giaodiem copyright
          posted: 20.6.2006
Tác giả Trần Xuân An lên tiếng về những sai sót của Từ điển Bách khoa mở WIKIPEDIA về hai nhân vật ‘Vua Kiến Phúc’ và ‘Nguyễn Văn Tường’

Wikipedia  /  GOOGLE  /  BLOGGER

http://www.tranxuanan-wikipedia.blogspot.com

 Friday, June 16, 2006

WIKIPEDIA  - KIẾN PHÚC

LỜI THƯA VỀ 2 BÀI VIẾT TRÊN WIKIPEDIA

Vì WIKIPEDIA là một "bách khoa toàn thư mở", ai cũng có thể tham gia sửa chữa, bổ sung bài viết, do đó, tôi mạn phép lưu 2 bài viết mà tôi có góp phần (hầu như viết lại, bổ sung thêm đến 90%), và chỉ chịu trách nhiệm về 2 bài ấy với nội dung trên 2 khung blogs này.

Tôi thấy cũng cần thưa thêm một vài điều cần thiết:

Thật ra, thủ đoạn gieo nghi án vào nhân vật lịch sử đã bị lật tẩy từ lâu. Những nhà viết sử làm ra vẻ khách quan để ngụy trang ác ý ấy cần phải bị công luận trừng phạt (như tòa án trừng phạt những kẻ vu khống), và sớm muộn gì họ cũng bị nêu rõ là loại tội nhân văn hóa trong sử học sử (phân ngành sử học về sử gia và các tác phẩm sử học).

Và thật lòng tôi không muốn đi sâu vào đề tài cái chết của Kiến Phúc (những kẻ xấu xa, nham hiểm đã dựng đứng quanh cái chết ấy những lời đơm đặt, bôi nhọ như thế nào, vì sao); bởi lẽ, theo kinh nghiệm của nghìn xưa, một khi kẻ thù, kẻ xấu miệng đơm đặt, bôi nhọ, người đồng chí, người tốt càng tranh cãi lại để thanh minh, do đó, lại càng lan truyền, và càng lan truyền như thế là lại càng mắc mưu chúng. Nhưng đây là một việc bất đắc dĩ, chẳng đặng đừng.
Tôi hi vọng và tin chắc vấn đề cái chết của Kiến Phúc lần này sẽ được giải quyết rốt ráo, dứt điểm.  Hậu thế mai sau sẽ còn nhắc đến bi kịch Nguyễn Văn Tường cũng như mãi mãi còn nhắc đến bi kịch Nguyễn Trãi, tuy bi kịch hai nhân vật lịch sử này vẫn có những điểm khác biệt. Kẻ thù của Nguyễn Trãi chỉ là bọn gian thần; kẻ thù của Nguyễn Văn Tường không chỉ là bọn tay sai của giặc Pháp xâm lược, mà còn chính là bọn giặc Pháp xâm lược ấy.

TXA.


Wikipedia lúc 7 giờ 27 phút, ngày 17 tháng 6 HB6 [ 2006 ] tại Việt Nam:

http://vi.wikipedia.org/wiki/Ki%E1%BA%BFn_Ph%C3%BAc#C.C3.A1i_ch.E1.BA.BFt_c.E1.BB.A7a_Ki.E1.BA.BFn_Ph.C3.BAc

Kiến Phúc
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Đang bàn cãi về thái độ trung lập (TĐTL) của bài này.
Xin xem thảo luận ở trang thảo luận.

Kiến Phúc
Năm sinh-mất: 1869–1884

Tên húy:
Nguyễn Phúc Ưng Đăng
Trị vì: 1883–1884
Triều đại:
Nhà Nguyễn

Niên hiệu:
Kiến Phúc (1883-1884)
Miếu hiệu:
Giản Tông
Thụy hiệu:
Nghị Hoàng Đế
Vua Kiến Phúc (1869–1884) là vị vua thứ 7 của nhà Nguyễn, lên ngôi ngày 2 tháng 12 năm 1883, tại vị được 8 tháng thì qua đời.
Mục lục
[giấu]
• 1 Tiểu sử
o 1.1 Thiếu thời
o 1.2 Trị vì
• 2 Cái chết của Kiến Phúc
• 3 Xem thêm

[sửa]
A. Tiểu sử

[sửa]
I. Thiếu thời

Vua Kiến Phúc tên húy là Nguyễn Phúc Ưng Đăng, con thứ 3 của Kiên Thái vương Nguyễn Phúc Hồng Cai và bà Bùi Thị Thanh. Ưng Đăng được sinh ra đời vào ngày 2 tháng giêng năm Kỷ Tỵ, tức 12 tháng 2 năm 1869.

Vua Tự Đức vì lúc nhỏ bị bệnh đậu mùa nên không có con. Ông nhận 3 con trai của hai người em làm con nuôi, trong đó con đầu là vua Dục Đức. Năm 1870 lúc được 2 tuổi, Ưng Đăng được vua Tự Đức nhận làm con nuôi thứ ba và giao cho bà Học phi Nguyễn Thị Hương trông coi, dạy bảo.

[sửa]
II. Trị vì

Sau khi vua Hiệp Hòa bị phế truất, vào ngày 2 tháng 12 năm 1883, Ưng Đăng được đưa lên ngôi vua và đặt niên hiệu là Kiến Phúc. Khi đó Ưng Đăng mới 15 tuổi, mọi việc đều do hai đại thần phụ chính Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết quyết định.

Đại Nam thực lục chính biên (ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976, tr. 18 - 20), ghi nhận rằng: Ưng Ðăng được tin triều đình tới rước mình về làm vua, đang đêm khuya khoắt, nên rất sợ hãi, nhưng vẫn bị đem lên kiệu đưa về kinh thành. Ưng Đăng nói, "Ta còn bé, sợ không làm nổi", nhưng Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết tâu "Xin lấy tôn miếu, xã tắc làm trọng", và đưa lên ngôi với sự đồng ý của hoàng thái hậu Từ Dũ.

Sau khi nhà Thanh (Trung Hoa) kí Hòa ước Thiên Tân với Pháp, triều đình Đại Nam (Việt Nam), ở tình thế bị cô lập hoàn toàn, đành phải chấp nhận cưỡng ước Giáp thân (1884). Tuy vậy, triều đình Đại Nam, dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết, vẫn cố gắng thúc đẩy sự tiếp diễn thế trận "tọa sơn quan song hổ đấu" (cuộc chiến Pháp - Hoa). Nhiều quan thấy vậy, từ quan, ở ẩn hoặc đơn độc chiêu mộ quân, khởi binh chống Pháp, hoặc chiến đấu dưới cờ quân Thanh.

Triều đại Kiến Phúc chỉ kéo dài 8 tháng. Từ tháng tư (âm lịch) năm Giáp Thân, Kiến Phúc ngã bệnh. Ngày 10 tháng 6 âm lịch năm này, (31 tháng 7 năm 1884), Kiến Phúc mất vào giờ ngọ (Quốc sử quán triều Nguyễn, ĐNTL.CB., sđd., tr. 150 – 151).

Lúc mất, Kiến Phúc mới 16 tuổi, chưa nạp phi, không có con cái.

Sau khi mất, bài vị vua Kiến Phúc được đưa vào thờ trong Thế miếu và có miếu hiệu là Giản tông Nghị Hoàng đế. Lăng của Kiến Phúc, hiệu Bối lăng, ở phía trái Khiêm lăng, tại làng Dương Xuân Thượng, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên.

[sửa]
B. Cái chết của Kiến Phúc

Có nhiều tài liệu ghi lại các thông tin liên quan đến cái chết của Kiến Phúc, trong đó xoay quanh vấn đề Kiến Phúc có bị Nguyễn Văn Tường đầu độc hay không. Phần dưới đây trình bày theo trình tự lịch sử của các tài liệu (nguyên văn khảo cứu và nhận định của Trần Xuân An):

"Đại Nam thực lục chính biên" (ĐNTL.CB, sđd., tr. 176 - 178) ghi nhận: Qua một bản tấu nghị, trước đình thần, Tôn nhân phủ, luận tội của Gia Hưng vương Hồng Hưu loạn luân với công chúa Đồng Xuân (ĐNTL.CB., tập 36, như trên & tập 37, tr. 61 - 62 xác định có thật) và câu kết với Pháp (Pháp định đưa Hồng Hưu lên ngôi vua), Tôn Thất Thuyết cho rằng chính khâm sứ Pháp Rheinart đã nhân việc vua Kiến Phúc mất, vua Hàm Nghi đăng quang với tư cách một hoàng đế độc lập mà đưa tin gièm pha triều đình rất nhiều.

Trong "Việt Nam sử lược" (xuất bản lần đầu, 1921, Nxb. Tân Việt trước 1975 tái bản nhiều lần, và Nxb. Trẻ TP.HCM. với bản 1999, tr. 571), người đọc thấy Trần Trọng Kim chỉ cước chú thêm về chuyện Nguyễn Văn Tường đầu độc Kiến Phúc như một tin đồn. Ông ghi: "Lại có chuyện rằng:...".

Từ đó, các tác giả về sau (như Phạm Văn Sơn [1], Tôn Thất Bình [2]...) viết thêm về tin đồn này như thể là sự thật: Kiến Phúc bị Nguyễn Văn Tường cho uống thuốc độc chết vì vua bắt gặp Nguyễn Văn Tường đang tư tình với bà Học phi Nguyễn Thị Hương. Để bịt miệng vua, lợi dụng lúc vua đang bệnh, Nguyễn Văn Tường bỏ thuốc độc vào thuốc trị bệnh của vua. Cách viết này có thể còn chứng tỏ các tác giả thuộc diện này đã cố tình bất chấp sự thật đã được những người đồng sự, đồng triều và cùng thời trực tiếp hay mặc nhiên xác nhận với tư cách chứng nhân (như Quốc sử quán, Nguyễn Nhược Thị [Bích], Tôn Thất Thuyết, và đình thần, Tôn nhân phủ...) hoặc, theo một số nhà nghiên cứu, các tác giả ấy thiếu kiến thức về quy chế nội cung, công việc của Viện Thái y, Thị vệ đại thần, cụ thể là nguyên tắc nghiêm ngặt trong việc bắt mạch, kê đơn, bốc thuốc và sắc thuốc dâng lên vua.

Theo một nguồn khác (học giả Bửu Kế, nhà biên soạn sử Phan Khoang [3] có liệt kê, giáo sư Trần Văn Giàu [4] có đề cập và nhất trí): Nguyễn Văn Tường cùng Tôn Thất Thuyết bàn định với nhau, quyết đầu độc Kiến Phúc để đưa Hàm Nghi lên ngôi, bởi Kiến Phúc cũng thuộc vào loại đầu hàng Pháp như Dục Đức, Hiệp Hòa.

Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu [5] với các phương pháp luận khoa học, thẩm định, phân loại, đối chứng sử liệu, cho rằng các nguồn tin trên không chính xác, và kết luận là vào giai đoạn lịch sử này ở Việt Nam, lực lượng quân Pháp và tay sai muốn tung tin để hạ uy tín Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết và làm triều Nguyễn rệu rã, suy vong. Đồng thời, cũng căn cứ vào sử liệu gốc, với kiến thức về quy chế nội cung liên quan và bằng tư duy thực nghiệm (có kiểm chứng, khảo nghiệm tư liệu, xét các khả năng hiện thực, đặc biệt về y học), họ cho thấy rằng vua Kiến Phúc mất vì bệnh tái phát nguy kịch, mọi loại thuốc thang do các quan ngự y dâng lên đều vô hiệu, bệnh không thể thuyên giảm.

Sau đây là nguyên văn tư liệu gốc:

"Vua không khỏe, tháng tư trước, ngọc thể vi hoà, đình thần đã xin vua tĩnh dưỡng, và chia nhau đi cầu đảo các linh từ; sau đó đã khỏe, nhưng chưa được bình phục như cũ; đến ngày mồng 7 tháng này, ngày kỷ mão, mới ngự điện Văn Minh, chịu lễ chầu mừng, ban thưởng lụa hoa cho các bầy tôi có sai bậc, rồi sau lại không được khỏe. Thái y tiến thuốc, không thấy công hiệu. Ngày mồng 10, nhâm ngọ, bệnh kịch; giờ ngọ hôm ấy vua mất ở chính điện Kiền Thành. Hoàng thái phi bèn vời bọn Tôn nhân phủ Miên Định, phụ chính phủ thân đại thần Hồng Hưu, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết và Hộ bộ thượng thư Phạm Thận Duật, truyền bảo hoàng đế di chúc rằng: "Hoàng đế đức mỏng, có em là Ưng Lịch có học có hạnh, hoàng đế như có mất đi, truyền bảo tôn nhân phụ chính nên lấy Ưng Lịch vào nối ngôi lớn, để phụng tôn miếu; lại đại lễ tiên hoàng đế chưa xong, và lấy của dùng chưa sẵn, vậy hợp thành tang lễ châm chước làm được 4, 5 phần mà thôi, chớ cầu thể lệ. "Bấy giờ, Miên Định công và phụ chính thân đại thần truyền lệnh cho biết. Tôn nhân phủ, văn võ đình thần bèn hợp từ tâu lên Từ Dụ thái hoàng thái hậu; hoàng thái hậu rước công tử Ưng Lịch (là con thứ 5 Kiên Thái vương Hồng Hợi, biện phụng vương ấy), vào nhà tang xưng là tự quân, phàm việc tâu xin tuân hành; chọn ngày lành làm lễ tấn tôn (đó là vua Hàm Nghi) ...". [6].

(Quốc sử quán triều Nguyễn, "Đại Nam thực lục, chính biên" [ĐNTL.CB.], tập 36, Nxb. Khoa học xã hội [KHXH.], Hà Nội, 1976, tr. 150 – 151).
__________________________

[1] Phạm Văn Sơn, "Việt sử tân biên" (trọn bộ 5 tập gồm 7 cuốn]), cuốn 6 (tức là tập 5 trung), Nxb. (tác giả tự xuất bản), in tại nhà in Bùi Trọng Thúc (đường Võ Tánh, Phú Nhuận), Sài Gòn, 1963, tr. 13 & 14. Xem thêm: Phạm Văn Sơn, "Việt sử toàn thư", duy nhất một tập, Nxb. (tác giả tự xuất bản), in tại Thư Lâm ấn thư quán, Sài Gòn, 1960, tr. 661 & 669. Trong "Việt sử toàn thư", 1960, Phạm Văn Sơn cũng chỉ cước chú: "Theo dư luận ở Huế...", nhưng ở phần chính văn, lại viết: "Vua Kiến Phúc ở ngôi được hơn 6 tháng và mất ngày mồng 7 tháng tư năm Giáp Thân (1884) trong một trường hợp vô cùng thê thảm như trên đã kể". Chỉ riêng ngày, tháng, đã sai lạc quá đáng! Trong "Việt sử tân biên" (tập 5 trung), 1963, Phạm Văn Sơn lại ghi ở phần chính văn: "Câu chuyện trên đây có sự thực hay không, hoặc vua Kiến Phúc chết vì bệnh hơn là bị đầu độc, ngày nay khó ai nói chắc được...", nhưng Phạm Văn Sơn lại viết cả một trang sách hơn, cũng chính văn, về vụ này với các chi tiết như Nguyễn Văn Tường lả lơi với Học phi, họ trao thuốc lá hút dở cho nhau một cách tình tứ, rồi Kiến Phúc thốt ra một câu đe dọa giết cả ba đời nhà Nguyễn Văn Tường... Cũng riêng về thời điểm, lại rõ là sai thêm! Lần này, Phạm Văn Sơn ghi Kiến Phúc lại chết vào ban đêm, chứ không phải vào giờ ngọ (giữa trưa, ban ngày)!

[2] Tôn Thất Bình, "Kể chuyện chín chúa, mười ba vua triều Nguyễn", Nxb. Đà Nẵng, 1996, tr. 95. Tôn Thất Bình cũng viết như thể tin đồn xuyên tạc ấy là sự thật; và làm ra vẻ khách quan, tác giả này lại viết thêm: "Cái chết của Kiến Phúc tuy vẫn còn trong vòng bí mật nhưng người đời nghi là Nguyễn Văn Tường đã đánh tráo thuốc của Thái y viện...". Tôn Thất Bình còn trích dẫn "Vè thất thủ kinh đô" ở một “dị” bản nào đó (chắp vào, bịa thêm). Trong 7 bản lưu hành trước đây, Lương An sưu tầm, chỉnh lí, đều không có đoạn ấy. Có thể đoạn ấy thuộc "dị" bản thứ 8, gọi là “bản Đạm Hiên”. Chính Lương An đã thẩm định bản Đạm Hiên này như sau: "Cũng xin nói thêm là chúng tôi có một bản đánh máy bản do ông Đạm Hiên ở Huế hiệu đính năm 1969 [lưu ý: một chín sáu chín - ct.]. Nhưng đây là một bản gần như viết lại hoàn toàn, không phải là hiệu đính, nội dung lại có nhiều lệch lạc. Bản này chúng tôi không dùng" (Lương An, bản thảo "Vè chống Pháp", viết tay, photocopy; tr. 2 của bài "Về công tác văn bản và chú thích vè "Thất thủ kinh đô"" thuộc bản thảo này).

[3] Bửu Kế, “Chuyện triều Nguyễn”, (bài “Tòa Khâm sứ Pháp”), Nxb. Thuận Hóa, 1990, tr. 89. Trong 3 giả thuyết mà Bửu Kế liệt kê, có 2 giả thuyết như sau: “1. Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường đồng ý giết vua Kiến Phúc, tôn một vị vua nhỏ tuổi hơn để dễ việc nắm trọn quyền bính. 2. Hai vị quyền thần cho rằng hiệp ước Harmand [lỗi in ấn, sửa lại: Patenôtre - TXA. ct.], các quan ta đã nhân danh vua Kiến Phúc để kí kết với Pháp, nếu vua Kiến Phúc không còn nữa thì hiệp ước sẽ mất hết hiệu lực” (trích nguyên văn). Phan Khoang, "Việt Nam, Pháp thuộc sử, 1862 - 1945", bản in lần thứ 2 (tăng bổ), Phủ QVK. đặc trách văn hóa (Tủ sách Sử học) xb., 1971, tr. 335, ở cước chú, cũng liệt kê tương tự như trên, nhưng gộp lại thành 3 luồng tin, và viết về nguồn tin thứ 3 như một tiểu kết: "Nhưng phần đông đều cho là vua chết vì bệnh" (nguyên văn).

[4] Trần Văn Giàu, “Chống xâm lăng”, Nxb. TP.HCM. tái bản trọn bộ, 2001, tr. 451. Trích nguyên văn: “Đa số đình thần và cả vua Kiến Phúc với hoàng gia lại thường tư thông với khâm sứ Pháp ở Huế, làm trở ngại công việc của Tôn Thất Thuyết, cho nên đến tháng 7 năm 1884 chúng ta sẽ thấy Kiến Phúc chết bất ngờ, mờ ám; Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường sẽ chọn Ưng Lịch lên ngôi là vua Hàm Nghi mới 12 tuổi…”.

[5] Xem: Nhiều tác giả, "Kỉ yếu Hội nghị Khoa học lịch sử, ĐHSP. TP.HCM., 20/6/1996", với đề tài "Nhóm chủ chiến triều đình Huế và Nguyễn Văn Tường"; Nhiều tác giả, "Hội thảo khoa học về nhân vật lịch sử Nguyễn Văn Tường (1824 - 1886) - Các báo cáo khoa học", Hội KHLS Thừa Thiên - Huế & TT. Khoa học xã hội & nhân văn Đại học Huế, 02/7/2002. Riêng về chủ điểm này, có thể tìm đọc các bài của PGS. TS. Đỗ Bang; giảng viên, nhà nghiên cứu Trần Viết Ngạc; giảng viên, nhà nghiên cứu Trần Thị Thanh Thanh... trong 2 tập kỉ yếu trên.

Ngoài ra, chủ điểm còn được nghiên cứu, thể hiện:

+++ các luận văn cử nhân của Trần Thị Kim Hoa, Nguyễn Thị Mỹ Hạnh và Lê Tiến Công;
+++ một số bài báo trên Tạp chí Xưa & Nay..., trong đó, có bài của Trần Xuân An.

[6] Để tham khảo, có thể chép lại một đoạn "Hạnh Thục ca" của Lễ tần Nguyễn Nhược Thị Bích:

"Nào ngờ nhiều nỗi chẳng may
Trị vì sáu tháng bệnh rày lại mang
Hết lòng khấn vái thuốc thang
Gẫm âu số mệnh đành khôn [khôn = không thể; chăng = chẳng, không / cách dùng từ kiểu cổ] cãi trời
Nương mây chút sớm tếch vời
Năm Thân tháng sáu rụng rời cành xuân".


Tham khảo thêm & nhấn mạnh:

Bản tấu nghị của Tôn Thất Thuyết (ĐNTL.CB., tập 36, sđd., tr. 176 - 178) thể hiện sự xác nhận mặc nhiên (vô hình trung) của ông về nguyên nhân cái chết của Kiến Phúc là do bệnh, như Quốc sử quán đã chép; đồng thời, qua bản tấu nghị ấy, Tôn Thất Thuyết cũng chỉ rõ phạm vi đối tượng mà Rheinart đưa tin gièm pha:

“Ngày tháng sáu, Giản tông Nghị hoàng đế mất, bọn chúng tôi vâng tuân lời di chúc, chọn lấy ngày 13 làm lễ tấn quang [vua Hàm Nghi - ct.]" [...];

[...] “Trước đây về khoản làm lễ tấn tôn [vua Hàm Nghi đăng quang - ct.] và việc Hồng Hưu có người không bằng lòng (ám chỉ vào Lê-na), đưa tin gièm pha đã nhiều”.

Như đã trần thuật tóm tắt bên trên, đây là một bản tấu nghị công khai trước đình thần, Tôn nhân phủ, nội dung là luận tội Gia Hưng vương Hồng Hưu: tội loạn luân có quả tang và tội tiết lộ thông tin mật ("quân quốc trọng sự") cho Pháp, câu kết với Pháp, để đại tá Pháp Guerrier từ Bắc Kỳ đem quân vào Huế uy hiếp, chiếm đóng Mang Cá. Qua đó, ta thấy: Đối với một hoàng thân như Hồng Hưu, khi phạm tội về luân lí và chính trị như thế, cũng bị công khai xét xử và chịu hình phạt. Mở rộng ra: Không những Hồng Hưu, mà còn nhiều hoàng thân khác, cũng bị xét xử, chịu án như thế (phần lớn là án về đạo đức), suốt cả các triều vua Nguyễn. Tất cả đều được ghi chép vào "Đại Nam thực lục chính biên", "Đại Nam liệt truyện". Từ đó, chúng ta có thể thấy vụ việc thêu dệt vu khống quanh cái chết của Kiến Phúc là hoàn toàn không có thật. Nếu có thật như các luồng tin đồn đãi, đơm đặt, chắc chắn Quốc sử quán đã ghi chép vào "Đại Nam thực lục chính biên" như đã ghi chép về Hồng Hưu...

(Trần Xuân An chú thích).

[sửa]
C. Xem thêm

+ Nguyễn Văn Tường (Wikipedia)

+ Trần Xuân An, "Phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường (1824 - 1886)", 4 tập, (bộ sách đã được Hội đồng Tư vấn, phản biện & Giám định thuộc Hội Khoa học lịch sử Việt Nam giám định, Tổng thư kí Hội Khoa học lịch sử Việt Nam Dương Trung Quốc viết lời giới thiệu), Nxb. Văn Nghệ TP.HCM., 2004. Xem các đường nối kết (links) mạng liên thông ở mục thảo luận bài viết chính về Nguyễn Văn Tường.


+ 19 tháng 6-2006, bổ sung thêm vào mục này: Nguyễn Quốc Trị, "Nguyễn Văn Tường có tư thông với bà Học Phi và giết vua Kiến Phúc không?"

http://members.cox.net/luanlac/vanhoa/nvt&hpkp.htm

Yahoo Search:

 Yahoo tìm kiếm về Nguyễn văn Tường [bấm lên hàng này]
__________________________

Bài được viết, sửa chữa, bổ sung thêm để thay thế bài đã có trước 02 giờ 30 phút, ngày 14-06 HB6 ( 2006 ), ngày giờ trên WIKIPEDIA, và cũng đã đăng trên WIKIPPEDIA (xem lịch sử hình thành bài viết):

http://vi.wikipedia.org/wiki/Ki%E1%BA%BFn_Ph%C3%BAc

Tối hôm qua, 17-06 HB6 (2006), lúc khoảng 20 giờ, trên Wikipedia, tôi đã bổ sung thêm luận cứ, luận chứng đã đưa ra để các thành viên, người đọc thảo luận. Sáng 18 & trưa 20-06 HB6 (2006), tôi cũng đã bổ sung vào bài viết này, và hoàn chỉnh chú thích (để lưu).

Thể loại (3): Vua nhà Nguyễn | Sinh 1869 | Mất 1884

Tiền nhiệm
Hiệp Hòa
Vua Nhà Nguyễn
Kế nhiệm
Hàm Nghi

_________________________________

NGUYÊN VĂN BÀI VIẾT TRÊN WIKIPEDIA
TRƯỚC KHI TÔI THAM GIA SỬA CHỮA, BỔ SUNG


http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ki%E1%BA%BFn_Ph%C3%BAc&oldid=222664

Kiến Phúc
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Sửa đổi lúc 03:15, ngày 20 tháng 5 năm 2006; xem phiên bản hiện hành
← Phiên bản cũ | Phiên bản mới→
Bước tới: menu, tìm kiếm

Kiến Phúc
Năm sinh-mất: 1869–1884

Tên húy:
Nguyễn Phúc Ưng Đăng
Trị vì: 1883–1884
Triều đại:
Nhà Nguyễn

Niên hiệu:
Kiến Phúc (1883-1884)
Miếu hiệu:
Giản Tông
Thụy hiệu:
Nghị Hoàng Đế

Vua Kiến Phúc (1869–1884) là vị vua thứ 7 của nhà Nguyễn, lên ngôi ngày 2 tháng 12 năm 1883, tại vị được 8 tháng thì qua đời.

Vua Kiến Phúc tên húy là Nguyễn Phúc Ưng Đăng, con thứ 3 của Kiên Thái Vương Nguyễn Phúc Hồng Cai và bà Bùi Thị Thanh. Ưng Đăng sinh ngày 2 tháng giêng năm Kỷ Tỵ, tức 12 tháng 2 năm 1869.

Vua Tự Đức vì lúc nhỏ bị bệnh đậu mùa nên không có con. Ông nhân 3 con trai của hai người em làm con nuôi, trong đó con đầu là vua Dục Đức. Năm 1870 lúc được 2 tuổi, Ưng Đăng được vua Tự Đức nhận làm con nuôi thứ ba và giao cho bà Học Phi Nguyễn Thị Hương trông coi, dạy bảo.

Sau khi vua Hiệp Hòa bị phế truất, vào ngày 2 tháng 12 năm 1883, Ưng Đăng được đưa lên ngôi vua và đặt niên hiệu là Kiến Phúc. Khi đó Ưng Đăng mới 15 tuổi, mọi việc đều do hai đại thần phụ chính Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết quyết định. Nhiều quan thấy vậy lại cho triều đình, từ quan rồi đi chiêu mộ binh đi đánh Pháp.

Có sách nói rằng Ưng Ðăng được tin triều đình tới rước mình về làm vua, sợ quá chui xuống gầm giường trốn, mọi người phải lôi ra, ông la hét khóc lóc thảm thiết nhưng vẫn bị đem lên kiệu đưa về cung. Ông viện đủ mọi cách để từ chối nhưng vẫn bị Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết ép phải lên ngôi. Vua Kiến Phúc ở ngôi được có 8 tháng thì phải bệnh mất ngày 6 tháng 4 năm Giáp Thân. Có sách nói rằng Kiến Phúc bị Nguyễn Văn Tường cho uống thuốc độc chết vì vua bắt gặp Nguyễn Văn Tường đang tư tình với bà phi Nguyễn Thị Hương. Để bịt miệng Vua, lợi dụng lúc Vua đang bệnh Nguyễn Văn Tường bỏ thuốc độc vào thuốc trị bệnh của vua.

Vua Kiến Phúc ở ngôi được 8 tháng, mất vào ngày 10 tháng 6 năm Giáp Thân, 31 tháng 7 năm 1884. Lúc đó Kiến Phúc mới 16 tuổi, không có con cái.

Sau khi mất, bài vị vua Kiến Phúc được đưa vào thờ trong Thế Miếu và có Miếu hiệu là Giản Tông Nghị Hoàng Đế. Lăng của Kiến Phúc hiệu Bối Lăng, ở phía trái Khiêm Lăng, tại làng Dương Xuân Thượng, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên.

Tiền nhiệm
Hiệp Hòa
Vua Nhà Nguyễn
Kế nhiệm
Hàm Nghi

Lấy từ  
http://vi.wikipedia.org/wiki/Ki%E1%BA%BFn_Ph%C3%BAc

Thể loại (3): Vua nhà Nguyễn | Sinh 1869 | Mất 1884

posted by Phan Huyên Đình at 6:34 PM | 0 comments   

 WIKIPEDIA - NGUYỄN VĂN TƯỜNG

Bài viết chính - sửa đổi bổ sung do TXA. thực hiện, lúc 05 giờ 56 sáng sớm ngày 14 06 HB6 [ 2006] tại Việt Nam

http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_V%C4%83n_T%C6%B0%E1%BB%9Dng


Nguyễn Văn Tường
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Nguyễn Văn Tường (chữ Hán:
阮文祥), 1824-1886, là đại thần phụ chính của nhà Nguyễn.
Mục lục
[giấu]
• 1 Tên họ và thi cử
• 2 Hành trạng chính trị
o 2.1 Giữ chức trách chính trị tại các địa phương & khởi sự đấu tranh ngoại giao với Pháp:
o 2.2 Giữ chức trách quân sự ở biên giới Bắc & thương thuyết với quân tướng nhà Thanh:
o 2.3 Đấu tranh ngoại giao với Pháp & cưỡng ước Giáp Tuất (1874):
o 2.4 Trọng thần tại triều đình (phụ trách mặt trận ngoại giao, ngoại thương & kinh tế):
o 2.5 Phụ chính đại thần chủ chiến với vai trò quyết định quốc kế:
o 2.6 Cuộc kinh đô quật khởi, bị thất thủ & quốc kế "chia tách triều chính" trong sự phối hợp:
o 2.7 Ngày tháng lưu đày & cái chết nơi biệt xứ:
• 3 Trước tác
o 3.1 Một số văn bản tài liệu:
o 3.2 Sáng tác thơ ca:
• 4 Ghi chú

[sửa]

A. Tên họ và thi cử

Ông xuất thân từ một gia đình lao động nghèo thuộc làng An Cư, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.

Với các tài liệu gốc Đại Nam thực lục chính biên (viết tắt: ĐNTL.CB.) và Quốc triều hương khoa lục, người đời sau nhận thấy:

1. Trần Tiễn Thành và Quốc sử quán ghi chép: Vào năm Thiệu Trị thứ 2 (1842), tại trường thi Thừa Thiên, có một sĩ tử người Quảng Trị, đã thi đỗ tú tài, nhưng bị phát hiện tên trùng với quốc tính. Dưới triều Minh Mạng đã có sắc dụ, ai mang họ Nguyễn mà tên kép có lót chữ Phước (Phúc), thì phải đổi chữ lót ấy. Nhưng sĩ tử họ Nguyễn, tên Phước Tường này lại không chịu đổi. Do đó, người tú tài tân khoa phải bị gạch tên trong danh sách trúng tuyển, và đồng thời bị tội đồ (đày nơi gần) một năm.

2. Về kì thi hương vào năm Tự Đức thứ 3 (1850), sự cố chữ "Phúc" lại được Cao Xuân Dục và Quốc sử quán triều Nguyễn ghi chép như sau: "Nguyễn Văn Tường, người xã An Cư, huyện Đăng Xương [Triệu Phong - chua thêm (viết tắt: ct.)], tỉnh Quảng Trị. Nguyên tên là Nguyễn Phước Tường; vì tên trùng với quốc tính, không chịu đổi, nên bị đi đày; hết hạn lại được phục hàm cử nhân".

Như vậy, có thể lần thứ hai này, Nguyễn Văn Tường chỉ bị "nhắc lại" án cũ, hồi ông mới 18 tuổi (1842).

[sửa]

B. Hành trạng chính trị

[sửa]

I. Giữ chức trách chính trị tại các địa phương & khởi sự đấu tranh ngoại giao với Pháp:

Sau khi đậu cử nhân (1850), dự thi hội, đạt đủ phân số điểm để được bổ nhiệm, ông vào huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi, nhận chức huấn đạo (phụ trách việc dạy và học).

1853, huyện Thành Hóa, thuộc tỉnh Quảng Trị được thành lập. Ông được bổ làm tri huyện ở đó cho đến 9 năm sau. Thành Hóa là một nơi xung yếu, "hậu lộ của kinh đô", chỉ những người được tin cậy mới được giao trọng trách, nhất là trong thời điểm giặc Pháp đã tấn công Đà Nẵng, Gia Định, kích động nội phản ở Bắc Kỳ, sứ bộ Phan Thanh Giản kí kết cưỡng ước Nhâm Tuất (1862). Tại đây, ông đã xây dựng được một căn cứ địa tốt cho Huế. Ông lại chứng tỏ là một người rất có tâm và tài trong việc đoàn kết người Thượng với người Kinh.

1862, ông vào kinh đô Huế giữ chức biện lí Bộ Binh, rồi vào Quảng Nam làm án sát.

1864, vì cần có vị quan giỏi để điều hành "điểm nóng" mâu thuẫn lương - giáo, ông được chuyển đổi, làm phủ doãn kinh đô (tỉnh Thừa Thiên và đạo Quảng Trị). 1866, cuộc khởi nghĩa "Chày vôi" nổ ra trong phạm vi quản lí, Nguyễn Văn Tường bị cách chức.

1866 - 1868, Nguyễn Văn Tường trở lại huyện Thành Hóa, với chức trách bang biện (tham mưu), tiếp tục xây dựng căn cứ địa Thành Hóa (Tân Sở về sau). Trong 2 năm này, ông lại được cấp ấn quan phòng với quyền được trực tiếp tâu lên vua những việc thực thi cụ thể cùng những kiến nghị rộng lớn.

Cũng trong năm Đinh Mão 1867, mặc dù đang ở huyện Thành Hóa, ông vẫn được triều đình và vua Tự Đức điều động vào sứ bộ để vô Gia Định đàm phán với Pháp. Đặc biệt, năm sau, khi sứ bộ dự định đi Paris, ông có viết một bản tấu nổi tiếng, thể hiện tư tưởng phòng thủ, chủ chiến (thủ để chiến), đồng thời phê phán "ảo tưởng hòa nghị" (tháng 3 âm lịch, Mậu Thìn 1868).

[sửa]
II. Giữ chức trách quân sự ở biên giới Bắc & thương thuyết với quân tướng nhà Thanh:

Từ tháng 7 âm lịch, cũng năm Mậu Thìn (1868) ấy, Nguyễn Văn Tường với chức tán tương quân thứ, đứng vào hàng ngũ các quan tướng chỉ huy 3 đạo quân hùng hậu nhất của triều Nguyễn, tiến ra Bắc tiễu phỉ (nội phản, nhất là tàn quân Thái bình thiên quốc [giặc Cờ] toan xưng hùng xưng bá ở biên giới Đại Nam (Việt Nam), mặc dù triều đình đã hết sức phủ dụ). Suốt 5 năm trời, ông là một quan văn cầm gươm từng trải trận mạc trên vùng núi phía Bắc, đồng thời là một nhà ngoại giao trong nhiệm vụ thương thuyết, phối hợp tiễu phỉ với quân binh nhà Thanh. Đây cũng là thời đoạn các quân thứ Đại Nam thu phục được Lưu Vĩnh Phúc (chủ tướng quân Cờ Đen) để tiêu diệt quân cờ Vàng, cờ Trắng và để chống Pháp.

[sửa]
III. Đấu tranh ngoại giao với Pháp & cưỡng ước Giáp Tuất (1874):

Việc tiễu phỉ ở phía Bắc không thể dứt điểm được, Pháp lại dùng thủ đoạn "buôn bán" vũ khí cho bọn phỉ để nuôi dưỡng chúng, nhằm làm tiêu hao sinh lực quân Đại Nam và ý chí của triều đình. Vì vậy, 1873, ông được điều động vào phái bộ do Lê Tuấn làm chánh sứ, vô Gia Định thương lượng với thực dân Pháp. Cuộc đàm phán kéo dài, bởi triều đình và sứ bộ Đại Nam không chịu nhân nhượng Pháp, mặc dù tại Gia Định lúc ấy, không chỉ có Pháp mà còn có các đại diện của nhiều nước thực dân châu Âu và cố đạo Thiên Chúa giáo (Pháp và Tây Ban Nha). Tướng Pháp Dupré cử Francis Garnier ra quấy nhiễu Bắc Kỳ để làm sức ép. Thành Hà Nội cùng các thành tỉnh lân cận bị thất thủ. Nguyễn Tri Phương tử tiết. Tuy quân Lưu Vĩnh Phúc chém được Francis Garnier, nhưng tình thế buộc triều đình phải nhân nhượng. Nguyễn Văn Tường ra Bắc Kỳ thu hồi xong bốn tỉnh, lại phải vào Gia Định để cùng Lê Tuấn, Nguyễn Tăng Doãn tiếp tục bàn định các điều khoản, cuối cùng phải đành chấp nhận cưỡng ước Giáp Tuất (1874) và một thương ước khác.

[sửa]
IV. Trọng thần tại triều đình (phụ trách mặt trận ngoại giao, ngoại thương & kinh tế trong nước):

1874, ông giữ chức thượng thư Bộ Hình kiêm Thương bạc đại thần tại kinh đô Huế. Không lâu sau ông được bổ sung vào Viện Cơ mật. Từ thời điểm này, Nguyễn Văn Tường là một trọng thần tại triều. Chức vụ ông giữ lâu nhất là thượng thư Bộ Hộ, quản lí Thương bạc viện (cơ quan ngoại giao và ngoại thương). Ông còn là người có công cải cách thuế ruộng đất, để thống nhất Đàng Trong và Đàng Ngoài về chiều sâu, thiên về tầng lớp nông dân nghèo.

[sửa]
V.Phụ chính đại thần chủ chiến với vai trò quyết định quốc kế:

1883, vua Tự Đức băng hà, trong tình hình Bắc Kỳ đang bị thực dân Pháp xâm lược lần thứ hai. Mặc dù Henry Rivière cũng bị giết chết trong một trận đánh do Hoàng Tá Viêm làm tổng chỉ huy, Lưu Vĩnh Phúc trực tiếp cầm quân, các tỉnh Bắc Kỳ vẫn chưa thu hồi được, kinh đô Huế lại đứng trước nguy cơ bị tấn công. Và thật sự Thuận An, cửa ngõ của kinh đô, đã bị thất thủ, không lâu sau ngày vua Tự Đức mất. Do đó, cùng với Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường lần lượt lập rồi phế bỏ 2 vua Dục Đức, Hiệp Hòa (một thân Pháp, "tả đạo"; một câu kết với Pháp qua De Champeaux), nhằm mục đích đưa lên ngai vàng một vị vua yêu nước, quyết chiến với thực dân Pháp.

Bấy giờ, quân Thanh đã sang đất Bắc Kỳ để phối hợp đánh Pháp, theo những lần thương nghị giữa Nguyễn Văn Tường, đại diện triều đình Đại Nam, và Đường Đình Canh, đại diện triều đình Đại Thanh (Trung Hoa), từ năm 1881. Nhưng trong thực tế, quân binh nhà Thanh lại mưu mô quy phục Lưu Vĩnh Phúc nhằm mục đích cùng Pháp chia đôi Bắc Kỳ ("Bắc Kỳ mỏ" và "Bắc Kỳ gạo"), lấy sông Hồng làm ranh giới.

Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết thực hiện kế sách quân sự "tọa sơn quan song hổ đấu", thúc đẩy chiến tranh giữa Pháp và Hoa nổ ra, còn triều đình Huế đứng vào thế trung lập.

Nhưng triều đình nhà Thanh lại kí hòa ước Thiên Tân với Pháp, cô lập hoàn toàn triều đình Huế (Đại Nam). Triều đình Huế bị bắt buộc phải kí cưỡng ước Giáp Thân (1884), còn gọi là Hòa ước Patenôtre - Phạm Thận Duật. Trong tình thế ấy, hai vị phụ chính đại thần vẫn cố gắng tiếp tục thúc đẩy chiến tranh Pháp - Hoa tiếp diễn, nhằm làm suy yếu lực lượng cả Pháp lẫn Hoa và tranh thủ thời gian để xây dựng cơ sở cho phong trào Cần vương. Một loạt sơn phòng được củng cố, xây dựng, gồm cả "hậu lộ kinh đô", Tân Sở (Cam Lộ, Quảng Trị). Đích thân Nguyễn Văn Tường chỉ đạo xây dựng "kinh đô kháng chiến" hoặc "kinh đô tị địa" này.

Vua Kiến Phúc lại không may mắc bệnh, băng hà. Quốc sử quán triều Nguyễn ghi chép khá kĩ lưỡng như sau:

"Vua không khỏe, tháng tư trước, ngọc thể vi hoà, đình thần đã xin vua tĩnh dưỡng, và chia nhau đi cầu đảo các linh từ; sau đó đã khỏe, nhưng chưa được bình phục như cũ; đến ngày mồng 7 tháng này, ngày kỷ mão, mới ngự điện Văn Minh, chịu lễ chầu mừng, ban thưởng lụa hoa cho các bầy tôi có sai bậc, rồi sau lại không được khỏe. Thái y tiến thuốc, không thấy công hiệu. Ngày mồng 10, nhâm ngọ, bệnh kịch; giờ ngọ hôm ấy vua mất ở chính điện Kiền Thành. Hoàng thái phi bèn vời bọn Tôn nhân phủ Miên Định, phụ chính phủ thân đại thần Hồng Hưu, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết và Hộ bộ thượng thư Phạm Thận Duật, truyền bảo hoàng đế di chúc rằng:

"Hoàng đế đức mỏng, có em là Ưng Lịch có học có hạnh, hoàng đế như có mất đi, truyền bảo tôn nhân phụ chính nên lấy Ưng Lịch vào nối ngôi lớn, để phụng tôn miếu; lại đại lễ tiên hoàng đế chưa xong, và lấy của dùng chưa sẵn, vậy hợp thành tang lễ châm chước làm được 4, 5 phần mà thôi, chớ cầu thể lệ.

"Bấy giờ, Miên Định công và phụ chính thân đại thần truyền lệnh cho biết. Tôn nhân phủ, văn võ đình thần bèn hợp từ tâu lên Từ Dụ thái hoàng thái hậu; hoàng thái hậu rước công tử Ưng Lịch (là con thứ 5 Kiên Thái vương Hồng Hợi, biện phụng vương ấy), vào nhà tang xưng là tự quân, phàm việc tâu xin tuân hành; chọn ngày lành làm lễ tấn tôn (đó là vua Hàm Nghi) ..."


(Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, chính biên [ĐNTL.CB.], tập 36, Nxb. Khoa học xã hội [KHXH.], Hà Nội, 1976, tr. 150 – 151)

Ngày 12 tháng 6 âm lịch, năm Quý Mùi (1884), Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết cùng Tôn nhân phủ, đình thần lập vua Hàm Nghi lên ngôi.

Hai vị phụ chính cùng các thành viên nhóm chủ chiến (Trần Xuân Soạn, Trương Văn Đễ...) đã có một vị minh quân để tiếp tục đương đầu với Pháp cũng như với bộ phận khá lớn giáo dân Thiên Chúa giáo bị các cố đạo phỉnh gạt, cầm súng, đào hào, tiếp tế lương thực cho Pháp.

Chính phủ Pháp quyết thực hiện xâm lược toàn bộ Đại Nam. De Courcy được cử sang với mục đích hoàn tất việc chiếm trọn Bắc Kỳ và bắt đầu tấn công chiếm cứ kinh đô Huế. Câu nói của y, hầu như ai cũng biết: "Việc cuối cùng là ở Huế"; và y đã vạch kế hoạch bắt sống hoặc tiêu diệt nhóm chủ chiến triều đình Huế, đứng đầu là Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết.

[sửa]
VI. Cuộc kinh đô quật khởi, bị thất thủ & quốc kế "chia tách triều chính" trong sự phối hợp:

Ảnh / Bộ sách "Phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường (1824 - 1886)" - Trần Xuân An

Ngày 23 tháng 5 âm lịch, Ất Dậu (khuya ngày 4 tháng 7, bước sang ngày 5 tháng 7 năm 1885), tuy thi hành kế sách "không biết gì", nhưng thực sự ông cùng Tôn Thất Thuyết chỉ huy cuộc tấn công một cách bất ngờ vào Sứ quán Pháp bên kia sông Hương và doanh trại Pháp tại Mang Cá (Huế), nhưng thất bại. Thực chất đó chỉ là đòn đánh trước để giành thế thượng phong, mặc dù biết rằng De Courcy cố dùng kế khích tướng, ép buộc quân Đại Nam phải tấn công trước (Đại Nam tấn công trước thì không nước nào trách được việc Pháp vi phạm cái gọi là "hòa" ước!).

Nguyễn Văn Tường cho người rước vua Hàm Nghi và Tam cung (thái hoàng thái hậu Từ Dũ, Trung phi Vũ thị [họ Vũ], Học phi Nguyễn thị [họ Nguyễn]) ra khỏi kinh thành; trong khi đó, Tôn Thất Thuyết và Trần Xuân Soạn vẫn cố kìm giữ sự tấn công của Pháp. Trần Xuân Soạn là vị tướng can trường, ông có nhiệm vụ rút quân cuối cùng.

Theo dự kiến mà nhóm chủ chiến đã vạch ra trong trường hợp kinh đô thất thủ (phương án 2), Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất thuyết lúc ấy liền quyết định đưa vua ra thành Quảng Trị, rồi sẽ đưa lên Tân Sở (tại huyện Thành Hóa, tức là Cam Lộ) để tránh đạn quân xâm lược Pháp, đồng thời phát Dụ Cần vương.

Trong lúc đó, một mặt được lệnh của bà Từ Dũ và vua Hàm Nghi, mặt khác là thực hiện phương án 2, ngăn cản Pháp truy kích xa giá, thực thi kế sách "kẻ ở người đi" (đàm và đánh), nên ông đã quay lại điều đình với Pháp. Nguyễn Văn Tường đã nhờ giám mục Caspar (lấy tên tiếng Việt là Lộc), tại giáo đường Kim Long (về sau là đại chủng viện Xuân Bích), đưa sang Sứ quán để gặp tướng De Courcy (qua môi giới Caspar cũng là cách mà vào năm 1883, khi Thuận An thất thủ, Trần Tiễn Thành, Nguyễn Trọng Hợp đã thực hiện trong việc "cầu hòa"). Sau khi De Courcy buộc Nguyễn Văn Tường ban bố một vài lệnh lạc "hòa hảo giữa hai nước Việt - Pháp", y lại ra thời hạn cho Nguyễn Văn Tường: trong vòng hai tháng phải tìm cách để rước vua Hàm Nghi và Tam cung về.

Nguyễn Văn Tường phái Phạm Hữu Dụng cầm sớ ra Quảng Trị, tâu xin rước vua về, nhưng Tôn Thất Thuyết cản sớ không cho vua biết. Tôn Thất Thuyết dặn Phạm Hữu Dụng: Nguyễn Văn Tường cố gắng thương thuyết với Pháp 2 điều là Pháp không được tiếp tục bức hiếp và phía ta cũng nên "đoàn kết" với Pháp. Nếu được như thế, mới có thể rước vua Hàm Nghi về lại kinh đô.

Nguyễn Văn Tường lại viết sớ vấn an Tam cung, và đệ trình về việc Tam cung tạm về Khiêm lăng (lăng Tự Đức) trong khi chờ vụ việc được giải quyết.

Về việc Tôn Thất Thuyết cản Phạm Hữu Dụng trực tiếp dâng sớ lên vua Hàm Nghi và cũng không cho vua biết: Đây có thể là một khía cạnh mâu thuẫn trong sách lược mà hai vị phụ chính đã bàn với nhau, và chắc hẳn đúng hơn là do tình huống mới nảy sinh, nên đó chỉ là một "động tác giả", để thực hiện thủ thuật "hai mặt", nhằm đối phó với Pháp. Nhưng ngay sau đó, bằng sự liên lạc mật, họ lại nhất trí vẫn duy trì kế sách "kẻ ở người đi". Từ Tân Sở, Dụ Cần vương chính thức và duy nhất được ban bố, cùng thời điểm vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết gửi về Huế một bản sắc dụ cho Nguyễn Văn Tường. Điều cần lưu ý là mật dụ của Hàm Nghi (và Tôn Thất Thuyết) từ Tân Sở gửi về Nguyễn Văn Tường, cùng một ngày phát Dụ Cần vương, 2 tháng 6 năm Ất Dậu (13 tháng 6 năm 1885):

"... Tôn Thất Thuyết còn giữ giá vua còn đóng ở Phòng Quảng Trị, đã kèm vua ra Lệnh dụ Thiên hạ cần vương, lại sẽ dụ bảo Nguyễn Văn Tường và yên ủi những người họ mạc ở trong kinh, đều một đạo, do đường dịch lộ chuyển chạy về kinh. (Khi ấy tự Phòng đến kinh ống trạm còn chuyển đệ được). Đó đều là việc từ mồng 7 tháng này trở về trước.

"Ngày mồng 2 dụ Văn Tường, lược nói:

"Y [Cô-ra-xy (De Courcy) – ct.] thấy ta càng khuất, y càng ngày càng lấn, khiến Triều đình không còn mặt mũi nào, vạn bất đắc dĩ mà ta mới phải làm cái kế bỏ thành đi ra ngoài. Nay đại thần Tôn Thất Thuyết cùng ta cùng quanh quẩn, còn ngươi là phụ chính đại thần thì ở lại mà thương đàm, kẻ ở người đi đều lấy lòng yêu nước lo dân làm căn bản. Trời đất thực cũng chứng giám. Ngươi nên khéo thể tấm thịnh tình của tiên hoàng đối với nước láng giềng rất có thuỷ chung và cùng y giảng rõ về lý thế, cân nhắc về lợi hại, hết lòng thoả hiệp [:hiệp bàn thỏa mãn đôi bên, không phải "thỏa hiệp vô nguyên tắc" – ct.], phàm những khoản gì bách thiết, chung nhau bàn đổi, cốt khiến cho 2 nước như anh em, vinh nhục cùng quan hệ, vui lo cùng chung nhau mười phần chân thành, không còn dùng đến uy thuật. Lúc này ta mệnh cho hồi loan, trên để phụng dưỡng ba cung, dưới để yên lòng thần dân, khanh cùng với Tôn Thất Thuyết trung trinh chói lọi, muôn thuở cùng sáng, những phường nịnh tử gian phu, đều phải lặn hình giấu bóng. Nam triều ta há chẳng hân hạnh ư, nước Đại Pháp chắc cũng vui vẻ mà cùng giữ lấy cường thịnh vậy.

"Nếu không như thế thì các miếu xã lăng tẩm và các vương công không kịp đi theo ấy thì hết thảy uỷ cho khanh. Ta duy có chọn đất lánh ở, sợ trời vui trời, rường cột cương thường, cả nước cùng thế, không đâu không phải là Triều đình và không phải là tôi con vậy. Trẫm quyết không cùng với họ tranh được thua vậy.

"Tình thế ví lại không thôi, trẫm nguyện phái thêm cán viên, lấy đường đi khắp các nơi, nghiêm sắc cho Ninh Bình trở về phía Bắc, bao nhiêu quan tỉnh, phủ, huyện đều để ấn lại mà đi, người nào như có trung nghĩa tài lược không kể quan hay dân, đều cho được tiện nghi làm việc [nhân dân, sĩ phu khởi nghĩa – ct.], cốt không phụ tấm lòng tốt của triều đình dưỡng dục, tác thành, yên được bóng thiêng liêng ở trời của liệt thánh, và đáp phó được nguyện vọng [khởi nghĩa chống Pháp – ct.] tha thiết của thần dân trong nước. Khanh nên nghĩ cho kỹ nhé, có muốn nên tâu đối, thì gởi theo đường trạm chờ xét cũng chẳng hại gì."


(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH., 1976, tr. 225 – 226)

Sau đó ít hôm, vào ngày 7 tháng 5 năm Ất Dậu (18 tháng 7 năm 1885), vua Hàm Nghi (và Tôn Thất Thuyết) lại từ Tân Sở gửi một mật dụ về Huế cho hoàng tộc:

"Ngày mồng 7, dụ các người trong họ, đại lược nói:

"Dụ Thọ Xuân vương, phụ chính Hoài Đức công và các bọn hoàng phiên, công chúa nghĩ coi: Nước Nam ta nhiều lần bị kẻ khác bức hiếp nhiều khoản, phàm có tai mắt khí huyết không ai là không uất ức buồn rầu, chẳng riêng người trong họ ta mà thôi. Trẫm vâng di mệnh của tiên quân, và các vương công phụ thần cùng suy tôn lên quyền giữ việc nước. Phàm có trăm điều đều duy kiến nghị, phải ấy thì theo. Trẫm tuổi trẻ, kiến thức chưa rộng, dám đâu chuyên trái việc gì, cho nên hễ khi tiếp được thư của nước Đại Pháp gửi đến khoản gì, nếu quá lăng nhục và yêu sách quá đáng, nhân tình không thể chịu được, mật nghe vương công và các phụ chính khuyên bảo, không đâu là không cưỡng tự đau đớn nín náu, chịu theo êm việc, vì muốn bảo toàn xã tắc, để họ mạc lâu dài hưởng tôn quý giàu sang vậy. Không ngờ sứ Pháp ngang ngược ngày thêm, không còn được chút quốc thể, cúi xuống đất, ngửa lên trời, xiết bao hổ thẹn, vạn bất đắc dĩ mà phải làm ra việc này; quay nhìn nơi lăng miếu và các bậc ý thân, thực không biết bao nhiêu là tưởng nhớ, chả biết trong tôn tộc từng có tin đến sự lo xuôi nghĩ ngược của ta không? Nay đã có phụ chính huân thần là Nguyễn khanh [tức là Nguyễn Văn Tường – ct.] ở lại giảng nói, che chở nhiều việc, hơi được yên ổn; huân thần tâm sự như thế, cáng đáng như thế, thực là đau khổ quá chừng. Nhân vật nước ta, những người trung nghĩa từ xưa, tưởng không hơn được. Trẫm cũng dụ cho đại thần ấy hết lòng bàn tính công việc, tâu chờ quyết định. Vương công đều là cốt nhục chí thân, đều nên thương ta khổ tâm, thể tất ta vô cùng. Phàm việc gì cùng với Nguyễn khanh châm chước thoả đáng, cốt không trái với cương thường của trời đất. Nên được nền bình trị lâu dài của quốc gia, ngõ hầu để được tiếng thơm muôn đời, thế là lành lắm, tốt lắm. Trời đất dài lâu, gặp nhau có hẹn. Nước nhà suy thịnh, gặp hội đổi thay, càng nên trân trọng di dưỡng, để yên tấm lòng xa của người tuổi trẻ. Còn ra sẽ uỷ cho Nguyễn khanh sẽ vì ý thân điều đình cho thoả đáng, vụ được như thường. Phàm người họ ta, cần tin lời ta nhé, thế thì ta mới yên lòng."


(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH., 1976, tr. 226 – 228)

Trong hai tháng đó, Nguyễn Văn Tường hoàn toàn bị Pháp quản thúc ngay tại Sở Thương bạc, do một trung đội lính viễn chinh thuộc Pháp canh giữ, tên sĩ quan Schmitz chỉ huy. Tất cả mọi sắc dụ kí tên thái hoàng thái hậu Từ Dũ đều do Miên Định (chú ruột vua Tự Đức, hiện giữ chức nhiếp chính giám quốc) bàn bạc, thông qua và Nguyễn Nhược Thị Bích (tác giả "Hạnh Thục ca") chấp bút.

Tuy ở trong thế bị quản thúc nghiêm ngặt, Nguyễn Văn Tường vẫn đấu tranh hết sức gay gắt với bọn "đón gió xoay buồm", trực diện là với tên tay sai Nguyễn Hữu Độ (kẻ đã có dã tâm theo Pháp từ 1873 -- theo ghi chép đã xuất bản của Jean Dupuis và theo Đại Nam thực lục chính biên), trong việc phong chức hàm cho y với quyền hạn "phó vương" tại Bắc Kỳ, thành lập Nha Kinh lược tại đấy, mà thực chất là mất hẳn Bắc Kỳ vào tay Pháp và các cố đạo như Puginier.

Trong khi đó, phong trào "Cần vương, bình Tây, sát tả đạo" đã bùng nổ ra khắp cả nước, đặc biệt là ở các tỉnh tả kì (phía trái cửa ngõ vào kinh đô, tức là phía Nam). Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, chính Nguyễn Văn Tường đã lãnh nhiệm vụ chỉ đạo tổng quát ở miền đất ấy, trong khi Tôn Thất Thuyết phụ trách các tỉnh hữu kì (phía Bắc) (xem cáo thị khi giặc Pháp bắt Nguyễn Văn Tường bên dưới).

[sửa]
VII. Ngày tháng lưu đày & cái chết nơi biệt xứ:

Hết hạn hai tháng, đúng vào ngày 27 tháng 7 Ất dậu (5 tháng 9 năm 1885), Pháp ra lệnh bắt Nguyễn Văn Tường. De Courcy chỉ thị De Champeaux công khai cáo thị khắp nước. Quốc sử quán ghi nhận như sau:

"Đô thống Đại Pháp là Cô-ra-xy [De Courcy – ct.] bắt thái phó, Cần Chánh điện đại học sĩ, lãnh Lại bộ thượng thư, kiêm sung Cơ mật viện đại thần, Kì Vĩ quận công, là Nguyễn Văn Tường xuống tàu thủy chạy đi Gia Định.

"Cứ theo lời cáo thị của khâm sứ Tham-bô [De Champeaux – ct.] nói: Văn Tường từng đã chống cự nước ấy [nước Pháp – ct.] thực đã nhiều năm. Từ khi cùng Tôn Thất Thuyết sung làm phụ chánh, chỉn [= vốn – ct.] lại đổng suất quan quân nổi dậy công kích quan binh nước ấy [nước Pháp – ct.]; và Văn Tường do đô thống ấy xin [chính phủ Pháp – ct.] cho hai tháng [nhằm để – ct.] lo liệu việc nước cùng Bắc Kỳ cùng được lặng yên vô sự; [kì thực – ct.] đến ngày 27 tháng ấy hết hạn, mà các tỉnh tả kỳ về phía Nam, có nhiều nơi nổi quân chém giết dân giáo. Đến đây đô thống ấy định án, ƯNG [= NÊN ; PHẢI – ct.] kết tội lưu.

"Hôm ấy chở đem Văn Tường đến cửa biển Thuận An; buổi chiều Nguyễn Hữu Độ, Phan Đình Bình đi tàu thủy Pháp cũng về đến cửa biển ấy.

"(Thuyền Pháp chở Văn Tường đến Gia Định, sau chở gồm cả Phạm Thận Duật, Lê Đính [= Tôn Thất Đính] đem về nước ấy [thuộc địa Tahiti – ct.]; Thận Duật trong khi đi đường bị ốm chết ở trong tầu, buông xác xuống biển) ...".


(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH., 1976, tr. 247)

Không những người Pháp ở Gia Định đổ một loại hóa chất gây cháy bỏng vào miệng Nguyễn Văn Tường, khi tra tấn (để khỏi la hét, gào rú), De Courcy còn đánh điện tín cho Caffort, chúa đảo Côn Đảo: “Tầm quan trong của những tù nhân chính trị này đòi hỏi họ phải được giám sát nghiêm ngặt với bất cứ giá nào” ; trong đó, Nguyễn Văn Tường là "kẻ thù nguy hiểm nhất" đối với Pháp (Xem: Côn Đảo, kí sự và tư liệu, Nxb. Trẻ, 1998, tr. 85).

Khi ông và hai người bạn tù của ông đã bị giam giữ tại Côn Đảo, chính phủ Pháp lại chuẩn bị lưu đày họ tận Tahiti; bấy giờ, triều Đồng Khánh, dưới sự chỉ đạo của De Courcy, đã "xử án vắng mặt" nhóm chủ chiến triều đình Huế, với nội dung chính là hành trạng của họ từ ngày 5 tháng 7 đến 5 tháng 9 năm 1885. Bản án chung thẩm ấy được xét xử, công bố vào tháng 8 âm lịch Ất Dậu (tháng 9 năm 1885):

"Tôn nhân phủ và đình thần dâng sớ tâu bày tội trạng của Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết, xin tước hết quan tước và tịch thu gia sản; tham tri Trương Văn Đễ đã quá cố, và chưởng vệ Trần Xuân Soạn, đều là bè đảng làm loạn, cũng tước cả quan chức. Trong bọn ấy, thì Tôn Thất Thuyết, Trần Xuân Soạn, xin do quan địa phương xét bắt bằng được và chém ngay, để tỏ rõ hiến pháp trong nước. Vua nghe theo."

(ĐNTL.CB., tập 37, Nxb. KHXH., 1977, tr. 35)

Lúc khoảng 4 giờ 30 sáng ngày 30 tháng 7 năm 1886, tại Papeete, một làng trên quần đảo thuộc địa Tahiti của Pháp, Nguyễn Văn Tường mất. Sau một vài tháng quàn giữ, di thể ông được Tôn Thất Đính đưa về Đại Nam.

[sửa]
C. Trước tác

Lúc sinh thời, ông nổi tiếng là người sắc sảo, cả quyết và mưu trí. Trong khi làm quan, ông đã dâng lên vua nhiều tấu sớ. Hầu hết các tài liệu này đã được vua Tự Đức đích thân phê duyệt, và được các quan lưu giữ tại các nha môn, bộ, viện và tại Quốc sử quán. Số di cảo này đã được Nhóm Tư liệu Hán - Nôm lịch sử cận đại Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh và nhóm giảng viên Đại học Sư phạm Huế sưu tầm, dịch thuật.

[sửa]
Một số văn bản tài liệu:

• Nam Kỳ tấu nghị (chưa xuất bản toàn bộ, chỉ mới ấn hành từng phần)
• Bắc Kỳ tấu nghị (chưa xuất bản, chỉ mới ấn hành từng phần)
• Thương bạc viện phúc (chưa xuất bản, chỉ mới ấn hành từng phần)
• Văn thư thương thuyết Nhà Thanh viện binh tiễu phỉ.

[sửa]
Sáng tác thơ ca:

• "Kì Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường thi tập", gồm các sáng tác văn vần (khoảng 5 cặp câu đối & trên 60 bài thơ chữ Hán) người đời sau sưu tầm được, tạm đặt tên như đầu dòng, hoặc "Kì Vĩ quận công Nguyễn Văn Tường thi tập" (nhiều dịch giả đã dịch ra tiếng Việt và đã hiệu đính; Trần Xuân An biên soạn [chú giải...] và đã xuất bản toàn bộ trên Internet [e-book]).

[sửa]
D. Ghi chú

Xem các đường liên kết ngoài (gồm danh mục sách tham khảo) ở trang thảo luận của bài viết chính này.
_________________________________

Bài trên đây được viết để sửa chữa, bổ sung bài viết đã có trước 7 giờ 54 phút, ngày 12-06-2006, ngày giờ trên WIKIPEDIA, và cũng đã đăng trên WIKIPEDIA (xem lịch sử hình thành bài viết):

http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_V%C4%83n_T%C6%B0%E1%BB%9Dng

nhà Nguyễn Quan nhiếp chính Việt Nam Người Quảng Trị Sinh 1824 Mất 1886
_______________________________

NGUYÊN VĂN BÀI VIẾT TRÊN WIKIPEDIA
TRƯỚC KHI TÔI THAM GIA SỬA CHỮA, BỔ SUNG:


http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Nguy%E1%BB%85n_V%C4%83n_T%C6%B0%E1%BB%9Dng&oldid=242209


Nguyễn Văn Tường
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Sửa đổi lúc 02:43, ngày 12 tháng 6 năm 2006; xem phiên bản hiện hành
← Phiên bản cũ | Phiên bản mới→
Bước tới: menu, tìm kiếm

Nguyễn Văn Tường

Nguyễn Văn Tường (chữ Hán: 阮文祥), 1824-1886, quê ở Quảng Trị, là đại thần phụ chính của nhà Nguyễn.

Theo tài liệu của nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân cho rằng Nguyễn Văn Tường tên thật là Nguyễn Phước Tường, vốn là con của Thiệu Trị, nhưng không được thừa nhận nên phải đổi tên thành Nguyễn Văn Tường[cần dẫn chứng].

Ông xuất thân từ một gia đình lao động nghèo thuộc làng An Cư, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Sau khi đậu cử nhân, ông được bổ làm Tri huyện Thành Hoá, Quảng Trị vào năm 1850. Sau 24 năm ở chốn quan trường, ông lên tới chức Chính khanh Đại thần, tham gia công việc cơ mật của triều đình.

Ông nổi tiếng là người sắc sảo, cả quyết và đa mưu. Trong khi làm quan, ông đã dâng lên vua nhiều tấu sớ. Hầu hết các tài liệu này đã được Vua Tự Đức đích thân phê duyệt và được lưu giữ tại các nha môn, bộ, viện. Các di cảo này đã được nhóm tư liệu Hán - Nôm Lịch sử cận đại Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh sưu tầm và dịch thuật.

Cùng với Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường lần lượt lập rồi phế bỏ ba vua Dục Đức, Hiệp Hòa và Kiến Phúc. Có sách nói rằng Nguyễn Văn Tường đã cho vua Kiến Phúc uống thuốc độc vì vua bắt gặp ông đang tư tình với bà vương phi Nguyễn Thị Hương[cần dẫn chứng].

Năm 1884, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết lập vua Hàm Nghi lên ngôi. Ngày 4 tháng 7 năm 1885, ông cùng Tôn Thất Thuyết chỉ huy cuộc tổng tấn công quân Pháp bất ngờ tại Huế, nhưng thất bại.

Nguyễn Văn Tường cho người rước vua Hàm Nghi tới thành Quảng Trị để lánh nạn. Sau đó được lệnh của bà Từ Dũ nên ông đã quay lại điều đình với Pháp. Nguyễn Văn Tường đã nhờ giám mục Lim Long là Caspar đưa về gặp tướng de Courcy và hợp tác với Pháp, phản lại Tôn Thất Thuyết[1]. De Courcy hẹn cho Nguyễn Văn Tường trong vòng hai tháng phải tìm cách để rước vua về. Nguyễn Văn Tường viết sớ ra Quảng Trị xin rước vua về nhưng ông Tôn Thất Thuyết cản thư không cho vua biết. Hết hạn hai tháng, cả gia đình Nguyễn Văn Tường bị de Courcy đày ra Côn Ðảo, sau đó đưa tới đảo Tahiti ở Thái Bình Dương. Năm 1886, Nguyễn Văn Tường mất, xác được đưa về Việt Nam.

Một số văn bản tài liệu mà Nguyễn Văn Tường đã viết:
• Nam Kỳ tấu nghị
• Bắc Kỳ tấu nghị
• Thương Bạc viện phúc
• Văn thư xin nhà Thanh viện binh tiễu phỉ.
• Các bài thơ do ông sáng tác (khoảng 60 bài)
• Các tạ biểu...

Ghi chú

1. ▲ "Vị hoàng đế trưởng thành từ thời niên thiếu". Nguyễn Quang Trung Tiến. Tạp chí Thông tin Khoa học và Công nghệ, số 1(7).1995)

Lấy từ
http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_V%C4%83n_T%C6%B0%E1%BB%9Dng

Thể loại (6): Bài cần chú thích nguồn gốc | Quan nhà Nguyễn | Quan nhiếp chính Việt Nam | Người Quảng Trị | Sinh 1824 | Mất 1886
_____________________

Nói cho thật chính xác: NGUYÊN VĂN BÀI VIẾT TRÊN WIKIPEDIA TRƯỚC KHI TÔI THAM GIA SỬA CHỮA, BỔ SUNG trên đây cũng đã được các thành viên và người đọc Wikipedia thêm mấy chữ (Nguyễn Đắc Xuân; cần dẫn chứng) và chú thích ("Vị hoàng đế trưởng thành từ thời niên thiếu". Nguyễn Quang Trung Tiến. Tạp chí Thông tin Khoa học và Công nghệ, số 1(7).1995)) sau khi tôi tham gia trang thảo luận, yêu cầu bài viết phải trưng dẫn tư liệu gốc.

Trần Xuân An
lúc 8 giờ 39 phút, ngày 19 tháng 6 HB6 (2006)
[24-5 Bính tuất HB6], tại TP.HCM., Việt Nam.


20-6 HB6 ( 2006 )

posted by Phan Huyên Đình at 5:56 PM | 0 comments

 

© Copyright 2006 giaodiem.com

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com