giao diem 3-2005

posted: 05.3.2005

PHẬT GIÁO CÓ PHỦ ĐỊNH CUỘC SỐNG
VÀ THẾ GIỚI HAY KHÔNG?

Minh Chi

Đọc bài Giáo Hoàng Jean Paul II trả lời câu hỏi: “Phải chăng Phật giáo sẽ thay thế cho Kitô giáo?”, tôi bất giác nhớ tới cuốn Les Grands Penseurs De L’Inde (Những tư tưởng gia lớn của Ấn Độ) của Albert Schweitzer viết và xuất bản từ năm 1936, tức là cách đây gần 60 năm.

Ngay trong chương I của cuốn sách, Albert Schweitzer đã so sánh hai lối tư duy của phương Tây, “khẳng định cuộc sống và thế giới” (affirmation de la vie et du monde), và lối tư duy của Ấn Độ “phủ định cuộc sống và thế giới” (négation de la vie et du monde) (Trang 11 cuốn sách đã dẫn).

Ngay sau khi cuốn sách của Albert Schweitzer ra đời, nó đã bị nhiều nhà bác học có tên tuổi phê phán. Sự phê phán này không lẽ các nhà thần học của Vatican lại không biết. Tôi muốn giới thiệu một trong những phê phán sớm nhất mà cũng là triệt để nhất: tức là các bài giảng đầu tiên của Tiến sĩ S.Radhakrishnan tại bộ môn “Tôn giáo và đạo đức phương Đông” (Eastern Religions and Ethics) ở trường Đại học Anh Oxford trong các năm 1936-1938, cũng là năm xuất bản cuốn sách Tôn Giáo Phương Đông Và Tư Tưởng Phương Tây (Eastern Religion and Western thought) do Oxford University Press xuất bản. Tôi tin là thư viện của Vatican có quyển sách này, và các nhà thần học ở Vatican có thể tham khảo những lời phê phán của Giáo sư S. Radhakrishnan (ông này về sau làm Tổng Thống Ấn Độ), ở chương 3 của cuốn sách, đặc biệt là ở trang 76, trong đó S.Radhakrishnan lần lượt đề ra 8 điểm sai lầm của Albert Schweitzer và lần lượt phân tích từng điểm một. Tôi đề nghị các nhà thần học của Vatican hãy đọc kỹ trang đó và các trang tiếp theo cho tới hết trang 114, kết thúc chương : “Chủ nghĩa huyền bí và đạo đức trong tư tưởng Ấn Độ” (Mysticism and ethics in Indian thought).

Tôi tin rằng, nhận thức của Giáo Hoàng Jean Paul II có chính xác và cập nhật hay không đối với đạo Phật, phần lớn là tùy thuộc vào công phu thông tin khoa học khách quan và chính xác của quý vị các nhà thần học chủ chốt ở Vatican. Ở đây, vì khuôn khổ có hạn, tôi chỉ dừng lại một điểm, có thể là điểm trung tâm của sự phê phán của Giáo Hoàng đối với đạo Phật. Tức là điều mà Giáo Hoàng gọi là:

Một phương pháp giải thoát hầu như hoàn toàn tiêu cực, giải thoát có nghĩa là hoàn toàn cắt đứt với thế giới, nguồn gốc của tội ác… Niết Bàn, một thái độ bàng quan hoàn toàn đối với thế giới. (Xem cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng (bản Việt dịch) hay là trang 142 bản Pháp văn Entrez dans l’espérance).

Trướt hết, tôi muốn nhắc lại nhận xét từ ban đầu của tôi là những tư tưởng trên của Giáo Hoàng không có gì là mới mẽ, mà chỉ là sự nhắc lại rất đại khái nội dung cuốn sách đã dẫn của Albert Schweitzer.

 

Điểm thứ hai tôi muốn nhấn mạnh, là nếu thế gian này thật sự tốt đẹp, xứng đáng để các tín hữu đạo Thiên Chúa gắn bó trọn đời kiếp với nó, thì các tín hữu đó cũng sẽ không cần được Chúa Kitô cứu rỗi, công việc cứu rỗi và cả vương quốc của Chúa cũng trở thành vô nghĩa. Thiên đàng cũng vô nghĩa và địa ngục cũng trở thành vô nghĩa.

Do đó có thể nói, khoảng 5 thế kỷ sau Phật Thích Ca, Chúa Giêsu cũng không nói điều gì mới lạ, bất quá sự khác nhau giữa Kitô giáo và Phật giáo là ở chỗ, đối với Kitô giáo, con người chỉ có thể giải thoát khỏi tội ác, nhờ điều thiện đến từ Thượng Đế (Giáo Hoàng viết là: “à travers le bien qui vient de Dieu” (trang 142 bản Pháp văn đã dẫn), còn đối với đạo Phật thì con người chỉ có tự mình giải thoát khỏi tội ác bằng một nổ lực đạo đức lớn lao, khiến cho mình trở thành hoàn thiện, từ bỏ ba độc tham, thân, si. Tôi muốn nhấn mạnh là vấn đề không phải là từ bỏ thế giới hay từ bỏ cuộc sống như Giáo Hoàng nói, mà là từ bỏ ba độc tham, sân, si.

Vì vậy mà có sách Phật định nghĩa Niết Bàn là từ bỏ tham, thân, si (định nghĩa Niết Bàn của Huyền Trang, vị cao tăng nổi tiếng đời nhà Đường). Phật giáo không bao giờ định nghĩa Niết Bàn như là một thái độ bàng quan hoàn toàn đối với thế gian như Giáo Hoàng nói trong cuốn sách của Ngài (Le Nirvana, c’est à dire une indifference totale envenrs le monde) (trang 142 bản Pháp văn đã dẫn). Niết Bàn là từ bỏ tham, thân, si, là nổ lực tối đa để con người trở thành hoàn thiện, trở thành bậc Thánh ngay tại thế gian này, chứ không phải ở một thế giới nào khác, tại một tương lai xa xôi nào khác. Phật giáo luôn luôn khẳng định: Niết Bàn là ở đây và trong hiện tại.

Tất nhiên, trong Phật giáo Trung Hoa và Việt Nam hay Nhật Bản có một tông phái đặc biệt, gọi là Tông Tịnh Độ đặt vấn đề tu pháp môn niệm danh Phật A Di Đà, tức là cõi Cực lạc ở phương Tây. Trong Phật giáo vùng Đông Á, thật sự có một tông phái như vậy, thậm chí đó là một tông phái rất phát triển và có rất nhiều tín đồ. Chứng cớ là ở Việt Nam các tăng ni Phật tử thường chào nhau bằng câu “Nam mô A Di Đà Phật” hay gọn hơn “A Di Đà Phật”.

Vấn đề này nên hiểu như thế nào cho phải? Vua Trần Nhân Tôn đời Trần sau khi xuất gia, trở thành vị Tổ sáng lập ra phái Thiền Trúc Lâm. Trong bài phú “Cư trần lạc đạo”, Trần Nhân Tôn đã giải thích “Bí mật của Tông Tịnh Độ” bằng hai câu khá rõ nghĩa:

Tĩnh Độ là lòng trong sạch chớ còn ngờ hỏi tới Tây phương,

Di Đà là tính lặng soi mụa phải nhọc tìm về Cực lạc.

("Cư Trần lạc đạo phú". Bản dịch của Hoàng Xuân Hãn. Tập san Khoa học xã hội số 5, trang 27, Hội khoa học xã hội Việt Nam tại Pháp xuất bản).

Tôi thấy không có gì mâu thuẫn giữa sự hoàn thiện mình và nỗ lực đạo đức, sao lại phê phán nỗ lực đạo đức của Phật giáo là tiêu cực? Thế thì hoàn thiện mình bằng cách cầu xin Thượng Đế cứu rỗi là tích cực hay sao?

Vâng! Đạo Phật xác nhận thế gian này là có nhiều tội ác, bắt nguồn từ ba độc tham, sân, si. Nhưng đạo Phật không dừng ở nhận định này. Đạo Phật còn  tiến thêm một bước thứ hai nữa là phân tích thế gian này vì sao lại có nhiều tội ác, bắt nguồn từ tham, sân, si? Đó là vì con người si mê (sách Phật gọi là vô minh), không nhìn thấy sự vật đúng như nó tồn tại là vô thường, biến đổi trong từng giây phút một, mà sở dĩ mọi sự vật đều như thế, là vì chúng vô ngã. Vô ngã không có nghĩa là không có gì hết mà chỉ là không tồn tại độc lập, không phải tồn tại tự nó, phụ thuộc vào nhiều điều kiện mà sách Phật gọi chung là nhân duyên.

Mọi sự vật và hiện tượng trong thế gian này đều là vô thường, vô ngã. Đó là một thực tế mà bất cứ người nào, miễn có đầu óc tỉnh táo và có con mắt biết nhận xét, đều phải công nhận. Chúng ta cần đến những sự vật đó và sử dụng chúng, thế nhưng chúng ta quyết không tham đắm chúng, và tuyệt đối càng không vì chúng mà phạm tội ác, tạo nghiệp ác để cho trong đời này và đời sau phải chịu khổ. Do đó, đạo Phật tiến thêm một bước nữa vạch ra cho mọi người một con đường thoát lìa tội ác. Đó là con đường Bát Chánh Đạo mà hầu như sách Phật nào cũng nói tới. Sách Anh ngữ thường gọi là: “The Eightfold Path”, dịch sát nghĩa là “Con đường Đạo tám nhánh”, và nếu dịch theo chữ Hán là “Bát chánh đạo” dịch sát nghĩa là “Tám con đường Đạo”.

Nội dung của Tám con đường Đạo không có gì là huyền bí, mà ở trong tầm thực hiện của tất cả mọi người, không kể là tăng hay tục, nam hay nữ, thậm chí cũng không kể mình là theo Đạo Phật hay theo các đạo giáo khác.

Nội dung của tám con đường đạo chỉ là:

1.        Sống đạo đức.

2.        Thân tâm được an tịnh.

3.        Trí tuệ chiếu sáng.

Nhờ sống đạo đức cho nên thân tâm được an tịnh (định tâm), nhờ thân tâm an tịnh cho nên trí tuệ bừng sáng và con người được giác ngộ và giải thoát.

Ở đây, nếu có một điều bí mật và khó hiểu là điều này: trí tuệ đó không phải do Trời Phật nào ban cho chúng ta, mà chúng ta vốn có như vậy, nhưng vì ngu si cho nên chúng ta không tự biết đó mà thôi. Cũng như nhà triệu phú có kho vàng trong nhà mà không biết, cứ đi ăn xin hết nhà này sang nhà khác. Nói chung ta giác ngộ là giác ngộ về cái trí tuệ vốn có sẵn trong mỗi chúng ta. Đức Phật không đem cho chúng ta cái trí tuệ đó. Đức Phật chỉ làm mỗi việc là chỉ cho chúng ta thấy cái trí tuệ đó là ở trong chúng ta, cho nên phải hướng nội mà tìm, không thể cầu ở bên ngoài mà được. Cũng vua Trần Nhân Tôn trong bài phú “Cư trần lạc đạo” đã dẫn chứng, viết bốn câu đầy ý nghĩa:

“Bụt ở trong nhà,

Chẳng phải tìm xa,

Nhân khuấy bổn nên ta tìm Bụt,

Chỉn mới hay chính Bụt là ta.” (1)

Vâng, chính Bụt là ta, là chúng ta. Thật tôi chưa thấy một tôn giáo nào đề cao giá trị của nhân sinh, của con người đến như vậy. Bài của tôi trả lời Giáo Hoàng nên kết thúc bằng bốn câu phú tuyệt vời đó.

GHI CHÚ:

(1) khuấy bổn = quên mất gốc.

       chỉnh mới hay = chính mới hay

PHỤ ĐÍNH:

Albert Schweitzer tác giả cuốn Les grands penseurs de l’Inde là tiến sĩ triết học, tiến sĩ y khoa và tiến sĩ thần học. S.Radhakrishnan trong cuốn sách của ông Eastern Religions And Western Thought đã tóm tắt nội dung phê phán của Schweitzer đối với triết học Ấn Độ (bao gồm cả triết học Phật giáo) thành 8 luận điểm mà Radhakrishnan lần lượt giới thiệu cụ thể và phản bác trong suốt chương “Mysticism and Ethics in Hindu thought” (Chủ nghĩa huyền bí và đạo đức trong tư tưởng Ấn Độ). Sau đây, tôi chỉ giới thiệu 8 luận điểm của Schweitzer:

1. Trong tư   tưởng Ấn Độ, có xu hướng cường điệu niềm vui siêu thế (ecstasy). Xu hướng này tất nhiên dẫn tới phủ định cuộc sống và thế giới này.

2. Tư tưởng Ấn Độ chủ yếu hướng tới một thế giới khác với thế giới cõi người này. Đó là điều không thể cùng tồn tại với một nền đạo đức nhân bản, nền đạo đức của con người, vì con người.

3. Chủ thuyết Ấn Độ về Maya (ảo ảnh), tuyên bố cuộc sống chỉ là ảo ảnh, tất nhiên có hàm ý phủ định thế giới này và cuộc sống này.

4. Đối với người Ấn Độ, nguồn gốc của thế giới này chỉ là một trò chơi của Thượng Đế (a game played by God).

5. Con đường giải thoát là jnana hay là tự mình tìm hiểu mình. Đó không phải là con đường phát triển đạo đức, do đó tôn giáo Ấn Độ không phải là tôn giáo đạo đức.

6. Mục tiêu của mọi cố gắng của con người là giải thoát, chứ không phải là hòa hợp (ý Schweitzer nói hòa hợp với Thượng Đế). Đó là sự giải thoát tâm linh khỏi những ràng buộc hữu hạn, chứ không phải là sự biến đổi của cái hữu hạn thành một bộ phận hay một biểu hiện của cái vô biên. Tôn giáo chỉ là nơi né tránh cuộc sống và các vấn đề của cuộc sống. Con người không có chút hy vọng gì về một cuộc sống tốt đẹp hơn.

7. Con người lý tưởng của tôn giáo Ấn Độ siêu việt lên trên cái thiện và cái ác, tức là lên trên mọi phân biệt đạo đức.

8. Tư tưởng Ấn Độ nhấn mạnh một nền đạo đức hoàn thiện nội tâm, điều này mâu thuẫn với một nền đạo đức năng động và tình thương rộng mở đối với người sống bên cạnh mình.

(Giới thiệu tóm tắt từ trang 76 của cuốn sách Tôn Giáo Phương Đông và Tư Tưởng Phương Tây của S. Radhakrishnan).

Thật ra, tư tưởng của Schweitzer trong bài tựa của cuốn sách đã tỏ ra uyển chuyển hơn nhiều so với trong nội dung của cuốn sách của ông, và đặc biệt là không cứng nhắc một chiều như bài phát biểu của Giáo Hoàng Jean Paul II.

Schweitzer viết trong bài tựa:

“Tôi luôn luôn có một cảm tình đặc biệt đối với nền đạo đức Ấn Độ, bởi vì nó không chỉ quan tâm tới mối liên hệ giữa con người và đồng loại và với xã hội mà cả tới thái độ của con người đối với tất cả mọi loài”.

Kỳ lạ thay, một nền đạo đức rộng mở và bao la như vậy sao gọi là tiêu cực được. Đó là một nền đạo đức bao gồm trong tình thương rộng lớn của nó (sách Phật gọi tình thương đó là lòng từ và lòng bi), tất cả mọi loài, tất cả thiên nhiên chứ không phải riêng đối với loài người. Đạo Phật phản đối khái niệm về vị trí trung tâm của loài người trong vũ trụ, bởi lẽ một thái độ như vậy bật đèn xanh cho sự phá hoại tài nguyên thiên nhiên không hạn chế, và giết hại mọi loài vật và súc vật khác một cách không thương tiếc.

Vì vậy, có thể khẳng định, nền đạo đức Phật giáo là đỉnh cao nhất của cái mà các triết gia hiện tại gọi là nền đạo đức môi trường (Environmental Ethics). Một nền đạo đức tuy không đặt mục tiêu cứu kính là con người hòa hợp với Chúa, nhưng vẫn là nền đạo đức tích cực nhất và hơn nữa hiện đại nhất. Peter Singer, trong cuốn “The Expanding Circle”(Vòng tròn mở rộng, Oxford Clarendon Press, 1981) viết:

“Phong trào sinh thái (ecology movement) đã nhấn mạnh là chúng ta không phải là loài vật độc nhất trên hành tinh này, và chúng ta không được đánh giá mọi vật theo quan điểm vật ấy có ích lợi đối với loài người hay không…”

Đó là về mặt đạo đức của vấn đề. Tôi nghĩ rằng trong chủ đề đạo đức, Schweitzer có một lối tư duy uyển chuyển hơn quan điểm một chiều của Giáo Hoàng, vốn cho rằng sự hoàn thiện bản thân “là không đủ để hòa hợp với Chúa” (La purification ne suffit pas à produire l’union à Dieu…” (Xem “Entrez dans l’Espérence” trang 143 - bản Pháp văn).

Ngay khi nói về thái độ phủ định và tiêu cực đối với thế giới về cuộc sống, Schweitzer cũng tỏ ra uyển chuyển hơn khi ông khẳng định trong bài tựa cuốn sách là:

“Theo các triết gia (phương Tây, bắt đầu từ Schopenhauer…) thì tư duy Ấn Độ hoàn toàn bị ngự trị bởi tư tưởng phủ định thế giới. Thế nhưng, tôi lại nhận thấy rằng, trong tất cả mọi thời điểm, tư duy đó cũng bao hàm cả những yếu tố khẳng định. Và sự cùng tồn tại của cả hai yếu tố khẳng định và phủ định thế giới tạo ra nét độc đáo của lối tư duy đó và quyết định sự diễn biến của nó”.

Or, j’ai constaté que de tout temps, elle a renfermé aussi des élémens d’affirmation. Cette coexistence de l’affirmation et de la négation du monde constitue précisément son originalité et determine son évolution. Xem cuốn Les grands penseurs de l’Inde - Albert Schweitzer - Preface – Page 9.

Đọc đoạn văn trên của Albert Schweitzer, chúng ta suy nghĩ như thế nào về nhận định của Giáo Hoàng Jean Paul II, khi Giáo Hoàng nhận định là Phật giáo cung cấp một phương pháp giải thoát hầu như hoàn toàn tiêu cực?

                                                                                                 MINH CHI

 


04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com