posted: 05.3.2005
NÓI CHUYỆN VỚI NỬA
PHẦN HỒN CỦA TÔI
Hoàng Nguyên Nhuận Đạo làm cho người gần nhau,
người theo đạo làm cho người xa nhau. Đó là cảm nghĩ của tôi khi đọc
xong quyển Crossing The Threshold of Hope (Vượt
Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng) của Giáo Hoàng John Paul II do thư xã Alfred
Knopf, Hoa Kỳ, dịch ra tiếng Anh và Random House, Australia ấn hành năm 94. Vượt Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng dù Giáo
Hoàng là tác giả, không phải là một Giáo Điệp hay Tông thư có giá trị
như một mệnh lệnh nội bộ tuyệt đối từ một người mà tín lý xác
quyết là không thể sai lầm. Đây là một tác phẩm thần học tung vào đời
dưới hình thức thương mại, và đương nhiên thu hút không chỉ cố gắng
hiểu biết, cảm thông, mà cả ý hướng đối thoại. Tôi ghi lại ý nghĩ
của tôi trong ý hướng đó. Hiện có hai bản dịch tiếng
Việt nhưng cả hai đều thiếu sót khi dịch những đoạn nói về Cộng sản
(Dân Chúa, 4.95). Không biết bản tiếng
Việt của Trần Thái Đỉnh do Info Art, Vượt Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng dành nhiều
đoạn bàn về Do Thái giáo, Hồi giáo, Ấn giáo, Khổng giáo, Lão giáo và
Phật giáo. Ba tôn giáo được đặc biệt chú trọng là Hồi giáo, Do Thái
giáo và Phật giáo. Trừ phần dẫn khởi và thư mục, quyển sách dày 236
trang này dành trọn chương 14 dài 7 trang cho Phật giáo với tựa đề
Buddha. Ngoài ra Phật giáo còn được nói đến trong các trang 42, 43, 80, 81,
82 và 83. So với các tôn giáo khác, Phật giáo quả đã được chú ý hơi
nhiều đúng như lời tác giả xác nhận là: “... cần thiết phải đặc
biệt chú trọng Phật giáo” (sđd.tr.84). Chỉ có sóng sau lấn đẩy sóng
trước, không đời nào sóng trước hồi kích sóng sau. Phật giáo đã đến
với đời hơn 500 năm trước khi Kitô giáo thành hình ở Jerusalem và hòa hợp
với dân Việt Nam cả ngàn năm trước khi Vatican nghĩ đến chuyện xin phép
tháp tùng người Bồ Đào Nha đếnViệt Nam để tìm kiếm “hạt tiêu và
các linh hồn” (Phan Phát Hườn - Việt nam
Giáo Sử I - Cứu Thế Tùng Thư, Saigon, tr.25). Phán luận, phê bình, chống
đối nhân danh tôn giáo là việc của người theo đạo chứ không phải chủ
trương của các Giáo Chủ. Hậu thế vẫn dùng lời Giáo chủ để điều
hướng hành động và ý nguyện sống đạo của mình. Nhưng cũng có khi hậu
thế phải đi ngược lời Giáo Chủ để duy trì hành động và ý nguyện
đương hành. Hãy lấy một ví dụ... “Giáo Hoàng” là cách chuyển Việt
của chữ Pope, nguyên nghĩa Hy lạp là Cha, bởi vậy Giáo Hoàng có khi còn
được gọi là Thánh Cha. Các Linh mục cũng được gọi là Cha. Ở Việt
Nam, các Cha cao niên bản xứ được gọi là Cụ, các Cha ngoại quốc già trẻ đều được đặc cách
thang hai bậc thành Cố thay vì một bậc là Ông Nội. Nhưng Thánh Kinh lại
cũng ghi rành rành lời Đức KiTô nghiêm cấm: “Chớ gọi ai trên trái đất
này là cha ngươi, ngươi chỉ có một Cha trên trời” (Matthew đoạn 23, câu
9). Khi được Vittorio Messori tham vấn về điều nghịch lý đó, Giáo Hoàng
giải thích rằng đó là lời xưng hô bắt
rễ từ truyền thống lâu đời. (Sđd tr.8). Nghĩa là dùng riết rồi
quen dù là nghịch ý đấng Tối Cao. Vượt Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng cho rằng,
Phật giáo, theo một quan điểm riêng nào đó, cũng như Thiên Chúa giáo, là
một tôn giáo giải thoát. Tuy nhiên, “cần phải nói ngay rằng lý thuyết
giải thoát trong Phật giáo và Thiên Chúa giáo là đối nghịch nhau.”
(sđd. tr. 84-85). Vì Phật giáo là “hoàn toàn tiêu cực” (sđd. tr.85), giác
ngộ theo Phật giáo là “thuần túy tiêu cực” (sđd. tr.87) và Phật giáo
đa phần là một “hệ thống vô thần” (sđd. tr. 86). Đức tin, theo Thiên Chúa giáo,
là ý nghĩ tối hậu đặt tín hữu giáp mặt với bức tường cao dày mênh
mông, không còn gì để phân vân, khao khát, kén chọn. Đức tin làm đông
đặc không gian, thời gian, suy tư, hy vọng. Tín hữu chỉ còn hai con đường
lựa chọn, hoặc quay lưng lại với bức tường tuyệt đối đó, hoặc đi
thụt lùi. Cho nên không thể hỏi: Tại sao tin như thế? Mà chỉ có thể hỏi:
Tin như thế rồi thì sống thế nào với anh em đồng loại? Lòng tin đó đã
giúp ích gì cho mình, cho đời? Khác với tinh thần nhìn mặt trăng chứ không
nhìn ngón tay chỉ mặt trăng của Phật giáo, khác với tinh thần cả tin
vào sách vở thì thà đừng có sách vở còn hơn của Nho giáo, mỗi chữ mỗi
câu của các giáo quyền Kitô giáo đều là tín lý bất di bất dịch. Với
các đồng hương Kitô hữu Việt Nam của tôi thì tinh thần này lại còn
kiên định hơn nữa vì “không ai có thể nghi ngờ tấm lòng trung kiên
vâng phục quyền giáo huấn chính thức của các Giáo hội đã ăn sâu vào
hàng giáo sĩ Việt Nam” (Nghi Thanh – Nhìn
lại 20 năm Ly hương Cộng Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ, Tivi Tuần
San 26-4-95). Nói như thế, giáo quyền Việt Nam chỉ tuân lệnh Vatican và
Kitô hữu Việt nam thì “trước đây 20 năm, không ai nói đến chuyện... một
lối sống đức tin khoáng đạt hơn” cả (Nghi Thanh, sđd). Cho nên tôi
phân vân không biết các đồng bào Kitô hữu của tôi đã nghĩ gì, phản
ứng như thế nào khi đọc những đoạn Giáo Hoàng nói về Phật giáo? Một tín hữu Kitô giáo có thẩm
quyền là linh mục Nguyễn Hồng Giáo nghĩ rằng: “... trình bày của Đức
Thánh Cha không phải là sai nhưng hình như Ngài chỉ biết đến giáo lý “nguyên
thủy” của Đức Phật, và ngay giáo thuyết này cũng có vẻ như được
cường điệu cho phù hợp với ý định của Ngài. Ý định đó là “muốn
biện hộ cho Kitô giáo để cảnh cáo những Kitô hữu ở phương Tây đang
có xu hướng chạy theo Phật giáo”. Linh mục Nguyễn Hồng Giáo cũng trích
lời của Linh mục Aloysius Pieris, nhà thần học nổi tiếng của Vì thấy rằng những điều Giáo
Hoàng nói về Phật giáo chỉ là cường điệu, bảo thủ, tấn công để
phòng thủ chứ “không phải là sai” nên Linh mục Nguyễn Hồng Giáo cũng
như Linh Mục Aloysius Pieris đã không kịp ghi nhận sự khác biệt căn bản
giữa hai khung cửa giải thoát mà Kitô giáo và Phật giáo mở ra cho tín hữu.
Khung cửa hy vọng của Kitô giáo được lắp ráp bằng Bảy Mối Tội Đầu
và Mười Điều Răng và xây trên cái nền tín lý kiên định rằng con người
không thể tự mình thực hiện chân hạnh phúc mà phải trông cậy hoàn
toàn vào Tình Thương của Thượng Đế Tạo Hóa và vào quyền lực của
Giáo Hội là cơ chế đại diện Thượng Đế ở trần gian. Khung cửa giải
thoát của Phật giáo được lắp ráp bằng Tham Sân Si và xây trên cái nền
của lòng tự tín tự quyết. Người Kitô hữu phải đi vào ngưỡng cửa của
tín lý mới mong về nước Thiên Đàng. Người Phật tử phải vượt qua
Tham-Sân-Si với quyết tâm tự lực giải thoát mới mong đạt Niết Bàn. Để
được cứu rỗi, Kitô hữu phải lắng nghe tiếng gọi từ ngoài để xông
thẳng vào cái CÓ, người Phật tử phải lắng nghe chính mình để nhảy vào
cái KHÔNG. Thấy được điều khác biệt uyên nguyên đó thì khỏi cần
nói chuyện đúng sai, phải trái. Đã là tin thì chỉ có khác biệt. Đúng
sai, phải trái không tùy thuộc nội dung của đức tin mà tùy thuộc vào việc
đem nội dung ấy ra áp dụng vào đời sống của mình và tương giao giữa
mình với cuộc đời. Linh mục Nguyễn Hồng Giáo và
tờ Công Giáo và Dân Tộc tả khuynh
phê phán cái nhìn bảo thủ của Giáo Hoàng về Phật giáo nhưng không hẳn
Linh mục (có thể bị một số đồng đạo kết án là “quốc doanh thân cộng”)
đã thoát được áp lực của cái nhìn bảo thủ đó khi nói đến “những
Kitô hữu ở phương Tây đang có xu hướng chạy theo Phật giáo”. Không thấy
vị linh mục này nói rõ việc chạy
theo Phật giáo này có gì khác việc chạy theo Pháp, chạy theo Mỹ hay chạy
theo Cộng sản không? Nếu không nhờ Pháp, Kitô giáo
ở Việt Nam không thể nào thu hoạch được ngót 10 phần trăm dân số, cũng
như không nhờ Hoa Kỳ thì làm thế nào một thế lực chỉ chiếm 10 phần
trăm dân số lại có thể chiếm luôn cả hai chức Tổng Thống Đệ Nhất
và Đệ Nhị Cộng Hòa, nắm trọn vận mệnh của một phần đất trong đó
90 phần trăm là “kẻ ngoại đạo” trong những giai đoạn sinh tử nhất
của đất nước: chiến tranh phát khởi thời Đệ Nhất Cộng Hòa và kết
thúc thời Đệ Nhị Cộng Hòa! Chưa kể trước đó Kitô giáo cũng đã cung
cấp những rường cột chống đỡ một triều đình bù nhìn đổ nát với
Nguyễn Hữu Bài, Ngô Đình Khả và Nam Phương Hoàng Hậu. Nếu nước có
quyền nước, dân có quyền dân thì thực trạng mất quân bình chính trị
đó có thể xảy ra được không? Có phải là tự do dân chủ không? Có bao
nhiêu đồng hương Kitô hữu đã tự hỏi như vậy sau bao nhiêu biến cố
đảo điên, nhất là sau khi Saigon thất thủ 1975 và cuộc đời ăn nhờ ở
đậu xứ người kể từ ngày đó? * * * Bi quan! Tiêu cực! Vô thần! Sáu mươi năm
là một thời gian dài, lịch sử có thể đi vạn dặm. Nhưng sáu mươi năm
cũng có thể chỉ là chớp mắt nhanh đến độ người ta không thể đi hết
một bước. Thật vậy, hơn sáu mươi năm trước cũng đã có những Kitô hữu
nói về Phật giáo bằng những lời lẽ như “Chính Thích Ca cũng không muốn
biết Tạo Hóa” (San Đình – Vì Chúa, 6.5.38).
Và: “Cái lầm to (của Phật giáo) là chỉ nói chúng sinh mà không nói Tạo
Hóa... Phải chi hiểu nghĩa Thiên Chúa thì không đến đổi sai lầm như vậy”
(J.M. Thích – Vì Chúa, 11.6.37): chưa kể “Ngoài việc niệm kệ,
tụng kinh, đúc chuông, tô tượng, (Phật giáo) chẳng có một sự nghiệp
gì để hầu bổ ích cho đời.” (Hương Trai – Vì Chúa, 1.7.38). Đó là những câu Trần Văn
Giàu trích dẫn từ một cơ quan truyền bá Kitô giáo ở Huế hơn nửa thế
kỷ trước đây (Trần Văn Giàu. Sự Phát
Triển của Tư Tưởng Việt Nam, tập 2, NXB TP.HCM, 93, tr.386, 387 và 390). Những người theo Marx như Trần
Văn Giàu, lúc bấy giờ, chỉ có cái nhìn của một viên chức nhìn tôn
giáo như thuốc phiện nên không nhận thấy rằng duy vật biện chứng và
duy vật sử quan của Marx chỉ là bản sao bất toàn chủ trương bám lấy
cuộc đời như một giá trị thiêng liêng của Thượng Đế ban cho để làm
khởi điểm giải thoát. Họ có lẽ cũng không nhận thấy rằng về phương
thức thực hiện, lối kết nạp Đảng viên, khố⮧ chế tinh thần Đảng
viên bằng học tập, bằng tự phê, tự kiểm, bằng khai trừ của Đảng Cộng
Sản chỉ là bản sao bất toàn lối rửa tội, học Đạo bằng Sách Bổn, tín hữu không được đọc
nguyên bản Thánh Kinh cũng như lối
xưng tội, kiểm duyệt sách báo, biện pháp cảnh cáo, dứt phép thông công
mà Kitô giáo đã áp dụng cả ngàn năm trước Lenin. Bởi có những điểm tương đồng
như thế nên sáu mươi năm trước một nhà lý luận Mác-xít như Hải Triều
đã tố Phật giáo là “đạo của những dân tộc lười, tôn thờ chủ
nghĩa vô vi... chủ nghĩa vô vi là tự sát” (Nguyễn Lang – Việt Nam Phật giáo Sử Luận, tập 3, Lá
Bối, San Jose 87, tr.28) thì hôm nay tác giả của Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng cũng đã
phụ họa nguyên văn rằng “Phật giáo là hoàn toàn tiêu cực”, “thuần
túy tiêu cực”. Cải hai đã không giải thích tại sao một tôn giáo lười
biếng, vô vi, tiêu cực như thế lại có thể tồn tại được hơn 25 thế
kỷ, và tại Việt Nam, lại có thể động viên cả một dân tộc đứng lên
dựng nước và giữ nước từ Ngô, Đinh, Lê, đến những thời đại huy
hoàng Lý, Trần? Ở Việt Nam, Cộng sản và
Kitô giáo có thể khác nhau như mặt trăng, mặt trời, nhưng cả hai đều
đứng cùng chiến tuyến khi đối diện với Phật giáo. Như Ngô Đình Diệm
năm 1963 và Lê Duẫn năm 75. Cộng nghiệp lịch sử là một gọng kềm kẹp
cứng Phật giáo. Một bên là độc thần, một bên là vô thần; một bên hữu
khuynh cực đoan nhân danh tự do, một bên cực tả nhân danh cách mạng giải
phóng; một bên sẵn sàng hy sinh đất nước cho tín ngưỡng, một bên sẵn
sàng hy sinh dân tộc cho giai cấp. Đó là diễn biến thê thảm của lịch sử
Việt Nho giáo là ý thức hệ trị loạn
hữu hiệu đã giúp Nguyễn Gia Long ổn định đất nước triền miên rối
loạn từ Trịnh - Nguyễn phân tranh. Nhưng Nho giáo cũng là cái cùm giữ
chân xã hội không cho tiến tới bằng cách đẩy tầng lớp lãnh đạo vào
vũng lầy nệ cổ, độc thiện, hình thức. Tiếng súng đại bác từ các
chiến thuyền Pháp ngoài khơi vọng vào cho tầng lớp lãnh đạo thức tỉnh
thì đã muộn. Việt Kitô giáo bộc phát trong buổi
chợ chiều chính trị đó để rồi chẳng bao lâu nhận ra rằng Phật giáo
mới chính là kẻ thù yên lặng... Mũi dùi chính từng chĩa vào Nho giáo đã
quay lại chĩa vào Phật giáo với ba “tội trọng” là mê tín dị đoan,
tiêu cực và vô thần. Kinh Tin Kính của Kitô giáo ở Việt Thất bại của Nguyễn Thái Học
đã khai tử luôn khuynh hướng dĩ ngoại trị ngoại ôn hòa mà các cụ Phan
Bội Châu và Phan Châu Trinh là đại diện chính và tạo điều kiện nảy nở
cho phong trào dĩ ngoại trị ngoại cực đoan của những kẻ theo Đệ Tứ
Quốc Tế và Đệ Tam Quốc Tế. Nhưng Đệ Tứ Quốc Tế dần dần đi vào
đấu tranh nghị trường nên ảnh hưởng đã bị giới hạn ở Nam Phần
trong vũng lầy dân chủ hình thức hữu hạn Pháp bày ra để ru ngủ những
kẻ cả tin vào giải pháp Pháp - Việt đề huề. Đệ nhị Thế chiến bùng nổ.
Sự thảm bại của Pháp ở chính quốc châm ngòi cho tinh thần chống Pháp
ở thuộc địa bùng lên. Nhưng những cuộc đàn áp kềm kẹp liên miên của
Pháp từ sau vụ Yên Bái đã triệt hết các khuynh hướng ôn hòa nên mặc
nhiên nhường vai trò lãnh đạo đấu tranh chính trị cho những người Cộng
sản Đệ Tam dĩ ngoại trị ngoại, cực đoan trên chiến lược nhưng uyển
chuyển đa diện về chiến thuật. Nhật cướp quyền đô hộ của Pháp nhưng
vì áp lực hoàn cảnh Nhật đã hành xử như một thứ chánh quyền bảo hộ
nối dài nên chẳng giúp gì cho khuynh hướng dân tộc phát triển, ngay cả
trên căn bản liên minh Đông Á chống Tây Phương như chính Nhật cổ súy. Mùa thu năm 45, Nhật đầu hàng,
Pháp chưa kịp trở lại. Cách mạng Việt Pháp thất bại ra đi, nhường
cho Mỹ thế chân ở Nam Phần. Vì nhu cầu đối kháng trong Chiến Tranh Lạnh,
Mỹ đã gấp rút và tận tình tái võ trang tinh thần cho tập đoàn thư lại
bản địa bằng ý thực hệ hữu khuynh cực đoan và biến họ thành những
Dũng Sĩ của Tự Do chống lại Quỷ Đỏ Tam Vô. Trong khi ở Bắc Phần, Cộng
Sản loay hoay thí nghiệm xã hội chủ nghĩa để một đàng, cướp thời
cơ đối kháng của những thành phần cựu kháng chiến đang bị chiến dịch
Tố Cộng cuồng nhiệt của Ngô Đình Diệm đẩy vào đường cùng và đằng
khác, để đáp ứng lời hiệu triệu của Nga đẩy mạnh phong trào giải
phóng dân tộc chống đế quốc toàn thế giới. Chiến tranh Việt Ý thức hệ hữu khuynh cực
đoan đã chết trên đất nước từ ngày 30-4-75. Số sống sót phải di tản
và tàn lụi dần cho đến ngày Mỹ bỏ lệnh cấm vận. Trong khi đó, người
Cộng sản từng ôm riết chủ nghĩa Mao-Staline ngót 30 năm giờ mới thực sự
có cơ hội hăm hở đem ra thí nghiệm toàn triệt. Người dân Nam Phần, hết
là nạn nhân của đám cực hữu, giờ lại trở thành nạn nhân của đám
cực tả! Điều này giải thích tại sao phong trào vượt biên lại lên cao
như vậy sau khi Cộng sản bắt đầu đẩy mạnh công cuộc cải tạo xã hội
chủ nghĩa ở Nam Phần. Cộng sản đã vấp té vỡ mặt trong khi hồ hởi
“tiến nhanh, tiến mạnh tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội” và phải
ì ạch “đổi mới” để sửa sai... Phật giáo đã không chạy theo
đám hữu khuynh cực đoan và cũng không thỏa hiệp xu phụ đám tả khuynh
ngông cuồng quá khích. Cũng vì thế Thích Thiện Minh vào tù của Ngô Đình
Diệm năm 63, tù của Nguyễn Văn Thiệu năm 69 và chết trong tù của Lê Duẫn
năm 78. Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ vào tù năm 63 của Đệ Nhất Cộng
Hòa và tiếp tục vào tù sau năm 75 của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa. * * * Đà phát triển của Kitô giáo
thường nghịch biến với đà phát triển chính trị, kinh tế, xã hội và
trí thức. Trong khi ở Tây Phương phồn vinh tiến bộ Thiên Chúa giáo đang
rút lui nhường đất cho Phật giáo phát triển như chính sự lo ngại của
Giáo Hoàng xác nhận (sđd. tr. 85) thì từ năm 78 đến năm 92, Kitô giáo ở
Á Châu khó nghèo, chậm tiến đã tăng từ 58 triệu lên 92.5 triệu. Năm 78
cũng là năm đăng quang của Giáo Hoàng đương nhiệm (Dân Chúa, 4.95). Đây là lý do tại sao trước
sau vẫn duy trì cái nhìn “bảo thủ” về đủ mọi mặt, kể từ chuyện
Linh mục lập gia đình, chuyện nữ tu được thụ phong Linh mục, chuyện hạn
chế sinh sản, chuyện Phật giáo và các tôn giáo phương Đông. Vì nhu cầu
ổn định nội bộ giáo quyền nên
khi lên tiếng, Giáo Hoàng không nhắm vào giáo dân hay người dân thường còn
ngoại đạo mà đích thực là nhắm vào giáo quyền các cấp, nhắc cho họ
biết họ đang đứng ở đâu, phải nghe ai, phải làm gì. Dù sao đi nữa thì
những mệnh lệnh “bảo thủ” này sẽ không tránh cho Kitô giáo gặp những
phản lực trên đường phát triển. Đụng độ lớn có thể xảy ra ở Á
Châu không phải là giữa Kitô giáo với các tôn giáo Đông phương như Ấn
giáo, Hồi giáo, Phật giáo mà là giữa Kitô giáo với Tin Lành, nhất là
ở Phi Luật Tân nơi đang có một Tổng Thống Tin lành nhất quyết đối đầu
với những áp lực Công giáo bảo thủ đã bị mang tiếng là đã quá gần
gũi với tập đoàn Marcos bao nhiêu năm cho đến ngày dân chúng không còn chịu
đựng được nữa. Không ai có thể phủ nhận
trách nhiệm lớn lao của đồng bào Kitô hữu trong cuộc chiến tranh 45 -
75. Điều này giải thích tại sao số đồng hương Kitô hữu lưu vong đã
chiếm 25 phần trăm tổng số người di tản vượt biên - nghĩa là cứ bốn
người tỵ nạn thì có một Kitô hữu, trong khi ở Việt nam tỷ lệ đó chỉ
là 10 phần trăm (Tivi Tuần San, 26.4.95).
Đa số thành phần lãnh đạo các tổ chức đoàn thể - cũng như cá nhân,
hoạt động sôi nổi ồn ào nhất trong các cộng đồng Việt Các đồng hương Kitô hữu
đang thành tâm đấu tranh cho tự do tôn giáo ở quê nhà có khi nào nghĩ đến
chuyện người Việt đang có đến 234 ngàn giáo dân dưới sự chăn dắt của
khoảng 470 Linh Mục Việt Nam ở Mỹ và Úc Đại Lợi thế nhưng vẫn chưa
hề có được Giám Mục - dù chỉ là Giám Mục phụ tá, chưa hề được một
giáo xứ hay một họ đạo chính thức dù số người xem lễ ngày Chủ Nhật
đông gấp trăm lần giáo dân Mỹ hay Úc nơi địa phương liên hệ. Giáo
dân Việt Đối với đa số đồng hương
Kitô giáo, biến cố 75 rồi tiếp đó là những kinh nghiệm đắng cay về
chuyện đổi đời cũng như sống đạo nơi xứ người cũng là cơ hội giúp
họ nếu không cảm nghiệm sâu xa hơn những chuyện đất nước, dân tộc,
đồng bào thì ít ra cũng cho họ cơ hội đến gần hơn với nếp sống đạo
cởi mở, bao dung, công bằng, vị tha hơn là nếp sống vâng phục Cha xứ,
Cha xứ chỉ biết ngoan ngoãn với Bề Trên, và Bề Trên thì chỉ biết có
Giáo đình Vatican và Giáo Hoàng. Chung quanh các họ đạo, giáo xứ
còn có làng nước, hàng xóm láng giềng. Phần cao quý của những gì “Công
Giáo Tại Việt Nam” gầy dựng được trong 80 năm ngoại thuộc và 30 năm
chiến tranh chắc hẳn vẫn còn : Lòng Kính Chúa Yêu Người. Đó là điều
không ai có thể hủy bỏ được trừ chính người đã được ơn trên soi
sáng để ấp ủ lòng kính yêu đó. Và đó cũng có thể là Ngưỡng Cửa Hy Vọng của Kitô giáo Việt
|
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com