giao diem 3-2005

posted: 05.3.2005

TỪ TRONG NHÀ, RA NGOÀI CHỢ

Phan Tấn Hùng

I. MỘT GIA ĐÌNH TAN NÁT

Từ thế hệ của ông nội của ông nội tôi, họ tôi chia thành ba nhánh :

-           Người anh cả của ông tôi theo đạo tiên, chuyên tu luyện bùa phép. Nhánh này không còn người thừa kế.

-           Người anh thứ hai, bỏ hẳn đạo nhà để theo Thánh giáo (Catô giáo). Nhánh còn lại khá đông.

-           Ông tôi là em út, tiếp tục giữ đạo gia tiên, và ba tôi là người thừa kế chịu trách nhiệm gìn giữ từ đường kể từ khi ông nội tôi già yếu.

Hằng năm ba tôi ra thư thông báo mời tất cả các chi nhánh khác về tham dự lễ giỗ ông bà tại nhà thờ họ. Ba tôi đích thân đi mời các trưởng chi. Anh tôi và tôi, từ khi còn niên thiếu đã phụ ba tôi chia nhau đi mời các gia đình Catô giáo. Mỗi năm mỗi mời, nhưng không thấy ai về cả. Tuy không dám nói ra nhưng bực mình lắm và tôi đã thầm trách rằng: "Theo đạo nào thì theo nhưng cũng phải biết quý trọng ông bà mình chứ. Tôn giáo nào lại dạy bỏ ông bỏ bà bao giờ. Nếu có thứ tôn giáo như vậy thì chắc chắn đây không phải là tôn giáo tốt, không nên gần gũi với nó.v.v...".

Mãi đến mấy năm cuối thập niên 60 mới thấy có một vị lão trượng của nhánh này về, nhưng chỉ để chào hỏi chứ không vào đảnh lễ trước bàn thờ tổ tiên. Lúc đầu chỉ một vị, năm sau có thêm vài vị nữa. Tôi cảm thấy có phần được khích lệ và vui thầm với kết quả khiêm tốn đó. Nhưng lại bị thất vọng ngay khi được nghe một lão trượng nói rằng : "Thật ra chúng tôi đâu có quên ông bà, đâu có muốn từ bỏ bà con, nhưng chúng tôi không được phép thờ cúng ông bà tổ tiên. Mấy năm gần đây, từ sau Công Đồng Vatican II, sự cấm đoán có phần nhẹ bớt, nên chúng tôi về với bà con".

Tại sao những người bà con của tôi chấp nhận nổi những cấm đoán như vậy? Và bằng cách nào Giáo Quyền Catô giáo đã làm được điều này, nếu không phải là đã mê hoặc hay ngu muội bà con tôi? Lòng tín ngưỡng của bà con tôi nhiệt thành đến độ mà tôi không thể hiểu nổi. Chẳng hạn như, làm sao họ có thể tin được chuyện Đức Maria đã di cư vào Nam hồi năm 1954. Và làm sao Giáo Quyền Catô giáo có thể dám nghĩ và dám bịa ra được loại tin như vậy nhỉ? (Chính thống giáo - Orthodoxe - và Phản Thệ giáo - Protestant - không tin tính đồng trinh mãi của Maria vì họ tin rằng Maria có những người con khác với Joseph).

Tại sao những người bà con của tôi phải đợi đến năm 1974, sau quyết  định chính thức của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam cho phép người Catô hữu lập bàn thờ tổ tiên và lễ lạy ông bà, trong khi người Catô giáo Trung Hoa đã luôn luôn giữ việc thờ cúng tổ tiên và đã được phép làm việc đó từ năm 1938, mới dám biểu lộ tín ngưỡng của mình đối với ông bà tổ tiên? Tại sao người ta nhân danh một tôn giáo, nhân danh một tín ngưỡng, để cấm cản tín ngưỡng của người Việt đối với ông bà tổ tiên? Tự do tín ngưỡng là chỗ nào?

Biết bao nhiêu câu hỏi tại sao đã nói đến với tôi từ thời niên thiếu, và vì thế tôi đã sớm bắt đầu tìm hiểu về Catô giáo, trước nhất là để hiểu những người bà con của tôi, với ước mong sẽ có ngày đưa họ trở về với giòng họ và với dân tộc. Thật vậy, nếu không có gì can hệ đến giòng họ và với dân tộc thì chắc chắn tôi đã không bỏ mất thì giờ tìm hiểu Catô giáo làm gì. Từ đó tôi tìm hiểu thêm các tôn giáo khác bằng cách so sánh, mỗi ngày thêm một chút. Việc nghiên cứu trở nên thật sự bổ ích cho chính bản thân tôi, và chỉ tiếc rằng phải chi những người bà con tôi được giáo dục để có được một trình độ suy nghĩ tối thiểu thì giòng họ tôi, và dân tộc tôi nữa, đã không bị phân chia.

Chiêu sách "chia để trị" nào có mới mẻ gì. Mọi thế lực ngoại bang, và mọi chính quyền phục vụ cho các thế lực ngoại bang đều làm như vậy. Người ta dựng nên trong nội bộ mọi dân tộc đủ loại "Bức Tường" : bức tường tôn giáo, bức tường giai cấp, bức tường sắc tộc, bức tường địa phương... Người Ái Nhĩ Lan giết hại nhau vì một bên Catô giáo và một bên theo Phản Thệ giáo (Protestant) ; ở Ru-ăng-đa, hai sắc dân Tutsi và Utu vốn cùng một văn hóa, cùng một tiếng nói, nay đã trở thành kẻ thù không đội trời chung; ở Ca-mơ-run, ai không có "Giấy chứng nhận đã rửa tội" (carte baptême) phải đóng một số tiền mới được cảnh binh cho phép vào thành phố. Tưởng Giới Thạch đã phải cải đạo theo Phản Thệ giáo để được làm rễ trong gia đình họ Tống; và chính quyền Tưởng, được mệnh danh là "chính quyền quốc gia", đã ban hành sắc lịnh năm 1937 cấm nghiên cứu Dịch lý, cấm thực hành môn châm cứu và môn phong thủy, vốn là di sản truyền thống của văn minh Trung Hoa. Rồi nhìn lại những gì đã xảy ra ở Việt Nam, dưới một bên là "chính quyền quốc gia" chống cộng (lý lẽ hiện hữu của chính quyền này) và một bên là "chính quyền cộng sản" chống "đế quốc tư bản chủ nghĩa" dân tộc Việt Nam bị kéo về hai phía, giết nhau tận tình. Để làm gì? Để xây dựng cái gì cho dân tộc Việt Nam? Câu hỏi này được đặt ra cho cả hai bên, nhưng có lẽ câu trả lời chỉ tìm thấy ở nơi khác.

II. QUANH VẤN ĐỀ TÔN GIÁO

Có nhiều điều làm tôi ngưỡng mộ Giêsu. Hằng mấy trăm năm trước khi Giêsu ra đời, người Do Thái chờ đợi một "Đấng được ban xuống" để giải cứu dân tộc này. Họ đã nghĩ tưởng rằng "Đấng cứu thế" của họ phải là một sức mạnh không gì chống nổi: vung tay một cái là Đế Quốc Rô Ma tan tành ; búng tay một cái là Do Thái thành giàu mạnh; v.v... Giêsu không là và đã không làm như họ mơ đợi, ngược lại Giêsu kêu gọi hãy từ bỏ thế giới mộng tưởng đó đi, thế giới đầy những giáo điều và lũng đoạn của Giáo Quyền Do Thái giáo. Chẳng những thế, Giêsu còn chống lại khái niệm thần quyền cực đoan của tôn giáo này. Theo Cựu Ước, Abraham đã sẵn sàng giết chết Issac, người con duy nhất của ông để thỏa mãn yêu cầu của Daquê, một Thiên Chúa hung dữ. Với Giêsu, Thiên Chúa chẳng những đã được thể hiện qua hình ảnh một người Cha nhân từ mà còn đã hiện hóa thành người, nơi con người và là người. Lời nói và việc làm Giêsu bị lên án, ngay cả Thánh Pie, đệ tử trung thành nhất của ngài, cũng không tin chính ngài là “đấng cứu thế”, và người ta đã quyết định đóng đinh ngài trên thập giá.

            Muôn đời con người đi tìm hay chờ đợi “sự thật”, nhưng khi “sự thật” hiện hữu trước mặt thì không thừa nhận, chỉ vì “sự thật” không giống ước mơ của con người, trần truồng quá, bình dị quá. Hãy từ bỏ thế giới ảo tưởng được tiêm nhiễm trong mỗi người, nó đầy tiên kiến, qui định, giáo điều, đầy lo sợ, phiền não... để trở về sống với thế giới của thực tại. Mà thực tại là vô thường, là vần chuyển mãi, là mãi mãi trở thành, và mọi sự mọi vật đều liên hệ phụ thuộc lẫn nhau. Khi đã trở về với thực tại, mỗi người sẽ thấy rõ đâu là con đường của chính mình để tiến đạt dần đến trạng thái tự do và thanh tịnh hoàn toàn (tự tại). Trạng thái này Đức Phật gọi là niết bàn, nó là thành quả của quá trình quán chiếu và thẩm thấu thực tại, chứ không phải là cứu cánh của Phật pháp (hay phương pháp giúp giải trừ mộng tưởng).

            Giêsu đã chống sự toàn trị của Đế Quốc Rôma và cũng đã dạy “Đừng gọi ai là cha vì các ngươi chỉ có một Cha duy nhất trên trời, đừng tôn ai làm thầy vì các ngươi chỉ có một người Thầy là ta”. Ôi, còn biết bao nhiêu điều Giêsu đã làm, đã dạy, không được những người nhân danh ông, nhân danh Giáo Hội của ông, tôn trọng kế thừa!

            Vấn đề tôn giáo, dù muốn hay không đây cũng là vấn đề lớn của xã hội, và việc giáo dục người dân là trách nhiệm của nhà cầm quyền. Ước gì môn tôn giáo học được giảng dạy trong chương trình trung học, được nghiên cứu và thảo bàn rộng rãi ở cấp đại học, kèm với việc chuyển dịch các tài liệu Âu Mỹ sang tiếng Việt, để cho tuổi trẻ Việt Nam có dịp mở mang kiến thức, có dịp làm quen với các tôn giáo, kể cả các tôn giáo chưa có mặt tại Việt Nam. Nhưng vì khi kiến thức của người dân được mở mang thì ngôi vị của tầng lớp cầm quyền sẽ bị đe dọa, nên có lẽ ước mơ này chỉ có thể được thực hiện cách tốt đẹp khi nào tại Việt Nam có một Nhà Nước thật sự hiểu và biết coi trọng hai chữ “dân tộc” mà thôi.

            Phong trào đòi các quyền tự do, trong đó có tự do tín ngưỡng và tự do tôn giáo, nổ ra ở Âu Châu từ Thời Đại Ánh Sáng (thế kỷ thứ 16), bắt nguồn từ phản ứng của người Âu Châu, khi đạt đến một trình độ tri thức nào đó, chống lại sự độc tôn tôn giáo, độc quyền tín ngưỡng và tư tưởng, áp đặt bởi Giáo Hội Catô giáo La Mã (trong cuộc đấu tranh này phải kể đến sự đóng góp to lớn của các nhóm di dân người Do Thái, họ bị thảm sát không biết bao nhiêu lần nhưng vẫn cương quyết giữ lấy tôn giáo gốc của mình). Chính nhờ thế mà Âu Châu mới được như ngày hôm nay. Song song, cấu trúc Nhà Nước - Quốc Gia (Etat-Nation) được thành lập, và tự do tín ngưỡng của người dân, nhất là khi người đó chưa đến tuổi trưởng thành để có thể tự lựa chọn, được bảo vệ, cùng với việc bảo vệ sự thống nhất quốc gia và sự sống yên ổn của người dân.

            Luật pháp của các nước tiên tiến cho ta nhiều thí dụ. Tại Pháp, chẳng hạn, trong Bộ Nội Vụ có một cơ quan lo về các vấn đề tôn giáo; cấm nhà thờ rung chuông trước 10 giờ sáng, kể cả ngày nghỉ và ngày chủ nhật; cấm mọi tập tục tôn giáo làm cản trở việc hôn nhân dị giáo; Jules Ferry hồi đầu thế kỷ này đã đuổi các tu sĩ ra khỏi trường...; và mới đây (1995) Bộ Trưởng Nội Vụ mong rằng tại Pháp có một tổ chức Hồi giáo vững chắc trong khuôn khổ của luật pháp quốc gia và được luật pháp này bảo vệ, chứ không để phụ thuộc vào bất kỳ một uy quyền nào nằm ngoài quốc gia.

            Có sự lẫn lộn giữa các chức vụ chính thức của Giáo Hoàng:

1/ Evêque de Rome - Giám Mục giáo phận Rôma; 2/ Souverain Pontife de l’Eglise Catholique de Rome - Giáo Hoàng của Giáo hội Catô giáo Rôma; và 3/ Chef d’ Etat du Vatican - Nguyên thủ Quốc gia Vatican, nhưng quan hệ giữa một Nguyên thủ Quốc gia với Giáo Hoàng là quan hệ trên căn bản giữa  quốc gia với quốc gia. Và khi một người công dân Việt Nam chẳng hạn nhận lãnh một tước vị (cardinal, hồng y, monseigneur, mông xây nhơ), một chức vụ (giám mục địa phận) và một sứ mạng (bành trướng nước Chúa tại Việt Nam chẳng hạn), thì quốc gia Việt Nam phải thể theo công pháp quốc tế mà hành xử: toàn quyền xét quyết, đồng ý hay không đồng ý, sự bổ nhiệm đó, và trong thời hạn nào; nhưng khi đồng ý thì phải đối xử với đương sự như công dân của Vaitican, và cấp cho người đó một giấy chứng minh thường trú (carte de résidence). Tại vì người “Việt Nam” đó bây giờ đã là một công chức ngoại quốc chứ không còn là một công dân Việt Nam nữa.

III. SÁCH CỦA GIOAN PHAO LỒ II

Không phải những câu trả lời của Giáo Hoàng, trong quyển Entrez Dans L’ Espérance (Hãy vào với hy vọng), là quan trọng, vì ai có nghiên cứu về Giáo Hoàng Quyền (La Papauté) đều có thể đoán trước được hướng tư tưởng và việc phải làm của ông, nhưng chính những câu hỏi được nêu ra trong sách mới là đề tài đáng được nghĩ bàn và thảo luận rộng rãi, vì trong đó một số câu hỏi được đặt ra cho mọi người, mọi tôn giáo (cả “duy vật giáo”), chứ không phải chỉ dành riêng cho Giáo Hoàng và Giáo Hội Catô giáo. Câu hỏi “Phải chăng Phật giáo là giải pháp thay thế cho Thiên Chúa giáo ?” (trg. 139) đâu phải chỉ nêu ra cho Giáo Hoàng; đâu phải tự nhiên mà nó được nêu ra; và câu hỏi, tự nó, đã thể hiện như một thông điệp của hy vọng.

Thật ra Giáo Hoàng đâu có trả lời câu hỏi này, ông chỉ lên lời cảnh giác giáo hữu của ông mà thôi, với những lời phán xét chủ quan quen thuộc, đã từng thấy trong các tài liệu của Giáo Hội hay trong những phúc trình của các nhà truyền giáo hồi thế kỷ 17 hoặc 18, như nào là: Phật giáo không phải là một tôn giáo, là vô thần, là xuất thế, là thấp kém (“suy tư của Đức Phật chỉ dừng lại chính là ở chỗ khoa thần bí Camêlô bắt đầu” - trg. 143), hoặc như Allah của Hồi Giáo (Allah không phải là Thượng Đế thật - trg. 153).

Mượn lời của Đức Giêsu Kitô “Các con đừng sợ”, tôi xin đệ lời: “Thưa Giáo Hoàng, thưa các Catô hữu, xin quý ngài đừng sợ; đừng sợ Phật giáo, đừng sợ Hồi giáo, đừng nên hạ thấp các tôn giáo khác; đó không phải là cách để tôn vinh tôn giáo của quý ngài”. Đâu phải vì Phật giáo hay vì Hồi giáo mà ngày nay Catô giáo phải gặp khủng hoảng Đức Tin và Giáo Hội của quý ngài đang gặp khủng hoảng quyền lực, và đâu phải các khủng hoảng này chỉ dành riêng cho Catô giáo và Giáo hội của quý ngài.

Mọi cơ cấu tổ chức trong xã hội con người đều phải dựa trên một cấu trúc tư tưởng (hay đức tin), và mọi tổ chức nếu không tự cải sửa cơ cấu và tư tưởng để theo kịp trình độ phát triển kiến thức của thời đại đều phải gặp khủng hoảng.

IV. GẶP GỠ ĐÔNG TÂY

Toàn bộ hệ thống tư tưởng của truyền thống Âu Tây đặt trên hai chữ “Sáng tạo” (création), và dĩ nhiên khái niệm “sáng tạo” phải đi đôi với khái niệm “đấng sáng tạo”, với một thời điểm “sáng thế” và một ngày “tận thế”. Nhưng với đà phát triển vùn vụt của kiến thức khoa học hiện nay, khái niệm “tiến trình” (processus) thay thế nhanh chóng khái niệm “sáng tạo”: Con người không còn được xem là tạo phẩm đã hoàn thành của Thiên chúa nữa, mà là một “tiến trình”, “tiến trình trở thành”, mãi mãi trở thành, không điểm khởi đầu, không ngày chấm dứt. “Sự bùng nổ (big bang) cũng thế, là một bước trong “tiến trình trở thành” toàn diện và dài dẳng của vũ trụ. Vũ trụ cũng là một tiến trình. Và để đạt được trình độ kiến thức hiện nay, khoa học cũng phải trải qua một tiến trình.

Ở trình độ phát triển kiến thức này, Đức Tin nền tảng thứ hai của Thiên Chúa giáo (sau Đức Tin thứ nhất về sự sống lại của Giêsu Kitô) bị phủ nhận hay bị hoài nghi, và khoa học hiện đại bắt gặp nền tảng tư tưởng của truyền thống Á Đông, trong đó có tư tưởng của Phật giáo. Nhưng không phải vì thế mà các hệ tư tưởng Á Đông, nói chung, và Phật giáo nói riêng, không gặp phải khủng hoảng ở mặt tổ chức và quyền lực.

Mượn lời của Đức Giêsu Kitô một lần nữa, tôi xin thưa với quý vị Phật tử rằng: “Xin quý ngài đừng sợ; đừng sợ Catô giáo; và cũng đừng ngạc nhiên khi thấy Catô giáo Việt Nam trưng lên ngọn cờ quốc gia dân tộc, chống việc tây phương hóa Việt Nam”. Vì ngày nay tây phương hóa đồng nghĩa với khoa học hóa (dù khoa học hóa không hẳn là tây phương hóa) và đồng nghĩa với thế tục hóa, thuốc giải trừ mọi thứ đức tin không kiểm nghiệm được.

Nhân loại không thể dừng lại ở thời đại “hậu thế chiến 2”, thời đại mác-cạt tít (Mc Carthy, Mỹ): “Với bom nguyên tử chúng ta sẽ Thiên Chúa giáo hóa toàn thế giới”. Đạo học Đông Phương và khoa học Tây Phương đang tìm gặp nhau, như đang tìm phân nửa khác của chính mình. Cả hai đều thấy rõ mối quan hệ hỗ tương liên lập giữa mọi sự mọi vật (nhân duyên sinh Phật giáo), và mỗi bên đang nỗ lực tìm một tổng hợp đề cho nhân loại ngày mai.

Nếu người Âu Châu không từ bỏ thế giới của họ, không tự giải thoát khỏi những ràng buộc của thế giới Âu Châu thời trung cổ, thế giới bị ngự trị bởi những đức tin, tín điều, tiên kiến, qui định phải trái tốt xấu, thế giới xây nền trên hai chữ “sáng tạo”, ngắn gọn “thế giới sáng tạo”, thì Âu Châu đã không được như ngày nay, và kiến thức khoa học cũng không thể phát triển nhanh, để bước sang “thế giới tiến trình và liên lập” như hiện nay.

“Thế giới sáng tạo” là thế giới cứng chết (chẳng hạn như: con người là tạo phẩm đã hoàn thành của Thiên Chúa). “Thế giới tiến trình” là thế giới sinh động và mãi mãi trở thành, tức là nó bao hàm chiều kích thời gian. “Tiến trình trở thành” là tiến trình cải tiến mãi hiện tại để tiến tới tương lai, mà hiện tại cũng là một bước cải tiến từ và trên căn bản của quá khứ. Ở đây có đặt vấn đề làm mới mãi quá khứ và hiện tại chứ không đặt vấn đề phủ nhận hay xóa bỏ nó. Tức là khỏi phải làm “cách mạng”!

Chính vì thấm nhuần quan niệm “tiến trình” này mà người Nhật đã tạo nên được quốc sách “cải thiện” (kaizen), áp dụng trong mọi lĩnh vực hoạt động của xã hội Nhật Bản. Và như nhiều người đã biết, nếu không có quốc sách kaizen thì cũng không có nước Nhật của quá khứ và không ngừng tiến đến tương lai.

“Con người trở thành” là “con người phi tôn giáo” (theo nghĩa Tây Phương), không phải chống tôn giáo. Nhưng không phải chỉ các tôn giáo sẽ bị vượt qua, mà tất cả những gì xây nền trên quan niệm “con người là tạo phẩm của Thiên Chúa” đều bị xét lại. “Quyền con người” cũng là một tiến trình, cũng trải qua nhiều thế hệ trước khi nó ra đời, và từ 1791 đến nay nó đã trải qua nhiều lần điều chỉnh cho hợp với cách nhìn mở rộng về con người (mãi đến sau thế chiến thứ 2, người ta mới bắt đầu thừa nhận các dân da màu cũng là người). Nhưng nay nó không còn có thể điều chỉnh được nữa, vì chính quan niệm nền tảng cũ về con người đã không còn giá trị. Và dĩ nhiên 3 nguyên lý nền tảng: tính hợp lý, tính cá nhân và tính giao kèo, của cấu trúc và sinh hoạt chính trị, xã hội và luật pháp của các thể chế dân chủ Âu Mỹ, vì cũng xây nền trên “Quyền con người” này, nên cũng bị mất chân đứng và khủng hoảng trầm trọng.

V. HÃY VÀO VỚI THỜI ĐẠI

Nhà nghiên cứu chính trị của trường Harvard, S.Huntington, qua bài viết của ông “The Clash of Civilisation?” đăng trong Foreign Affairs số mùa hè năm 1993, cho rằng những tranh chấp quốc tế trong tương lai sẽ năng màu sắc văn hóa hơn là ý hệ và kinh tế; hẳn nhiên là còn nhiều chỗ cần được thảo bàn thêm, nhưng luận đề này cũng lưu ý chúng ta rằng “muốn có mặt trong thế giới ngày mai, Việt Nam cần phải có cái văn hóa của mình”. Hoặc nói rằng Việt Nam cần làm một tổng hợp, Đông và Tây, Hoa và Ấn, hơn là đối thoại hay đối đầu, thì công việc cũng phải bắt đầu từ chỗ biết mình là ai, đang ở đâu và muốn gì cho ngày mai. Hoặc như nói rằng “thời đại này là thời đại của đối thoại”, nhưng nếu không biết ta là gì thì Việt Nam lấy gì để đối thoại.

Nói cách khác, người Việt cần phải bắt đầu ngay từ bây giờ và mãi mãi cuộc hành trình tìm lại chính mình, tìm lại dân tộc tính Việt. Đây mới thật là vấn đề sống còn của dân tộc. Không thế, người Việt và nước Việt có thể trở thành bất cứ cái gì nhưng chắc chắn không phải là Việt Nam.


04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com