posted: 05.3.2005
ĐỐI THOẠI: “SỞ TRI CHƯỚNG” VÀ “KINH TẾ THỊ TRƯỜNG” Phạm Trọng Chánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị
là vị uyên bác giáo lý Kitô giáo, Ngài đã và đang làm những chuyện phi
thường, điều đó mọi người đều công nhận. Ngài là Người đối thoại
với mọi tôn giáo và có lẽ là vị Giáo Hoàng đầu tiên viết vài trang
sách về Phật giáo. Tiếc thay khi đối thoại với Phật giáo tâm trạng
Ngài lại giống như thi hào Lý Bạch đứng trước Hoàng Lạc Lâu:
Ngài viết về Phật giáo nhưng
trong đầu Ngài đầy những kiến thức về Thánh Gioan Thánh Giá, Thánh
Têrêxa Avila, khoa thần bí Carmêlô, Thánh Thomas Aquinas, những nhà thần bí
Bắc Âu, Vincent de Paul, Gioan Bosco, Maximilian Kolbe … Điều nhà Phật gọi
là sở tri chướng, cái hiểu biết đã sẵn có đã đầy, ngăn cản
điều hiểu biết mới như tách trà đã đầy, rót thêm chỉ tràn ra ngoài.
Như tâm trạng người Việt Nam nặng lòng cố quốc tha hương đi đến đâu
cũng thấy cảnh quê mình, đứng trước tháp Ép – phen (Eiffel) thì thấy
cái chòi tre quê mình, trước nhà thờ Đức Bà Paris thì chỉ thấy ngôi
chùa làng mình, trước bãi biển Nice thì cứ như thấy ở Vũng Tàu, rồi
so sánh cái thấp, cái cao, cái to, cái nhỏ. Một đôi điều giống nhau
cũng đủ “tâm viên ý mã” đi từ kỷ niệm này sang kỷ niệm khác. Đi từ cái “tâm” sẵn có
ảnh hưởng bởi những hiểu biết trước trong đầu, những nhận thức về
Phật giáo của Giáo Hoàng làm cho những người hiểu biết về Phật giáo
khó chịu và cảm thấy thương tổn. Nếu không thể so sánh được cái
chòi tre với cái tháp Ép-Phen thì cũng không nên so sánh “khoa thần bí
Carmêlô này khởi đầu chính ở điểm mà những suy tư của Đức Phật dừng
lại”. (Gioan Phaolo II - Bước Qua Ngưỡng
Cửa Hy Vọng - Thăng Tiến CA 1995 - trang 100). Nước biển cùng một vị mặn
nhưng không nên kết luận rằng bãi biển Nice là bãi biển Vũng Tàu. Sự
giác ngộ của Đức Phật không nên so sánh với Thánh Gioan Thánh Giá nhìn
thấy “tâm hồn con người được đốt cháy bằng ngọn lửa nồng nhiệt
tình yêu”. Hai tôn giáo khởi nguồn từ hai nền tảng khác biệt. Đạo Phật
tin vào sự tự cứu lấy mình, tự thắp đuốc lên mà đi. Kitô giáo tin
vào sự cứu rỗi một Đấng Thượng Đế, Phật giáo tin vào sự giác ngộ
thoát vòng luân hồi. Kitô giáo tin vào hồng ân lên cõi Thiên Đàng. Đọc Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng của Giáo
Hoàng John Paul II, người đọc không khỏi chú ý nhiều đến những câu hỏi
của ký giả Vittorio Messori, những câu hỏi rất hay, đặt đúng các vấn
đề tâm điểm của Kitô giáo ngày nay. Những câu hỏi về Kitô giáo nên
để các nhà chuyên môn về vấn đề này suy nghĩ và thảo luận. Câu hỏi về Phật giáo biểu lộ
mối ưu tư về một “cạnh tranh thị trường”, món hàng nhập cảng “Phật
giáo” ngày càng đông người “tiêu thụ” ngày càng bành trướng tại Tây
Phương, thu hút giới trí thức, các nhà tâm lý học, phân tâm học, môi trường
học. Phật giáo có nguy cơ là một “hoán đổi” hoặc “bổ sung” tại
“thị trường tôn giáo Tây Phương”. Nhiều tu sĩ, linh mục còn áp dụng
Thiền vào việc tỉnh tâm, nhiều học giả Thiên Chúa giáo nghiên cứu sâu
rộng về Phật giáo và bị “mê hoặc” bênh vực cho Phật giáo. Những điều đó làm đảo lộn
cái trật tự chỉ muốn đem cái ánh sáng văn minh phương Tây khai hóa cho
các lục địa Á Phi, nghĩa là chỉ “xuất cảng” mà không muốn “nhập
cảng” để cân bằng cán cân thương mại. Tượng Phật được chấp nhận
làm vật trang trí tại Tây Phương để gắn lên cái chụp đèn cho đẹp
căn phòng khách, được bày trên tủ sách để chủ nhân tỏ ra là người
khôn ngoan hiểu rộng học rộng! Thiền là môn thể dục không hơn
không kém như Judo, Karaté. Tại Pháp, Phật giáo đã được vượt qua biên
giới chủng tộc tôn giáo của người Tây Tạng, Trung Hoa, Nhật, Việt
Phật giáo trở thành mối đe dọa “cạnh tranh” trên thị trường
Tây Phương. Tại Pháp, Thiên Chúa giáo chỉ còn có 23% người ngoan đạo
đi nhà thờ, số linh mục tu sĩ ngày càng thiếu hụt. Hiện tượng các
thánh lễ tại Pháp được cử hành bởi các giáo sĩ da đen, da vàng trở
thành phổ biến vì sự thiếu hụt tu sĩ.
Các trang sách Giáo Hoàng viết về Phật giáo, Phật tử các nước trên
thế giới đều không bằng lòng, các nhà thần học trong giáo hội Thiên
Chúa giáo đã vội xin lỗi về sự khiếm khuyết của Giáo Hoàng trong sự
hiểu biết về Phật giáo. Nó biểu lộ mối lo ngại về “cạnh tranh thị
trường” hơn là về triết học, tôn giáo, tư tưởng: Món hàng gọi là mới
đó, tôi cũng có tương tự, cái của tôi còn hay hơn, cao siêu hơn, món
hàng kia không xài được, không bền, không có Thượng đế “bảo hiểm”.
Phật giáo không phải là giáo phái “mẹ mìn” đang quyến rũ dụ dỗ
con cái Chúa, cũng không phải là ông thần của những dân tộc bán khai,
mà là một tôn giáo lớn Đông Phương với 2.500 năm hiện diện, một hệ
thống tư tưởng xây dựng vững vàng qua bao thời đại từ Ấn Độ, Tích
Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Cao Miên, Tây Tạng, Trung Quốc, Mông Cổ, Nhật
Bản, Đại Hàn, Việt Nam. Sự đối thoại chỉ có thể bắt đầu khi hai
đối tượng công nhận lẫn nhau trong tinh thần tương kính, bình đẳng.
Nếu những đoạn viết trong cuốn sách trên về Phật giáo là của một
linh mục truyền giáo hay một trí thức Kitô giáo thì đó là việc bình thường
vì hơn 300 năm qua, những báo cáo, những bài viết các vị thừa sai về Phật
giáo đầy rẫy những ngộ nhận ngây ngô, những xuyên tạc ác ý như thế.
Chúng ta có thể đọc những dòng tương tự từ thời Alexandre de Rhodes. Điều
này khác xa với thái độ nghiên cứu các học giả người Anh và sự tôn
trọng văn hóa, bản sắc tôn giáo người Anh đối với Ấn Độ, Tích Lan,
Miến Điện.
Nhưng bài viết của Giáo Hoàng, một vị Thánh không thể nào có sai
lầm (?), thì ảnh hưởng nó sẽ tác hại vô cùng đến toàn thể tín đồ
Thiên Chúa giáo trên thế giới. Điều này giải thích lý do vì sao Phật
giáo các nước Tích Lan, Thái Lan phản ứng mạnh mẽ trong khi chẳng ai buồn
trả lời hàng ngàn bài viết của các vị thừa sai trong mấy thế kỷ qua
về Phật giáo.
|
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com