu tranh giai cấp. TMH hoàn toàn liều lĩnh
khi viết: “Cái sai lớn nhất của Mác ...
bắt đầu từ cái sai lớn nhất của nhà tự nhiên học Khi viết: “tuyệt đối hoá tư bản là xấu là phản động
là một sai lầm vĩ đại cùa Mác!”, TMH cũng đã xuyên tạc trắng trợn
tư tưởng của Mác. Một nhà tư tưởng, một nhà khoa học như Mác không
thể có thái độ xổ toẹt thô thiển như vậy. Trong Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, Mác (bài này
viết Mác hàm nghĩa có Ăng-ghen) viết: “Mỗi
bước phát triển của giai cấp tư sản đều có một bước tiến bộ chính
trị tương ứng” (Tuyên ngôn của ĐCS,
Nxb Chính trị quốc gia, 1998, tr.71); rồi: “Giai
cấp tư sản đã đóng một vai trò hết sức cách mạng trong lịch sử”
(Sách đã dẫn, tr.73); rồi nữa: “Giai cấp
tư sản, trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã
tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng
sản xuất của tất cả các thế hệ trưóc kia gộp lại” (nt, tr.81).
Vậy sao TMH lại cho Mác “tuyệt đối hóa
tư bản là xấu”! Còn những xấu xa của CNTB nguyên thủy thời Mác
mà Mác đã chỉ ra không phải xuất phát từ thái độ cá nhân mà từ sự
phân tích khoa học bản chất giai cấp, bản chất quan hệ sản xuất và
thiết chế xã hội TB. Do mục đích duy lợi và tính chiếm đoạt giá trị
thặng dư của giai cấp thống trị, xã hội tư bản sinh ra chủ nghĩa thực
dụng, coi đồng tiền trên hết, sự trao đổi chỉ dựa trên lối “tiền
trao cháo múc” lạnh lùng, cho “tham lam là điều tốt”... từ đó đã dần
dần làm tha hóa nhân tính, theo Mác: “dìm
những xúc động thiêng liêng của con người xuống dòng nước giá lạnh của
sự ích kỷ”, phá vỡ tình cảm gia đình... dần biến quan hệ con người
trong xã hội thành “người với người là chó sói”. Ta đã được thấy
rất nhiều những tác phẩm văn chương và điện ảnh của những nhà văn,
nhà đạo diễn sống trong chính xã hội tư bản phản ánh rất sinh động
những điều trên: những cuộc hôn nhân tham tiền bỏ ngãi, vì tiền bỏ vợ
yếu con đau, thậm chí lấy nhau với mục đích giết nhau để chiếm đoạt
tiền thừa kế hoặc tiền bảo hiểm, anh em tranh giành chém giết nhau vì
tài sản của cha mẹ, các công ty thực hiện những thủ đoạn tàn độc
để cạnh tranh, sự liên minh của những kẻ nắm quyền với bọn
Ma-phi-a... Và quan trọng hơn hết, sự bất công và vô nhân đạo của XHTB
còn gây ra mâu thuẫn đối kháng làm nảy sinh cách mạng xã hội sẽ tiêu
diệt chính XHTB! Thế thì tại sao CNTB chưa bị chết? Thực tế Mác viết
ra những nguyên lý, những quy luật dựa trên một xã hội mẫu, giống như
những nhà khoa học làm thí nghiệm với điều kiện chuẩn vậy. Nhưng không
vì thế mà những phát minh vô nghĩa. Cái chính là người ta phải hiểu cho
đúng. Thực tế CNTB đã ác hơn và tham lam hơn Mác nghĩ, nó không chỉ bóc
lột công nhân bản xứ mà còn đi xâm lược để bóc lột được nhiều
hơn. Lịch sử loài người đã xảy ra hai cuộc Đại
chiến thế giới: thứ Nhất (1914 - 1918) và thứ Hai (1939 - 1945). Đại chiến
thế giới thứ Nhất thực chất là chiến tranh phân chia lại thị trường
giữa một bên là Đức, Áo, Hung với một bên là Anh, Pháp, Nga, Mỹ. Kết
quả là Đức thua và còn bị trói chặt bằng Hiệp ước Véc-xây. Rồi
chính sự phục thù của Đức đã làm nên Đại
chiến thế giới thứ Hai, một cuộc chiến khủng khiếp nhất trong lịch sử nhân loại. Và chính
Liên-xô, dưới sự lãnh đạo của ĐCS, đã có công lớn nhất chặn đứng
được thảm họa đó; và cũng chính sự chiến thắng chủ nghĩa phát-xít
đã sinh ra hệ thống các nước XHCN rồi trở thành đối trọng với hệ
thống TBCN. Thế là trong quá trình “thích nghi để tồn tại” tránh sự
diệt vong theo tiên đoán của Mác, xã hội TB đã phải tự thay đổi, một
sự thay đổi dù chưa hoàn toàn nhưng cũng hướng về phía công bằng bác
ái theo tư tưởng của Mác. Bách khoa toàn
thư Wikipedia, một công trình của các học giả tư sản cũng phải thừa
nhận: “Lý tưởng của chủ
nghĩa cộng sản là đối trọng để chủ nghĩa tư bản trở nên tốt đẹp
hơn để được xã hội loài người chấp nhận. Từ chủ nghĩa tư bản với
sự tự do bóc lột - "Người với người là chó sói" (Lenin) -
và đầy rẫy bất công tạo ra mầm mống của bạo động và cách mạng,
thế giới cũ đã tìm các cách thích nghi và triển khai một xã hội công
dân mà trong đó mọi thành phần xã hội đều có thể phát triển, các
mâu thuẫn xã hội không thể đã hết nhưng đã có những cơ chế thỏa hiệp
để giải quyết trên cơ sở hợp lý cho các giai tầng xã hội. Đây là một
đóng góp gián tiếp rất lớn của chủ nghĩa xã hội”; “hiện tượng Chủ nghĩa tư bản
toàn dân như hiện nay của các xã hội Âu - Mỹ khi công nhân cũng
có thể là đồng sở hữu của phương tiện sản xuất thông qua cổ phần”.
Dù có những tiến bộ như vậy, công nhân các nước TB phát triển đã có
một đời sống kha khá, chủ yếu là do khoa học công nghệ phát triển
nhanh tạo ra năng suất lao động tăng vượt bậc, nhưng đúng như Mác đã
chỉ ra, và ngay cả việc tính lại giá trị thặng dư theo tư duy mới cho
phù hợp hơn, ta vẫn thấy phần công nhân được hưởng thực chất quá
nhỏ bé so với tổng lợi nhuận mà họ làm ra. GS Triết học Mỹ Phil
Gasper (Đại học Notre Dame de Namur của California) đã dẫn cụ thể: “Năm 1998, 10% dân số giàu nhất Mỹ chiếm hữu
hơn 85% của cải bằng cổ phiếu và quỹ chung, 84% chứng khoán tài chính,
91% trái phiếu và 92% vốn trong các doanh nghiệp tư nhân. Trên toàn cầu con
số này còn kinh khủng hơn. Chưa đến 500 người trên thế giới đang sở
hữu tài sản nhiều hơn toàn bộ thu nhập của hơn một nửa dân số thế
giới cộng lại”. (Báo Tuổi trẻ,
28-11-05). TMH viết tiếp về
giai cấp công nhân: “Đồng thời việc Mác
tôn vinh giai cấp vô sản lưu manh (chữ của Mác) vừa dốt, vừa đói, vừa
rét lên vũ đài lịch sử để chôn tư bản khí sớm, đặng giải phóng
nhân loại là một sai lầm chết người rất vĩ đại khác của Mác”.
Viết vậy TMH cũng không hiểu gì khái niệm giai cấp vô sản của triết học Mác, mà
chỉ hiểu theo nghĩa đen thô thiển. Trong bài “Các Mác-một tình yêu bao la” đã đăng
trên mạng talawas và bị không ít người chống đối chế độ công kích,
tôi đã viết: “Cũng trong “Tuyên ngôn”
Mác và Ăng-ghen viết: “Trong tất cả các giai cấp hiện đang đối lập với
giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp vô sản là giai cấp thực sự cách
mạng” (tr. 97, sđd); và theo hai ông: “Bác sĩ, luật gia, tu sĩ, thi sĩ, bác
học đều bị giai cấp tư sản biến thành những người làm thuê”(tr.74,
nt); rồi: “Từng bộ phận trọn vẹn của giai cấp thống trị bị sự tiến
bộ của công nghiệp đẩy vào hàng ngũ giai cấp vô sản... Những bộ phận ấy cũng đem lại cho
giai cấp vô sản nhiều tri thức”(tr.95-96, nt). Như vậy, tầng lớp trí thức
và tư sản tiến bộ cũng thuộc “giai cấp thực sự cách mạng”. Hơn nữa
với chú thích của Ăng-ghen “Giai cấp vô sản là giai cấp những công
nhân làm thuê hiện đại”(tr.65, nt), vậy khái niệm “giai cấp công nhân”,
với ý nghĩa triết học Mác, chính là “giai cấp làm thuê hiện đại”,
bao gồm tất cả những tầng lớp bị bóc lột, bị trị, bị vô sản
hóa, cả những trí thức, những nhà tư bản tiến bộ, chứ không chỉ trơ
trụi là những người công nhân đứng máy, những người hoạt động cơ
bắp. Chính vì không hiểu điều này nên những người chống đối cho Mác
sai khi đề cao sức mạnh cơ bắp, cho những người “ngu si tứ chi phát
triển” làm sao mà lại “tiên phong”, lại lãnh đạo cả những tầng lớp
có “đầu óc” được”. Về phép biện chứng:
TMH viết: “Theo Hegel, sự phát triền của BIỆN CHỨNG
PHÁP sẽ kết thúc ở TUYỆT ĐỐI DUY TÂM là Chúa Trời và Thiên Nhiên hoà
vào nhau trong tột cùng CHÂN THIỆN MỸ, cũng là lúc tinh thần ngừng lại,
không vận động nữa, biện chứng pháp cũng mất tiêu luôn các mặt đối
lập thống nhất!”. Chỉ có một câu mà thể hiện chồng chất sự
vô nghĩa, lầm lạc của TMH. Đã “duy tâm”
là “duy tâm” (chữ duy ở đây đã đồng
nghĩa với tuyệt đối rồi), còn nếu có “tuyệt đối duy tâm” không lẽ sẽ có “tương đối duy tâm” sao?!; rồi người ta
chỉ có thể nói “các mặt đối lập”
và “thống nhất các mặt đối lập”,
còn viết như TMH “các mặt đối lập thống
nhất” là cái “mặt” gì? Nếu xét về lịch sử thì phép biện chứng
có sự phát triển, nhưng với Hê-ghen, ông không nghiên cứu “sự phát triển của biện chứng” như TMH
viết, mà ông nghiên cứu sự phát triển của thế giới. Theo quan niệm duy
tâm của ông, bản nguyên thế giới là tinh thần (tinh thần thế giới hay ý niệm tuyệt đối), sự phát triển của
nó theo tam đoạn thức, thuyết ba giai
đoạn, một khái niệm do Platon dùng lần đầu và được Hê-ghen phát triển.
Sự phát triển xuất phát từ trong chính ý
niệm tuyệt đối (trong nguyên chất tư duy), trong một loạt phạm trù
logic mà nó tự vạch ra; rồi được thể hiện ra trong thế giới vật chất-
một dạng tồn tại khác của ý niệm tuyệt
đối; cuối cùng, khi nắm được nội dung của mình dưới dạng ý thức và hoạt động của con người, nó
lại trở về ý niệm tuyệt đối ở
cấp độ cao nhất, đó chính là tinh thần
tuyệt đối. Lúc này mọi thứ đều tuân theo “ý Chúa”, sự phát triển
của ý niệm tuyệt đối dừng lại, phép
biện chứng trở thành siêu hình. Vậy nói cho đúng với triết học, câu
trên của TMH phải được viết là: “Theo
Hê-ghen, sự phát triển của ý niệm tuyệt đối sẽ kết thúc ở tinh thần
tuyệt đối, cũng là lúc sự phát triển của ý niệm tuyệt đối dừng lại,
biện chứng pháp trở thành siêu hình”. Còn viết “sự phát triển biện chứng pháp thành tuyệt
đối duy tâm” như TMH là vô nghĩa. Không hiểu đẻ ra
sai, sai này lại đẻ ra sai khác, cứ thế lầm lạc vô giới hạn. TMH viết:
“Bắt chước Hegel, Mác cũng cho ba thì của
vận động vật chất (không có tinh thần tham dự) là nhập đề, phản đề,
hợp đề lặp đi lặp lại mãi tới tận cùng là TUYỆT ĐỐI DUY VẬT, tức
là chỗ vật chất ngừng lại”. Ở đây TMH cũng
đưa ra khái niệm vô nghĩa “tuyệt đối
duy vật” như đã phân tích về “tuyệt
đối duy tâm” ở trên. Vì không phân biệt được duy vật biện chứng với duy vật lịch sử, vo tròn lại, TMH đưa ra
những phân tích ngô nghê, những kết luận ông chẳng bà chuộc, không ăn
nhập gì với nhau. TMH viết: “TUYỆT ĐỐI
DUY VẬT, tức là chỗ vật chất ngừng lại” thì khúc đầu vô nghĩa,
khúc sau ngược với triết học Mác. Với
chủ nghĩa duy vật biện chứng, quy luật
“vật chất luôn vận động” là điều
kiện để vật chất tồn tại, nó cũng là sự thật hiển nhiên; điện tử
chỉ ngừng quay quanh hạt nhân nguyên tử trong tích tắc thì toàn bộ thế
giới sẽ thành hư vô. Đây là một quy luật khách quan, không phụ thuộc
vào Hê-ghen hay Mác, kể cả Chúa (nếu có), và nó cũng không phụ thuộc
vào bất kỳ chế độ xã hội nào, xã hội Cộng sản hay Tư bản. Sai lầm khi đồng nhất “thống nhất các mặt đối lập trong thế giới
vật chất” với “đấu tranh giai cấp
trong xã hội”, một cái là quy luật khách quan trong thế giới tự
nhiên, một cái là quy luật chủ quan do con người vạch ra, một cái không
gì có thể can thiệp, một cái con người có thể hiểu và tác động, vận
dụng hoặc tránh né; nên TMH mới hiểu sai là Xã hội Cộng sản không còn
đấu tranh giai cấp thì vận động của vật chất sẽ dừng lại. Hết đấu
tranh giai cấp thì sự phát triển về chế độ do giai cấp lãnh đạo sẽ
dừng lại, theo Mác: “chế độ tự quản
xã hội” sẽ được thiết lập, như mọi sự vật và hiện tượng, nó
sẽ còn mâu thuẫn nhưng không phải là đối kháng. Lẽ ra phải viết phép
biện chứng duy vật lúc đó cũng sẽ trở thành siêu hình như trường hợp
biện chứng duy tâm đã nói ở trên, TMH cũng lại nghô nghê: “SAI LẦM VĨ ĐẠI THỨ BA CỦA MÁC LÀ TRỞ VỀ
QUAN NIỆM DUY TÂM CỰC ĐOAN CỦA HEGEL”. Hệ thống triết học Mác là
duy vật, nó thống nhất và liên quan chặt chẽ với nhau, thể hiện bằng
những nguyên lý cơ bản. Về tự nhiên
cho: Vật chất có trước, quyết định và sinh ra ý thức; sự tồn tại
và vận động phát triển của thế giới vật chất là khách quan, không phụ
thuộc vào ý thức. Còn về xã hội cho: tồn tại xã hội quyết định ý
thức xã hội; cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng
v.v... Tất cả những người có học và hiểu đúng đều phải hiểu
như vậy. Làm gì có chuyện biến đổi tâm-vật,
vật-tâm lung tung như TMH viết, có chăng chỉ có ở trong cái đầu bệnh
hoạn mà thôi. Về chế độ
tư hữu TMH trích trong TUYÊN NGÔN
CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN: “Marx viết: “Đặc
trưng của chủ nghĩa cộng sản không phải là xóa bỏ chế độ sở hữu
nói chung, mà là xóa bỏ chế độ sở hữu tư sản. Nhưng chế độ tư hữu
hiện thời, chế độ sở hữu tư sản, lại là biều hiện cuối cùng và
hoàn bị nhất của phương thức sản xuất và chiếm hữu dựa trên cơ sở
những đối kháng giai cấp, trên cơ sở những người này bóc lột những
người kia. Theo
ý nghĩa đó, những người cộng sản có thể tóm tắt lý luận của mình
thành công thức duy nhất này : xóa bỏ chế độ tư hữu…” Ở chỗ khác, TMH
trích một loạt câu khác nữa thể hiện tư tưởng của Mác về chế độ
tư hữu, vì quá dài tôi chỉ xin trích lại một câu: “Chủ
nghĩa cộng sản coi như sự xóa bỏ một cách tích cực chế độ tư hữu
- sự tự tha hoá ấy của con người – và do đó coi như sự chiếm hữu một
cách thực sự bản chất con người bởi vì con người và vì con người”. Mặc dù tư tưởng
của Mác được trình bày rất mạch lạch, dễ hiểu, TMH do không hay cố
tình không hiểu đã kết án Mác một cách rất hung hãn như: “Việc chủ trương xóa bỏ triệt để tính tư
hữu con người của Marx là hành vi xóa bỏ chính con người, chống lại nhân
loại phản động vô cùng tận của học thuyết Marx.” Rõ ràng, viết vậy
TMH đã sai khi đồng nhất khái niệm “chế
độ tư hữu” với “tính tư hữu”,
một đằng chỉ hình thái kinh tế-xã hội
được quy định bởi hình thức chiếm hữu
của cải vật chất do lao động xã hội tạo ra, một đằng thuộc về
bản tính con người. Vì thế tất cả phân tích của TMH sau đó trở thành
huyên thuyên vô nghĩa rất buồn cười như “tôi là chính tôi; và vì vậy tôi là của
tôi, tôi là tư hữu tôi chứ không hề là công hữu của bất cứ một thực
tại ngoại lai nào khác... Linh hồn tôi, tư tưởng tôi của riêng tôi, vợ
con của riêng tôi, đất nước dân tộc vừa là của chung mọi người
nhưng vẫn có thể coi là của riêng tôi. CÁI GÌ CỦA RIÊNG TÔI, CÁI ẤY
LÀ TƯ HỮU, CÁI ẤY LÀ NHÂN TÍNH,LÀ CÁ NHÂN, LÀ BẢN NGÃ, LÀ CHỦ THỂ TRƯỜNG
TỒN !” Về con người TMH cho: “Marx đã hoàn toàn rơi vào duy tâm chủ quan khi
tuyệt đối hoá yếu tính xã hội của con người”, khi trích: “Trong “Luận cương về Phơ-bách”... Marx viết
: “Phơ-bách hòa tan bản chất tôn giáo vào bản chất con người. Nhưng bản
chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá
nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng
hòa những quan hệ xã hội…”; “…Vì thế, Phơ-bách không thấy rằng bản
thân “tình cảm tôn giáo” cũng là một sản phẩm xã hội mà cá nhân trừu
tượng mà ông phân tích, trên thực tế, là thuộc một hình thức xã hội
nhất định…”. Như vậy TMH lại hoàn toàn không hiểu. Viết như trên,
Mác không phải “duy tâm chủ quan”, hệ
tư tưởng coi chủ quan con người quyết định ý thức, mà thực chất Mác
đã nói theo quan niệm duy vật lịch sử
cho tồn tại xã hội quyết định ý thức
xã hội. TMH viết tiếp: “Với định
nghĩa về con người tuyệt đối sai trái” Mác đã “phủ nhận con người tự nhiên, tuyệt đối
hoá vai trò xã hội của con người”. Con người tự nhiên là con người
sinh học, Mác không hề phủ nhận, nếu phủ nhận sự tồn tại cũng như
vai trò của nó với tư cách một loài duy nhất có tư duy trong thế giới tự
nhiên, người ta còn nghiên cứu mọi thứ vì nó làm gì. Nhưng con người tự
nhiên, nếu sống cô lập hoàn toàn với các quan hệ xã hội, thì chỉ có
ý thức bản năng đơn giản mà thôi. Viết như trên, Mác chỉ phê phán Phơ-bách
cho bản chất tôn giáo là bản chất tự nhiên của con người, Mác cho tín
ngưỡng không phải có sẵn trong đầu mà do hoạt động tôn giáo của con
người trong xã hội hình thành nên. Điều này hoàn toàn đúng, vì nếu ai
đó lớn lên không học kinh lễ, không đi chùa, không đi nhà thờ, chỉ đi
học và hiểu khoa học, họ sẽ hoàn toàn vô thần; thực tế đã chứng
minh như vậy, riêng bản thân tôi cũng có thể là một dẫn chứng, vì
phép giao tế trong gia đình vợ, tôi thường tham dự những lễ nghi tôn
giáo, tôi luôn có cách ứng xử văn hóa, nhưng tôi không bao giờ trở
thành một tín đồ, đơn giản chỉ vì đạo của tôi là đạo khoa học.
Thực chất, với triết học Mác, con người đã được định nghĩa toàn
diện nhất: “Khả năng đối xử có
tính người đối với thế giới và đối với những người khác, khả năng
lao động, giao tiếp với những con người chung quanh, khả năng tư duy, có
những tình cảm đạo đức và những xúc cảm thẩm mỹ-tất cả những
cái đó đều không phải là những đặc tính của cơ thể... Những nét
ấy được hình thành nhờ chỗ con người tham gia vào hệ thống các quan hệ
xã hội, vào quá trình lao động, đi liền với... quá trình nắm vững và
tái tạo nền văn hóa xã hội... Con người... kẻ sáng tạo ra lịch sử, kẻ
sáng tạo ra thế giới văn hóa vật chất của mình, và theo nghĩa này, cũng
sáng tạo ra chính bản thân mình” (Từ
điển triết học đd, tr. 99). Vậy mà TMH cho: “Con người - đối tượng nghiên cứu của Marx
là con người vật dục, con người của DUY miếng ăn và DUY cái dạ
dày...! CON NGƯỜI TRONG HỌC THUYẾT MÁC LÀ CON NGƯỜI DUY LỢI, DUY ÁC, DUY
KINH TẾ, DUY GIAI CẤP và do đó là CON NGƯỜI DUY TÂM, DUY Ý CHÍ - một hình
nhân chứ không phải một con người đúng nghĩa!” thì có phải là suy
diễn lành mạnh của một con người không? Chủ nghĩa Mác ở Việt Nam TMH cho việc ĐCS Việt
Về một đường lối
chủ yếu mà ĐCSVN đã vạch ra cho đất nước ta đi trong những ngày hôm
nay, TMH viết: “Câu văn “Nắm vững định
hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường ở nước ta
” là một câu văn viết sai tiếng Việt hoàn toàn, sai logic... hoàn toàn
vô nghĩa vì nó rất ngô nghê, buồn cười... Kinh tế thị trường tức là
kinh tế tư bản, một nền kinh tế tự do; còn kinh tế Xã hội chủ nghĩa
là nền kinh tế độc quyền, phi tự do. Hai nền kinh tế trái ngược nhau
như nước với lửa, có tao thì không mày, có mày thì không tao!” Theo phép biện chứng,
mọi sự vật hiện tượng luôn vận động phát triển. Chính những ngày
hôm nay đã nảy sinh ra những cái mới. Với chế độ XHCN cũ và TBCN cũ thì
chỉ có thể nói chuyện với nhau bằng súng ống. Nhưng nay Trung quốc lại
có hình thái một nước hai chế độ.
Nhìn lại lịch sử ta thấy, nền kinh tế phát triển tự do từng có những
cuộc khủng hoảng thiếu hoặc thừa; còn nền sản xuất kế hoạch tập
trung lại dẫn đến sự kìm hãm sức sản xuất; vì thế cả hai phe đã học
tập cái tốt của nhau và khắc phục cái xấu của mình. Về cái tốt của
CNXH, cũng Bách khoa toàn thư Wikipedia viết:
“Các nhà nước tiêu
biểu của chủ nghĩa xã hội đã triển khai một số các biện pháp kinh tế
chính trị xã hội mà ngày nay đã được áp dụng một cách hợp lý sau
khi loại bỏ đi những hạt nhân phi hợp lý như: kế hoạch hóa quy mô vĩ
mô, dồn nguồn lực quốc gia cho những dự án lớn có tính quan trọng sống
còn, hệ thống bảo hiểm xã hội
toàn quốc...Đó là những đóng góp của chủ nghĩa xã hội cho tri thức quản
lý nhà nước của nhân loại”. Vậy sự lắp ghép
hai phương thức sản xuất XHCN và TBCN thành một phương thức mới mang tính
chất của cả hai cũng không có gì là lạ, thậm chí còn phù hợp với quy
luật lai tạo trong sinh học; và thực tế của Trung Quốc và Việt Nam những
ngày hôm nay đã chứng tỏ nó cũng đã tuân theo thuyết Tiến hóa của Đác-uyn (cần phân biệt tính khoa học về sự
phát triển của thuyết Tiến hóa Đác-uyn,
mà Ăng-ghen cho rằng hoàn toàn phù hợp với phép biện chứng duy vật (Từ điển triết học đd, tr.42), với sự
đồng nhất sai lầm giữa “đấu tranh sinh
tồn” với “động lực phát triển
xã hội” của những người theo thuyết
Đác-uyn xã hội. Một đằng là sự thích nghi toàn diện với môi trường
sống, một đằng chỉ dựa trên tập tính giống loài và đối kháng mạnh-yếu;
một đằng là ứng xử tự nhiên không ý thức giữa thú với thú, một đằng
là ứng xử có ý thức giữa con người với con người), sự lai tạo
đã có những sự thích nghi
với môi trường chính trị, kinh tế của thế giới hôm nay, nên đã tồn tại
và phát triển nhanh nhất. Giống như cậu học trò học vẹt, học lỏm,
TMH cũng như một số người, vì muốn chống đối, đã trói chân các khái
niệm đứng yên một chỗ không cho
nhúc nhích đi đâu được nữa, nên không hiểu được cái mới. Với tinh thần khoa học,
khách quan, chúng ta cũng thấy thực tiễn lịch sử cách mạng XHCN dù đạt
nhiều thành công vĩ đại nhưng còn nhiều sai lầm trầm trọng nên mới
có sự tan vỡ của nhiều nước. Riêng tôi thấy nguyên nhân chủ yếu là
do: một mặt chúng ta vừa giáo điều, siêu hình hóa tư tưởng khoa học của
Mác khi cho chúng như kinh thánh, rồi từ việc thần thánh hóa Mác đã sinh
ra tệ sùng bái cá nhân sau này, gây ra nhiều tai họa, trong khi Mác, trong lời
tựa viết cho bản tiếng Đức Tuyên ngôn của
Đảng Cộng sản xuất bản năm 1872, đã viết: “việc áp dụng những nguyên lý... cũng phải tùy
theo hoàn cảnh lịch sử”, rồi “không
nên quá câu nệ vào những biện pháp cách mạng nêu ra... ngày nay mà viết
lại... cũng phải viết khác đi”.(Sđd, tr. 9); một mặt lại quá “sáng
tạo”, không tuân theo quy luật “lượng
đổi chất đổi” mà nóng vội muốn chuyển ngay kiểu “chất chuyển sang chất”, bỏ qua phương
thức SXTB, phương thức làm ra nhiều của cải, trong khi trình độ lực lượng
sản xuất, lượng của cải xã hội chưa đủ để diệt lòng tham của con
người, điều kiện tối cơ bản để có thể thực hiện được sản xuất
tập thể và sự công hữu hóa. Trong quá trình triển khai các quy trình khoa
học xã hội, chúng ta chưa đề ra được các biện pháp để có thể tìm
ra được những con người xứng đáng ở các vị trí xã hội trọng yếu,
cơ chế vận hành xã hội đúng đắn, để có thể thực hiện được tính
ưu việt của chế độ XHCN và lý tưởng công bằng bác ái của Mác, chưa
tạo ra được một môi trường để: “Trong
đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển
tự do của tất cả mọi người”. Từ đó ta cũng thấy, hiểu đúng rồi làm đúng
được theo Mác là điều không đơn giản. Nhưng sự sụp đổ của một số
nước XHCN không có nghĩa là những nguyên lý khoa học của Mác sai, vì có
những quy trình đúng, sự thực hiện sai cũng không thể thành công được.
Cuối cùng, dù thế giới này biến đổi thế nào, dù có nhiều điều Mác
viết đến nay không còn phù hợp nữa mà chính Mác cũng đã cảnh báo trước,
nhưng với tư cách một nhà tư tưởng, một nhà khoa học xã hội, tư tưởng
công bằng bác ái, những quy luật phát triển của Mác mãi mãi còn giá trị
trong kho tàng tri thức nhân loại. Riêng nước ta, nền
kinh tế đang phát triển nhanh, nhưng ai cũng thấy là nền kinh tế chưa bền
vững, còn phụ thuộc nhiều vào tài nguyên và cơ bắp chứ không phải nền
kinh tế tri thức, còn tụt hậu và đặc biệt nước ta còn hai quốc nạn
lớn là tham nhũng và lãng phí. Trên báo chí, trên diễn đàn của Đại hội
Đảng và Quốc hội đã có những ý cho rằng, không phải chỉ do thoái
hóa của một số cán bộ đảng viên mà còn có phần do chính cơ chế xã
hội có những điểm chưa phù hợp. Đã có nhiều ý kiến cần phải đưa
ra thể chế sao đó để người ta không cần phải tham nhũng và những kẻ
tham lam có muốn tham nhũng cũng không dám. Được vậy, sự tăng trưởng
kinh tế không chỉ 7-8% mà chắc chắn sẽ cao hơn nhiều. Nếu nước ta xóa
được hai quốc nạn trên, với vận hội mới và uy tín mới, với sự ổn
định, với một cơ chế phát huy được tối đa sức sáng tạo của mọi
người, sự tiếp cận được những giá trị nhân văn mới của thế giới
hiện đại, rất có thể VN sẽ là một hình mẫu mới, như chúng ta đã từng
là biểu tượng anh hùng trong kháng chiến chống xâm lược. Ngược lại, nếu
không ngăn chặn được những quốc nạn và không thay đổi những quan điểm đã thành lạc hậu,
mất mát lớn nhất không phải vật chất mà là mất lòng tin của nhân
dân, nhất là ở thế hệ trẻ, những người chủ tương lai của đất nước.
Vì trẻ nên chuộng cái mới, nhưng họ chưa từng trải nên chỉ biết hôm
nay mà không biết hôm qua; chỉ thấy hiện tượng mà không hiểu bản chất,
ít hiểu đúng và sâu sắc quá khứ. Và như thế, như cảnh báo của nhiều
người, nhất là những vị lão thành cách mạng, những quốc nạn và tư
duy lỗi thời nêu trên sẽ là nguy cơ của đổ vỡ, của xáo trộn và bần
hàn. Vài lời kết Bài này tôi chỉ viết
một số vấn đề quan trọng mà TMH đã viết sai, thực tế không chỉ thế,
mà toàn bộ những bài viết của TMH về rất nhiều vấn đề đăng trên mạng
thời gian qua cũng đều sai đến từng “nguyên tử chữ”, vì thế tất cả
những phân tích, kết luận theo đó cũng hoàn toàn vô nghĩa. Tại sao một
tên tuổi như TMH lại dốt nát đến thế? Câu trả lời thật đơn giản,
vì triết học là khoa học khái quát mọi khoa học, nên ngôn ngữ của nó
là ngôn ngữ khái niệm, mỗi khái niệm lại có những nội hàm và ngoại
diên chứa đựng nhiều tri thức. TMH không có tri thức nền, nên dù có đọc
hàng ngàn cuốn sách cũng không hiểu nổi dù chỉ là những khái niệm cơ
bản, chỉ có thể hiểu một cách nôm na, tất dẫn đến suy diễn nôm na,
lại mất tỉnh táo vì thiên kiến lệch lạc, sự ảo tưởng về khả
năng, cộng với một nhân cách quái dị, nên TMH đã chủ quan đưa ra những
kết luận cực đoan, hoàn toàn mang tính xuyên tạc. Có những sự kiện TMH nêu ra là đúng
về hiện tượng, nhưng đều bị phân tích sai về bản chất. Để viết nên
10 bài, TMH phải mất hai năm đọc 60 cuốn sách dày cộp về chủ nghĩa Mác,
để viết bài phủ nhận TMH này, tôi không cần đọc cuốn nào cả, chỉ
những chỗ cần chính xác theo tinh thần văn bản học tôi mới phải tra cứu.
Chỗ khác nhau giữa tôi và TMH là vậy, tôi viết bằng tri thức của tôi,
còn TMH viết bằng sự đọc, nhưng sự đọc lại không có ý nghĩa gì khi
không có sự hiểu. Nếu đối đáp hết những ý của TMH thì có lẽ tôi
phải viết cả tập sách dầy, nhưng thiết nghĩ không cần phải phí công
thế. Khi viết, TMH luôn
nhân danh sự thật, khoa học, đạo đức, văn hóa, chỉ vì học thuật chứ
tuyệt nhiên không xúc phạm cá nhân. Sự thực ngược lại. Thái độ của
TMH ở những bài viết lần này đối với cả tổ chức ĐCSVN và Các Mác,
cũng không khác gì thái độ vô văn hóa đối với nhiều vị giáo sư, các
nhà văn trong các bài trước đây, thậm chí còn hỗn xược hơn. Với dự thảo nghị
quyết của Đảng, TMH ngông cuồng chê bai: “sai một cách vĩ đại”; “câu văn ngô
nghê nhất thế giới”; “nền giáo dục của Đảng hiện nay là nền
giáo dục “ngu dốt có định hướng”. Với Mác, một người
mà đến những người có tư tưởng đối lập với ông cũng có những người
phải vị nể, cũng bị TMH ngông cuồng phỉ báng: “sai lầm chết người rất vĩ đại của Mác”;
“Chính quan niệm triết học thậm ngu dốt này của Mác”; “thậm ngu dốt
tức cười, vớ vẩn”; “thô thiển
và ngu ngốc như Marx”; “Marx mới dám nói liều lĩnh nhất trong những
người nói liều lĩnh”; “một sự tối ngu dốt của Marx”; “chống lại
nhân loại”; “phản động vô cùng tận”... Chưa hết, TMH còn
ngông cuồng vận động: “chúng tôi (TMH)
kêu gọi tất cả những nhà khoa học trong ngành khoa học nhân văn (người
Việt Nam) ở trong nước và nước ngoài..., những người còn có khả năng
phân biệt được sự khác nhau giữa con voi và con kiến, còn có lòng yêu nước,
hay còn khả năng yêu nước, thương nòi, hãy vì dân tộc đau thương, bi thảm
và nước Việt buồn của chúng ta mà bỏ qua sĩ diện không thèm đối thoại
với “nhà cầm quyền Hà Nội độc tài, độc quyền chân lý…” đặng
cùng nhau lên tiếng, xem rằng : chủ nghĩa Marx rốt cục LÀ PHÚC HAY HỌA CỦA
DÂN TỘC VÀ NHÂN LOẠI”. Và cuối cùng, TMH
ngông cuồng thách thức: “Chính vì vậy
mà tôi dám thách cả chế độ của ĐCSVN các ông, thách cả Bộ chính trị,
thách cả Ban chấp hành trung ương ĐCSVN, thách cả các nhà văn đảng viên
(bảo thủ) của ĐCSVN tranh luận với tôi công khai về tất cả mọi điều
hệ trọng của đất nước, dân tộc xoay quanh tình hình chính trị, kinh tế,
văn hoá của xã hội Việt Nam hôm nay, xoay quanh 11 bài góp ý của tôi,
tranh luận trên tất cả các diễn đàn trong nước và hải ngoại”. Về điều này, khi
tôi tỏ ý viết, bạn bè can “chấp làm gì” với một người mà dư luận
đã thành văn cho là phản Chúa, phản Đảng,
phản thầy, phản đồng đội, phản bạn, phản vợ, phản con, và phản cả
chính bản thân mình. Bởi TMH hôm nay chửi bới chính TMH hôm qua, bài viết
này chửi bài viết kia, ý câu trên chửi ý câu dưới, vì chúng đều là sản
phẩm của một tư duy không biết khoa học là gì. Quả thực, nếu trên thế
giới mọi người đều có trình độ, tôi không những không viết mà còn
không đọc, vì trước nay tôi luôn cho trình độ của TMH chỉ mới biết mặt
chữ mà thôi. Tiếc là thế giới không phải ai cũng hiểu được TMH viết
đúng hay sai. Chiến tranh đã lùi xa ba mươi năm, không còn sự đối kháng
về ý thức hệ chính trị trên toàn cầu, bao kẻ thù đã thành bè bạn,
nhưng nhân tâm một bộ phận người Việt vẫn chưa thu về một mối, dù
sự bang giao, uy tín và vị thế của VN ngày càng tăng trên trường quốc tế;
thêm vào đó những cơ chế chưa hợp lý gây ra những quốc nạn về quan
liêu, tham nhũng, lãng phí gây ra những bất bình rất lớn; vì thế trên mạng
thông tin toàn cầu, những điều sai trái thường lan truyền rất nhanh, bất
kể đúng sai, vẫn được tung hô, cỗ vũ ghê ghớm. Vì vậy, tôi, dù
không có trong danh sách TMH thách thức, nhưng với trách nhiệm của một
công dân, tư duy của một người làm khoa học, sứ mệnh của một người
cầm bút, với lương tâm và lương tri, thấy mình cần phải viết, dù biết
trước, dây với con người này là sẽ bị bôi bẩn, bị vu khống, bị
xuyên tạc, bị phỉ báng, bởi lý lẽ sẽ bị thủ tiêu, lương tâm bị
bôi đen, lương tri bị bịt mắt bởi một con người mà với tất cả sự
sai trái và thái độ đã phân tích ở trong bài này, dù hết sức thận trọng,
tôi hoàn toàn có thể nói là thực sự vô học và lưu manh, nhưng lại ảo
tưởng, mắc bệnh vĩ cuồng, một người đã hoàn toàn mất nhân tính.
Nên dù TMH có đáp lại bài này, với tôi việc đó là vô nghĩa. TP. HCM. 16.5.2006 © Copyright 2006 giaodiem.com |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com