posted: 05.3.2005
BƯỚC QUA NGƯỠNG CỬA
VÔ MINH?
Trần Chung Ngọc
Trước hết, nếu có thể, tôi xin được tự ý đổi lại chủ đề
của tuyển tập thành “Nhận Định về cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng Của John
Paul II”, vì “Đối Thoại Với John Paul II” có thể nói là một điều rất
khó thực hiện nếu không muốn nói là bất khả thực hiện. Có ít ra là
4 lý do để cho một cuộc đối thoại như trên không nên có, và không thể
thực hiện được: 1.
John Paul II là chủ chăn của 1 số tín đồ đông đảo.
Ngài ở địa vị cao quý, sống trên nhung lụa, và Ngài còn phải để toàn
thời gian (full time) để phục vụ dân nghèo theo như lời dạy của GiêSu
Kitô (Giêsu Christ), cho nên Ngài không thể hạ mình để đối thoại với
những cư sĩ Phật giáo nghèo khổ, địa vị thấp kém, coi vật chất như
huyễn, không tiếng tăm như chúng ta. 2.
Tâm
cảnh (mind-set) của 1 cư sĩ Phật giáo bình thường, sống trước thềm một
thiên niên kỷ mới, tự bao giờ vẫn đồng hành với nền văn minh nhân loại,
ý thức được những tiến bộ của khoa học, không vướng mắc vào những
chuyện huyền hoặc hoang đường, thật quả là bất khả tương hợp
(incompatible) với một tâm cảnh của thời Trung Cổ. 3.
Phật giáo chống
đối vô minh nhưng không chống người bị màn vô minh che phủ, và Phật
giáo quan niệm vô minh chỉ có thể phá vỡ bằng giáo dục và chuyển hóa
chứ không thể phá vỡ bằng cách trực diện chống đối. 4.
Phật
Pháp vốn không tranh cải với các thế gian pháp. Tuy không thể đối thoại,
nhưng nếu chúng ta muốn có vài nhận định về cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng thì đây
là điều chúng ta có thể làm được, và nên làm, vì đây là một quyền
căn bản của chúng ta trong thế giới tự do. Thật ra thì Giáo Hoàng (GH)
John Paul (JP) II đáng thương hơn là đáng trách. Thiền Sư Nhất Hạnh có
nói rằng: “Có hiểu thì mới thương”, cho nên, vấn đề chính là
chúng ta nên tìm hiểu những động cơ nào đã thúc đẩy John Paul II viết
cuốn sách trên. Và khi hiểu rồi thì tình thương sẽ giải quyết tất cả,
chúng ta sẽ không còn bận tâm về những chuyện không đáng để tâm nữa. Để làm công việc tìm hiểu
trên tôi đã đọc kỹ từ đầu tới cuối cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng của Giáo
Hoàng John Paul II. Nhưng thay vì làm công việc “điểm sách”, trước hết,
bỏ qua những lời “mẹ hát con khen hay” hoang tưởng, thiếu thực tế,
thiếu suy nghĩ trong phần “Lời Cảm Tạ” và “Lời Giới Thiệu” ở
đầu cuốn sách (bản Việt ngữ), tôi xin trích dẫn những lời John Paul II
viết về Đức Phật và Phật giáo, rồi đi thẳng vào nhận xét về Giáo
Hoàng John Paul II của vài trí thức, Gia-tô cũng như phi Gia-tô, sau đó sẽ
khai triển và bình luận thêm về những nhận xét này. * * * Ở trang 43, John Paul II viết về
Đức Phật như sau: “Đức Phật đúng khi ngài
không thấy trong việc tạo dựng có thể có sự cứu rỗi, nhưng ngài lầm
khi, vì lý do đó mà ngài phủ nhận việc tạo dựng có một giá trị nào
cho nhân loại”. (Buddha is right when he does not see the possibility of human
salvation in creation, but he is wrong when, for that reason, he denies that creation has
any value for humanity). Và ở trang 85 – 86, John Paul II
viết về Phật giáo như sau: “Giáo lý về sự cứu rỗi của
Phật giáo tạo thành điểm trọng yếu, hay đúng hơn, điểm duy nhất của
hệ thống này. Tuy nhiên, truyền thống Phật giáo và những phương pháp dẫn
xuất từ đó, cả hai đều có hầu như đơn độc một “thuyết cứu rỗi
qua Chúa Kitô” (soteriology) tiêu cực. Sự “giác ngộ” chứng nghiệm bởi
Đức Phật bắt nguồn từ điều xác tín rằng thế giới này là xấu xa,
là cội nguồn xấu ác và đau khổ của nhân loại. Để giải phóng mình
ra khỏi sự xấu ác này, con người phải tự giải thoát ra khỏi thế giới
này, điều này cần thiết là phải đoạn tuyệt với những ràng buộc nối
chúng ta với thực tế bên ngoài - những ràng buộc hiện hữu trong bản chất
con người, trong tâm thức, trong thân thể chúng ta. Càng thoát khỏi những
ràng buộc đó bao nhiêu, chúng ta càng thờ ơ với mọi thứ trong thế giới,
và chúng ta càng thoát khỏi sự khổ, sự xấu ác mà cội nguồn là từ
trong thế giới. Chúng ta có thể tới gần Thần Gia-tô (God) bằng con đường
này không? Điều này không được kể tới trong sự “giác ngộ” mà Đức
Phật đã thông tri. Phật giáo đại để là một hệ
thống “vô thần”. Con người không tự giải thoát khỏi cái xấu ác qua
cái thiện từ nơi Thần Gia-tô; mà chỉ tự giải thoát qua sự cất bỏ
ràng buộc với thế giới xấu xa. Sự vô chấp rốt ráo đó không phải
là sự hiệp thông với Thần Gia-tô, mà gọi là Niết Bàn, một trạng
thái thờ ơ toàn hảo đối với thế giới. Tự cứu có nghĩa là, trên hết,
tự giải thoát khỏi sự xấu ác bằng cách trở thành thờ ơ với thế giới,
nguồn gốc của sự xấu ác. Đây là tột điểm của quá trình tu tập
tinh thần”. (The Buddhist doctrine of Salvation
constitutes the central point, or rather the only point, of this system. Nevertheless,
both the Buddhist tradition and the methods deriving from it have an almost exclusively
negative soteriology. The “enlightenment” experienced by Buddha comes down to the
conviction that the world is bad, that it is the source of evil and of suffering for man.
To liberate oneself from this evil, one must free oneself from this world, necessitating a
break with the ties that join us to external reality – ties existing in our human
nature, in our psyche, in our bodies. The more we are liberated from these ties, the more
we become indifferent to what is in the world, and the more we are freed from suffering,
from the evil that has its source in the world. Do we draw near to God in this way? This
is not mentioned in the “enlightenment” conveyed by Buddha. Buddhism is in large measure an “atheistic”
system. We do not free ourselves from evil through the good which comes from God; we
liberate ourselves only through detachment from the world, which is bad. The fullness of
such a detachment is not union with God, but what is called Nirvana, a state of perfect
indifference with regard to the world. To save oneself means, above all, to free oneself
from evil by becoming indifferent to the world which is the source of evil. This is the
culmination of the spiritual process). Chúng ta để ý rằng John Paul
II đã cố ý dùng một số danh từ có ý nghĩa đặc thù trong Gia-tô Giáo,
những danh từ rất xa lạ hoặc có nghĩa khác hẳn trong Phật giáo, để viết
về Phật giáo, thí dụ như “Salvation = Cứu rỗi” ; và “Soteriology =
Thuyết cứu rỗi qua Chúa Kitô” (Soteriology = the branch of theology concerned
with the doctrine of salvation through Christ (theo tự điển) = Một ngành trong
môn Thần Học nói về thuyết lý cứu rỗi qua Chúa Kitô; hoặc theo định
nghĩa chính thức của Gia-tô trong cuốn Catholic
Word Book do Catholic Information Service, Knights of Columbus ở New Haven,
Connecticut xuất bản: Soteriology = The division of Theology which treats of the
mission and work of Christ as Redeemer) để rồi hỏi một câu vô nghĩa, ít ra
là đối với các Phật tử: “Chúng ta có thể tới gần Thần Gia-tô bằng
con đường này không? Điều này không được nói tới trong sự “giác ngộ”
mà Đức Phật đã thông tri”. Trước khi Jesus Christ ra đời
hơn 500 năm, Đức Phật đã giác ngộ và đưa ra con đường tự lực tự
cường, dũng mãnh phá vỡ vô minh qua óc suy lý và thực hành Bồ Tát Đạo,
cứu nhân độ thế. Vậy Phật tử không tin ở sự cứu rỗi của một Thần
Gia-tô (để cho được chính danh, tôi đã dịch chữ God trong đạo Giatô
là “Thần Gia-tô” vì John Paul II đã dùng danh từ “vô thần” để chỉ
Phật giáo), vậy ai cần tới gần Thần Giatô? Và “giác ngộ” là một
trạng thái tâm linh không thể nghĩ bàn, vượt qua mọi đối đãi nhị
nguyên, Thánh phàm như một, Thần hay không cũng chẳng khác gì nhau, vậy
nói tới việc tới gần Thần Gia-tô để làm gì? Hơn nữa, đã ở trạng
thái vô chấp rốt ráo, nghĩa là đã “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”
rồi thì còn hiệp thông với Thần làm cái gì? Nhưng thôi, chúng ta hãy đi
vào nhận xét của một số trí thức về những lời phê bình trên của
John Paul II: Nalin de Silva, một thành viên của
“Liên Minh các Hiệp Hội Phật giáo” tại Tích Lan, cho rằng “những nhận
xét lắt léo với ác ý của Giáo Hoàng (về Phật giáo) có vẻ như là phản
ứng trước sự bành trướng của Phật giáo và Hồi Giáo gần đây ở Âu
Châu”. De Silva nói: “Ông ta đang cố gắng chống đỡ đức tin của ổng,
Hồi Giáo và Phật giáo là 2 thách thức chính đối với Ki-tô Giáo”. (A
Federation member, Nalin de Silva, said the Pope’s remarks were malicious and appeared
to be a reaction to the recent spread of Buddhism and Islam in Ken Tanaka, một giáo sư của viện
Phật Học ở Thomas Hand, một linh mục Gia-tô,
nói rằng ông ước mong Giáo Hoàng “có thể nói về Phật giáo dựa vào
những kinh nghiệm bản thân. Ta không thể nói về bất cứ cái gì sâu sắc
hiển nhiên như Phật giáo mà không tự mình đi vào trong đó”. (Rev. Thomas
Hand, a Catholic priest, said he wished the pope “were able to speak about Buddhism from
experience. You can’t speak about anything as obviously profound as Buddhism without
getting into it.”) Alan Senauke, một thiền sư, nói
rằng những lời phê bình của Giáo Hoàng về Phật giáo chẳng hơn gì mấy
cái chuyện “dựng lên những hình nộm, rồi quật chúng xuống”. Ông
nói: “Dù là không biết hay cố ý, đó cũng là một sự trình bày sai lầm
nghiêm trọng về Phật giáo.” (Alan Senauke, a Zen priest, said the pope’s
comments on Buddhism were little more than “setting up straw men, then knocking them
down.” “Whether through ignorance or intention, it is a serious misrepresentation of
what Buddhism is all about,” he said.) Lama Ole Nydahl không lấy gì làm
ngạc nhiên về những lời phê bình của Giáo Hoàng. Người hỏi rằng: “Sao
mà một người như Giáo Hoàng có thể đồng ý được với một tôn giáo
như Phật giáo, một tôn giáo đưa con người vượt qua cảnh giới nhị
nguyên và tạo ra một mối liên hệ lành mạnh với thân và ý?”. (Lama Ole
Nydahl was not surprised with the pope’s comments. “How could a man like he possibly
agree with a religion like Buddhism, which takes people beyond dualism and produces a
healthy relationship with their bodies and minds?” he asked.) Chúng ta thấy rằng những nhận
xét của Ken Tanaka, Thomas Hand, và Alan Senauke cùng nói lên một điểm: Giáo
Hoàng không đủ kiến thức để bình luận về Phật giáo nên đã đưa ra
những nhận xét sai lầm nghiêm trọng về Phật giáo. Nhưng nhận xét của
Tỳ Kheo Nalin de Silva và Lạt Ma Ole Nydahl mới thực sự đi vào nguồn gốc
của vấn đề: tâm cảnh của Giáo Hoàng John Paul II không thể lĩnh hội
được cái sâu sắc của Phật giáo, Giáo Hoàng đã viết về Phật giáo một
cách lắt léo ác ý và lý do là để chống đỡ niềm tin của Giáo dân.
Sau đây tôi sẽ phân tích vấn đề trên một cách rộng rãi hơn để làm
sáng tỏ những uẩn hàm (implications) trong lời phê phán của de Silva và Ole
Nydahl. * * * Thật vậy, nếu chúng ta đọc
kỹ cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng
của Giáo Hoàng John Paul II thì chúng ta có thể nhận ra hai điểm chính: 1.
Giáo Hoàng
lo sợ trước sự bành trướng của Phật giáo và Hồi Giáo trên thế giới
nên đã đưa ra những nhận xét một chiều, kiêu căng, hoàn toàn dựa theo
giáo lý Gia-tô, với mục đích hạ thấp các tôn giáo lớn khác, để giữ
giáo dân. 2.
Đây là một
nỗ lực có mục đích củng cố quyền lực của Giáo Hoàng, Tòa Thánh, và
giới giáo sĩ lãnh đạo Gia-tô để duy trì truyền thống “hệ thống chăn
chiên theo cấu trúc Kim Tự Tháp” của Gia-tô Giáo. Cấu trúc này sẽ được
sáng tỏ qua lời mô tả của Penny Lernoux trong một đoạn sau. Với mục đích trên, Giáo
Hoàng đã trích dẫn khá nhiều từ Thánh Kinh, nhắc lại một số tín điều
và coi đó như là những chân lý bất biến mà giáo dân, những người không
đọc Thánh Kinh hay chỉ đọc những đoạn các linh mục chọn lựa để giảng,
phải tin. Tất cả những toan tính trên
đều có lý do. Nhưng trước hết tôi xin có một nhận xét tổng quát về
cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng. Bỏ
qua một phần nhỏ của cuốn sách nói về các tôn giáo khác, phần còn lại
là về Gia-tô Giáo La Mã và ta có thể nói phần này trình bày mặt ngoài của
một chiếc mề đay. Đối với mỗi điểm trên cái mặt ngoài này chúng ta
có thể tìm ra một hay nhiều điểm đối nghịch trên mặt trái. Công việc
chứng minh rất dễ dàng, nằm ngay trong Thánh Kinh và lịch sử gần 2000 năm
của Giatô La Mã Giáo. Tuy nhiên, tạm thời chúng ta hãy để vấn đề này
qua một bên và xét đến những lý do đưa đến việc Giáo Hoàng viết
cuốn sách trên.
* * * HAI LÝ DO A. LÝ DO THỨ NHẤT khiến
cho Giáo Hoàng John Paul II phải bận tâm là đà suy sụp của Gia-tô Giáo
và quyền lực của Giáo Hoàng cùng tòa Thánh Cho
nên chúng ta không lấy làm lạ khi Ngài cố gắng nói trọ trẹ vài câu tiếng
Việt để làm nức lòng giáo dân Việt 1. Nguyên nhân thứ nhất và chính yếu được trình
bày trong nhận xét của Malachi Martin trong cuốn The Keys of This Blood: "Trong hầu hết các nước
ở Âu Châu, phong trào hiện thực sống đời thế tục hầu như đã hoàn
toàn thắng. Trong vùng này, các tôn giáo có tổ chức - Giatô, Tin Lành và
Do Thái - được coi như là giống nhau ở điểm cùng nhấn mạnh trên những
tuyệt đối. Những tôn giáo này được coi là đóng góp rất ít hoặc
không đóng góp gì cho đời sống chính trị, kinh tế và văn hóa hiện thời
ở các nước Tây phương. Giáo Hoàng biết rất rõ rằng, trong thế kỷ tới,
Gia-tô Giáo sẽ chỉ còn tồn tại ở các nước trong thế giới thứ ba. Từ
bao giờ, Giatô Giáo chỉ nẩy nở trong đám dân chúng nghèo khổ và ít học.
Tây phương phức tạp không còn tiếp nhận sự hẹp hòi của Gia-tô Giáo nữa.
Giáo Hoàng biết rõ như vậy." (In most European countries,
secularism has already triumphed completely. In that region, organized religions –
Catholic, Protestant and Jewish – are regarded as alike in their insistence to
absolutes. They are considered to have little or nothing to contribute, therefore, to the
current political, economic and cultural life of Western European countries… The Pope is
well aware that, in the next century, catholicism has always flourised only in poor
population of low educational quality. The sophisticated West can take Catholicism's
narrowness no longer. The Pope realizes that.) Malachi Martin là một nhà thần
học sáng danh vào bậc nhất, đã từng là giáo sư của Viện Nghiên Cứu
Thánh Kinh ngay tại Cho nên, chúng ta không lấy gì
làm ngạc nhiên về phần lớn các cuộc công du của John Paul II là nhắm
vào thế giới thứ ba, ve vuốt thú nhận một cách mơ hồ những lỗi lầm
của Giáo hội trong quá khứ và tạ tội với một số dân tộc trong thế
giới thứ ba, mong họ hãy quên đi quá khứ, hãy quên đi những bất hạnh
mà Gia-tô giáo đã mang tới cho dân tộc họ, hãy quên đi chủ trương tiêu
diệt nền văn hóa cổ truyền địa phương để thay vào đó bằng một nền
văn hóa hẹp hòi tàn độc của một tôn giáo Tây phương. Và đặc biệt
đối với Việt Nam, lợi dụng khối người Gia-tô chống cộng lưu vong, ngài
đã "khuấy động" ảo tưởng về một viễn tưởng lật ngược
thế cờ ở Việt Nam giống như ở Ba Lan, nơi mà 90% dân số theo Gia-tô
Giáo, nhưng quên rằng hơn 90% dân Việt Nam là phi Gia-tô, và người Việt
Nam vẫn chưa quên vai trò của người Gia-tô Việt Nam trong thời Pháp thuộc,
trong thời kháng chiến, và dưới thời Ngô Đình Diệm ở miền Nam.
Ngài không có hi vọng gì ở các nước văn minh tiến bộ, vì nơi đây dân
trí cao, tín đồ không còn quỳ xuống hôn chân "Đức Thánh Cha" nữa
mà trực diện chất vấn John Paul II về những giáo lý đi ngược thời
gian, không phù hợp với thực trạng xã hội. Đoạn sau đây trong cuốn Cry of the People của Penny Lernoux sẽ làm
sáng tỏ phần nào quan điểm của Malachi Martin: "Từ lúc đầu, xã hội Mỹ
La Tinh được xây dựng giống như một Kim Tự Tháp, với vài người Âu
Châu đến định cư và hưởng mọi quyền lợi của đế quốc, và quần
chúng thổ dân, da đen, giai cấp thấp, không có một quyền nào. Cái tháp tồn
tại được là vì khối nhân dân ở dưới đáy được nhắc nhở rằng họ
ngu si, lười biếng, và thấp kém. Những nhà truyền giáo ngoại quốc góp
phần nhồi vào óc dân bản xứ ý tưởng là họ nghèo và ngu dốt là do ý
muốn của Thần Gia-tô. Như Tổng giám mục ở (From the beginning, Latin-American
society was constructed like a pyramid, with a few Europeans settlers enjoying all the
privileges of empire and a mass of Indians, blacks, and half-castes having no rights at
all. The pyramid survived because the mass at the bottom was repeatedly told that it was
stupid, lazy, and inferior. Foreign missionaries helped drum these ideas into the native's
heads by claiming that it was God's will that they should be poor and ignorant. As the
Archbishop of Lima told his Indians: "Poverty is the most certain road to
felicity." Any Indian or African who had the temerity to doubt such wisdom by
rebelling against the system was promtly put to death… The Catholic Church must accept a
lot of the blame for this situation. Like the conquistadors, most of the European
missionaries who came to Latin – Đọc đoạn trên không biết
có đọc giả nào thấy nó khá quen thuộc với những việc đã xảy ra
trong một giai đoạn lịch sử Việt Và, sau đây là nhận xét của
một số học giả và linh mục Gia-tô về cùng vấn đề: Trong cuốn Freedom's Foe – The Vatican ( "Những người theo đạo
Giatô La Mã thực tình ngạc nhiên khi họ thấy rằng đồng bào của họ thường
nghi ngờ họ. Có vẻ như họ không ý thức được rằng, nếu họ chọn để
bước trong đoàn quân của Giáo Hoàng, họ phải chấp nhận những hậu quả.
Những tướng lãnh của họ (các giám mục) và vị chỉ huy tối cao của họ
(Giáo Hoàng), quan tâm thiết yếu đến sự an sinh của (Roman Catholics are often genuinely
surprised to find that they are frequently regarded with suspicion by their fellow
citizens. They do not seem to realize that, if they elect to march in the papal army, they
must expect to receive the consequences. Their Generals (the bishops) and their
Commander-in-Chief (the pope), concentrate upon the welfare of the Cha Joseph McCabe, trong cuốn Rome Puts a Blight on Culture (La Mã ủy hoại
Văn Hóa) đã viết như sau: "Nếu chúng ta đồng ý dân
chủ là một dạng chính trị lý tưởng thì chúng ta cũng phải đồng ý
là giáo dục quần chúng để họ suy nghĩ với óc phê phán và tìm hiểu một
cách không hạn chế là con đường duy nhất để cho họ có những hành động
thỏa đáng. Luật lệ của Giáo Hội Giatô trái ngược hẳn lại. Giáo dân
không được tìm hiểu ngoài tín ngưỡng của mình và không được có đầu
óc phê phán ngay cả trong phạm vi tín ngưỡng của họ". (If we are agreed that democracy is
the ideal political form, we agree also to teach all people to think critically and
inquire without restriction is the only way to get it to work satisfactorily. The law of
the Catholic Church is just the opposite. You must not inquire outside your own creed and
you must not think critically even within its range.) Cha McCabe đã để ra nguyên một
chương để phân tích ảnh hưởng của Giatô Giáo La Mã trên các nền văn
hóa, đưa ra rất nhiều thống kê ở nhiều nơi trên hoàn cầu và kết luận:
"La Mã chỉ khoái những kẻ thất học. Họ bị thuyết phục quá dễ
dàng để đi thiêu sống các kẻ "tà đạo" và hôn hít những
thánh tích giả tạo." ( Trong cuốn Crime and Immorality in the Catholic Church (Tội
Ác và Vô Luân trong Giáo Hội Gia-tô) Cha Emmett McLoughlin cũng viết như sau: "Với kinh nghiệm của tôi
trong hệ thống giáo dục Giatô, với 15 năm làm linh mục, và 13 năm thường
xuyên quan sát và tích cực nghiên cứu sau khi rời khỏi Giáo hội, lòng
xác tín thành thật và quan niệm vững chắc của tôi là, ảnh hưởng của
Giatô trên mọi nền văn minh thật quá nhiều xấu hơn là tốt. Về phương
diện trí thức, Giáo Hội La Mã đã làm hết sức để bóp nghẹt đầu óc
con người và làm nghẹt mọi sáng kiến. Giáo hội phải làm như vậy nếu
muốn sống còn. Không một người nào có đầu óc suy nghĩ, thông minh, biết
rõ về những sự kiện lịch sử, đặc biệt là một người Mỹ yêu tự
do, lại có thể trở thành hoặc vẫn còn là tín đồ của Giatô La
Mã." (It is my contention and my sincere
conviction, from my experience in the Catholic educational system, my life of 15 years in
the pries thood, and 13 years of constant observation and intense study since leaving the
Church, that its influence on all civilization has been far more evil than of good.
Intellectually the Church of Rome has done its best to strangle the human mind and stiffle
mental initiative. It must do this if it is to survive. No thinking, intelligent,
historically studious person, especially a freedom-loving American, can become or remain a
Roman Catholic.) Cùng một ý tưởng, trong bài
“Phật giáo và Người Việt Nam Hiện Đại”, Như Hạnh chuyển ngữ, Tiến
Sĩ J.C.Cleary, tốt nghiệp đại học Harvard về Ngôn Ngữ và Văn Minh Đông Phương, cũng viết như
sau: “Người Việt Nam hẳn sẽ ngạc
nhiên khi khám phá ra rằng đối với những người Tây Phương có đầu óc
tiến bộ, chính Thiên Chúa Giáo mới là một mớ huyền thoại lỗi thời,
mê tín dị đoan, và những nghi lễ vô nghĩa lý. Người Tây Phương thừa
hiểu rằng, chẳng có mấy người đầu óc tiến bộ mà lại tin nơi Thiên
Chúa Giáo. Những ai có kiến thức về lịch sử Âu Châu đều biết rằng,
Giáo Hội Giatô La Mã đã làm đủ cách trong quyền lực của họ để ngăn
chặn sự phát triển của khoa học cũng như lối sống và suy nghĩ mới.
Ở Mỹ hiện nay, những tín đồ Thiên Chúa Giáo cực đoan là những kẻ đứng
đầu trên giới tuyến chống lại các tạp quán mới và thế giới khoa học.
Do đó trong tâm thức Tây Phương, Thiên Chúa Giáo được gắn liền với một
thứ chủ nghĩa truyền thống lạc hậu, một thứ nuối tiếc thời đã
qua. Ở Tây Phương, phần đông các tín đồ Thiên Chúa sùng tín thường là
những kẻ ít học nhất, những thành phần thấp, kém kinh tế trong quần
chúng, những kẻ chẳng còn có gì để trông ngóng nữa cả”. Và, cách đây gần 100 năm, Toàn
Quyền Đông Dương J.L.de Lanessan, trong cuốn Les Missions et leur Protectorat, trích dẫn bởi
Patrick J.N.Tuck, cũng viết về thực trạng truyền giáo tại Á Đông như
sau: “Thật ra, trong hơn 2 thế kỷ
mà các hội truyền giáo Giatô hoạt động ở Trung Hoa và bán đảo Đông Dương
có lẽ họ không cải tạo được quá 10 học giả. Toàn thể giới cầm
quyền có học của dân chúng đã tránh né sự truyền đạo của họ. Đại
cương thì các nhà truyền giáo chỉ tuyển mộ được tín đồ trong những
giai cấp thấp nhất, và phần lớn là những kẻ, vì lý do này hay lý do
khác, đã bị xã hội An - Nam ruồng bỏ.” (In fact during the two centuries and
more that the Catholic Missions have been operating in Trên đây chỉ là vài tài liệu
để chứng minh rằng, nhận xét của nhà thần học Giatô lỗi lạc Malachi
Martin không sai. Và bây giờ chúng ta đã hiểu là tại sao Tòa Thánh “Những người mặc quần áo
lụa tía, sống trong lâu đài, ngồi trên ngai - thật khó có thể hành động
như là những kẻ phục vụ cho những kẻ phục vụ Thần Giatô hoặc đại
diện cho cái Người Nghèo ở Nazareth đối với những người nghèo đói
trong thế giới.” (Those who dress in purple silk, live
in palaces, sit on thrones – it is not easy for them to act as servants of the servants
of God or to represent the Poor Man of Nazareth to the poor and starving of the world.) Những kẻ phục vụ Thần
Giatô là tín đồ, và Người Nghèo ở 2. Nguyên nhân thứ nhì là, phong trào tranh đấu của các
giáo hội Giatô địa phương để được độc lập, không chịu quyền thống
trị tư tưởng cũng như vật chất của Vatican càng ngày càng lên cao. Phong
trào này đã bắt đầu từ nhiều thế kỷ và bộc phát trong thập niên
1960 với phong trào “Thần Học Giải Phóng” xuất phát từ Châu Mỹ
La Tinh và lan sang Phi Châu cùng Á Châu. Trong lịch sử Giáo Hội Giatô, ngay
từ thế kỷ thứ 17 nhiều giáo hội
Giatô địa phương đã phủ nhận quyền lực của Giáo Hoàng. Phong trào
Ga-Li-can (Gallicanism) ở Pháp là một phong trào của những giáo sĩ Giatô
Pháp đòi hỏi giới hạn quyền hành của Giáo Hoàng và các giáo hội địa
phương được tự trị về hành chánh. Giáo hội Ga-Li-can Pháp là một
giáo hội quốc gia (hay quốc doanh?) công nhận Giáo Hoàng nhưng phủ nhận tín
điều “Giáo Hoàng không thể sai lầm” và quyền lực trung ương của
Giatô La Mã. (French Gallicanism was a national church which acknow-ledged the pope but
denied papal infallibility and central authority.) Năm 1790, quốc hội Pháp bác bỏ
đề nghị coi Giatô Giáo là Quốc Giáo dù hơn 80% dân Pháp theo Giatô Giáo.
Trong cuốn The Papacy and the Modern World
(Giáo Hoàng Triều và Thế Giới Hiện Đại), Karl Otmar von Aretin viết rằng:
“Sự nổi lên của các giáo hội quốc
gia là vấn đề đe dọa quyền lãnh đạo tinh thần tối cao của các Giáo
Hoàng trong thế kỷ thứ 18. Ở La Mã không có gì bị chống đối một cách
quyết liệt như là những khuynh hướng thành lập giáo hội quốc gia trong
thế kỷ thứ 19, ngay cả tới ngày nay, La Mã coi khuynh hướng tự do như là
kẻ thù lớn nhất của Giáo hội La Mã.” (The emergence of national churches
was the problem threatening the spiritual of the popes in the eightenth century. In Trong chương “What Catholicism
Has Done To Catholics” (Giatô Giáo Đã Làm Những Gì Cho Người Giatô), Cha
Emmett McLoughlin viết như sau: “Trào lưu Cải Cách của
Luther trong thế kỷ 16 chỉ là cao điểm thắng lợi của nhiều thế kỷ
tranh đấu của hàng triệu người thực tình bất đồng ý với những đạo
đức cũng như giáo lý của La Mã. Nếu hoàn cảnh chưa chín mùi để nổi
dậy, phong trào cải cách của Luther và nhiều người khác không thể lan rộng
một cách nhanh chóng như vậy trong các quốc gia cấp tiến ở Âu Châu. Tất
cả các dân tộc này đều theo Giatô La Mã nhưng họ không chấp nhận tội
ác và vô luân của La Mã, của Giáo Hoàng và giáo sĩ đoàn. Không phải chỉ vì ngẫu nhiên
mà những dân tộc Kitô Giáo đó, sau khi đã phủ nhận La Mã, đã trở
thành và vẫn còn là những dân tộc đạo đức và tôn trọng luật pháp
nhất trên thế giới: Na Uy, Thụy Điển, Ái Nhỉ
Lan, Đan Mạch, Phần Lan, Anh Quốc, Tô Cách Lan và Thụy Sĩ, họ đã hiểu
được là, hãy tin tưởng vào Thần Giatô, vào ý chí của chính họ, chứ
không phải là tin tưởng vào sự xưng tội, luyện ngục, xá tội, tràng hạt,
mề đay và các thứ tương tự”. (Luther’s Reformation in the 16th
century was merely the successful climax of centuries of struggle of sincere millions who
disagreed as much with the morals of Và, trong cuốn American Freedom and Catholic Power (Tự Do Của Hoa Kỳ và Quyền Lực Giatô), Paul
Blanshard cũng cổ súy việc Giáo hội Giatô Mỹ độc lập với Vatican như
sau: “Điều quan trọng là phải
phân biệt giữa những tín đồ Giatô Mỹ và những linh mục của họ bị
La Mã kiểm soát. Người Giatô Mỹ chiến đấu và chết cho cùng một quan
niệm về tự do như những người Mỹ khác; họ tin vào cùng những lý tưởng
căn bản về dân chủ. Nếu họ có thể kiểm soát được giáo hội của họ,
thì vấn đề Giatô sẽ biến đi ngay vì, trong bầu không khí tự do của Mỹ,
họ sẽ điều chỉnh những đường lối của Giáo hội theo những thực tế
của Mỹ. Bất hạnh thay, dân Giatô ở Hiệp Chủng Quốc không phải là những
công dân mà là những “thuộc hạ” trong đoàn thể giáo dân của chính họ.
Đường lối sống đạo và sống đời của giáo hội họ đều được quy
định ở La Mã, một tổ chức xa lạ với họ về tinh thần và sự điều
khiển. Người Giatô Mỹ không được quyền chọn lựa đại diện của họ,
ở địa phương của chính họ hay là ở cấp lãnh đạo tại La Mã; và vì
cấu trúc độc đoán của giáo hội, họ bị bắt buộc chấp nhận những
chính sách về đạo cũng như đời áp đặt trên họ từ nước ngoài.” (It is important, therefore, to
distinguish between the American Catholic people and their Roman-controlled priests. The
Catholic people of the Paul Blanshard xuất bản cuốn
sách trên năm 1949 và từ đó ý thức về một giáo hội quốc gia tại Mỹ
càng ngày càng lên cao, và trong thực tế thì dân chúng Mỹ càng ngày càng
bất chấp những lệnh của Vatican, công khai chống đối Vatican trên nhiều
địa hạt. Điều này thể hiện trên những thống kê về phản ứng của
dân Giatô Mỹ trước những giáo điều xuất phát từ Vatican và trước những
biện pháp độc tài của Vụ điển hình thứ hai là trường
hợp Linh Mục Charles E. Curran, giáo sư thần học tại Đại Học Giatô Hoa Kỳ
(Catholic University of American) đã bị Vatican cất chức năm 1967 vì không đồng
ý với những giáo điều liên hệ tới vấn đề ngừa thai và nhiều vấn
đề xã hội khác của Vatican. Sinh viên phản đối, và 400 trong số 418 đồng
nghiệp của cha Curran bỏ phiếu đồng ý bãi khóa cho tới khi Cha Curran được
phục chức. Cuộc bãi khóa kéo dài 3 ngày, nhà trường phải không những
phục hồi mà còn hứa sẽ thăng chức cho Cha Curran lên giáo sư diễn giảng.
Nhưng Vatican thù dai, tháng 8 năm 1976, nghĩa là 9 năm sau, Cha Curran không được
phép dạy môn “thần học về đạo đức” (moral theology) tuy vẫn ở chức
vụ giáo sư và được phép dạy môn khác nếu thích hợp. (Xin đọc cuốn The Pope and the Mavericks (Giáo Hoàng và những
người lạc đạo) của Louis Baldwin). Có lẽ người Giatô Việt Nam nên học
kinh nghiệm của các nước ở Bắc Âu và các nước tân tiến như Anh, Pháp,
Mỹ về tinh thần quốc gia và độc lập, nếu muốn có một chỗ đứng vững
vàng trong lòng đại khối dân tộc Việt Nam. Bây giờ chúng ta hãy trở lại
đề tài “Thần Học Giải Phóng”. Cụm từ này làm cho nhiều người
Giatô cũng như phi Giatô ngỡ ngàng. Người ta thường nói tới giải phóng
nô lệ, giải phóng con người khỏi ách thống trị, khỏi cảnh áp bức độc
tài, v.v... chứ ít ai nghe tới Thần Học
Giải Phóng. Trong Giatô Giáo La Mã, Thần Học
là một môn học đặc thù thâu tóm một cách có hệ thống những suy tư,
diễn giải về đức tin Thần Giatô và những uẩn hàm (implications) của đức
tin này. Những người chuyên về ngành học này, thường là ở Âu Châu,
được huấn luyện để trở thành những nhà thần học, những cán bộ chỉ
đạo của Giatô giáo để luận về những chủ đề đặc thù của Giatô
Giáo như Thần, Sự Sáng Tạo, Giêsu, Giáo Hội, Ân Sủng, Bí Tích, Tín Lý,
v.v... Và theo truyền thống dân chủ tự do đặc biệt của Vatican thì bất
cứ một sự diễn giải thần học
nào mà không phù hợp 100% với sự diễn giải của Nhung c?m t? “th?n h?c gi?i phóng” có một ý nghĩa đặc biệt vì đó là một
phong trào giải phóng con người khỏi những sự áp đặt một chiều và
vô nghĩa lý của 1. Từ khi bắt đầu xuất hiện
ở Tân Thế Giới, Giáo hội Giatô La Mã đã giúp một phần trong việc
chinh phục các thổ dân bằng nỗ lực của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, và
áp đặt nên thuộc địa trên vùng đất này. 2. Giáo hội Giatô nói một đàng,
làm một nẻo. Thánh kinh dạy phải phục vụ người nghèo nhưng giáo hội
luôn luôn thi hành chính sách giành dân chiếm đất, vơ vét của cải. Điều
này thật rõ ràng qua lời than vô cùng ý nhị của Mục sư Desmond Tutu, người
đã đoạt giải Nobel về Hòa bình năm 1984: “Chúng tôi có đất đai và họ
tới với cuốn Thánh Kinh của họ. Chúng tôi tin họ, cầm cuốn Thánh Kinh
trên tay, nhắm mắt cầu nguyện. Khi chúng tôi mở mắt ra thì chúng tôi có
cuốn Thánh Kinh và họ có đất đai của chúng
tôi.” (We have our lands and they came with their Bible. We believed in them and we
pray with the Bible in our hands and our eyes closed. When we open our eyes, we have the
Bible and they have our lands.) 3. Giáo hội Giatô là một tổ
chức dựa vào luật lệ tôn giáo, chuyên chế, độc quyền giải thích
Thánh Kinh, đặt ra những luật lệ không phù hợp với dân tộc tính địa
phương và áp đặt những luật lệ này trên khối tín đồ thiếu hiểu biết. Vì những lý do chính yếu trên
mà phong trào thần học giải phóng ra đời. Danh từ giải phóng
nói lên ý nghĩa của mục đích giải phóng con người khỏi những bất công
của xã hội, khỏi những áp bức của khối thống trị, về tư tưởng
cũng như về vật chất, khỏi những ảnh hưởng của ngoại lai. Cho nên,
thần học giải phóng là cách diễn giải đức tin Thần Giatô theo kinh nghiệm
của dân nghèo, tìm hiểu Thánh Kinh và các giáo lý Giatô theo quan điểm của
dân nghèo. Con người sinh ra không phải ngẫu nhiên nghèo hay vì thần Giatô
muốn vậy, mà phần lớn vì tổ chức xã hội. Do đó thần học giải
phóng lên án cái cấu trúc kinh tế ở Châu Mỹ La Tinh dung dưỡng một thiểu
số đi máy bay sang “Những dân nghèo, không phải
là da trắng, và phái nữ đang tìm thấy ý nghĩa mới trong niềm tin Kitô
và cùng lúc phơi bày những sự thiếu sót trong cách trình bày đức tin này
của những người da trắng Tây phương. Thần học giải phóng là một
tuyên ngôn khẳng định sự độc lập về văn hóa và tri thức”. (The
poor, nonwhites, and women are finding new meaning in Christian faith as revealing the
short comings of interpretation made by Western males. Liberation theology is a kind of
declaration of Cultural and Intellectual Independence. ‘Ibid.’) Tương tự trong cuốn A Vision of Hope: The Churches and Change in Latin America (Một Viễn
Tượng của Hy Vọng: Giáo hội và Sự thay đổi ở Châu Mỹ - La Tinh),
Trevor Beeson & Jenny Pearce cũng viết như sau: “ Đó không phải là một môn
thần học mới, mà là cách mới để khảo sát về thần học trong phạm
trù Châu Mỹ La Tinh – nghĩa là trong phạm trù tranh đấu giải phóng. Sự
kiện chính yếu là trong phạm trù tranh đấu giải phóng. Sự kiện chính yếu
là trên khắp lục địa ngày càng có nhiều người Kitô Giáo tham gia cuộc
đấu tranh cho sự giải phóng chính trị, xã hội, kinh tế, văn hoá và tinh
thần dân tộc họ.”(It is not “a new theology” which has been discovered, but
“a new way of doing theology” in the Trong phong trào THGP có những bộ
óc thượng thặng Giatô như Gustavo Gutíerrez, Juan Luis Segundo, Leonardo Boff …
và những thần học nổi tiếng đã góp phần tích cực trong Cộng Đồng
Vatican II như Karl Rahner, Edward Schilebeeckx, Hans Kung … Trong số này thì Hans
Kung và Leonardo Boff nổi tiếng hơn cả, nổi tiếng vì Vatican đã dùng mọi
quyền lực để tìm cách “khoá miệng” hai vị này. Đại cương thì luận
cứ của Hans Kung, một giáo sư thần học người Đức nổi tiếng ở Châu
Âu, như sau: Đọc Tân Ước, người ta thấy
rõ ràng là chính Giêsu không có thành lập một giáo hội, nhưng đời sống
và cái chết của Người đã đưa tới một phong trào mà theo thời gian đã
trở thành một tổ chức đầy luật lệ (giáo hội). Nếu sự tổ chức
giáo hội ngày nay, với những chức sắc như giám mục và linh mục, không
được dẫn xuất từ chính ý của chúa Giêsu, thì có thể có nhiều hình
thức khác nhau. Thí dụ, việc loại phái nữ ra khỏi những chức quyền
trong giáo hội không có một căn bản nào từ Thánh Kinh. Ngoài ra, Hans Kung
và nhiều nhà thần học khác, thí dụ như Edward Schillebeeckx, đã chỉ
trích giáo điều “bất khả sai lầm” (infaillibility) của Giáo Hoàng, cho
rằng giáo điều này không dựa trên bất cứ căn bản nào ở trong Thánh
Kinh và chỉ được xây dựng trên một sự hiểu biết thiếu sót về chân
lý. Hans Kung đặt vấn đề: ngừa thai có phải là một chủ đề thích hợp
để đưa ra một giáo điều không? Giáo Hoàng có đủ tư cách xứng đáng
(competent) để diễn giải một định luật thiên nhiên (natural law) hay
không? GH thật sự có quyền đơn phương đưa ra một giáo điều mà không
cần sự đồng ý của hội đồng giám mục không?” và Kung đưa ra kết
luận “Giáo hội càng tỏ ra quyền hành bao nhiêu thì càng đưa tới sự
chia rẽ nội bộ bấy nhiêu”. Những tư tưởng này dĩ nhiên
đe dọa quyền của toàn thể hệ thống giáo hội La Mã, ít nhất là trên
quan điểm của La Mã. Cho nên chúng ta không lấy làm lạ khi Vantican tuyên bố
là Hans Kung không được dạy giáo lý Giatô nữa và cấm các trường Giatô
mời ông làm giáo sư. Tuy nhiên, rất nhiều nhà thần học thần học đang
dạy trong các đại học Giatô đồng ý với Hans Kung. (Xin đọc Liberation
Theology của Philip Berryman và The Pope and the Maverichkas của Louis Baldwin). Nhà thần học Ba Tây, Leonardo
Boff, có viết về một cuốn sách nhan đề “Church: Charisma and Power” nổi
tiếng hoàn cầu. Nổi tiếng vì không những Cha Boff quan niệm giáo hội phải
là giáo hội của dân nghèo, mà ngài còn chỉ trích cái cấu trúc độc đoán
của Vatican, và nhất là, ngài đưa ra vấn đề nhân quyền ngay trong nội bộ
giáo hội. Boff đã viết một đoạn dài để so sánh từng điểm một giữa
kiểu cai trị của điện Cẩm Linh (Kremlin) và Vatican, so sánh GH với Tổng
Thư Ký đảng Cộng sản, cơ quan hành chánh Trung Ương La Mã với bộ chính
trị của Liên Bang Sô Viết. Lẽ dĩ nhiên, Có lẽ chúng ta cũng nên biết
tổ chức quyền hành của giáo hội Giatô La Mã ra sao. Tổ chức này được
Cha Leonardo Boff mô tả khá kỹ như sau: “Cấu trúc quyền lực trong
giáo hội ngày nay là vay mượn từ những khuôn mẫu của nhiều thế kỷ
trước, và có hai khuôn mẫu đặc biệt đáng nói tới: kinh nghiệm đối với
quyền lực La Mã và cấu trúc phong kiến. Tuy nhiên quyền lực La Mã trong
giáo hội ngày nay là một trong những nguồn xung đột chính với sự thức
tỉnh của tâm thức con người về vấn đề nhân quyền. Đặc tính quyền lực phong kiến
La Mã là, thứ nhất, một hệ thống bao cấp riêng biệt; thứ nhì, bản chất
hệ thống này là phục vụ cá nhân. Người nào ở trong địa vị quyền hành
thì ở đó suốt đời; ý muốn của họ là luật trong cấp của họ nhưng
luôn luôn bị ràng buộc bởi sự tuân phục của cấp trên. Thứ ba, đó
là một hệ thống thiêng liêng mênh mông. Nói cách khác, tính hợp pháp của
hệ thống này không do từ dưới mà là từ trên xuống, từ ý muốn của
Thần Giatô. Trong hệ thống này, người nào càng ở cấp cao bao nhiêu thì
càng gần Thần Giatô bấy nhiêu và càng được Thần chia xẻ cho nhiều Thần
quyền bấy nhiêu. Tuân phục cấp trên có nghĩa là tuân phục Thần, do đó
sự tuân phục là một giáo luật. Thứ tư, chế độ quyền lực này bất
khả xâm phạm và không cho phép một sự chỉ trích nội bộ nào. Chỉ có
cấp trên mới có quyền chỉ trích. Một thắc mắt của cấp dưới được
coi như là tương đương với một cuộc
cách mạng trong vũ trụ. Do đó, bất cứ ý kiến đề nghị thay đổi nào
cũng được coi như là một hình thức đả phá Thần Giatô, tác giả của
hệ thống và của cấu trúc quyền lực thiêng liêng.” Trong khi ở các nước văn minh
tiến bộ, hệ thống quyền lực mô tả ở trên không còn đất dụng võ,
thì bất hạnh thay ở một số quốc gia chậm tiến thề giới thứ ba, hệ
thống quyền lực trên vẫn đươc duy trì vì dân trí nơi đây chưa được
phát triển, vẫn còn tin ở chuyện hoang đường, thí dụ như chỉ có GH
và Tòa thánh Vatican mới có quyền cho phép con người hiệp thông thần với
Thần Giatô, vì đó là những người ở gần Thần nhất, được sự mặc
khải của Thần, và được quyền thay Thần để quyết định ai được lên
Thiêng Đàng, ai không. Nói tóm lại, phong trào giáo hội
quốc gia độc lập và phong trào THGP đã nói lên điểm chính yếu: không
có lý do nào mà các dân tộc ở Châu
Mỹ La Tinh, ở Trung Mỹ, ở Châu Phi và ở Á Châu phải chấp nhận giáo
quyền của Vatican có thực sự thông minh và đạo đức hơn những người
ở trong thế giới thứ ba không, nếu chúng ta xét tới lịch sử của giáo
hội Giatô, của các Giáo Hoàng, với những cuộc thánh chiến, với những
Tòa án xử dị giáo, và với sự kiện là sự kiện Tòa Thánh phải mất
359 năm để thú nhận sai lầm về vụ xử oan Galileo? Mỗi nền văn hoá đều
khá nhau. Không có một lý do nào mà các nền văn hoá Châu Mỹ La Tinh, Châu
Phi và Á Châu phải rập theo khuôn của nền văn hoá Tây phương (Aⵠchâu).
Chấp nhận sự lệ thuộc vào văn hoá Tây Phương, bất kể dưới hình thức
nào, cũng là biểu lộ óc nô lệ, thiếu tự tin của những người bản xứ
thiếu tinh thần quốc gia nếu không muốn nói là phản bội quốc gia. Ý thức dân chủ càng ngày càng lên cao ở các quốc
gia trong thế giới thứ ba, và ý thức dân chủ này cũng được áp dụng
trong lãnh vực tôn giáo, không chỉ thu hẹp trong phạm vi xã hội. Những ý
thức hợp lý này đã đe doạ hệ thống quyền lực tôn giáo ở 3. Nguyên nhân thứ ba là
ngày càng có nhiều linh mục và giáo dân rời giáo hội Giatô La Mã. Nhìn
vào số thống kê giáo dân của giáo hội thì người ta không thấy gì vì
giáo hội chỉ tính những người rửa tội mà không tính những người bỏ
đạo. Giáo hội quan niệm rằng “một khi đã là dân Giatô thì sẽ mãi
mãi là dân Giatô” (One a Catholic, always a Catholic). Tuy nhiên, kết quả khảo
cứu của các nhà xã hội học Giatô qua phương pháp thâu thập dữ kiện,
phân tích và dự phóng khoa học, đã đưa ra những con số rất đáng lo ngại
đối với Một thí dụ điển hình là
trong cuốn Full Pews and Empty Altars ( Nhà thờ đầy bục giảng và trống trơn),
kết quả công trình nghiên cứu trong 6 năm của hai học giả xã hội học
Richard Schonherr và Lawrence Young của đại học Wisconsin Madison, tác giả khuyến
cáo đạo Giatô là: “Sự thiếu hụt linh mục ở Mỹ đang làm cho nền tảng
của giáo hội Giatô La Mã sụp đổ” (The shortage of priests in the US is
crumbling the foundation of the Roman Catholic Church) và đưa con số dự phóng: “từ
năm 1966 tới năm 2005, con số linh mục sẽ giảm 40%, từ 35.000 xuống
còn 21.000 trong khi GH vẫn giữ vững lập trường không cho phái nữ làm
linh mục.” Điểm đặc biệt trong vụ này
là, nguồn tài trợ cuộc nghiên cứu từ năm 1984 này lại do chính một cơ
sở Giatô đài thọ, hãng dược phẩm Lilly. Nhưng năm 1990 khi các tác giả
đưa ra kết quả của cuộc nghiên cứu thì lập tức phần tài trợ cuối
cùng bị cắt. Lý do? Hồng y Tổng giám mục Thật ra vì kết quả nghiên cứu
trên cũng không có gì đặc biệt vì sự kiện các linh mục bỏ đạo đã
trở nên trầm trọng từ lâu. Giáo Hoàng đã biết vậy và đang tìm cách lật
ngược chiều hướng này bằng sự tuyển mộ và cầu nguyện (Pope JP II is
trying to reverse thies trend primarily through recruitment and prayer). Trong cuốn
Shattered Vows: Priests Who Leave (Lời nguyện bị tan vỡ: Những linh mục Mỹ bỏ
đi). Tác giả David Rice là một ông Cha dòng Đô – MI – Níc và ngài đã
đi khắp nơi tổng cộng 38.000 miles để phỏng vấn và tìm hiểu đời sống
của các linh mục sau khi bỏ giáo hội, đã viết như sau: “100.000 linh mục Giatô đã
rời bỏ giáo hội trong 20 năm qua – cứ mỗi 2 giờ đồng hồ lại có hơn
1 linh mục ra đi. Hầu như phân nữa số linh mục Mỹ sẽ bỏ đi – thường
là để lập gia đình – chưa tới 25 năm sau khi được tấn phong. Vatican
không nói tới cuộc di dân này, nhưng đó chính là cuộc khủng hoảng
nghiêm trọng nhất mà giáo hội phải đối diện, kể từ khi có cuộc Cải
Cách Tin Lành” (100.000 Roman Catholic Priests
have walked out in the last 20 year – more than one than one every two hours. Almost
half of all American priests will leave – most often, to marry – before the 25th anniversary
of their ordination. The 4. Nguyên nhân thứ tư là
hình ảnh xì – căng – đan vang dội thế giới. Từ sự ký kết những
thoả hiệp với Hitler và Mussolini trong thế chiến II cho tới những vụ tiền
bạc thâm lạm ở nhà băng dính líu với Mafia, bao che tội phạm trong
Vatican, làm thông hành giả cho tội phạm trong Vatican, làm thông hành giả
cho tội phạm chiến tranh dùng đường dây chuột (ratlines) qua ngã Caritas
..v..v.. tất cả đã làm cho Giáo hội Giatô mất đi tính cách tôn giáo mà
nặng nề về chính trị hoạt đầu. (Xin đọc The Vatican’s Holocaust (Lò Sát Sinh của Với chủ trương “cứu cánh
biện minh cho phương tiện”, chỉ lo sự tồn vong của Vatican bất kể đạo
đức và sự an sinh của nhân loại, giáo hội Giatô đang đi trên con đường
tự hủy diệt. Trong thế giới tự do, với quyền báo chí hiện nay, với
các phương tiện truyền thông tân kỳ, giáo hội Giatô không có cách gì
che đậy hay dấu diếm những hoạt động của giáo hội. Ngoài ra, về phương
diện đạo đức, vụ kiện 1,2 tỷ đô la (1.2 billion dollar lawsuit) liên hệ
đến những lạm dụng phi luân trong một cô nhi viện ở Canada, trong đó
các “sơ mặc áo xám” (graynuns) hành hạ trẻ em cho đến chết, và cố
ý làm cho một số em bị tật nguyền (disabled), thí dụ như chọc thủng màng
tai, để lãnh của chính phủ $2.50 thay vì 75 xu một ngày cho mỗi em khỏe mạnh
bình thường, được phanh phui trong chương trình Prime Time trên TV, và mới
đây cuốn phim “The Boys of St.Vincent” (Những Em Nhỏ ở Cô Nhi Viện St.
Vincent) nói về các vụ hành hạ và hiếp dâm các trẻ em trong cô nhi viện
St. Vincent ở Newfoundland bên Canada đã làm cho quần chúng ghê tởm những
hành động phi luân của các giáo sĩ và nhất là sự bao che của giáo hội
cho những kẻ phạm pháp. Nhưng mang tiếng hơn cả là hơn
400 linh mục phạm tội hiếp dâm nữ tín đồ và trẻ em được giáo hội
bỏ ra hơn 400 triệu đô la để dàn xếp ngoài tòa cho mọi sự được ếm
nhẹm, và dùng tiền bạc thuê luật sư để tố ngược lại cha mẹ nạn
nhân với lý do không săn sóc con cái. Về những vụ này, trong cuốn A Gospel of Shame: Children, Sex Abuse and the
Catholic Church (Một phúc âm nhục nhã: Vấn đề lạm dụng tình dục và
trẻ em trong Giáo Hội Giatô) Elinor Burkett và Frank Bruni, mô tả như sau: “Cuốn sách dùng những cuộc
phỏng vấn các nạn nhân để khảo sát vị trí dễ bị lạm dụng duy nhất
của trẻ em trước các linh mục, và các linh mục phạm pháp để tìm hiểu
về đời sống cô độc nguy hiểm của họ. Cuốn sách đưa ra những tài
liệu về sự bất lực của công tố viên, quan tòa, tâm lý gia và ký giả
trong việc theo dõi kiểm soát các giám mục, những người đã dùng cả triệu
đô la để bảo vệ tiếng tăm của giáo hội hơn là bảo vệ các tín đồ.” (The book uses interviews with
victims to examine children’s unique vulnerability to priests and with priests abusers
to explore their dangerous isolation. It documents the failure of prosecutors, judges,
psychologists and reporters to monitor bishops, who spend million of dollars to protect
the church’s image rather than its believers.) Cùng một đề tài nghiên cứu,
trong cuốn Lead Us Not into Temptation: Catholic
Priests and the Sexual Abuse of Children (Xin Đừng Dẫn Chúng Con Vào Sự Cám
Dỗ: Các Linh Mục Công Giáo và Vấn Đề Hiếp Dâm các Em Nhỏ), Jason Berry
đã đưa ra kết quả của 1 cuộc nghiên cứu là: “Ở Bắc Mỹ, từ 1984 tới
1992, 400 linh mục Giatô đã bị tố cáo là hiếp dâm trẻ con. Cho tới nay
(1992) (In fact, between 1984 and 1992,
400 Catholic priests in Nhận định về cuốn sách
này, Cha Andrew M. Greeley, giáo sự tại đại học “Tôi biết nhiều vụ và
tình trạng mà Jason Berry viết. Tôi có thể bảo đảm với độc giả là,
theo sự hiểu biết của tôi, những gì Berry đưa ra là chính xác và dè dặt,
nếu không muốn nói là quá thận trọng. Ấn tượng vững chắc của tôi
là tình trạng thực sự tệ hơn là những điều viết trong sách. Tôi cho rằng,
khi đọc qua những trang sách này, chúng ta sẽ cảm thấy thật là giận,
không hẳn chỉ là giận những kẻ gây ra tội lỗi vì chính họ cũng thường,
nếu không muốn nói là luôn luôn, là nạn nhân khi còn nhỏ tuổi, mà là
giai cấp lãnh đạo Giatô. Các Giám Mục có vẻ như được đào luyện giống
nhau để cùng dấu diếm, che chở, hối lộ, lạnh lùng, và thường là lại
bổ nhiệm trở lại giáo phận những người mà họ biết là mối nguy hại
cho đám tín đồ.” (I am familiar with many of the
cases and situations about which Jason Berrt writes. I can assure the reader that to the
best of my knowledge his reporting is accurate and restrained, indeed if anything almost
too conservative. It is my strong impression that the situation is actually much worse
than it appears in this book. One will become very angry, I suspect, as one reads through
its pages, not so much at the victimizers, who themselves were often, if not always,
victims when thay were children, but at Catholic leadership. Bishops have with that seems
like programmed consistency tried to hide, cover up, bribe, stonewall, often they have
sent back into parishes men whom they knew to be a danger of the faithful.) Bốn nguyên nhân chính ở trên
đã tạo nên đà suy sụp bất khả nghịch chiều (irreversible) của giáo hội
La mã trên thế giới và đó cũng là lý do chính thúc đẩy John Paul II viết
cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng. * * * B. LÝ DO THỨ NHÌ là sự
bành trướng của Phật giáo và Hồi Giáo ở Âu Châu và Mỹ Châu. Tôi
không biết gì về Hồi Giáo, nhưng về Phật giáo thì tôi thấy rõ sự
phát triển của tôn giáo này ở Âu Mỹ. Cách đây 25 năm, khi còn đang học
ở Mỹ, tôi chỉ thấy lơ thơ vài cuốn sách về Phật giáo như bộ Thiền Luận của Daisetz T. Suzuki, cuốn A Buddhist Bidle của Dwight Goddard, cuốn Zen Keys của Thích Nhất Hạnh, và một số
sách của vài tác giả quen thuộc như Edward Conze, Christmas Humpfreys, Sir Edwin
Arnold, Theodore Stcherbatsky, Alan Watts, Charles Luk, Sangharakshita, John Blofeld và
Philip Kapleau. Nhưng ngày nay, ra 1 tiệm sách lớn thì ta thấy cả một rừng
sách về Phật giáo. Năm 1993, cuốn The
Miracle of Mindfulness (Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức) của Thích Nhất Hạnh
là một trong những cuốn bán chạy nhất (best sellers). Sách về Phật giáo
Tây Tạng ra cũng nhiều và càng ngày càng có nhiều người đọc, nhất là
từ sau khi Đức Dalai Lama được trao tặng giải thưởng Nobel về Hòa
Bình. Ảnh hưởng của Phật giáo và
những xã hội Âu Mỹ đã được phát triển trên ba phương diện bởi ba
nhân vật điển hình có tên tuổi: Daisetz T. Suzuki với Thiền Tông, Đức
Dalai Lama với Mật Tông, và Hòa Thượng Thích Nhất Hạnh với quan niệm
“Phật giáo Nhập Thế” và dòng “Tiếp Hiện”, lẽ dĩ nhiên với sự
góp sức của rất nhiều Tăng Sĩ và Cư sĩ Phật giáo khác. Gần đây chương
trình “60 Minutes” của đài truyền hình CBS có cho biết là hiện nay ở
Hoa Kỳ có hơn 2 triệu người Mỹ theo Phật giáo hay chịu ảnh hưởng của
Phật giáo, chưa kể tới những người gốc Á Châu như Nhật Bản, Trung
Hoa, Việt Nam, Đại Hàn ..v..v.. Đài truyền hình NBC cũng cho biết riêng ở
Los Angeles có khoảng 300 trung tâm Phật giáo (Buddhist Centers), Boston có khoảng
50, v.v... Trong cuốn How The Swans Came To The
Lake, Rick Fields viết về lịch sử phát triển Phật giáo ở Hoa Kỳ với
những sự đóng góp của Đức Dalai Lama, Hòa Thượng Thích Nhất Hạnh
trong nhiều cộng đồng. Muốn biết sự phát triển của Phật giáo ở Âu
Châu, xin đọc Buddhism in Europe của
Kosho Yamamoto, Zen Comes West của Christmas Humphreys. Ảnh hưởng của Đức Dalai
Lama càng ngày càng lên cao, nhất là từ ngày Ngài được giải thưởng
Nobel về hòa bình, đã khiến cho Giáo Hoàng John Paul II phải lo ngại và viết
như sau, trang 104: “Ngài đem Phật giáo đến với những người Kitô
Giáo Tây phương, “khuấy động” (stirring up) sự quan thiết (interest) về
cả đường hướng tu đức lẫn những phương páp cầu nguyện của Phật
giáo” và sau đó “lưu ý các Kitô Hữu phải thận trọng trong việc nồng
nhiệt đón nhận một vài tư tưởng đến từ những truyền thống truyền
giáo của Viễn Đông” (trang 108). Ở đây, chúng ta nên nhận rõ hai điều:
thứ nhất, sự phát triển của Phật giáo trên thế giới từ xưa tới nay
luôn luôn nằm trong tinh thần từ bi bác ái và hòa bình, chưa hề làm đổ
một giọt máu, cho nên dù có “khuấy độﮧ” thì cũng chẳng có phương
hại gì tới bất cứ ai; thứ nhì, lịch sử Giatô trong 2000 năm qua đã chứng
minh rằng, bất cứ nơi nào mà Giatô Giáo đến “khuấy động” là nơi
đó có máu đổ, có sự chia rẽ, có sự đối nghịch với nền văn hóa địa
phương, và thường các giáo sĩ thừa sai Giatô là đoàn quân tiên phong đến
lập một đoàn quân thứ năm của người bản xứ để hỗ trợ cho đoàn
quân thực dân kéo tới sau. Và, để cho tín đồ Giatô khỏi
bị khuấy động bởi Phật giáo, John Paul II đã phê bình Phật giáo là một
hệ thống “vô thần”. Chính câu này đã làm cho Tỳ Kheo Nalin de
Silva cho rằng đó là những lời nhận xét lắt léo với ác ý (malicious
remarks). Lý do? Trong nhiều năm qua, Giatô Giáo đối nghịch với Cộng Sản
và luôn luôn kết hợp CS với vô thần để khích động lòng căm thù của
giáo dân đối với CS. Tín đồ Kitô và những người phi Cộng Sản không
hiểu rằng, CS là một ý thức hệ chính trị, kinh tế, và xã hội; trong
khi Vô Thần là một lập trường tâm linh đối với tôn giáo. Vô thần đã có từ cả mấy
ngàn năm nay, trong khi CS mới xuất hiện chưa đầy 100 năm. Tuyệt đại đa
số dân Nga theo Chính Thống Giáo, cũng như tuyệt đại đa số dân các nước
Âu Châu theo Giatô La Mã. Chủ nghĩa CS được phát động và phát triển ở
những nơi này chính vì sự liên kết của tôn giáo và chính quyền để bóc
lột dân nghèo, và những người CS chống tôn giáo là vì tôn giáo đã hiệp
với quyền hành thế gian, dung dưỡng những bất công trong xã hội. Ý Đại Lợi là nước ngoan đạo
nhất và đoàn quân của Garibaldi tiến vào La Mã tước bỏ các lãnh thổ của
Giáo Hoàng, thu hẹp lãnh thổ này trong phạm vi thị trấn nhỏ Vatican, đều
là tín đồ Giatô. Cuộc cách mạng 1789 của Pháp tước đoạt quyền hành
của các giám mục, đưa một số linh mục lên máy chém cũng là do dân
Giatô thực hiện. Các thể chế CS ở Đông Âu cũng do dân Giatô lãnh đạo,
họ tin ở Thần Giatô và Giêsu Kitô nhưng không chấp nhận những lạm dụng
quyền hành của tôn giáo. Vậy họ chống những kẻ lợi dụng tôn giáo để
mưu đồ quyền lợi cá nhân nhưng không phải họ là vô thần. Cộng Sản Việt Nam không nhìn
ra điều này, nhắm mắt nhắm mũi áp dụng chính sách chống tôn giáo của
Nga Sô và các nước Cộng Sản Đông Âu mà không hiểu rằng suốt trong
dòng lịch sử Việt Nam, các tôn giáo
dân tộc, nhất là Phật giáo, là linh hồn của dân tộc mà chưa bao giờ
Phật giáo đứng về phe chính quyền để bóc lột dân nghèo. Chỉ có giai
cấp có quyền hành, thực dân Pháp và tay sai mới bóc lột giai cấp công
nông, chứ Phật giáo không chủ trương
bám víu vào của cải quyền lực thế gian thì làm sao có thể bóc lột bất
cứ ai. Ngoài ra, ở các nước Giatô, giáo dân được ru ngủ để cho giới
giáo sĩ được nảy nở, nắm giữ quyền
hành, nhất là ở các thuộc địa, chứ ở
Việt Nam Phật giáo luôn luôn đứng đầu trong việc xây dựng nước và chống
ngoại xâm, cho nên bảo rằng Phật giáo là thuốc phiện ru ngủ dân
chúng để mà đàn áp cũng lại là một kiểu nhắm mắt nhắm mũi theo một
ý thức hệ ngoại lai mà không biết đến những bối cảnh lịch của dân
tộc. Đó là chính sách sai lầm nghiêm trọng của Cộng Sản Việt Trở lại câu phê bình của GH
John Paul II mà Tỳ Kheo de Silva gọi là lắt léo. Thật vậy, John Paul
II là người đã tham dự và tích cực
đóng góp cho cộng đoàn Vatican II. Trong bản tuyên ngôn về liên hệ giữa
Giáo Hội và các tôn giáo phi Kitô (Declaration on the Relationship of the Church
to Non-Christian Religions) có một đoạn nói về Phật giáo như sau: “Phật giáo, trong những dạng
khác nhau, nhận biết sự thiếu sót của
thế giới hằng chuyển này. Phật giáo dạy một con đường theo đó con người,
với một tinh thần tin tưởng và nhiệt tâm, có thể hoặc đạt tới một
trạng thái tự do tuyệt dối hoặc hoàn toàn giác ngộ, do chính sự tinh tấn
của mình hay với trợ lực của đấng cao hơn.” (Buddhism in its multiple forms
acknowledges the radical insufficiency of this shifting world. It teaches a path by which
men, in a devout and confident spirit, can either reach a state of absolute freedom or
attain supreme enlightenment by their own efforts or by higher assistance.) (The Documents
of Đó là một sự mô tả Phật
giáo tương đối đúng, và John Paul II chắc chắn đã đọc đoạn này. Nhưng
ngài vẫn cố ý viết về một “thuyết cứu rỗi” tưởng tượng của
Phật giáo, phê bình Đức Phất sai lầm vì phủ nhận giá trị của việc “tạo dựng”, và Phật giáo là một hệ
thống “vô thần”, ngầm kết hợp Phật giáo với Cộng Sản để khai thác
lòng thù hận CS mà giáo hội đã reo rắc vào tâm hồn giáo dân từ bao
lâu nay. Nếu chúng ta theo dõi tình hình hải ngoại thì đây cũng là luận
điệu của nhóm Giatô Cần Lao bấy lâu nay trên diễn đàn báo chí và điện
tử ở ngoại quốc. Trên những diễn đàn hải ngoại, bất cứ người nào
viết về Giatô Giáo, tuy là sự thực, cũng bị chụp lên đầu cái mũ thân
Cộng, hay nằm trong chính sách phá Giatô Giáo, gây chia rẽ tôn giáo của Cộng
Sản Việt Người Việt “Không phải là chúng ta tấn
công tôn giáo mà là những giáo sĩ, những người muốn dùng tôn giáo làm
một công cụ thống trị.” (Ce n’est pas à la religion que nous nous attaquons,
c’est à ses ministres, qui veulent s’en faire un instrument de domination.) Chúng ta cũng khó có thể quên
Jean Bossu, khi tranh đấu cho nền dân chủ của Pháp đã tuyên bố : “Chống
giáo sĩ đoàn đặc quyền là nền tảng căn bản của tinh thần dân chủ.
Đối với chúng ta, giáo sĩ đoàn đặc quyền, chính là Giáo hội, chính
là Giatô Giáo mà từ trước tới nay luôn luôn là kẻ đối nghịch của mọi
thứ tự do.” (L’anticléricalisme est
la base fondamentale de l’esprit démocratique... Pour nous, le cléricalisme, c’est l’Église,
c’est la Catholicisme, qui a toujours été l’adversaire de toute liberté.) Các nhà trí trức Pháp đã nhận
thấy sự quan trọng của một nền giáo dục Giatô trên nhiều phương diện,
và họ đã thành công trong việc giật con em họ ra khỏi vòng tay “giáo dục”
của các giáo sĩ Giatô, và vạch trần những đạo đức giả của Giáo
hội (Arraché l’enfant au moine, dévoilé les hypocrisies de l’Église.) So với nền
giáo dục khai phóng, Giáo dục Giatô là loại giáo dục mà những nhà trí
thức Pháp coi như là chống lại tổ quốc và tiến bộ, như Bộ Trưởng
Giáo Dục Pháp Charles Dupuy đã phát biểu: "Chúng ta xác quyết rất
thẳng thắn là, đối với chúng ta thật là điều không thể nhân nhượng
được trong chiều hướng giáo dục tự do, bất cứ người nào lại có thể
dạy dỗ trẻ con để chống lại tổ quốc của chúng và cản sự tiến bộ
của chúng." (Nous le déclerons très
franchement, il nous parait intolérable qu’à la faveur de la liberté d’enseignement,
qui que ce soit puisse élever des enfants contre leur pays et contre leur temps.) Và, Gustave Tery, sáng lập viên
nhật báo L’Oeuvre cũng đưa ra một đường lối hành động như sau : "Tôi
đã hiểu rằng không chiến đấu chống Giáo hội Giatô chính là phục vụ
cho Giáo hội, và rằng im lặng là hèn nhát. Tôi hiểu rằng chỉ không để
cho bị lừa bịp thì chẳng đủ chút nào, mà còn phải luôn luôn tố cáo
sự dối trá." (J’ai compris que ne pas combattre l’Église, c’est la
servir, et que le silence est lâche. J’ai compris qu’il ne suffit point de ne pas
être dupe, mais qu’il faut à toute heure dénoncer le mensonge.) Nhưng rõ ràng hơn cả là 2 nhận
định sau đây của đại văn hào Victor Hugo : 1. "Chỉ có hai tội phạm,
Xê-Da và Phê-Rô ; Xê-Da thì giết người (hủy diệt thân xác), Phê-Rô
thì nói láo (hủy diệt tinh thần)... Người linh mục đã, hoặc có thể, bị
thuyết phục và thành thật. Chúng ta có nên trách họ không? Không. Chúng
ta có nên chống họ không? Nên." (Il n’y a que deux coupables, César et
Pierre ; César qui tue, 2. "Nền văn minh, ánh
sáng này, có thể bị tắt đị bởi hai cách bị chìm đắm; hai sự xâm lăng
nguy hiểm đối với nền văn minh, sự xâm lăng của các quân lính và sự
xâm lăng của các linh mục Giatô. Sự xâm lăng của các linh mục đe dọa
con chúng ta, tương lai." (Le civilisstion, cette lumière, peut être éteinte
par deux modes de submersion ; deux invasions lui sont dangereuses, l’invasion des
soldats et l’invasion des prêtres. L’une menace notre mère, la patrie ; l’autre
menace nos enfants, l’avenir). Không phải là bây giờ hay gần
đây con người mới ý thức được những sự dối trá của giáo đoàn đặc
quyền Giatô và ý thức được sự cần thiết của tự do tư tưởng, song
song với sự tiến bộ của văn minh nhân loại, mà trong suốt bao nhiêu thế
kỷ, cái khát vọng tự do này của con người đã phát lộ khắp nơi trên
thế giới. Tìm hiều về những nhân vật nổi danh trên thế giới như:
Asimov, Beethoven, Berthelot, Charles Bradlaugh, Brahms, Einstein, Anatole France, Jules
Ferry, Sigmund Freud, Galileo, Victor Hugo, Thomas Huxley, Robert Ingersoll, Thomas
Jefferson, Lafayette, Mozart, Lincoln, Nietzche, Thomas Paine, Bertrand Russel, Sir Walter
Scott, Mark Twain, Voltaire, H.G.Wells v.v... chúng ta sẽ thấy họ đều là những
nhà tự do tư tưởng
(freethinkers) và cùng chung một hướng đi: tranh đấu cho tự do tư tưởng của
con người và chống đối những huyền thoại dối trá phản tiến hóa của
Giáo hội Giatô mà biểu tượng là Vatican. Cho nên, chụp mũ những người
viết về sự thực của Giatô Giáo hay Vatican là thân Cộng, là tay sai của
Cộng Sản, là dùng sách lược chống Giatô của Cộng sản, là chia rẽ
tôn giáo để giảm tiềm năng chống Cộng v.v... là luận điệu của những
người không chịu tìm hiểu, không đọc sách, không đọc lịch sử khách
quan của Giáo hội Công giáo cũng như lịch sử thế giới, mang Cộng sản
ra làm cái bung xung để khai thác lòng thù hận của những người đối nghịch
với Cộng sản, bẻ quẹo vấn đề, không đủ khả năng thảo luận,
không đủ can đảm để nhận những sự thực lịch sử, và thiếu tính lương
thiện và sĩ khí của những người trí thức. * * * BÌNH LUẬN
Sau đây, tôi xin sang phần bình
luận về vài điểm trong cuốn Bước
Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng của GH John Paul II. Thật tình thì tôi chẳng muốn
đi vào tín ngưỡng của bất cứ ai, vì tín ngưỡng là quyền tự do của
con người, kể cả niềm tin thuộc loại mê tín dị đoan. Nhưng Giáo
Hoàng, với cương vị của lãnh tụ tối cao một tôn giáo lớn mà lại dựa
vào niềm tin của mình để phê bình sai lầm về một tôn giáo khác hay về
Giáo Chủ của một tôn giáo khác là một điều khó có thể chấp nhận.
Do đó sau đây tôi sẽ luận về lời phê bình Đức Phật của John Paul II: "Đức
Phật đúng khi Ngài không thấy sự cứu rỗi trong việc tạo dựng, nhưng
Ngài đã lầm khi, vì lý do đó mà Ngài phủ nhận sự tạo dựng có một
giá trị nào cho nhân loại." Điểm then chốt ở đây là
thuyết "tạo dựng" trong Giatô Giáo, một thuyết mà Phật
giáo chưa bao giờ để ý tới. Hơn nữa, quan niệm về "thế giới thành
tựu" trong Kinh Hoa Nghiêm khác hẳn với thuyết tạo dựng của Giatô.
Thật vậy, trong Kinh Hoa Nghiêm, phẩm "Thế Giới Thành Tựu", Bồ
Tát Phổ Hiền tuyên thuyết về 10 đặc tính của các thế giới như Nhân duyên khởi, hình trạng v.v... không
có chỗ nào nói về việc tạo dựng thế giới do một siêu nhân. Đặc biệt
là Phật giáo quan niệm có hằng hà sa số thế giới có hình trạng khác
nhau như trong đoạn kinh văn sau đây: "Lúc đó Phổ Hiền Bồ
Tát bảo đại chúng rằng: Chư Phật
tử! Thế giới hải có nhiều hình tướng sai khác, hoặc tròn hoặc như
nước xoáy.. hoặc hình như hoa... có vi trần số hình sai khác như vậy",
khác hẳn Giatô Giáo quan niệm thế giới chúng ta đang sống là
thế giới duy nhất do Thần Giatô tạo ra, và trái đất là trung tâm của
thế giới này, mặt trời và các hành tinh khác đều do các thiên thần
xoay vần xung quanh trái đất. Quan niệm Giatô này, dựa trên Thánh Kinh được
coi như là những lời của Thần Giatô nên không thể sai lầm, đã đưa
Giordano Bruno lên dàn hỏa thiêu sống, và biệt giam Galileo tại gia nhiều năm
cho đến khi chết, chỉ vì những khoa học gia này, dựa vào thực nghiệm,
đưa ra thuyết trái đất và các hành tinh xoay xung quanh mặt trời, và
ngoài thế giới chúng ta đang sống còn có nhiều thế giới khác nữa. Chúng ta cũng không nên quên là
phải mất 359 năm, tới năm 1992, tòa Thánh Vatican mới công nhận là sai lầm
về vụ xử Galileo. Cho nên, người ta đã đặt câu hỏi: nếu Thánh Kinh đã
có những điều sai lầm thì có gì bảo đảm là thuyết tạo dựng trong
Thánh Kinh không sai lầm? Và nếu phải mất hơn 3 thế kỷ rưỡi mới công
khai nhận lầm về một sự thật
hiển nhiên, thì làm sao bây giờ họ có thể nhận ra được những tội
ác cũng rất hiển nhiên của họ trong gần 100 năm vừa qua trên các dân tộc
Á-Phi-Mỹ La Tinh? |