posted: 05.3.2005
Lý Khôi Việt Ngày nay, ít ai dám viết về những
vấn đề mình không nắm vững hay không nghiên cứu kỹ, bởi vì kiến thức
con người đã được phát triển quá sức phong phú, đa dạng và đã được
phổ biến vô cùng sâu rộng đến mọi người đang sống trên trái đất.
Thế nhưng mới đây, Giáo Hoàng John Paul II đã viết về Phật giáo dù Ông
không nắm vững và nghiên cứu kỹ về tôn giáo cao siêu này, vượt qua và
vượt qua rất xa, cả khoa học, đến nổi nhà bác học vĩ đại nhất của
thế kỷ 20 này, là Einstein, đã phải tuyên bố: “Buddhism begins where
Science ends” (Phật giáo bắt đầu ở nơi khoa học kết thúc). Giáo Hoàng
John Paul II đã viết sách, và như mọi tác giả trên đời này, đã bán
sách kiếm tiền, nên tôi cũng phê bình như phê bình đến các tác giả
khác. Và chỉ đề cập đến tư tưởng của Giáo Hoàng liên quan đến Phật
giáo, mà không đề cập gì đến những sai lầm trong các lãnh vực khác. Kiến thức về Phật học và
Phật giáo của Giáo Hoàng ở mức độ sơ đẳng và giản lược. Không những
thế, sai lạc một cách rất căn bản, nên tôi cũng phải phê bình ở mức
sơ đẳng và căn bản bằng cách chỉ sử dụng bộ Đức Phật và Phật Pháp của Narada Maha
Thera để viết bài phê bình này. Muốn đánh giá một tôn giáo,
ta nên nghiên cứu tìm hiểu vị giáo chủ, người sáng lập nó, là người
như thế nào, đã dạy những gì, đã sống và phụng sự ra sao, đã cống
hiến được gì cho nhân loại. Nên ta tìm hiểu Đức Phật trước khi trình
bày Phật giáo có đúng như sự diễn dịch của Giáo Hoàng John Paul II hay
không? Giáo Hoàng Paul II phê bình Đức Phật và Phật giáo là : “Xa lánh
thế giới”, “dửng dưng toàn triệt với thế giới”, “Truyền thống
Phật giáo và những phương pháp xuất từ đấy đem lại một cứu linh
thuyết hoàn toàn tiêu cực”, “sự giác ngộ của Đức Phật có thể
tóm gọn trong niềm tin cho rằng thế giới là xấu xa, nguyên nhân mọi bất
hạnh và đau khổ cho con người”, “Chúng ta chỉ giải phóng được mình
bằng cách xa lánh thế giới xấu xa”… nên ta lại càng cần biết Đức
Phật có thật “xa lánh” thế giới hay không, có “tiêu cực” với cuộc
đời hay không, và so sánh với các vị Giáo chủ khác thì Ngài đã “xuất
thế” hay “nhập thế” trước khi đề cập đến Giáo lý của Ngài về
những vấn đề quan trọng này. Không có vị giáo chủ nào có
một cuộc đời hoạt động tích cực, tinh tấn và kiên trì như Đức Phật
Thích Ca Mâu Ni. Ta có một thái tử Tất Đạt Đa trầm tư giữa cảnh
vương giả, và đã từ bỏ đời sống vương giả ấy để trở thành đạo
sĩ Cồ Đàm, người đã chịu khó nỗ lực tu học với các đạo sĩ tiếng
tăm đương thời, người đã tinh tấn tu khổ hạnh trong rừng núi suốt
nhiều năm, người đã “xa lánh cuộc đời” đã “xuất thế” khỏi đời
sống tại gia để sống một mình trong rừng núi hoang vu, người đã có
thái độ “tiêu cực” đối với cuộc đời. Nhưng, khi tu sĩ Cồ Đàm đắc
đạo để trở thành Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thì Ngài đã không một
lúc nào từ bỏ thế giới này. Đức Phật đã liên tục, không ngừng nghĩ,
suốt 49 năm, đi rao truyền Phật pháp, giảng dạy đạo Tỉnh Thức, Từ
bi, Trí tuệ cho mọi người, trực tiếp và bình đẳng đem Phật pháp đến
tận tay, mỗi và mọi chúng sinh không phân biệt. Thái độ của Đức Phật đối
với cuộc đời thật là tích cực, hăng say và dũng mãnh. Ngài dám đi ngược
dòng đời, đi ngược lại tất cả tập quán, lễ nghi, truyền thống và cả
những trào lưu tư tưởng đương thời. Tinh thần đại lực đại hùng,
quyết chiến đấu và quyết vượt thắng tất cả khó khăn, trở ngại không
những được thấy trong suốt thời gian 6 năm Ngài tu tập, mà còn được
thấy một cách thường trực, sinh động trong suốt 49 năm hoằng pháp độ
sinh của Ngài. Hãy nghe Đức Phật tuyên bố dũng mãnh trước các tỳ kheo,
như một vị tướng trước ba quân trong giờ phút lâm trận: “Như đàn voi say trận không kể
lằn tên mũi đạn, ta phải can đảm chịu đựng những điều bất hạnh của
đời. (Vì) Một phần lớn đã sống ngoài khuôn khổ giới luật. Ta phải
có thái độ của đàn voi lâm trận, mạnh tiến giữa rừng gươm đao, giáo
mác bình tỉnh hứng chịu những nỗi chua cay của đời, và thản nhiên vững
bước trên con đường phạm hạnh”. Hàng triệu người đã tự tử
vì chán đời, bi quan, yếm thế trước cuộc đời, nếu được nghe lời dạy
này, chắc họ đã hứng khởi, đã bật dậy dũng mãnh đối đầu với những
khó khăn, xấu xa của cuộc đời với niềm tin yêu và ý chí quyết chiến
quyết thắng. Ngài khuyên các đệ tử : “Này chư tỳ kheo, các con phải
kiên trì, tinh tấn để chứng ngộ: đây là đau khổ, đây là nguyên nhân
của đau khổ, đây là sự chấm dứt đau khổ, đây là con đường dẫn đến
sự chấm dứt đau khổ”. Cuộc đời Đức Phật chính
là một hành trình giảng dạy, cổ võ, kêu gọi, thúc dục mọi người hãy
tuyên chiến với đau khổ, hãy đè bẹp nghiền nát, phá hủy, vượt thắng
đau khổ và chấm dứt mọi sự đau khổ. Cuộc chiến đấu dũng mãnh để
đè bẹp và chiến thắng đau khổ mà Đức Phật đã thực nghiệm, đã
thành tựu và đã kêu gọi mọi người dấn thân lên đường, thật là bi
hùng, vì khác với tất cả các tôn giáo khác, các vị giáo chủ khác,
Ngài dạy chỉ tin tưởng ở khả năng tự cứu của con người, chứ không
cầu xin một thần linh nào. Bồ Tát Tagore đã thấu hiểu lời
dạy tự lực chiến đấu đến cùng của Đức Phật khi viết rằng: “Trong cơn nguy biến, không
nên cầu xin được bảo vệ. Hãy cần có đủ nghị lực, đủ quả cảm,
để vượt qua mọi ngại. Trong đau khổ không nên khấn vái, trông chờ ai
cứu độ. Chỉ cần có đủ tâm trí và can đảm để chế ngự nó. Không
nên sống thụ động trong lo âu sợ sệt hay chờ mong một tha lực nào đến
cứu vãn. Phải luôn luôn kiên trì, phấn đấu liên tục, cho đến kỳ cùng,
để tự giải thoát lấy ta”. “Và ngay cả khi đi ngoài biển
cả, thuyền bị đắm, ta cũng không bao giờ tuyệt vọng, không bao giờ ngừng
nghĩ tranh đấu”. Đi ngoài biển cả, thuyền Bồ
Tát bị đắm. Trong bảy ngày liên tục, không một phút chán nản, không hề
tuyệt vọng, Ngài luôn luôn tranh đấu cho đến lúc có người đến cứu.
Đức Phật còn tuyên bố mạnh mẽ ý chí sắt đá vượt thắng của Ngài
: “Đối với ta, chết trong sự chiến đấu (chống dục vọng) còn thập
phần danh dự hơn là sống thất bại”. Chiến đấu, và chiến đấu một
mình, đó là tuyệt đỉnh vinh quang của con đường hành động Phật giáo,
mà Đức Phật đã tự hành trì: “Giữa rừng già một mình chiến đấu. Không có gì làm lay chuyển quyết
định của Ngài, Bồ Tát không khác nào ngọn núi đá. Bão táp phong sương
liên minh dồn dập, núi vẫn vững như trồng, chống chỏi trời cao”. Như những chiến sĩ anh hùng, cột
trên ngọn giáo của mình chùm cỏ Munja trước khi ra trận để bày tỏ quyết
tâm không bao giờ lùi bước trước quân địch, Đức Phật cũng đã làm
như thế và dạy chúng ta cũng dũng mãnh chiến đấu như thế: “Ta cột trên
ngọn ngọn cờ của ta chùm cỏ Munja. Thà ta chết trên chiến trường còn
hơn sống mà thất bại”. Chiến đấu với dục vọng, si mê, sầu hận,
chiến đấu với cuộc đời xấu xa, tội lỗi, đau khổ, vượt qua chúng,
chiến thắng mọi đau khổ, đó là thông điệp đầu tiên của Đức Phật
và của Đạo Phật. Không có một quan điểm hành động nào tích cực hơn,
lạc quan hơn, hào hùng hơn. Toàn thể cuộc Đời Đức Phật là một sự
thể hiện và chứng minh hoàn hảo cho quan niệm dũng mãnh chiến đấu và
anh hùng chiến thắng. Một mình, không cầu xin một Thượng Đế, một thần
linh nào. Ta chỉ cần xem một ngày trong
cuộc đời Đức Phật là cũng đủ biết Ngài “xa lánh cuộc đời”, hay
trái lại, Ngài ở trong cuộc đời và phụng sự mọi người, phụng sự xã
hội một cách tích cực nhất, tinh tấn nhất, hăng say, nhiệt thành nhất?
Suốt một ngày 24 giờ, Đức Phật chỉ ngủ một tiếng đồng hồ, còn lại
23 tiếng, Ngài liên tục dùng để phụng sự chúng sinh trong cuộc đời. Ngài
chỉ ngủ từ 3 giờ sáng đến 4 giờ sáng. Từ 4 giờ sáng đến 5 giờ sáng,
Ngài nhập đại bi định (Maha Karuna samapatti) rải tâm từ đến khắp nơi
và làm êm dịu tâm trí chúng sanh. Sau đó Ngài quan sát thế gian bằng Phật
nhãn xem coi có thể tế độ ai. Sau đó ngài thiền hành và đi trì bình khất
thực trên các nẻo đường. Khác hẳn các vị giáo chủ khác hay cả những
tu sĩ bình thường, được dân cúng thực phẩm và phục dịch đầy đủ mọi
nhu cầu vật chất, sinh sống ngay tận nơi cư trú của họ, Đức Phật,
người mà bậc vua chúa quyền thế, giàu sang đương thời đều tôn sùng
kính nể và khấu đầu đỉnh lễ mỗi khi đến trước mặt, mỗi ngày đều
đi khất thực xin ăn, một cách khiêm tốn, khắc kỷ, như một người nghèo
nhất trên thế giới. Việc khất thực mỗi ngày Ngài vẫn tiếp tục cả
khi già yếu, khi Ngài đã 80 tuổi. Trên thế giới không có một
giáo chủ hay một vị lãnh đạo tôn giáo nào đã có sự khiêm tốn, khắc
kỷ và chịu khó này. Việc khất thực mỗi ngày chỉ không xảy ra khi có
Phật Tử mời thọ trai. Có những lúc, vì mất mùa, cả vùng chịu cảnh
đói kém. Đức Phật cũng như các tỳ kheo khác đều phải nhịn đói.
Trong khi đi khất thực hay thọ trai, Ngài tùy nghi giáo hóa, giảng dạy đạo
Tỉnh Thức cho dân chúng. Ngài thọ trai trước 12 giờ trưa, sau đó thuyết
pháp cho các đệ tử. Sau trưa, Ngài nhập Đại Bi Định quan sát thế giới
và rãi tâm từ trên khắp chúng sinh. Buổi chiều Ngài thuyết pháp cho các
đệ tử tại gia. Buổi tối, từ 6 - 10 giờ đêm, Ngài dành riêng chỉ dạy
cho các đệ tử xuất gia. Từ 10 giờ đêm đến 2 giờ khuya, là lúc dân
chúng tịnh chỉ, nằm ngủ. Ngài thuyết
pháp cho chư Thiên và chư Phạm Thiên là những chúng sanh có trình độ cao
hơn con người và mắt thường không thể nhìn thấy. Nhiều bài thuyết
Pháp cho cõi trời được ghi lại trong bộ Tạp
A Hàm (Samyutta). Từ 2 đến 3 giờ sáng Phật đi kinh hành. Sau đó từ 3
đến 4 giờ sáng Ngài ngủ và thức dậy một giờ sau đó để nhập đại
bi định và rãi tâm từ đến khắp nơi. Đó là một ngày trong cuộc đời
Đức Phật Thích Ca. Có ai trên thế gian này đã sống một cuộc đời phụng
sự tích cực như thế không? Trong khi một tu sĩ bình thường
đều có thể an nghĩ trong một tu viện tiện nghi, có người phụng dưỡng
cơm nước và các nhu cầu sinh sống thì Đức Phật, trong suốt 49 năm hoằng
pháp, đã không ngừng đi, và đi bộ, trên mọi nẻo đường, để giáo
hóa dân chúng và ban tặng Phật Pháp một cách bình đẳng đến mọi người,
không phân biệt người đó là người gánh phân hay là một quốc vương. Cứ
nhìn các dịp an cư kiết hạ của Ngài thì đủ thấy Ngài đã không hề
an nghĩ, dù được dâng hiến các tự viện đầy đủ tiện nghi : Khi thì
Ngài ở trong vườn cây Lộc Uyển, khi thì ở trong rừng trúc Trúc Lâm, khi
thì ở tại đồn Mankula, khi thì ở trong rừng Bhesakala, khi thì ở trong tịnh
thất Mahavana, khi ở sâu trong rừng Parileyyaka, dưới một gốc cây Sala, khi
thì ở làng Ekanala, hay chịu nạn đói khi nhập hạ thứ 12 tại Veranja, hay
tại một tảng đá Caliya, hay tại thành Alavi, hay tại Rajagaha, hay tại tịnh
xá Kỳ Viên, hay tại Ca Tỳ La Vệ quê hương Ngài, nơi đây dù được tôn
kính, phụng dưỡng và có thân phụ là quốc vương, Ngài chỉ nhập hạ một
lần duy nhất… Tại sao Đức Phật đã sống một
cuộc đời đạm bạc, đơn giản nhưng hoạt động tích cực, hăng say, không
mệt mỏi không chán nản, hơn bất cứ một vị giáo chủ nào trên thế giới?
Thái độ dấn thân phụng sự con người và xã hội của Ngài, cũng như các
tăng, ni, Phật tử, có nguồn gốc sâu xa từ giáo lý giải thoát và phụng
sự tha nhân, xã hội mà Đức Phật đã khai sáng và được liên tục rao
truyền từ 2538 năm nay. Qua việc trình bày giáo lý Phật
giáo, ta sẽ thấy sự hiểu biết của Giáo Hoàng John Paul II về Phật giáo
sai lạc một cách đáng ngạc nhiên. Như cựu thủ tướng Anh Quốc Churchill
đã từng nói : “Kiến thức của tôi giống như một miếng pho-mát Thụy
Sĩ, nó có rất nhiều lỗ hổng”. Ai cũng đồng ý, vì không một nhà
thông thái nào có thể nắm vững mọi vấn đề trên thế giới, nhưng tiếc
thay những lỗ hổng trong kiến thức của Giáo Hoàng Thiên Chúa Giáo La Mã
về Phật giáo lại quá lớn lao và ác ý. Ông viết : “Giáo lý Phật giáo về ơn cứu
độ tạo thành tâm điểm, hoặc đúng hơn là điểm duy nhất trong hệ thống
này. Tuy nhiên, cả truyền thống Phật giáo lẫn những phương pháp khơi
nguồn từ đó đưa ra một nền thần học cứu rồi hầu như độc hữu tiêu
cực”. Thật
là lạ lùng, “ơn cứu độ”, “thần học cứu rỗi”, “độc hữu tiêu
cực” là cái gì vậy? Đó là những điều xa lạ đối với đạo Phật.
Không những thế, Ông còn suy diễn một cách hồ đồ, lệch lạc và gán
phép cho giáo lý Phật giáo quan điểm giải thoát lạ lùng, quái đản như
sau: “Để giải thoát chính mình
khỏi tội ác, con người phải giải thoát chính mình khỏi thế giới này,
đòi hỏi sự ràng buộc nối liền chúng ta với thế giới bên ngoài…
chúng ta chỉ giải thoát chính mình qua việc tách rời khỏi thế giới vô
thường… Niết bàn chỉ là tình trạng hoàn toàn thờ ơ trước thế giới.
Ơn cứu độ trên tất cả là sự giải thoát khỏi sự dữ, bằng cách
hoàn toàn tách biệt với thế giới huyễn tượng chính là nguồn sự dữ…”
Những người hiểu biết đạo
Phật chắc không khỏi buồn cười trước sự diễn dịch nông cạn, lệch
lạc, méo mó này. Không những hoàn toàn sai lạc, mà còn đi ngược lại với
giáo lý căn bản và tinh thần của Đạo Phật. Giáo sư Alan Senauke, nhà thiền
học, tại đại học Vũ trụ quan Phật giáo, cách đây
25 thế kỷ, đã nói đến vô lượng vô biên thế giới, nhiều như cát
sông Hằng. Khoa thiên văn học hiện đại cũng như khoa vật học hiện đại
đã chứng minh sự đứng đắn, chính xác của vũ trụ quan thế giới: chỉ
riêng giải Ngân Hà, đã có khoảng 400 tỷ ngôi sao, và trong vũ trụ có thể
có hàng trăm triệu chòm sao như dãy Ngân Hà. Vũ trụ có hàng triệu triệu
ngôi sao và hàng triệu triệu thế giới. Cho nên dĩ nhiên là có những thế
giới tiến hóa thấp hơn loài người và có những thế giới tiến hóa cao
hơn loài người. Lý tưởng giải thoát của Phật giáo không những là phải
vượt qua thế giới trái đất Ta Bà này mà còn vượt qua tam giới (gồm dục
giới, sắc giới và vô sắc giới), nghĩa là vượt qua các thế giới của
cõi trời, của thần linh, của các thiên thần nữa, vì đây cũng chỉ là
những thế giới thấp kém, chỉ cao hơn thế giới loài người thôi nhưng
vẫn thấp hơn các cảnh giới của Chư Phật, Bồ Tát. Lý tưởng của đạo Phật là
cứu độ, chuyển hóa tất cả mọi người thành Phật, Bồ Tát, thành “thiên
nhân sư”, thầy của người và của các thiên thần. Tuy cao sâu, siêu việt
không thể nghĩ bàn, nhưng khi con người còn sống trong thế giới này thì
Phật giáo chủ trương và chính Đức Phật đã làm gương thị hiện chứng
minh trong suốt cuộc đời 80 năm của Ngài, là con người phải đối mặt
với cuộc đời, phải chiến đấu không lùi bước trước những trở ngại,
khó khăn và không ngừng cống hiến, đóng góp, phụng sự cuộc đời và tất
cả chúng sinh, không những chỉ riêng con người, mà còn yêu thương, bảo
bọc tất cả sự sống, kể cả các loài vật và cây cỏ. “Phật pháp bất
ly thế gian pháp” là một chân lý đã được thực hành liên tục từ hơn
2500 năm nay. Luôn luôn phục vụ tha nhân, phục vụ cuộc đời là đức tính
căn bản của người Phật tử vì nó gắn liền với tinh thần từ bi. Tuy
nhiên người Phật tử sống trong cuộc đời, dấn thân phụng sự xã hội
mà không bị ô nhiễm bởi những xấu xa, tội lỗi của cuộc đời, của
xã hội. Vô uý, không sợ hãi và ô nhiễm, không chìm đắm trong cuộc đời,
là hai đức tính đặc thù của người Phật tử mà Đức Phật là một
ví dụ điển hình, rực rỡ. Như sư tử hãy mạnh dạn, dũng mãng tiến
lên như hoa sen, tinh khiết, vượt lên từ bùn nhơ và không vướng bợn
nhơ của bùn. Đó là hai hình ảnh nổi bật huy hoàng của Đức Phật và của
người Phật tử hiểu đạo, sống với đạo lý tỉnh thức. Không xa lánh cuộc đời, trái
lại tích cực xông pha trong cuộc đời để phụng sự tất cả mọi người.
Đó là đặc tính của Đức Phật và các đệ tử, cũng như của những
người con tinh thần của Ngài. Ngài kêu gọi dấn thân vào đời để hoằng
pháp độ sinh, phụng sự xã hội và con người trong xã hội một cách hào
hùng như sau : “Hãy ra đi, các tỳ kheo, đem
lại cho nhiều người, đem hạnh phúc lại cho nhiều người. Vì lòng từ
bi, hãy đem lại sự tốt đẹp, lợi ích và hạnh phúc cho chư Thiên và
nhân loại. Mỗi người hãy đi một ngã,
này hỡi các tỳ kheo, hãy hoằng dương giáo pháp, toàn hảo ở đoạn đầu,
toàn hảo ở đoạn giữa, toàn hảo ở đoạn cuối cùng, toàn hảo trong cả
hai, tinh thần và văn tự. Hãy công bố đời sống thiêng liêng, cao thượng,
vừa toàn thiện, vừa trong sạch. Chính Như Lai cũng đi để hoằng dương
giáo pháp. Hãy cất lên ngọn cờ của bậc thiện trí. Hãy truyền dạy
Giáo pháp cao siêu. Hãy mang lại sự tốt đẹp cho người khác. Được vậy
là các con đã hoàn tất nhiệm vụ”. Đi vào đời, nhập thế, đi vào
đời, hoằng pháp, đi vào đời, độ sanh, đi vào đời, cứu độ và phụng
sự mọi chúng sanh. Đó là thông điệp hành động của Phật giáo mà
chính Đức Phật đã đích thân rao truyền và áp dụng. Do đó, các vị xuất
gia hay cư sĩ tại gia trong đạo Phật, dù theo giáo lý nguyên thủy hay giáo
lý Đại thừa (nên mức độ dấn thân, nhập thế có khác nhau), nhưng tất
cả nếu là Phật giáo đồ thông hiểu Phật pháp và biết noi gương sáng
của Đức Phật Thích Ca, thì đều tích cực, tinh tấn trong việc phụng sự
con người và xã hội, sự ẩn tu trong rừng núi hay việc “nhập thất”
của một số tăng sĩ thường chỉ là giai đoạn tu hành, như các học tăng
phải ở nhiều năm trong tu viện hay sinh viên phải sinh hoạt trong các
campus, để tu học có hiệu quả, trước khi “xuống núi”, vào đời phụng
sự tha nhân và thế giới. Cho nên, việc bóp méo, xuyên tạc,
diễn dịch bậy bạ, sai lầm đạo Phật của tác giả John Paul II như là
“tiêu cực”, “xa lánh cuộc đời”, “thờ ơ với thế giới”, “tách
biệt với thế giới”… là những lời vu khống ác ý và không xứng
đáng là phong cách của một lãnh tụ tôn giáo khi phê bình một tôn giáo
khác. Nó thiếu trung thực, thiếu nghiêm túc, thiếu hiểu biết, mà tệ
hơn nữa là thiếu một tấm lòng khiêm tốn. Ông vẫn cho rằng các tín đồ
Thiên Chúa Giáo, mà hầu hết đã bị khoa học bác bỏ, là hay nhất và đúng
nhất. Ai cũng có quyền đề cao và quảng bá tôn giáo mình. Nhưng bằng cách
bóp méo, xuyên tạc và xúc phạm tôn giáo khác để nâng cao tôn giáo mình
lên, thì đó là thái độ không thể chấp nhận được trong thời đại của
trí tuệ, khoan dung và tỉnh thức ngày nay. Chương viết về Phật giáo,
tác giả John Paul II cũng đã tố cáo và chê trách Phật giáo là “vô thần”.
Ông đã hiểu sai và sai nặng Phật giáo. Phật giáo không phải vô thần,
không độc thần cũng không đa thần mà là siêu thần. Siêu việt qua thần
linh, dù là thiên thần hay thánh thần, hay cả thần Đế Thiên Đế Thích
hay cả Thượng Đế. Đức Phật được tôn xưng là “thiên nhân sư” (Thầy
của Trời và Người) được nằm trong ý nghĩa này. Và Đức Phật cũng muốn
đưa tất cả mọi người lên ngang hàng, bình đẳng với Phật để trở
thành Phật, thành “Thiên Nhân Sư” như Ngài. Với thuyết cứu khổ của
Phật giáo, một con đường tu tập thực tiển để tự cứu độ, tự giải
phóng ngay trong cuộc đời, và không cần cầu xin một thần linh nào, thì
quan niệm về thần (có hằng hà sa số trong kinh sách Phật) hay Thượng Đế
(chưa từng có ai thấy trong lịch sử loài người) không có chỗ đứng đáng
kể. Cũng như nhà bác học Laplace khi lập thuyết về vũ trụ, hoàng đế
Napoléon hỏi tại sao không nói đến Thượng Đế thì Ông đã trả lời một cách trí tuệ,
một cách khoa học, một cách rất Phật giáo: “Tâu hoàng thượng, tôi
không cần giả thuyết ấy”. Để tạm kết thúc tôi xin giới
thiệu một đoạn văn nhỏ trong bài “Tại
sao Tôi Không Theo Đạo Kitô” của Triết gia Bertrand Russell viết năm
1927, cách đây đã gần 70 năm. Để bác thuyết Thượng Đế sáng tạo vũ
trụ của Thánh Kinh, Ông đã viết khá ngộ nghĩnh nhưng rất chính
xác : “Nếu muốn ta cũng có thể
nói có một vị thần cao siêu hơn đã ra lệnh cho Thượng Đế tạo ra thế
giới này. Hoặc ta cũng có thể giả thuyết… cho rằng thế giới do ma quỷ
tạo ra trong một lúc Thượng Đế ngoảnh mặt đi… Phần đông người ta
tin vào Thượng Đế là vì họ được dạy như thế từ khi họ còn trẻ
thơ và đó là lý do chính. Lý do quan trọng thứ nhì là niềm ao ước được
an toàn, được có một người anh lớn bảo bọc che chở”. Về Chúa Kitô, Bertrand Russel đã
nhận xét như sau : “Tôi nghĩ chúa Kitô có một khuyết điểm đạo đức
rất trầm trọng, đó là Ngài tin vào địa ngục (đời đời). Riêng cá
nhân tôi, tôi nghĩ không một người nào thật sự có lòng nhân ái bao la lại
tin vào sự trừng phạt vĩnh viễn... Trong sách
Phúc Âm, Chúa Kitô nói : "Ngươi là rắn, do rắn độc sinh
ra, ngươi không thể thoát bị đày xuống địa ngục" với những người
không thích lời giảng của Ngài. Thật là những điều không đẹp đẽ gì...
Tôi thật sự không tin rằng một người có một lòng nhân ái tràn đầy mà
lại (như Chúa Kitô) đi gieo rắc sợ hãi và khiếp đảm như thế trên thế
giới. Chúa Kitô lập đi lập lại mãi những điều này. Tôi phải nói tất
cả những giáo điều này, giáo điều rằng tội lỗi sẽ bị trừng phạt
bởi lửa địa ngục, là một giáo điều tàn nhẫn. Đây là một giáo điều
đem sự tàn nhẫn vào đời và đem vào
đời biết bao nhiêu thế hệ bị hành hạ tàn bạo, và Chúa Kitô, theo những
điều ta phải tin từ sách Phúc âm, phải chịu trách nhiệm một phần của
sự tàn nhẫn này". Để kết thúc hãy đọc một câu
chuyện vui cũng do Russell kể từ Phúc âm: "Ngài (Giêsu) đói bụng và
thấy ở đằng xa một cây sung xanh lá, Ngài sung sướng đi đến với hy vọng
có vài trái sung để ăn. Nhưng khi đến gần thì chỉ thấy có lá vì chưa
đến mùa sung mọc trái. Và Giêsu nổi giận nói với cây sung : "Sẽ
không có người nào ăn trái cây của ngươi nữa"... Và thánh Peter nói
với Ngài : "Thầy ơi, hãy nhìn cây sung bị thầy nguyền rủa đang tàn
héo...". Câu chuyện này thật là lạ lùng vì không ai nỡ đi trách một
cây sung chưa đến mùa nên không mọc trái. Riêng tôi (lời của triết gia
lừng danh Russel), tôi thấy trong cả hai lĩnh vực khôn ngoan và đạo đức,
Chúa Kitô không thể đứng ngang hàng với những vĩ nhân khác của lịch sử.
Tôi cho Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và Socrates đứng cao hơn Ngài trong hai lĩnh
vực này." (Trích từ Phụ bản của Thiên Hồ Đế Hồ trang 114, 115).
|
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com