posted: 05.3.2005
Nguyễn
Hoài Vân CHA
TAO, CHA MÀY Tôi rất ngán thái độ chia rẽ
con người với con người bằng cách dán cho tôn giáo này nhãn hiệu này,
tôn giáo khác nhãn hiệu khác, rồi phong cho cái này là tốt, là đúng, chê
bai cái kia là thấp kém, là lầm lạc. Thái độ ấy cũng vô lý và đáng
thương như câu chuyện mấy đứa trẻ mồ côi đập nhau chí tử, để
tranh cãi rằng: “Cha tao giàu hơn cha mày, mạnh hơn cha mày, v.v…”,
mà không biết rằng chúng đều là anh em ruột cùng chung cha mẹ! Thông thường, người ta hay bảo
Ky Tô Giáo, Khổng Giáo, là “tích cực, nhập thế”, còn Phật
giáo, Lão Giáo là “tiêu cực, xuất thế”. Để dẹp bớt cái luận
điệu tào lao này, tôi sẽ nêu lên một số tính chất tiêu cực và xuất
thế trong tư tưởng Ky Tô Giáo, rồi nhìn qua vài khía cạnh tích cực, nhập
thế của Phật giáo. Tôi cũng có thể viết một bài tương tự với Khổng
và Lão Giáo, nhưng đó không phải là chủ đề của bài viết này. VÀI MẶT TIÊU CỰC TRONG TƯ TƯỞNG KITÔ GIÁO Xin chọn vài thí dụ, lấy từ
thần học của Thánh Augustin (354-430), được coi như một cột trụ của Giáo
Lý Ky Tô Giáo. Vị thánh này là người đã “sáng chế” ra “tội Tổ
Tông” hay “tội nguyên thủy” (péché originel), để chống lại quan điểm
“nhân chi sơ, tính bổn thiện” của Thầy Tu Pélage (mất năm 418). Trong
khi Pélage cho rằng con người có tự do, và có thể tích cực chọn lựa giữa
làm việc thiện hay làm việc ác, thì Augustin quả quyết con người chỉ có
thể làm việc ác, và chỉ khi nào được hưởng nhờ Hồng Ân Thiên Chúa
con người mới biết làm việc thiện, để hy vọng được cứu rỗi.
Quan điểm này hoàn toàn tiêu cực, nhất là khi Augustin nhấn mạnh là
Thiên Chúa chỉ ban phát Hồng Ân của Ngài cho một số người được chọn
lọc (praedestinati), theo những tiêu chuẩn riêng của Ngài mà không ai có thể
hiểu nổi. Tuy nói vậy, nhưng Augustin cũng vẫn “bật mí” cho chúng ta biết
một tiêu chuẩn trọng yếu: đó là số người được hưởng nhờ ơn Chúa,
và được giải thoát, phải bằng với con số Thiên Thần bị giáng chức
và bị tống cổ ra khỏi Thiên Đàng. Những người còn lại, thuộc về tập
thể bị loại trừ ( Như vậy, bạn đọc thân mến,
tôi rất hân hạnh được báo cho bạn biết, nếu bạn chưa biết, rằng trên
nguyên tắc, bạn là một tên tội lỗi, hèn hạ, xấu xa, dơ dáy, ác ôn,
độc địa. Một tên… phản động, phản cách mạng! Tương lai tốt đẹp
nhất mà bạn có thể mơ ước là sự thiêu đốt đời đời trong Hỏa Ngục
giữa một bầy ác quỷ vô cùng kinh tởm. Tuy nhiên, giả sử trong muôn một,
có một anh Thiên Thần ấm ớ nào đó bị đuổi khỏi Thiên Quốc, và bạn
lọt được lên trên ấy để thế vào chỗ của anh ta, thì đó là do Ơn
Chúa, được ban phát cho bạn, chứ chẳng phải vì bạn xứng đáng chi cả.
Vả lại, bạn cũng chẳng thể làm được điều gì xứng đáng, vì bản
thân của bạn là xấu xa, tội lỗi. Nói cách khác, bạn hoàn toàn bó tay
và chỉ có thể trông nhờ nơi Ơn Chúa. Mà Ơn Chúa có ban phát hay không
ban phát cho ai thì lại đã được định đoạt từ ngàn đời trước rồi!
Tôi gọi đó là một tư tưởng tiêu cực, bạn nghĩ sao? Nếu từ lập luận này mà tôi
bảo Ky Tô Giáo là tiêu cực, thì nhiều người sẽ trích dẫn một triệu
lẻ một kinh điển ra để minh chứng ngược lại, rằng Ky Tô giáo rất
tích cực, và họ có lý. Điều này cho thấy không thể từ một số suy tưởng
cục bộ mà dán một nhãn hiệu lên cho một tôn giáo! VÀI KHÍA CẠNH TÍCH CỰC TRONG TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO Phật giáo coi bản tánh của mọi
chúng sanh đều là Phật. Chỉ cần bỏ những mù quáng, mê chấp, thì nhận
ngay ra mình là Phật. Không ai bị bỏ rơi, không có “ Trên con đường tu tập, Phật
giáo dạy phải thực nghiệm, chẳng nên tin vào giáo điều lý thuyết chi cả.
Tức là phải tích cực tìm hiểu, chứ không thụ động tin theo ông thần
này hay ông thánh nọ, để rồi mù quáng tiêu cực loại bỏ những gì
không nằm trong “giáo lý” của mình. Đối với vấn đề thiện ác,
Phật giáo có một nhãn quan đặc biệt tích cực. Khi sự ác được chấp
nhận như hậu quả của lẽ nhân duyên, thì không còn có thái độ tiêu cực
loại bỏ. Kẻ sát nhân, người nham hiểm, chẳng qua cũng chỉ là nạn
nhân của nghiệp báo chập chùng, nhân duyên trùng điệp, chứ trong bản tánh
họ vẫn là Phật kia mà! Biết đâu chính vì những hành động tàn ác kia
mà họ ý thức, giác ngộ và trở thành bậc Chánh Giác? Với tinh thần ấy,
người ta thông cảm, tìm hiểu những nhân duyên của một hành động tàn
ác, và tìm cách nâng đỡ, chứ không loại trừ cá nhân làm việc ác ấy.
Nếu có phê phán, thì người ta phê phán hành động chứ không phê phán
con người. Điều này rất tích cực, vì nó không bao giờ loại bỏ khả năng
hướng thiện dù trong bất cứ tình huống nào. Nói: Anh “là” xấu xa, như
trong ngôn ngữ Tây phương thông thường (you are bad), rất khác với: “anh
đã làm một việc xấu xa”. Câu nói thứ hai có ý nghĩa tích cực quan trọng.
Tương tự như vậy, trong trị liệu, tôi thường cố gắng nói với bệnh
nhân: “Vous avez une dépression” (anh hay chị đang mắc chứng suy nhược thần
kinh), thay vì: “Vous êtes déprimé” (anh chị “là” suy nhược thần
kinh). Với câu nói ấy, tôi cố gieo một chủng tử tích cực, hướng tâm
lý người bệnh về một hướng tích cực, thuận lợi cho sự lành bệnh. Những quan điểm vừa nêu có
phải là đặc thù của Phật giáo hay không? Hoàn toàn không. Chẳng hạn dưới
một hình thức khác, những quan điểm ấy đều hiện hữu trong tư tưởng
Ky Tô giáo. Thật vậy, tôi có thể tìm thấy tất cả những gì tôi vừa
nói về Phật giáo trong Thánh Kinh. Vậy, đạo nào tích cực? Đạo nào
tiêu cực? TƯ TƯỞNG XUẤT THẾ TRONG KITÔ GIÁO Chúng ta có thể dựa vào một
số lời nói của chính Đức Ky Tô để nhận ra một khuynh hướng xuất thế
rất đậm nét trong Kitô giáo. - Trong Phúc Âm thánh Gioan
(15:19), Đức Ky Tô nói rất rõ với các môn đệ, tức là với tất cả những
Ky Tô hữu: “Các con không thuộc về thế gian, thầy đã đặt các con ra
ngoài thế gian”. Và khi toàn quyền La Mã Pilatô tra vấn Ngài, Ngài cũng
tuyên bố: “Vương quốc của Ta không thuộc về thế gian” (Gio-An.18:36). - Thật ra, Đức Ky Tô không những
chủ trương đứng ngoài thế gian, mà Ngài còn coi thế gian là nguồn của
sự dữ, là vương quốc của Ác quỷ, là sự chống phá lại công trình của
Ngài. Ngài nói: “Thế gian thù ghét Ta vì Ta chứng minh được rằng những
công trình của thế gian đều xấu xa” (Gio-an 7:7). Một lúc khác, trong lời
cầu nguyện với Thiên Chúa, Ngài nói: “Con đã truyền cho họ (các môn đệ)
lời nói của Cha và thế gian đã thù ghét họ, vì họ không thuộc về thế
gian, như chính con cũng không thuộc về thế gian.” (Gioan 17:14). Rõ rệt hơn
nhất, trong Gioan 12:31, Ngài gọi Ác quỷ là “Vua của thế gian” và trong
Gioan 12:30, Ngài phán: “Từ nay, Ta không còn nói chuyện với anh em được
nữa, vì Vua của thế gian này đã đến”. Bây giờ tôi xin bạn chú ý đến
một câu chuyện được kể lại trong tất cả các bộ Phúc Âm trừ Phúc
Âm Gioan. Đó là chuyện Ác quỷ cám dỗ Đức Kitô: Trước khi Đức Kitô
thu nhận môn đệ và bắt đầu giảng dạy, Ngài đã vào sa mạc tĩnh tâm
một thời gian. Lúc ấy, Ác quỷ đến cám dỗ Ngài. Có ba sự cám dỗ, sau
khi Đức Kitô đã vượt qua hai sự cám dỗ đầu tiên, thì Ác quỷ đưa Ngài
lên một đỉnh núi cao và chỉ cho Ngài thấy tất cả thế gian với những
vương quốc giàu mạnh, vinh quang, những lâu đài lộng lẫy, những thú vui
vô số và bảo Ngài phải khuất phục nó, thì thế gian sẽ thuộc về
Ngài. Đương nhiên là Đức Ky Tô lại khước từ thêm một lần nữa, với
câu nói bất hủ: “Vade retro, Satanas” (Satăng, hãy cút đi!). Đức Thích
Ca cũng đã từng bị Quỷ Vương cám dỗ một cách tương tự. Qua câu chuyện này, chúng ta thấy
Ác quỷ Satăng chính là Vua của thế gian, và Đức Ky Tô với quyền năng của
Ngài, cũng có thể ngự trị trên thế gian, y hệt như Ác quỷ. Mặc dầu vậy,
Đức Kitô đã chọn khước từ thế gian, thậm chí sau này còn chấp nhận
cho thế gian giết chết mình… Thật ra quan điểm xuất thế
đã hiện hữu trong tư tưởng Do Thái, đặc biệt từ khi dân tộc này bị
lưu đày vào năm 538 tới 587 trước Công Nguyên. Khi ấy trong nổi buồn tha
hương, vong quốc, đất nước hoàn toàn bị phá hủy, người Do Thái chỉ
còn biết ngước mắt kỳ vọng nơi một quê hương trên trời. Quê hương
thật, đất nước thật của họ, từ đó, chính là Nước Trời, chứ không
còn là một mảnh đất nào trên cõi thế nữa. Thánh Phao Lô, trong
Thánh Thư gửi người Do Thái (11:14), cũng đã nhắc lại niềm tin này. Một tư tưởng khác rất phổ
thông trong Ky Tô giáo, là sự xác quyết sẽ có một ngày tận thế.
Tất cả những gì con người xây dựng được nơi thế gian đều sẽ bị
hủy diệt. Đức Ky Tô, trong các đoạn Phúc Âm Mát-Thêô 24, Mác-cô 13 và
Lu-ca 21 đã nói về vấn đề này. Tức là sẽ không có một thế gian tốt
đẹp, viên mãn, trường cửu như con người thường ước mong. Lịch sử sẽ
không phải là giòng sông đưa nhân loại đến bờ hạnh phúc, hay con đường
xa lộ dẫn cái xã hội mà ta đang sống đến với Thiên Chúa như Hegel từng
quan niệm. Nước Chúa sẽ không phải là sự nối dài của cái xã hội mà
ta đang sống, đang chăm lo bồi đắp. “Tất cả đều sẽ bị hủy diệt”
đó là lời Chúa! Nhiều người sẽ nói: đó là
chuyện xa vời, ngay bây giờ, vẫn phải chăm lo cho gia đình, cho xã hội, cố
sức xây dựng bình an hạnh phúc, v.v.. Đó là những ý tưởng rất chính
đáng của đại đa số con người. Nhưng Đức Ky Tô nghĩ sao? Về gia đình, Ngài bảo với
các môn đệ, với tất cả chúng ta, rằng phải bỏ hết tất cả những
ràng buộc gia đình, để theo Ngài: “Nếu kẻ nào đến với ta mà
không từ bỏ cha mẹ mình, vợ con mình, và cả chính đời sống của mình,
thì người ấy không thể là môn đệ của ta” (Lu-ca 14-26). Khi có môn
đệ xin được về nhà từ giã gia đình trước khi lên đường theo Ngài,
Đức Kitô từ chối ngay tức khắc và nạt rằng: “Kẻ nào đã bắt
tay vào cày ruộng (tức là đã theo Ta) mà còn nhìn về phía sau, thì kẻ
ấy không xứng đáng vào Nước Chúa!” (Lu-ca 9-26). Một môn đệ khác
xin về chôn cất cha mình vừa mới qua đời, ngài cũng từ chối rằng: “Cứ
để người chết chôn người chết, phần anh hãy đi rao giảng nước Trời”
(Lu-ca 9:59-60). Phải nói là Chính Đức Ky Tô cũng đã hoàn toàn từ bỏ gia
đình mình. Trong Phúc Âm, không khi nào thấy Ngài gọi mẹ Ngài là “mẹ”,
mà chỉ nói “Bà kia”. Và một ngày nọ khi
đang ở giữa đám đông, thì có người đến báo tin cho Ngài
biết rằng: “ Mẹ anh và các em anh đang tìm anh ngoài kia”. Đức Ky Ttô rảo
mắt nhìn quanh cử tọa, rồi nói: “Đây là mẹ ta, đây là anh em ta, tất
cả những ai hành động theo thánh ý Chúa, đều là mẹ và anh em ta”.
(Mác-cô 3:32-35). Còn đối với xã hội? Đức
Ky Tô nói rất rõ: “Đừng lầm tưởng rằng ta đến để mang lại hòa
bình trên trần thế, ta không đến để đem lại bình an, mà chính là để
đem lại gươm đao, cho người con trai nổi lên chống lại cha mình, người
con gái chống lại mẹ mình, người con dâu chống lại mẹ chồng, người
trong một gia đình đối nghịch lại với nhau” (Mát-Thêô 10:34-35). Trong
Phúc Âm Lu-ca, Ngài cũng nói một câu tương tự (Lu-ca 12:51-53). Việc “đem
lại gươm đao” cũng được nhắc đến ở đọan Phúc Âm Lu-ca 22-36, khi
Đức Ky Tô nói với các môn đệ: “Ai chưa có võ khí thì hãy bán áo
choàng của mình đi mà mua lấy một thanh gươm”. Đương nhiên là thái độ này
của Đức Ky Tô không mấy gì là “politically correct”, và nhiều người
“thông minh” hơn Ngài đã phải lập tức giải thích rằng: Ngài nói vậy
nhưng phải hiểu khác, phải hiểu rằng, thì, mà, là… ngược lại! Cũng
như khi Ngài dạy phải bỏ hết tiền bạc, tài sản, hay cho rằng “Người
có của vào nước Trời còn khó hơn con lạc đà chui qua lỗ kim”. Những
lời nói ấy làm rộn sự “bình an” hưởng thụ của nhiều người. Họ
không thể nào chấp nhận chúng được. Vì thế, họ phải dạy khôn Đức
Ky Tô, bảo Ngài phải hiểu những lời Ngài nói một cách khác, hợp với
những nếp suy tư trưởng giả và những ham muốn thường tình của họ hơn.
Đừng quên, người đương thời đã đem Chúa Kitô ra đóng đinh trên thập
giá, thậm chí ngay chính những kẻ trong gia đình Ngài cũng đã muốn bắt
giữ Ngài, vì họ cho rằng: “Nó đã mất trí!” (Mác-cô 13:21) PHẬT GIÁO VÀ KHÁI NIỆM NHẬP THẾ Phật giáo không phân biệt thế
gian với “ngoài thế gian”. Tất cả đều là tâm (vạn Pháp quy tâm). Vậy
thì chỉ có Tâm. Nếu chỉ có Tâm mà thôi, thì xuất thế phải ra ngoài
Tâm. Khi ấy, thử hỏi cái gì sẽ ra ngoài Tâm? Có phải cũng là tâm hay
không? Tâm làm sao phải ra ngoài Tâm được? Vậy, Phật giáo không xuất thế! Một cách nói khác: Tất cả
chúng sinh đều có Phật tính, vậy thì Phật ở đầy trong thế
gian này, nhìn đâu cũng thấy Phật, Phật làm sao mà xuất thế được?
Đây cũng là một cách giải thích nghệ thuật của Phật giáo, đặc biệt
là của Thiền Tông, với những bài thơ hay những bức họa đầy tình
thân ái, mô tả những cảnh vật nhiều khi rất nhỏ nhoi, những con người
nhiều khi rất bé mọn, những động tác nhiều khi rất tầm thường, diễn
đạt niềm cảm thông sâu sắc với tất cả những gì chung quanh. Nhất định
là các nghệ sĩ và Thiền sĩ ấy không khước từ thế gian, không coi thế
gian là hiện thân của sự Ác… sự Ác có chăng thì chỉ là kết quả của
vô minh, chứ dưới tấm màn vô minh ấy, vẫn luôn tiềm tàng Phật tính.
Có khác với tư tưởng của Đức Ky Tô hay không? Tôi nghĩ là không khác,
mặc dù những gì tôi vừa viết ở đoạn trên còn cần được trình bày
rõ ràng hơn. Xin hẹn bạn dịp khác. Một loại lập luận khác có
thể được nêu lên là: hạnh nguyện Bồ Tát, từ chối sự giải
thoát cho riêng mình khi còn bất cứ chúng sinh nào chưa được giải thoát,
chính là một tư tưởng nhập thế triệt để. Phật giáo Mật Tông cũng
tin ở Phương Đông có một vị Phật tên là Aksobhya (A Súc Bệ), tượng
trưng cho sự nhập thế, cứu độ, đi từ vô biên vào thế giới hữu hạn
để thực hiện sự cứu độ và đi từ hữu hạn đến vô biên để thực
hiện sự giải thoát… DANH HIỆU CỦA QUỶ VƯƠNG Trong truyền thống Do Thật ra, có những sự lên án
gay gắt, nhưng cũng có những chê bai lịch sự, tuy không kém phần trịch
thượng, kiểu như: Đạo ấy chưa hiểu tới, hay chưa đạt đến trình độ
này, trình độ khác. Tôi nói thái độ
này cũng vẫn là một sự lên án, vì ta không thể biết nó sẽ trở thành
gay gắt lúc nào, và vì nó có thể gợi lên những phản ứng gay gắt nơi
những anh em bị mình chỉ trích. Thái độ ấy cũng vẫn là thái độ của
Satăng, của Ác Quỷ. Hơn lúc nào hết, cần đi tìm
những điều giống nhau trong các tôn giáo, các giòng tư tưởng hơn là đào
sâu những khác biệt. Riêng trong sự tìm hiểu những điều cốt lõi của
Ky Tô giáo và Phật giáo, thì tôi có thể xác quyết với bạn rằng: Quả
thực, tôi không hề thấy điều chi mâu thuẫn giữa hai tôn giáo này. |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com