giao diem 3-2005

posted: 05.3.2005

NÓI CHUYỆN VỚI NỬA PHẦN HỒN CỦA TÔI

Hoàng Nguyên Nhuận

Đạo làm cho người gần nhau, người theo đạo làm cho người xa nhau. Đó là cảm nghĩ của tôi khi đọc xong quyển Crossing The Threshold of Hope (Vượt Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng) của Giáo Hoàng John Paul II do thư xã Alfred Knopf, Hoa Kỳ, dịch ra tiếng Anh và Random House, Australia ấn hành năm 94.

Vượt Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng dù Giáo Hoàng là tác giả, không phải là một Giáo Điệp hay Tông thư có giá trị như một mệnh lệnh nội bộ tuyệt đối từ một người mà tín lý xác quyết là không thể sai lầm. Đây là một tác phẩm thần học tung vào đời dưới hình thức thương mại, và đương nhiên thu hút không chỉ cố gắng hiểu biết, cảm thông, mà cả ý hướng đối thoại. Tôi ghi lại ý nghĩ của tôi trong ý hướng đó.

Hiện có hai bản dịch tiếng Việt nhưng cả hai đều thiếu sót khi dịch những đoạn nói về Cộng sản (Dân Chúa, 4.95). Không biết bản tiếng Việt của Trần Thái Đỉnh do Info Art, Sydney ấn hành hồi cuối năm ngoái có phải là một trong hai bản này không? Xin tạm thời dựa vào bản tiếng Anh trong khi chờ đợi một bản dịch tiếng Việt được chính thức công nhận.

Vượt Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng dành nhiều đoạn bàn về Do Thái giáo, Hồi giáo, Ấn giáo, Khổng giáo, Lão giáo và Phật giáo. Ba tôn giáo được đặc biệt chú trọng là Hồi giáo, Do Thái giáo và Phật giáo. Trừ phần dẫn khởi và thư mục, quyển sách dày 236 trang này dành trọn chương 14 dài 7 trang cho Phật giáo với tựa đề Buddha. Ngoài ra Phật giáo còn được nói đến trong các trang 42, 43, 80, 81, 82 và 83. So với các tôn giáo khác, Phật giáo quả đã được chú ý hơi nhiều đúng như lời tác giả xác nhận là: “... cần thiết phải đặc biệt chú trọng Phật giáo” (sđd.tr.84).

Chỉ có sóng sau lấn đẩy sóng trước, không đời nào sóng trước hồi kích sóng sau. Phật giáo đã đến với đời hơn 500 năm trước khi Kitô giáo thành hình ở Jerusalem và hòa hợp với dân Việt Nam cả ngàn năm trước khi Vatican nghĩ đến chuyện xin phép tháp tùng người Bồ Đào Nha đếnViệt Nam để tìm kiếm “hạt tiêu và các linh hồn” (Phan Phát Hườn - Việt nam Giáo Sử I - Cứu Thế Tùng Thư, Saigon, tr.25). Phán luận, phê bình, chống đối nhân danh tôn giáo là việc của người theo đạo chứ không phải chủ trương của các Giáo Chủ. Hậu thế vẫn dùng lời Giáo chủ để điều hướng hành động và ý nguyện sống đạo của mình. Nhưng cũng có khi hậu thế phải đi ngược lời Giáo Chủ để duy trì hành động và ý nguyện đương hành. Hãy lấy một ví dụ... “Giáo Hoàng” là cách chuyển Việt của chữ Pope, nguyên nghĩa Hy lạp là Cha, bởi vậy Giáo Hoàng có khi còn được gọi là Thánh Cha. Các Linh mục cũng được gọi là Cha. Ở Việt Nam, các Cha cao niên bản xứ được gọi là Cụ, các Cha ngoại quốc già trẻ đều được đặc cách thang hai bậc thành Cố thay vì một bậc là Ông Nội. Nhưng Thánh Kinh lại cũng ghi rành rành lời Đức KiTô nghiêm cấm: “Chớ gọi ai trên trái đất này là cha ngươi, ngươi chỉ có một Cha trên trời” (Matthew đoạn 23, câu 9). Khi được Vittorio Messori tham vấn về điều nghịch lý đó, Giáo Hoàng giải thích rằng đó là lời xưng hô bắt rễ từ truyền thống lâu đời. (Sđd tr.8). Nghĩa là dùng riết rồi quen dù là nghịch ý đấng Tối Cao.

Vượt Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng cho rằng, Phật giáo, theo một quan điểm riêng nào đó, cũng như Thiên Chúa giáo, là một tôn giáo giải thoát. Tuy nhiên, “cần phải nói ngay rằng lý thuyết giải thoát trong Phật giáo và Thiên Chúa giáo là đối nghịch nhau.” (sđd. tr. 84-85). Vì Phật giáo là “hoàn toàn tiêu cực” (sđd. tr.85), giác ngộ theo Phật giáo là “thuần túy tiêu cực” (sđd. tr.87) và Phật giáo đa phần là một “hệ thống vô thần” (sđd. tr. 86).

Đức tin, theo Thiên Chúa giáo, là ý nghĩ tối hậu đặt tín hữu giáp mặt với bức tường cao dày mênh mông, không còn gì để phân vân, khao khát, kén chọn. Đức tin làm đông đặc không gian, thời gian, suy tư, hy vọng. Tín hữu chỉ còn hai con đường lựa chọn, hoặc quay lưng lại với bức tường tuyệt đối đó, hoặc đi thụt lùi. Cho nên không thể hỏi: Tại sao tin như thế? Mà chỉ có thể hỏi: Tin như thế rồi thì sống thế nào với anh em đồng loại? Lòng tin đó đã giúp ích gì cho mình, cho đời? Khác với tinh thần nhìn mặt trăng chứ không nhìn ngón tay chỉ mặt trăng của Phật giáo, khác với tinh thần cả tin vào sách vở thì thà đừng có sách vở còn hơn của Nho giáo, mỗi chữ mỗi câu của các giáo quyền Kitô giáo đều là tín lý bất di bất dịch. Với các đồng hương Kitô hữu Việt Nam của tôi thì tinh thần này lại còn kiên định hơn nữa vì “không ai có thể nghi ngờ tấm lòng trung kiên vâng phục quyền giáo huấn chính thức của các Giáo hội đã ăn sâu vào hàng giáo sĩ Việt Nam” (Nghi Thanh – Nhìn lại 20 năm Ly hương Cộng Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ, Tivi Tuần San 26-4-95). Nói như thế, giáo quyền Việt Nam chỉ tuân lệnh Vatican và Kitô hữu Việt nam thì “trước đây 20 năm, không ai nói đến chuyện... một lối sống đức tin khoáng đạt hơn” cả (Nghi Thanh, sđd). Cho nên tôi phân vân không biết các đồng bào Kitô hữu của tôi đã nghĩ gì, phản ứng như thế nào khi đọc những đoạn Giáo Hoàng nói về Phật giáo?

Một tín hữu Kitô giáo có thẩm quyền là linh mục Nguyễn Hồng Giáo nghĩ rằng: “... trình bày của Đức Thánh Cha không phải là sai nhưng hình như Ngài chỉ biết đến giáo lý “nguyên thủy” của Đức Phật, và ngay giáo thuyết này cũng có vẻ như được cường điệu cho phù hợp với ý định của Ngài. Ý định đó là “muốn biện hộ cho Kitô giáo để cảnh cáo những Kitô hữu ở phương Tây đang có xu hướng chạy theo Phật giáo”. Linh mục Nguyễn Hồng Giáo cũng trích lời của Linh mục Aloysius Pieris, nhà thần học nổi tiếng của Sri Lanka cho rằng “Rôma vẫn duy trì cái nhìn bảo thủ của mình xưa nay về các tôn giáo.” (Công Giáo và Dân Tộc, Xuân Ất Hợi 1995, tr.7).

Vì thấy rằng những điều Giáo Hoàng nói về Phật giáo chỉ là cường điệu, bảo thủ, tấn công để phòng thủ chứ “không phải là sai” nên Linh mục Nguyễn Hồng Giáo cũng như Linh Mục Aloysius Pieris đã không kịp ghi nhận sự khác biệt căn bản giữa hai khung cửa giải thoát mà Kitô giáo và Phật giáo mở ra cho tín hữu. Khung cửa hy vọng của Kitô giáo được lắp ráp bằng Bảy Mối Tội Đầu và Mười Điều Răng và xây trên cái nền tín lý kiên định rằng con người không thể tự mình thực hiện chân hạnh phúc mà phải trông cậy hoàn toàn vào Tình Thương của Thượng Đế Tạo Hóa và vào quyền lực của Giáo Hội là cơ chế đại diện Thượng Đế ở trần gian. Khung cửa giải thoát của Phật giáo được lắp ráp bằng Tham Sân Si và xây trên cái nền của lòng tự tín tự quyết. Người Kitô hữu phải đi vào ngưỡng cửa của tín lý mới mong về nước Thiên Đàng. Người Phật tử phải vượt qua Tham-Sân-Si với quyết tâm tự lực giải thoát mới mong đạt Niết Bàn. Để được cứu rỗi, Kitô hữu phải lắng nghe tiếng gọi từ ngoài để xông thẳng vào cái CÓ, người Phật tử phải lắng nghe chính mình để nhảy vào cái KHÔNG. Thấy được điều khác biệt uyên nguyên đó thì khỏi cần nói chuyện đúng sai, phải trái. Đã là tin thì chỉ có khác biệt. Đúng sai, phải trái không tùy thuộc nội dung của đức tin mà tùy thuộc vào việc đem nội dung ấy ra áp dụng vào đời sống của mình và tương giao giữa mình với cuộc đời.

Linh mục Nguyễn Hồng Giáo và tờ Công Giáo và Dân Tộc tả khuynh phê phán cái nhìn bảo thủ của Giáo Hoàng về Phật giáo nhưng không hẳn Linh mục (có thể bị một số đồng đạo kết án là “quốc doanh thân cộng”) đã thoát được áp lực của cái nhìn bảo thủ đó khi nói đến “những Kitô hữu ở phương Tây đang có xu hướng chạy theo Phật giáo”. Không thấy vị linh mục này nói rõ việc chạy theo Phật giáo này có gì khác việc chạy theo Pháp, chạy theo Mỹ hay chạy theo Cộng sản không?

Nếu không nhờ Pháp, Kitô giáo ở Việt Nam không thể nào thu hoạch được ngót 10 phần trăm dân số, cũng như không nhờ Hoa Kỳ thì làm thế nào một thế lực chỉ chiếm 10 phần trăm dân số lại có thể chiếm luôn cả hai chức Tổng Thống Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa, nắm trọn vận mệnh của một phần đất trong đó 90 phần trăm là “kẻ ngoại đạo” trong những giai đoạn sinh tử nhất của đất nước: chiến tranh phát khởi thời Đệ Nhất Cộng Hòa và kết thúc thời Đệ Nhị Cộng Hòa! Chưa kể trước đó Kitô giáo cũng đã cung cấp những rường cột chống đỡ một triều đình bù nhìn đổ nát với Nguyễn Hữu Bài, Ngô Đình Khả và Nam Phương Hoàng Hậu. Nếu nước có quyền nước, dân có quyền dân thì thực trạng mất quân bình chính trị đó có thể xảy ra được không? Có phải là tự do dân chủ không? Có bao nhiêu đồng hương Kitô hữu đã tự hỏi như vậy sau bao nhiêu biến cố đảo điên, nhất là sau khi Saigon thất thủ 1975 và cuộc đời ăn nhờ ở đậu xứ người kể từ ngày đó?

* * *

Bi quan! Tiêu cực! Vô thần! Sáu mươi năm là một thời gian dài, lịch sử có thể đi vạn dặm. Nhưng sáu mươi năm cũng có thể chỉ là chớp mắt nhanh đến độ người ta không thể đi hết một bước. Thật vậy, hơn sáu mươi năm trước cũng đã có những Kitô hữu nói về Phật giáo bằng những lời lẽ như “Chính Thích Ca cũng không muốn biết Tạo Hóa” (San Đình – Vì Chúa, 6.5.38). Và: “Cái lầm to (của Phật giáo) là chỉ nói chúng sinh mà không nói Tạo Hóa... Phải chi hiểu nghĩa Thiên Chúa thì không đến đổi sai lầm như vậy” (J.M. Thích – Vì Chúa,  11.6.37): chưa kể “Ngoài việc niệm kệ, tụng kinh, đúc chuông, tô tượng, (Phật giáo) chẳng có một sự nghiệp gì để hầu bổ ích cho đời.” (Hương Trai – Vì Chúa, 1.7.38). Đó là những câu Trần Văn Giàu trích dẫn từ một cơ quan truyền bá Kitô giáo ở Huế hơn nửa thế kỷ trước đây (Trần Văn Giàu. Sự Phát Triển của Tư Tưởng Việt Nam, tập 2, NXB TP.HCM, 93, tr.386, 387 và 390).

Những người theo Marx như Trần Văn Giàu, lúc bấy giờ, chỉ có cái nhìn của một viên chức nhìn tôn giáo như thuốc phiện nên không nhận thấy rằng duy vật biện chứng và duy vật sử quan của Marx chỉ là bản sao bất toàn chủ trương bám lấy cuộc đời như một giá trị thiêng liêng của Thượng Đế ban cho để làm khởi điểm giải thoát. Họ có lẽ cũng không nhận thấy rằng về phương thức thực hiện, lối kết nạp Đảng viên, khố⮧ chế tinh thần Đảng viên bằng học tập, bằng tự phê, tự kiểm, bằng khai trừ của Đảng Cộng Sản chỉ là bản sao bất toàn lối rửa tội, học Đạo bằng Sách Bổn, tín hữu không được đọc nguyên bản Thánh Kinh cũng như lối xưng tội, kiểm duyệt sách báo, biện pháp cảnh cáo, dứt phép thông công mà Kitô giáo đã áp dụng cả ngàn năm trước Lenin.

Bởi có những điểm tương đồng như thế nên sáu mươi năm trước một nhà lý luận Mác-xít như Hải Triều đã tố Phật giáo là “đạo của những dân tộc lười, tôn thờ chủ nghĩa vô vi... chủ nghĩa vô vi là tự sát” (Nguyễn Lang – Việt Nam Phật giáo Sử Luận, tập 3, Lá Bối, San Jose 87, tr.28) thì hôm nay tác giả của Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng cũng đã phụ họa nguyên văn rằng “Phật giáo là hoàn toàn tiêu cực”, “thuần túy tiêu cực”. Cải hai đã không giải thích tại sao một tôn giáo lười biếng, vô vi, tiêu cực như thế lại có thể tồn tại được hơn 25 thế kỷ, và tại Việt Nam, lại có thể động viên cả một dân tộc đứng lên dựng nước và giữ nước từ Ngô, Đinh, Lê, đến những thời đại huy hoàng Lý, Trần?

Ở Việt Nam, Cộng sản và Kitô giáo có thể khác nhau như mặt trăng, mặt trời, nhưng cả hai đều đứng cùng chiến tuyến khi đối diện với Phật giáo. Như Ngô Đình Diệm năm 1963 và Lê Duẫn năm 75. Cộng nghiệp lịch sử là một gọng kềm kẹp cứng Phật giáo. Một bên là độc thần, một bên là vô thần; một bên hữu khuynh cực đoan nhân danh tự do, một bên cực tả nhân danh cách mạng giải phóng; một bên sẵn sàng hy sinh đất nước cho tín ngưỡng, một bên sẵn sàng hy sinh dân tộc cho giai cấp. Đó là diễn biến thê thảm của lịch sử Việt Nam từ ngày chủ quyền quốc gia rơi vào tay Pháp.

Nho giáo là ý thức hệ trị loạn hữu hiệu đã giúp Nguyễn Gia Long ổn định đất nước triền miên rối loạn từ Trịnh - Nguyễn phân tranh. Nhưng Nho giáo cũng là cái cùm giữ chân xã hội không cho tiến tới bằng cách đẩy tầng lớp lãnh đạo vào vũng lầy nệ cổ, độc thiện, hình thức. Tiếng súng đại bác từ các chiến thuyền Pháp ngoài khơi vọng vào cho tầng lớp lãnh đạo thức tỉnh thì đã muộn. Việt Nam trở thành vùng đất hoang màu mỡ cho thực dân khai thác kinh tế và tẩy não tâm linh. Thế dựa triều đình gãy đổ dưới áp lực ngoại thuộc. Nho giáo bị chụp cho cái mũ thoái hóa, ngoan cố và phản loạn. Nhà Nho hết lớp này đến lớp khác thay nhau ra pháp trường hay vào tù cho đến ngày ý thức hệ Nho giáo hoàn toàn tan rã khi các khoa thi bị bãi bỏ và chữ “quốc ngữ” chính thức thay thể cả chữ Nho lẫn chữ Nôm của Việt nam.

Kitô giáo bộc phát trong buổi chợ chiều chính trị đó để rồi chẳng bao lâu nhận ra rằng Phật giáo mới chính là kẻ thù yên lặng... Mũi dùi chính từng chĩa vào Nho giáo đã quay lại chĩa vào Phật giáo với ba “tội trọng” là mê tín dị đoan, tiêu cực và vô thần. Kinh Tin Kính của Kitô giáo ở Việt Nam có câu: “Cầu cho những kẻ thờ lạy bụt thần ma quỷ, tín mê Hồi giáo”. Đó là một cách nhận diện đối tượng cho chiến dịch truyền giáo ở vùng thuộc địa mới này.                         

Thất bại của Nguyễn Thái Học đã khai tử luôn khuynh hướng dĩ ngoại trị ngoại ôn hòa mà các cụ Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh là đại diện chính và tạo điều kiện nảy nở cho phong trào dĩ ngoại trị ngoại cực đoan của những kẻ theo Đệ Tứ Quốc Tế và Đệ Tam Quốc Tế. Nhưng Đệ Tứ Quốc Tế dần dần đi vào đấu tranh nghị trường nên ảnh hưởng đã bị giới hạn ở Nam Phần trong vũng lầy dân chủ hình thức hữu hạn Pháp bày ra để ru ngủ những kẻ cả tin vào giải pháp Pháp - Việt đề huề.

Đệ nhị Thế chiến bùng nổ. Sự thảm bại của Pháp ở chính quốc châm ngòi cho tinh thần chống Pháp ở thuộc địa bùng lên. Nhưng những cuộc đàn áp kềm kẹp liên miên của Pháp từ sau vụ Yên Bái đã triệt hết các khuynh hướng ôn hòa nên mặc nhiên nhường vai trò lãnh đạo đấu tranh chính trị cho những người Cộng sản Đệ Tam dĩ ngoại trị ngoại, cực đoan trên chiến lược nhưng uyển chuyển đa diện về chiến thuật. Nhật cướp quyền đô hộ của Pháp nhưng vì áp lực hoàn cảnh Nhật đã hành xử như một thứ chánh quyền bảo hộ nối dài nên chẳng giúp gì cho khuynh hướng dân tộc phát triển, ngay cả trên căn bản liên minh Đông Á chống Tây Phương như chính Nhật cổ súy.

Mùa thu năm 45, Nhật đầu hàng, Pháp chưa kịp trở lại. Cách mạng Việt Nam bùng lên như một đám cháy trong cách đồng hoang hạn hán chính trị vì không có một thành phần nào đủ thực lực lãnh đạo toàn dân. Thành phần thượng tầng trí thức trưởng thành dưới chiếc dù bảo hộ của Pháp đa số chỉ là những cộng tác viên ngoan ngoãn trong guồng máy thư lại bản địa. Trong khi những người Cộng sản chớp được thời cơ lãnh đạo kháng Pháp lại vội vàng vớ lấy tư tưởng Mao và Staline làm giáo điều. Đỉnh cao của hành động “rửa tội” ý thức hệ này là chiến dịch Chỉnh Huấn và phong trào Cải Cách Ruộng Đất đã băm nát dân tộc ra làm ba thành phần rõ rệt là phe cực tả giáo điều vô sản chuyên chính, phe cực hữu cuồng tín “thà chết hơn tam vô” và đại khối dân tộc chỉ muốn ấm no tự quyết, không thích xanh mà cũng chẳng ham đỏ.

Pháp thất bại ra đi, nhường cho Mỹ thế chân ở Nam Phần. Vì nhu cầu đối kháng trong Chiến Tranh Lạnh, Mỹ đã gấp rút và tận tình tái võ trang tinh thần cho tập đoàn thư lại bản địa bằng ý thực hệ hữu khuynh cực đoan và biến họ thành những Dũng Sĩ của Tự Do chống lại Quỷ Đỏ Tam Vô. Trong khi ở Bắc Phần, Cộng Sản loay hoay thí nghiệm xã hội chủ nghĩa để một đàng, cướp thời cơ đối kháng của những thành phần cựu kháng chiến đang bị chiến dịch Tố Cộng cuồng nhiệt của Ngô Đình Diệm đẩy vào đường cùng và đằng khác, để đáp ứng lời hiệu triệu của Nga đẩy mạnh phong trào giải phóng dân tộc chống đế quốc toàn thế giới.

Chiến tranh Việt Nam bị biến thành một cuộc thánh chiến ý thức hệ giữa hai nhóm thiểu số lãnh đạo cực hữu và cực tả. Đệ Nhất Cộng Hòa của Ngô Đình Diệm và Đệ Nhị Cộng Hòa của Nguyễn Văn Thiệu là đại diện chân chính của ý thức hệ hữu khuynh cực đoan. Trong khi giới cộng sản ở Bắc Phần cứ bám cứng Mao và Staline như những chiếc phao cứu mạng mà không cần biết những chủ nghĩa này thực sự giúp ích gì cho đất nước và dân tộc. Cuộc kháng chiến chống ngoại thuộc chính là cơ hội ngàn năm giúp họ khỏi phải trả lời với dân chúng tại sao phải có sự sùng bái ý thức hệ ngoại lai đó.

Ý thức hệ hữu khuynh cực đoan đã chết trên đất nước từ ngày 30-4-75. Số sống sót phải di tản và tàn lụi dần cho đến ngày Mỹ bỏ lệnh cấm vận. Trong khi đó, người Cộng sản từng ôm riết chủ nghĩa Mao-Staline ngót 30 năm giờ mới thực sự có cơ hội hăm hở đem ra thí nghiệm toàn triệt. Người dân Nam Phần, hết là nạn nhân của đám cực hữu, giờ lại trở thành nạn nhân của đám cực tả! Điều này giải thích tại sao phong trào vượt biên lại lên cao như vậy sau khi Cộng sản bắt đầu đẩy mạnh công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở Nam Phần. Cộng sản đã vấp té vỡ mặt trong khi hồ hởi “tiến nhanh, tiến mạnh tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội” và phải ì ạch “đổi mới” để sửa sai...

Phật giáo đã không chạy theo đám hữu khuynh cực đoan và cũng không thỏa hiệp xu phụ đám tả khuynh ngông cuồng quá khích. Cũng vì thế Thích Thiện Minh vào tù của Ngô Đình Diệm năm 63, tù của Nguyễn Văn Thiệu năm 69 và chết trong tù của Lê Duẫn năm 78. Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ vào tù năm 63 của Đệ Nhất Cộng Hòa và tiếp tục vào tù sau năm 75 của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa.

* * *

Đà phát triển của Kitô giáo thường nghịch biến với đà phát triển chính trị, kinh tế, xã hội và trí thức. Trong khi ở Tây Phương phồn vinh tiến bộ Thiên Chúa giáo đang rút lui nhường đất cho Phật giáo phát triển như chính sự lo ngại của Giáo Hoàng xác nhận (sđd. tr. 85) thì từ năm 78 đến năm 92, Kitô giáo ở Á Châu khó nghèo, chậm tiến đã tăng từ 58 triệu lên 92.5 triệu. Năm 78 cũng là năm đăng quang của Giáo Hoàng đương nhiệm (Dân Chúa, 4.95). Đây là lý do tại sao trước sau vẫn duy trì cái nhìn “bảo thủ” về đủ mọi mặt, kể từ chuyện Linh mục lập gia đình, chuyện nữ tu được thụ phong Linh mục, chuyện hạn chế sinh sản, chuyện Phật giáo và các tôn giáo phương Đông. Vì nhu cầu ổn định nội bộ giáo  quyền nên khi lên tiếng, Giáo Hoàng không nhắm vào giáo dân hay người dân thường còn ngoại đạo mà đích thực là nhắm vào giáo quyền các cấp, nhắc cho họ biết họ đang đứng ở đâu, phải nghe ai, phải làm gì. Dù sao đi nữa thì những mệnh lệnh “bảo thủ” này sẽ không tránh cho Kitô giáo gặp những phản lực trên đường phát triển. Đụng độ lớn có thể xảy ra ở Á Châu không phải là giữa Kitô giáo với các tôn giáo Đông phương như Ấn giáo, Hồi giáo, Phật giáo mà là giữa Kitô giáo với Tin Lành, nhất là ở Phi Luật Tân nơi đang có một Tổng Thống Tin lành nhất quyết đối đầu với những áp lực Công giáo bảo thủ đã bị mang tiếng là đã quá gần gũi với tập đoàn Marcos bao nhiêu năm cho đến ngày dân chúng không còn chịu đựng được nữa.

Không ai có thể phủ nhận trách nhiệm lớn lao của đồng bào Kitô hữu trong cuộc chiến tranh 45 - 75. Điều này giải thích tại sao số đồng hương Kitô hữu lưu vong đã chiếm 25 phần trăm tổng số người di tản vượt biên - nghĩa là cứ bốn người tỵ nạn thì có một Kitô hữu, trong khi ở Việt nam tỷ lệ đó chỉ là 10 phần trăm (Tivi Tuần San, 26.4.95). Đa số thành phần lãnh đạo các tổ chức đoàn thể - cũng như cá nhân, hoạt động sôi nổi ồn ào nhất trong các cộng đồng Việt Nam lưu vong là các đồng hương Kitô hữu. Chẳng phải chỉ cay cú thua đậm, chỉ buôn bán hận thù, chỉ ồn ào chạy tội khi có quyền trong tay mà để “mất nước”, mà còn vì một kế hoạch hai mặt lâu dài nhằm bảo vệ những gì đang còn giữ được, tranh thủ vị thế độc lập chính trị công khai hợp pháp, tạo điều kiện chuyển đảo kiểu Ba Lan với tổ chức công đoàn Đoàn kết do Walesa lãnh đạo mặt nổi. Cũng vì vậy, trong khi hàng giáo phẩm cao cấp của Vatican vẫn thường xuyên “đối thoại” với chính quyền cộng sản ở trong nước để cố phục hồi uy quyền của Vatican trong sinh hoạt Kitô giáo ở Việt nam - qua quyền tấn phong Linh Mục, Giám Mục, Hồng Y và quyền bổ nhiệm các vị chánh xứ, thì một số tín hữu Kitô người Việt ở hải ngoại lại tảo tần vận động liên kết đồng hương các tôn giáo khác để chống Cộng một cách ồn ào náo nhiệt (Dân Việt, 20.4.95). Mục tiêu chính của chiến dịch hai mặt này là gây áp lực đối ngoại để mặc cả với chính quyền Cộng sản về việc cấp cho Vatican tái lập quyền uy tối thượng đối với Giáo hội Kitô Việt Nam hầu cản bước Giáo Hội này biến thành một Giáo Hội độc lập với Vatican như Kitô giáo Trung Hoa. Giáo Hội Kitô ở Việt Nam cho đến bây giờ vẫn là Giáo Hội Công Giáo Tại Việt Nam chứ chưa bao giờ được tự nhận là Giáo Hội Công Giáo Việt Nam cả.

Các đồng hương Kitô hữu đang thành tâm đấu tranh cho tự do tôn giáo ở quê nhà có khi nào nghĩ đến chuyện người Việt đang có đến 234 ngàn giáo dân dưới sự chăn dắt của khoảng 470 Linh Mục Việt Nam ở Mỹ và Úc Đại Lợi thế nhưng vẫn chưa hề có được Giám Mục - dù chỉ là Giám Mục phụ tá, chưa hề được một giáo xứ hay một họ đạo chính thức dù số người xem lễ ngày Chủ Nhật đông gấp trăm lần giáo dân Mỹ hay Úc nơi địa phương liên hệ. Giáo dân Việt Nam muốn làm lễ bằng tiếng Việt thì phải bỏ tiền ra thuê nhà thờ. Một đôi giáo xứ đơn phương mở rộng vòng tay đón nhận các sắc tộc khác tạo nên một không khí sống đạo “đa văn hóa” như nhà thờ Trái Tim Đức Mẹ ở San Diego thì liền bị các giáo dân Mỹ chính cống tẩy chay bỏ đi họ đạo khác (Nghi Thanh, sđd). Đâu là tinh thần giáo hội hoàn vũ đã có lúc được đẩy mạnh đến độ khiến cho một số đồng hương Kitô hữu nghĩ rằng “Thà mất nước không thà mất Chúa” khi họ được điều động lên Dinh Gia Long biểu tình chống Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu năm 65 để mở đường cho Nguyễn Văn Thiệu làm Tổng Thống?

Đối với đa số đồng hương Kitô giáo, biến cố 75 rồi tiếp đó là những kinh nghiệm đắng cay về chuyện đổi đời cũng như sống đạo nơi xứ người cũng là cơ hội giúp họ nếu không cảm nghiệm sâu xa hơn những chuyện đất nước, dân tộc, đồng bào thì ít ra cũng cho họ cơ hội đến gần hơn với nếp sống đạo cởi mở, bao dung, công bằng, vị tha hơn là nếp sống vâng phục Cha xứ, Cha xứ chỉ biết ngoan ngoãn với Bề Trên, và Bề Trên thì chỉ biết có Giáo đình Vatican và Giáo Hoàng.

Chung quanh các họ đạo, giáo xứ còn có làng nước, hàng xóm láng giềng. Phần cao quý của những gì “Công Giáo Tại Việt Nam” gầy dựng được trong 80 năm ngoại thuộc và 30 năm chiến tranh chắc hẳn vẫn còn : Lòng Kính Chúa Yêu Người. Đó là điều không ai có thể hủy bỏ được trừ chính người đã được ơn trên soi sáng để ấp ủ lòng kính yêu đó. Và đó cũng có thể là Ngưỡng Cửa Hy Vọng của Kitô giáo Việt Nam khi đất nước bước vào thế kỷ 21 vậy.

 


04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com