giao diem 3-2005

posted: 05.3.2005

PHẬT GIÁO VÀ GIÁO HOÀNG

Trần Văn Kha

Mới đây Giáo Hoàng có cho phát hành một cuốn sách mang tên Crossing the Threshold of Hope (Vượt qua ngưỡng cửa của hy vọng), trong đó có một chương nói về Phật giáo. Chương này là để trả lời các câu hỏi của Vittorio Messori, một nhà văn Ý. Sau đây là những đoạn trích các câu trả lời do chính Đức Giáo Hoàng viết ra, và đã được tiến sĩ Joaquin Navarro, trưởng phòng báo chí của Đức Giáo Hoàng mang đến tận nhà trao cho Vittorio vào tháng 4/1994. Cũng xin lưu ý là các câu hỏi này đã được viết ra, đưa trước cho Tòa Thánh, nhân dịp họp báo kỷ niệm 15 năm giữ chức vụ Giáo Hoàng dự trù vào tháng 10/1993, nhưng cuộc họp báo đã bị hủy bỏ.

(Xin trích) :

 I. Đức Phật

"Vâng, ông đã đúng và tôi xin cảm ơn ông về câu hỏi đó. Trong những tôn giáo được kể ra trong tài liệu Nostra Aetate của Cộng Đồng Vatican, thì chú ý đặc biệt tới Phật giáo là một điều cần thiết, vì Phật giáo trên một quan điểm nào đó, cũng như đạo Kitô, là một tôn giáo giải thoát. Tuy nhiên, cần nên nói ngay rằng học thuyết giải thoát của Phật giáo và Kitô Giáo đối nghịch nhau."

(Yes, you are right and I am grateful to you for this question. Among the religions mentioned in the Council document Nostra Aetate, it is necessary to pay special attention to Buddhism, which from a certain point of view, like Christianity, is a religion of salvation. Nevertheless, it needs to be said right away that the doctrines of salvation in Buddhism and Christianity are opposed.)

II

“Học thuyết về Giải Thoát của Phật giáo là điểm chính, hay đúng hơn là điểm duy nhất của tôn giáo đó. Tuy nhiên, cả truyền thống Phật giáo lẫn những phương pháp từ nguồn gốc đó đều là sự giải thoát hoàn toàn tiêu cực.

Sự Giác Ngộ mà Đức Phật kinh nghiệm được chỉ là tin tưởng rằng đời là xấu, đời là nguồn gốc của tội lỗi và khổ đau. Muốn giải thoát khỏi khổ đau đó, ta phải thoát ra khỏi cuộc đời, nghĩa là phải cắt đứt những liên hệ trói buộc ta vào thực tại bên ngoài - những ràng buộc có sẵn trong con người, trong tâm linh, và trong thân thể. Càng thoát được ra khỏi những ràng buộc đó, càng trở nên vô tư với những gì ở cuộc đời, thì càng thoát khỏi khổ đau, khỏi tội lỗi mà cuộc đời là nguồn gốc.

Chúng ta có thể tới gần Thượng Đế bằng cách này không? Điều này không thấy nói gì tới trong sự Giác Ngộ mà Đức Phật rao giảng. Phật giáo phần lớn là một hệ thống Vô Thần. Chúng ta không giải thoát khỏi tội lỗi bằng những điều Lành tới từ Thượng Đế; Chúng ta tự giải thoát bằng cách xa lánh cuộc đời, vì cuộc đời là xấu. Sự xa lánh hoàn toàn không dẫn tới kết hợp với Thượng Đế, mà là với cái gọi là Niết Bàn, một trạng thái hoàn toàn vô tư với cuộc đời. Tự giải thoát có nghĩa là, trên hết, ta phải giải thoát ta ra khỏi khổ đau bằng cách trở nên vô tư với cuộc đời, vì nó là nguồn gốc của khổ đau. Đó là điểm tối hậu của tiến trình tâm linh.”

(The Buddhist doctrine of salvation constitutes the central point, or rather the only point, of this system. Nevertheless, both the Buddhist tradition and the methods deriving from it have an almost exclusively negative soteriology.

The enlightenment experienced by Buddha comes down to the conviction that the world is bad, that it is the source of evil and of suffering for man. To liberate oneself from this evil, one must free oneself this world, necessitating a break with the ties that join us to external reality – ties existing in our human nature, in our psyche, in our bodies. The more we are liberated form these ties, the more we become indifferent to what is in the world, and the more we are freed from suffering, from the evil that has its source in the world.

Do we draw near to God in this way? This is not mentioned in the enlightenment conveyed by Buddha. Buddhism is in large measure an atheistic system. We do not free ourselves from evil through the good which comes from God; we liberate ourselves only through detachment from the world, which is bad. The fullness of such a detachment is not union with God, but wat is called nirvana, a state of perfect indifference with regard to the world. To save oneself means, above all, to free oneself from evil by becoming indifferent to the world, which is the source of evil. This is the culmination of the spiritual process.)

III

“Sự thần bí Kitô trong mọi thời đại cho đến bây giờ - kể cả sự thần bí của những nhân vật tài ba rất hoạt động như Vincent de Paul, John Bosco, Maximilian Kolbe - đã xây dựng và tiếp tục xây dựng những yếu tố quan trọng nhất của đạo Ky-tô. Nó cũng xây dựng Giáo Hội như là một cộng đồng của đức tin, hy vọng, và bác ái. Nó đã xây dựng văn minh, đặc biệt là Văn Minh Âu Châu. Nền văn minh này được đặc biệt đánh dấu bởi việc tìm hiểu cuộc đời một cách tích cực, và đã phát triển nhờ có thành quả của khoa học và kỹ thuật, hai ngành học thuật có góc rễ ở truyền thống Triết Học cổ ở Hy lạp và sự Khải Thị của Do Thái Ky-tô. Sự thật về Thượng Đế Sáng Tạo thế giới, và Chúa Giêsu Cứu Rỗi, là một năng lực rất mạnh gây ra thái độ tích cực về sáng tạo và cung cấp nỗ lực thường xuyên để tìm cách thay đổi và hoàn thiện thế giới.

Cộng Đồng 2 Vatican đã rõ ràng xác nhận sự thật này. Truyền bá một thái độ Tiêu Cực về cuộc đời, vì tin rằng đời là nguồn gốc duy nhất của sự đau khổ của con người và vì thế con người phải cắt đứt với cuộc đời, là tiêu cực không những vì điều này là đơn phương mà cũng vì nó trái ngược với sự phát triển của con người và xã hội, mà trách nhiệm này đã được Đấng Sáng Tạo trao cho con người.”

(Christian mysticism in every age up to our own – including the mysticism of marvelous men of action like Vincent de Paul, John Bosco, Maximilian Kolbe – has built up and continues to build up Christianity in its most essential element. It also builds up the Church as a community of faith, hope, and charity. It build up civilization, particulary “Western civilization”, which is marked by a positive approach to the world, and which developed thanks to the achievements of science and technology, two branches of knowledge rooted both in the ancient Greek philosophical tradition and in Judeo-Christian Revelation. The truth about God the Greator of the world and about Christ the Redeemer is a powerful force which inspires a positive attitude toward creation and provides a constant impetus to strive for its transformation and perfection.

The Second Vatican Council has amply confirmed this truth. To indulge in a negative attitude toward the world, in the conviction that it is only a source of suffering for man and that he therefore must break away from it, is negative ont only because it is unilateral but also because it is fundamentally contrary to the development of both man himself and the world, which the Creator has given and entrusted to man as his task.)

IV

“Vì lý do đó, không phải là không thích hợp để cảnh giác những người Thiên Chúa Giáo đang nhiệt tình đón nhận một vài quan niệm xuất phát từ những truyền thống tôn giáo của miền Viễn Đông - tỉ dụ như sự thực hành những kỹ thuật và phương pháp tập thiền và tu khổ hạnh.”

(For this reason it is not inappropriate to caution those Christlans who enthusiastically welcome certain ideas originating in the religious traditions of the Far East - for example, techniques and methods of meditation and ascetical practice.) “

(Hết trích dẫn nguyên văn các câu trả lời)

* * *

NHẬN ĐỊNH

I. ĐỐI NGHỊCH: “Học thuyết giải thoát của Phật giáo và Kitô Giáo đối nghịch nhau.”

Đối nghịch thứ nhất

Cùng một mục tiêu, nhưng có nhiều đường lối để thực hiện mục tiêu đó. Và càng có nhiều đường lối thì càng tốt, vì mỗi một đường lối có thể hợp với người này, mà không hợp với người khác. Để nuôi sống thân thể, thì cơm gạo là chính đối với dân Á Châu, trong đó có Việt Nam. Nhưng người Âu Châu thì ăn bánh mì. Tôn giáo cũng vậy, có thứ hợp với Dân Tộc này, nhưng không với Dân Tộc khác.

a. Đức Phật cho rằng, Đời là khổ, Sinh Lão Bệnh Tử là khổ. Muốn thoát khổ, phải tu để trở hành Phật. Đức Phật có nói “Ta là Phật đã thành. Chúng sinh là Phật sẽ thành”. Nghĩa là ai cũng có Phật tính cả. Nhưng chỉ vì Tâm động, lại hướng ra ngoài, nên ta không tìm ra được bản chất Phật có sẵn trong mỗi người. Đức Phật có nói:

“Trăng vẫn chiếu sáng trên mặt hồ. Nhưng ta không nhìn thấy Trăng phản chiếu dưới đáy hồ, vì mặt hồ dỡn sóng. Khi nào mặt hồ không có sóng, thi sẽ nhìn thấy Trăng dưới hồ.”

Trăng dưới đáy hồ là bản chất thực của con người, đó là Tâm Phật. Nhưng chỉ khi nào Tâm hoàn toàn tĩnh lặng thì mới tìm thấy Tâm Phật. Nhưng làm thế nào để thấy Tâm không động là vấn đề sẽ được trình bày ở đoạn chót.

 b. Giáo Hoàng thì lại cho rằng phương pháp tu của Phật giáo không làm cho người tu tới gần Thượng Đế. Người đặt ra câu hỏi “Chúng ta có thể tới gần Thượng Đế bằng cách đó chăng?” (Do we draw near God in this way?). Vậy người theo đạo Gia-tô tới gần Thượng Đế bằng cách nào? Bằng cách làm lễ rửa tội, rẫy nước Thánh, khi chết hay vào lúc sắp chết, và như thế là người chết sẽ được về nước Chúa. Nhưng người chết có thực sự được về nước Chúa hay không, chúng tôi chỉ xin đưa ra những ý kiến của người Âu Châu:

- William L. Shirer tác giả quyển Gandhi, A Memoir, The Rise and Fall of the Third Reich được giải thưởng Pulitzer.

“Tất cả mọi tôn giáo đều có quá nhiều huyền thoại mà các ông thầy tu và các tín đồ tin tưởng không suy nghĩ, những huyền thoại này đều đã bị bóp méo bởi bàn tay con người, mà một số là phù thủy, và bởi những đền đài hay nhà thờ, nên tôi không thể tin để đặt đời tôi vào đó. Nhưng tôi biết ơn Gandhi vì đã mở rộng tâm tôi tới những cái đẹp, cái khôn ngoan, và đặc biệt là cái chất thơ và triết lý của kinh sách Ấn Độ và Phật giáo, và trên một phạm vi ít hơn, tới kinh Koran, và làm cho tôi hiểu sâu xa hơn đạo Gia-tô, mà Gandhi đã từng nói với tôi.

“Sau kinh nghiệm đó, tôi không bao giờ còn là một người Gia-tô thuần thành, tin rằng sự cứu rỗi chỉ dành cho những người chạy theo đạo này mà thôi. Nếu có một Thiên Đàng, thì nó phải mở ra cho người theo Ấn Độ Giáo, Phật giáo, Hồi Giáo và những người theo đạo khác, những người này nhiều hơn gấp bội những người theo đạo Gia-tô. Tôi cũng không còn có thể tin được rằng Thượng Đế Gia-tô là một, một độc nhất, như tôi đã được dạy từ lúc nhỏ. Có những Thượng Đế khác của những tôn giáo khác, cũng chính đáng như thế.” (Gandhi, A Memoir, trang 245-46).

Theo Kinh Thánh những người không tin Chúa phải sa Hỏa Ngục, mà những người này, theo lời của Wiliam L. Shirer, nhiều hơn gấp bội những người theo đạo Gia-tô. Như thế là quỷ Satan có nhiều tín đồ hơn Chúa Giêsu? Giáo điều này làm cho rất nhiều người thắc mắc.

 Sau đây là một số ý kiến của người Mỹ về việc này, nhân vụ Jeffrey Dahmer bị giết chết ở trong tù. Dahmer đã giết chết 17 người sau khi hiếp dâm họ, trong đó có một em bé trai người Lào 14 tuổi. Khi khám nhà, người ta thấy trong tủ lạnh của anh mấy trái tim, và đùi người, mà anh bảo cất vào đó để ăn dần.

- “Evil and Forgiveness" (The Register, Monday, Dec. 5/94)

Bill Cook's letter (“Dahmer rests in heaven”, Nov.30) informs us that cannibalistic serial murderer Jeffrey Dahmer is now at peace in heaven because he accepted Jesus Christ after having committed about 17 horrible murders.

I'm curious about what Cook thinks about the fate of Dahmer's victims. According to Cook's philosophy, if Dahmer's victim happen to be Jewish or Buddhist or if they had not yet had time to accept Giêsu Christ because of their murder, does that mean these innocent victims are off suffering eternal hell while Dahmer is off in heaven enjoying a state of bliss? (Lee Dunlap, Costa Mesa).

(Dịch): Tội Ác và Tha Thứ (báo Registrer, thứ hai ngày 5/12/94)

Thư của Bill Cook ("Dahmer yên nghỉ trên Thiên Đàng." 30/11) cho chúng ta biết Jeffrey Dahmer, một kẻ ăn thịt người và giết người hàng loạt, bây giờ sống bình yên trên Thiên Đàng, vì anh đã chấp nhận Chúa Giêsu sau khi giết chết 17 người một cách khủng khiếp.

Tôi tò mò muốn biết Cook nghĩ thế nào về số phận những nạn nhân của Dahmer. Theo như triết lý của Cook, nếu những nạn nhân của Dahmer là người Do Thái hay theo Đạo Phật, hay họ chưa kịp theo Chúa mà đã bị giết chết, thì phải chăng những nạn nhân vô tội này sẽ phải sống đời đời trong Hỏa Ngục, còn Dahmer thì lên Thiên Đàng hoàn toàn hạnh phúc?

- Genuine repentance alone "saves", but not after alife long commitment to evil and bloodshed, ignoreing countless opportunities along the way to repent. Deathbed and prison conversions for the likes of Dahmer are a mockery of the deity, not an example of God's forgiveness.

The Christian obsession with the afterlife is to blame for this strange sense of divine mercy for the most evil among humanity. (Daniel B. Ardel, Anaheim).

"Thành thực ăn năn không thôi có thể "cứu rỗi", nhưng không thể được cứu rỗi, nếu suốt cả đời phạm tội ác, và gây ra đổ máu, anh bỏ qua không biết bao nhiêu cơ hội để ăn năn. Trở lại đạo trước khi chết, hay trong lúc ở tù của những người như Dahmer là một sự phỉ báng Thượng Đế, không phải là một tỉ dụ về Thượng Đế lòng lành.

Những người Gia-tô bị ám ảnh bởi đời sống sau khi chết phải chịu những trách nhiệm về quan niệm một Thượng Đế lòng lành kỳ quặc, tha thứ cho các tội khủng khiếp nhất trong loài người. (Ý kiến của Daniel B. Ardel, Anaheim)

Đối nghịch thứ hai

Phật giáo tin vào Nhân Quả Luân Hồi. Con người của kiếp này là sự nối tiếp con người của kiếp trước. Bây giờ sướng hay khổ, là do chính mình tạo ra bởi những việc làm ở kiếp trước (và chính trong kiếp này). Như thế có nghĩa là con người làm chủ hiện tại và tương lai của mình. Không ai ban cho mình Hạnh Phúc, hay Đau Khổ. Chỉ có mình mới làm cho mình Sướng hay Khổ mà thôi. Mỗi người phải chịu trách nhiệm về việc mình làm. Nếu mình phạm tội ác, thì không cầu xin ai Cứu Rỗi cho mình được cả. Vì thế người hiểu đạo Phật là một người Tích Cực quyết định lấy số phận của mình.

Kinh Thánh của đạo Gia-tô thì cho rằng không có tiền kiếp, luân hồi, linh hồn không có trước khi con người ra đời, mà chỉ có cùng một lúc khi con người sinh ra. Nhưng kể từ đó, và sau khi con người chết đi, linh hồn sẽ mãi mãi tồn tại hoặc ở trên nước Chúa nếu khi sống người ấy theo đạo Chúa, hoặc bị đọa đày đời đời dưới Hỏa Ngục, nếu khi còn sống không theo đạo Chúa, mà những người theo đạo Giatô bảo là Lòng Lành Vô Cùng.

Thắc mắc. Cái gì có khởi đầu bao giờ cũng phải có tận cùng. Nếu linh hồn có cùng một lúc với con người, khi con người sinh ra, nghĩa là do thân xác mà có, thì khoa học dạy chúng ta rằng khi thân xác không còn, thì linh hồn cũng không còn.

Nếu bảo rằng linh hồn là một thực thể riêng biệt, không do thân xác sinh ra, nên không chết cùng với thân xác, thì linh hồn ấy ở đâu mà ra? Nếu bảo rằng linh hồn do Chúa sinh ra, chứ không phải thân xác, thì vị trí của cái linh hồn ấy đối với thân xác là như thế nào? Sự thông minh, hay ngu dốt, hay tính độc ác, của một người là ở trong đầu óc, nghĩa là thân xác, hay ở Linh Hồn? Nếu bảo là ở thân xác, thì tại sao Chúa lại đem ra một Linh Hồn trong sạch bỏ vào một thân xác ngu đần, độc ác, rồi lại bắt Linh Hồn phải chịu trách nhiệm? Nếu bảo là ở Linh Hồn, thì lại càng vô lý. Tại sao Chúa lại sinh ra linh hồn tội ác? Chúa có chịu trách nhiệm về Linh Hồn do Chúa sáng tạo không? Những Linh Hồn do Chúa sinh ra đều bình đẳng nhau, hay có cái tốt, cái xấu, như xe hơi Nhật, xe hơi Mỹ? Linh Hồn có tội gì đâu mà lại sinh ra ở Phi Châu đói khổ, rồi bị người da trắng cai trị, bóc lột, đem buôn bán làm nô lệ?

Những linh hồn do Chúa sinh ra, ở đâu trước khi nhập vào một đứa trẻ sơ sinh? Ở một chỗ nào đó trên Thiên Đàng có một kho chứa linh hồn. Khi ấy lớn hay nhỏ, hay cần tới đâu nới rộng tới đó. Ai trông coi cái kho đó? Một vị Thiên Thần? Vị Thiên Thần này chắc giống như Nam Tào, Bắc Đẩu coi về sinh tử trong truyện Tàu, có trách nhiệm đem linh hồn nhập vào một thai nhi. Cho nhập vào khi nào? Khi vừa bắt đầu thụ thai, hay khi đứa trẻ lọt lòng mẹ? Nghĩa là luôn luôn phải rình mò từng gia đình, để biết gia đình nào sắp có con. Vị Thiên Thần này không biết có chu toàn được nhiệm vụ không? Đặt ra giả dụ rằng mỗi ngày có 100.000 đứa trẻ ra đời, thì vị Thiên Thần này làm sao phân thây ra thành 100.000 Thần để đem linh hồn đi đầu thai? Nếu như thế, thì chắc chắn là có những đứa trẻ sinh ra không có linh hồn. Rồi vì không có linh hồn, nên sinh ra đã chết?

Khi quan sát sự sống, tôi thấy sự sống thật là màu nhiệm. Cây đào ở nhà chúng tôi bắt đầu từ một cây rất nhỏ (hay từ một hạt giống) mua về ở chợ. Một năm sau nó ra hoa, rồi kết trái. Năm sau nữa, đúng đến mùa xuân nó lại nở hoa, kết trái. Vị thần nào ở trong cây đào làm cho nó nở hoa, kết trái, đúng thời kỳ? Có ai đâu? Thượng Đế tạo ra cây đào, cũng như vũ trụ, với những luật lệ, rồi cây đào, hay vũ trụ, cứ theo những luật đã có sẵn đó mà biến chuyển, không nhầm lẫn. Chứ không phải cứ mỗi sự việc xảy ra, cứ mỗi người chửa đẻ, lại phải có sự can thiệp của Thượng Đế. Để làm chừng ấy công việc, quý vị thử nghĩ xem, Thượng Đế làm sao có mặt ở khắp nơi?

II. VỀ PHẬT GIÁO

Giáo Hoàng: “Sự giác ngộ mà Đức Phật kinh nghiệm được chỉ là tin tưởng rằng đời là xấu, đời là nguồn gốc của tội lỗi và khổ đau. Muốn giải thoát khỏi khổ đau đó, ta phải thoát ra khỏi cuộc đời”.

Đức Phật có nói: “Trải qua bao nhiêu kiếp sống đau thương, nước mắt của chúng sinh hợp lại còn nhiều hơn bốn đại dương”.

Đúng hay sai? Người Việt Nam chúng ta đã đổ không biết bao nhiêu nước mắt vì chiến tranh? Và Giáo Hoàng có lúc nào thấy đau khổ không? Năm 1981 Giáo Hoàng bị mưu sát, bị bắn bằng súng phải đi nằm nhà thương, Người có đau không? Rồi trong năm 1994, Người bị té gãy xương cũng đi nằm nhà thương, Người có đau không? Tại sao người ta phải chế ra một chiếc xe riêng cho Người, gọi là Popemobile mà ở chỗ Người ngồi có kính dày bao quanh, súng bắn không thủng? Xe này để ở Tòa Thánh Vatican, mỗi khi người đi đâu thì cho lên máy bay chở đi theo. Rất tốn kém. Tìm cách bảo vệ cho người, điều này chứng tỏ một cách rõ ràng rằng Người không được Ơn Trên phù hộ. Bởi vì nếu Ơn Trên quyền năng vô biên mà phù hộ ai, thì không ai có thể làm gì được người đó.

Sau đây là một câu chuyện về Tổ Huệ Năng trong Kinh Pháp Bảo Đàn:

“Nhờ có phép lạ đọc tư tưởng, Tổ đã biết được âm mưu hại mình. Tổ chuẩn bị chờ đợi kẻ giết người và đặt mười đồng tiền bên cạnh ghế ngồi.

Tchang đến vào một buổi chiều, vào phòng Tổ và chuẩn bị thi hành tội ác. Tổ, vươn cổ lên, sẵn sàng để nhận nhát dao định mệnh. Tchang chém ba lần vào cổ nhưng - thật lạ lùng - không gây ra một chút thương tích nào. Tổ nói với Tchang như sau: “Gươm chính không dùng vào việc tà, gươm tà không dùng vào việc chính. Tôi chỉ nợ tiền anh, không nợ anh sự sống”.

Sự bất ngờ của Tchang mạnh đến nỗi anh ngất đi, và chỉ tỉnh lại sau một hồi lâu."

Nếu chống đối mà bảo rằng, đó chỉ là huyền thoại không chứng minh được. Như thế thì những phép lạ của Chúa Giêsu có là huyền thoại, và có chứng minh được không?

Đấy là chuyện ngày xưa, bây giờ xin kể chuyện ngày nay.

Paris Match : Et que pensez-vous de tous les autres phénomènes paranormaux dont on parle tant? (Paris Match, số 2152, ra ngày 23/8/1990).

Thế Cha (linh mục Jean Vernette người Pháp) nghĩ như thế nào về những hiện tượng siêu thường khác mà người ta nói đến rất nhiều?"

Jean Vernette. Mais il existe sans aucun doute, dans tous ces domaines, des phénomènes authentiques qu'un esprit honnête doit savoir accepter. J'ai pour ma part, été le témoin, lors d'un voyage en Inde, d'un phénomène de lévitation où tout truquage était rigoureusement impossible.

"Trong tất cả những lãnh vực đó, thì đã có, không thể nghi ngờ, những hiện tượng đáng tin cậy, mà một người lương thiện phải biết chấp nhận. Về phần tôi, trong dịp đi thăm Ấn Độ, tôi đã chứng kiến một hiện tượng, người lơ lửng trong không khí, mà tất cả mọi giả mạo đều chắc chắn không thể nào có." (Xin đọc thêm chi tiết trong sách Thời Đại Mới của tác giả).

Triết học Phật giáo về sự khổ gọi là Tứ Diệu Đế, hay là Bốn Sự Thật Cao Quý, và gồm có:

Khổ Đế, thực trạng đau khổ.

Tập Đế, nguyên nhân của đau khổ.

Diệt Đế, chấm dứt đau khổ.

Đạo Đế, phương pháp diệt khổ.

Phương pháp diệt khổ gồm 8 bước: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Đi vào chi tiết từng thứ thì quá dài. Riêng Chánh Định sẽ được trình bày thêm ở đoạn chót, khi bàn về Thiền, vì Định là Thiền Định.

Giáo Hoàng: "Muốn giải thoát khỏi khổ đau, ta phải thoát ra khỏi cuộc đời..."

Đức Phật không bảo rằng từ bỏ cuộc đời là hết khổ, nhưng mà là tìm ra nguyên nhân gây đau khổ, rồi diệt trừ đi.

Sau đây là nhận định của Tổ Huệ Năng về vấn đề này:

"Trong mọi lúc, mọi nơi, nếu chúng ta cương quyết giữ cho tinh thần không bị ràng buộc bởi những ham muốn vô lý, và hành động khôn ngoan trong mọi trường hợp, là ta thực hành sự khôn ngoan...

Chúng ta phải sử dụng sự thông thái cao siêu đó để phá tan những ham mê và ảo tưởng. Tiếp tục sự thực hành đó chắc chắn thực hiện được Phật tính. Ba thứ thuốc độc (hay ba nguyên nhân gây ra đau khổ) Tham, Sân, Si, sẽ biến đổi thành hạnh kiểm tốt, kỷ luật luân lý."

Tham có phải là nguồn gốc gây ra đau khổ không? Saddam Hussein tổng thống nước Iraq đem quân xâm lược Kuwait, chỉ vì tham lam muốn chiếm đoạt nguồn dầu hỏa lớn lao của nước này để làm cho nước mình giàu mạnh. Nhưng rồi quân của Iraq bị quân đồng minh do Mỹ cầm đầu đã đánh đuổi ra khỏi Kuwait, gây thiệt hại lớn lao cho Iraq về kinh tế, và quân sự. Trong đời sống xã hội, chỉ vì tham lam mà người ta lường gạt nhau...

Giáo Hoàng: "Chúng ta tự giải thoát chỉ bằng tách ra khỏi cuộc đời vốn xấu xa." (We liberate ourselves only through detachment from the world, which is bad).

Sau đây là nhận định của Tổ Huệ Năng về vấn đề Không Lưu Luyến (non-attachement) mà Giáo Hoàng gọi là "Tách Rời" (detachment).

"Hiểu biết tư tưởng mình chính là sự giải thoát, là đạt tới sự Thiền Định tối cao, là đạt tới sự không luyến tiếc. Không luyến tiếc là gì? Là nhìn và biết rằng tất cả mọi hiện tượng là "Ý Nghĩ" không bị ràng buộc vào bất cứ gì, và chính sự không lưu luyến được biểu lộ trong mọi lãnh vực, nhưng lại tách rời ra khỏi mọi lãnh vực?"

Khi nói về Niết Bàn, Giáo Hoàng đã đưa ra một định nghĩa mới, không phải của Phật giáo. Người viết:

What is called  Nirvana, a state of perfect indifference with regard to the world.

"Cái gọi là Niết Bàn là một thái độ hoàn toàn dửng dưng với cuộc đời."

Niết Bàn là gì, thực ra không thể dùng ngôn từ của thế gian để mô tả. Chỉ khi nào lên Niết Bàn thì mới hiểu được Niết Bàn là gì. Tỉ dụ như đối với người dân miền Thượng ở Việt Nam, thì không có cách nào tả cho họ hiểu thế nào là biển. Nhưng khi dẫn họ ra biển để họ lội xuống biển, thị họ hiểu ngay thế nào là biển. Sau đây là định nghĩa Nirvana của Shri Aurobindo trong Lettres sur le Yoga, trang 74:

"Niết Bàn của Phật giáo giống như một trạng thái mà ở trong đó con người không còn cảm thấy mình như là một cá nhân mang một tên nào đó và một thân thể nào đó, mà là cái Tôi vô cùng, bất diệt, không không gian (dù ở trong không gian), không thời gian (dù ở trong thời gian). Xin lưu ý rằng người ấy vẫn có thể hoàn toàn sinh hoạt trong trạng thái đó và ta chỉ có thể tới đó được bằng  Huệ mà thôi."

"Phật giáo phần lớn là một hệ thống Vô Thần." (Buddhism is in large measure an atheist system).

Giáo Hoàng bảo Phật giáo "Vô Thần". Đúng hay sai? Sau khi đạt được Giác Ngộ, Đức Phật nhớ lại tất cả tiền thân của Người. Như thế là có Thần chứ. Nhưng Đức Phật không xưng mình là Thần để tín đồ đến lễ lạy, cầu phước cầu an, như là để hối lộ Phật. Phật chỉ cho chúng ta con đường để sống với nhau trong Thương Yêu. Làm điều lành, tránh điều dữ. Phật có nói:

"Ở trên trời, dưới đáy biển, trong hang núi, không một nơi nào con người có thể tìm được nơi trú ẩn, để thoát khỏi hậu quả những việc làm xấu của mình."

Phật không có một nước để mở mang như nước Chúa. Cho nên không có chuyện mở mang nước Phật, như bên Thiên Chúa Giáo. Những người theo đạo Phật khi truyền bá đạo Phật không phải vì Phật mà là vì chúng sinh, để xây dựng một xã hội Tình Thương. Người theo đạo Phật tôn trọng luật Nhân Quả, biết rằng họ phải chịu trách nhiệm về công việc họ làm. Nếu họ gây ra tội ác, Phật không cứu được, nên không dám giết người. Nếu bảo thế là Tiêu Cực thì quả thật người Phật tử Tiêu Cực.

Những người theo đạo Gia-tô như thực tế và lịch sử đã chứng minh tin tưởng rằng giết người để mở mang nước Chúa, được Chúa che chở cho lên Thiên Đàng, nên họ yên tâm khi giết người. Truyền đạo bằng máu và lửa như thế, thì quả thực những người theo đạo Gia-tô đã rất Tích Cực (!). Hãy đọc lại những chuyện sau đây:

Chuyện thứ nhất

In 1209 an army of some thirty thousand knights and foot soldiers from northern Europe descendeed like a whirlwind on the Languedoc, the mountainous northeastern foothills of the Pyrenees in what is now southern France ... This extermination occured on so vast, ao terrible scale that in may well constitue the first case of ”genocide” in modern Europe history. In the town of Beziers alone, for example, at least fifteen thousand men, women, and children were slaughtered wholesale, many of them in the sanctuary of the church itself. When an officer inquired the Pope’s representative how he might distinguish heretics from true believers, the reply was, ”Kill them all. God will recognize His own.” (Trần Chung Ngọc, Giao Điểm số 18, ngày 15/01/1995)

Năm 1209, một đoàn quân khoảng 30 ngàn người, gồm kỵ binh và bộ binh từ phía bắc Âu Châu, như một cơn gió lốc tràn xuống Languedoc, vùng chân núi phía đông bắc Pyrénées, mà bây giờ là phía Nam nước Pháp...

Cuộc tiêu diệt này xảy ra với một mức độ rộng lớn và khủng khiếp đến nỗi ta có thể coi là trường hợp đầu tiên của chính sách  "diệt chủng" trong lịch sử Âu Châu hiện đại. Tỉ dụ như chỉ trong thành phố Béziers không thôi, ít nhất đã có 15.000 đàn ông, đàn bà và trẻ con bị giết sạch, nhiều người ở ngay bên trong Thánh Đường. Khi một sĩ quan hỏi đại diện Giáo Hoàng, làm thế nào để ông ta phân biệt  được người theo tà giáo và người thực tin Chúa, câu trả lời là, "cứ giết hết đi, Chúa sẽ biết ai là người của Chúa".

Chuyện thứ hai

Pardon requested: Five hundred years after taking part in the bloody Spanish conquest of Central American, Guatemala’s Roman Catholic Church has asked the pardon of the country’s indigenous people. There have been ”errors and contradiction in the action of members of the church that have fallen unjustly on the indigenous people,” Guatemala’s bishops said in a pastoral letter released Thursday in Guatemala city. ”We, the current pastors of the church, ask for forgivenness, ” they said. (The Register, Saturday, August 29/1992).

Xin được tha thứ: "500 năm sau khi tham gia cùng với quân Tây Ban Nha vào việc chinh phục đẫm máu ở Trung Mỹ, Giáo Hội Giatô La Mã Guatelama đã xin dân ở đó tha thứ. Đã có những nhầm lẫn và mâu thuẫn trong hành động của nhân viên Giáo Hội, những hành động bất công với dân bản xứ, các Giám Mục ở Guatelama đã nói như thế trong một thư của Giáo Hội được phổ biến hôm thứ Năm ở Guatelama. "Chúng tôi, hàng Giáo Phẩm hiện đại, xin được tha thứ", các Giám Mục đã nói như vậy".

Chuyện thứ ba

"Đối với Tin Lành, thì đã có chiến tranh thực sự giữa hai phe. Chiến tranh tôn giáo bùng nổ ở Pháp vào năm 1562 và kéo dài đến năm 1594. Nguyên đêm thánh Lễ Bartholomew, vào tháng 8, năm 1572, có cả vạn người Tin Lành bị Công Giáo phục kích giết chết." (Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ, "Ít Nhiều Nhận Định về Thiên Chúa Giáo", Trang 13).

Chuyện Thứ Tư, Ở Nước Việt Nam Mình. (Trích ra từ ”Vietnam, why did we go,” By Avro Manhattan).

Chủ thuyết ưa thích của Diệm là chủ thuyết của các Giáo Hoàng Leo XIII, Pius XI và Pius XII, tất cả các vị này đều tuyên bố, một quốc gia Gia-tô kiểu mẫu phải tiêu diệt tất cả những cái gì không phải Gia-tô.

(Diem’s favorite tenets were those of Pope Leo XIII, Pope Pius XI and Pope Pius XII, who had all declared how the model  Catholic state must eliminate all that was not Catholic. Page 84).

"Bất cứ cái gì và bất cứ ai không phù hợp hay không thần phục đạo Gia-tô đều bị triệt hạ hết sức dã man, bằng bắt bớ, hãm hại, trại tập trung và tử hình".

(Anything and anyone not conforming or submitting to Catholicism was to be ruthlessly detroyed via arrest, perseecution, concentration camps and executions. Page 126).

" Trong thời kỳ khủng bố ấy - từ năm 1955 đến 1960 - ít nhất có 24.000 người bị đánh đập có thương tích, 80.000 người bị xử tử, hay bị giết chết, 275.000 người bị bắt giữ, điều tra, bị tra tấn hoặc không và khoảng 500.000 bị đưa vào trại tập trung hay trại giam.”

(During this period of terror- that is from 1955 to 1960 – at least 24,000 were wounded, 80,000 people were executed or otherwise murdered, 275,000 had been detained, interrogated with or without physical torture, and about 500,000 were sent to concentration or detention camps. Page 89).

Khi giết người để mở mang nước Chúa thì họ Tích Cực. Nhưng khi nhận mình là "Kẻ Có Tội" và cầu nguyện "Chúa Ở Cùng Con" thì họ đã Tiêu Cực.

Trái lại về phương diện này thì người Phật tử lại Tích Cực. Họ không trông mong được Phật phù hộ, che chở, họ cam đảm "Tự mình đốt đuốc lên mà đi".

Khi nói Phật giáo "Vô Thần", Giáo Hoàng muốn ám chỉ rằng "Có Thần" tốt hơn là "Không Thần". Suy luận thêm ta có thể nghĩ rằng, càng "Có Nhiều Thần" thì càng tốt. Với trên 5 tỉ người trên thế giới, một Thần làm sao coi sóc được. Vì  thế nên cần phải có nhiều Thần. Việt Nam có Thần Hà Bá coi về Sông Nước, Thần Thổ Địa coi về Đất Đai, Nhà cửa, Thần Thành Hoàng coi sóc Dân Làng, Thần Táo Công coi về Bếp Núc... Dân mình đã chứng tỏ văn minh hơn những dân tộc chỉ thờ có một Thần. Nếu bảo nhiều Thần là mê tín dị đoan. Thì một Thần tại sao là không mê tín?

Có ai biết Thượng Đế ra làm sao đâu. Bây giờ người Mỹ bảo Thượng Đế không Đực cũng không Cái, vì vậy không được sùng She (đàn bà) hay He (đàn ông) để viết về Thượng Đế, mà chỉ được dùng chữ "God" không thôi. Thượng Đế vượt ra ngoài sự hiểu biết của con người, nên con người bèn chế tạo ra một Thượng Đế có hình như người, với những tính tình như người. Người dốt thì tạo ra một Thượng Đế dốt. Người thích báo thù, thì tạo ra một Thượng Đế báo thù.

Cái câu "Thượng Đế tạo ra con người theo hình ảnh của Thượng Đế" phải đem đảo ngược lại mới đúng: "Con người tạo ra Thượng Đế theo hình ảnh của chính họ".

Chính vì thế mà Swami Vivekananda đã có nói:

"Nếu loài bò có tư tưởng, thì Thượng Đế của loài bò là một Con Bò To".

Dĩ nhiên là như thế rồi, không thể nào khác được. Vì vậy Thượng Đế do người Âu Châu sáng chế ra, chỉ có thể là người da trắng, chứ không thể là người da đen, hay da vàng. Một Thượng Đế với hình người, và tính tình như người, khó mà có thể tồn tại với thời gian, vì không hợp với Lý Trí. Nhiều người đã lên tiếng bác bỏ, họ bảo "Thượng Đế Đã Chết".

The idea that God is an oversized white male with a flowing beard who sits in the sky and tallies the fall of every sparrow is ludicrous. But if by ”God” one means the set of physical laws that govern the universe, then clearly there is such a God. This God is emotionally unsatisfying ... It does not make much sense to pray to the law of gravity. (Carl Sagan. U.S. News & World Report, số ra ngày 23/12/1991, trang 61. Sagan là một nhà thiên văn và là Giám đốc viện Cornell nghiên cứu về Hành Tinh).

"Quan niệm rằng Thượng Đế là một người đàn ông da trắng, to quá khổ, râu dài, ngồi ở trên trời, và đếm xác từng con chim sẻ là chuyện khôi hài. Nhưng nếu bảo rằng Thượng Đế là những Luật về Vật Lý điều hành vũ trụ, thì rõ ràng có một Thượng Đế như thế. Thượng Đế này lại không thỏa mãn tình tự con người... Vì không có lý do gì để cầu nguyện luật hấp dẫn".

Đức Giáo Hoàng bảo "Phật giáo Vô Thần", nhưng người Âu Châu lại xác nhận chính đạo Ky-tô mới là Vô Thần:

 Wherever we read the obscene stories, the voluptuous debaucheries, the cruel and torturous executions, the unrelenting vindictiveness, with which more than haft the Bible is filled, it would be more consistent that we called it the work of God. It is a history of wickedness, that has served to corrupt and brutalize mankind; and, for my own part, I sincerely detest it, as I detest every thing that is cruel. (Page 294).

As to the Christian system of faith, it appears to me as a species of atheism – a sort of religious denial of God. It professes to believe in a man rather than in God. (Selected Work of Tom Paine, The Age of Reason, Page 306).

"Cứ mỗi khi chúng ta đọc những chuyện khiêu dâm tục tĩu, những chuyện dâm đãng, những chuyện xử tử bằng tra tấn dã man, những chuyện trả thù liên miên, chứa đầy trong quá nửa quyển Kinh Thánh, thì muốn nói cho đúng, ta nên gọi đó là việc làm của ma quỷ, chứ không phải của Thượng Đế. Đó là những chuyện độc ác dùng để hủ hóa và ngu đần con người, và về phần tôi, tôi thành thực ghét bỏ, cũng như tôi ghét bỏ tất cả những cái gì độc ác".

"Đối với hệ thống đức tin của đạo Ky-tô, tôi thấy đó là một trong những hệ thống vô thần - một thứ tôn giáo phủ nhận Thượng Đế. Họ chủ trương tin vào người chứ không tin Thượng Đế".

Ở phần trên chúng tôi cũng đã đưa ra một nhận định gần giống như thế: "Con người tạo ra Thượng Đế theo hình ảnh của chính họ".

Như thế để xét đoán xem, "Không Thần", "Một Thần", và "Nhiều Thần", thứ nào tốt, thì nên nghiên cứu xem, thứ nào đem lại lợi ích cho con người. "Không Thần" lẽ dĩ nhiên là không tốt rồi, vì con người ngoài nhu cầu vật chất còn có nhu cầu tâm linh.

Dân Âu Châu đều thờ Chúa Giê-su làm Thượng Đế. Nhưng Thượng Đế của dân Âu Châu đem lại lợi ích gì cho thế gian? Chúa dạy: "Thương yêu người như chính mình"; "Cầu nguyện cho người nguyền rủa mình".

Người ta bảo Chúa giáng sinh để Cứu Thế. Chúa đã Cứu Thế bằng cách chỉ dẫn cho con người cách ăn ở với nhau để con người sống trong Thương Yêu. Nhưng những ông Thầy Phù Thủy không dạy người theo đạo đức thực hành lời Chúa dạy, mà lại biến Chúa thành một vị thần linh mà ta phải lễ lạy để được ban Ơn Phước, để được về nước Chúa, sau khi chết.

Những người theo đạo Gia-tô ở nước ta cũng không hiểu nghĩa Cứu Thế của Chúa Giê-su, vẫn tưởng rằng cứ hết lòng cầu Chúa, phục vụ Giáo Hội, dù có phải giết người, là được Chúa ban cho nhiều Ơn Phước, nên họ cũng rất sắt máu. Họ hăm dọa hay bôi bẩn những người chưa phải là chống đạo Gia-tô, mà chỉ trình bày sự lợi dụng Thiên Chúa cho những lợi ích rõ rệt trong Kinh Thánh do con người mạo nhận Chúa viết vào. Chính vì thế mà có báo đã xuyên tạc tin tức, phỉnh gạt những người Việt theo đạo Gia-tô, để cho họ sướng. Họ thích nghe những tin tức có lợi cho họ dù sai với Sự Thật.

Tờ Người Việt số ra ngày Thứ Bảy 14/1/95, loan tin trên trang nhất: Phái Đoàn Công Giáo Trung Quốc đến Manila triều kiến Giáo Hoàng.

Khi nói Triều Kiến là nói đến sự thần phục. Nhưng thực ra thì "Phái Đoàn Công Giáo Trung Quốc" chính là "Công Giáo Quốc Doanh", gồm 5 vị linh mục của cái gọi là "Hiệp Hội Yêu Nước" (Patriotic Association). Đúng là mập mờ đánh lận con đen. Nếu tin này loan báo không bằng Tiếng Việt mà bằng tiếng Trung Hoa, chắc là sẽ phải đính chính. Những linh mục này không công nhận Tòa Thánh Vatican, vì vậy bảo họ đến Triều Kiến Giáo Hoàng là không đúng. Họ đã đòi làm lễ chung với Giáo Hoàng. Nguyên văn tiếng Anh như sau:

Five priests from the Patriotic Association have asked to join the pope at the altar to co-celebrate the mass with him a move that would imply Vatican recognition of the official Chineses church. (The Register, Sunday, Jan. 15/1995).

"Năm linh mục thuộc Hiệp Hội Yêu Nước đã yêu cầu được cùng với Giáo Hoàng lên lễ đài làm lễ chung với Ngài - hành động này ngầm đưa Tòa Thánh Vatican vào cái thế công nhận Giáo Hội Quốc Doanh Trung Hoa".

Cũng trong số này The Register loan báo: POPE OFFERS CHINA MUTUAL RECOGNITION “ Giáo Hoàng đề nghị với Trung Cộng hai bên công nhận lẫn nhau”          RELIGION: The Vatican asks Beijing to recog nize papal authority over catholics in return for acknowledgement of China’s official church. TÔN GIÁO: Tòa Thánh yêu cầu Bắc Kinh công nhận quyền của Giáo Hoàng đối với những người theo đạo Gia-tô để đánh đổi lấy việc Giáo Hoàng công nhận Giáo Hội Quốc Doanh Trung Cộng.

   Để làm cho vấn đề sáng tỏ hơn, chúng tôi xin trích dẫn thêm một chút chi tiết về sự bang giao giữa Tòa Thánh Vatican và Trung Cộng:

          China’s officially run Patriotic Association does not permit Catholics to recogniz the spiritual supremcy of the pope and rejects the Vatican’s right, exercused in most other countries, to appoint bishops. For several years, the Vatican does not acknowledge the Patriotic Association, which it calls schismatic, and supports clandestine worshipers among China’s often-persecuted catholics who recognize papal authority.…The Vatican’s aim is to open the way for a new relationship with Beijing. For several years, the Vatican has been training what it calls a tash force of more than 40 missionary priests to evangelize in China if they are allowed to do so. The pope is to visit them Monday at the San Carlos Seminary in Manila.

   Giáo Hội Quốc Doanh do Trung Cộng điều hành không cho phép những người theo đạo Gia-tô công nhận quyền Tâm linh tối cao của Giáo Hoàng, và bác bỏ quyền bổ nhiệm các Giám Mục của Tòa Thánh, như Tòa Thánh vẫn làm ở đa số các nước khác.   “Về phần Tòa Thánh, thì Tòa Thánh không công nhận Giáo Hội Quốc Doanh mà Tòa thánh bảo là phân ly, và ủng hộ những giáo dân thầm lặng, những người này thường hay bị hành hạ vì công nhận quyền của Giáo Hoàng”. “Mục đích của Tòa Thánh là mở đường cho  một sự bang giao mới với Bắc Kinh”   “Trong nhiều năm, Tòa Thánh đã huấn luyện một lực lượng được gọi là đặc nhiệm gồm trên 40 linh mục để truyền đạo ở Trung Cộng nếu họ được phép làm. Giáo Hoàng sẽ đến thăm họ ở Chủng Viện San Carlos ở Manila.”

   Xuyên tạc tin tức chỉ có thể lừa gạt được người nghe, trong một thời gian mà thôi, vì chẳng sớm thì muộn, ai cũng có thể biết đâu là giả, đâu là thật. Và khi là Giả Mạo được phanh phui thì rất có hại, vì kể từ đó dù có nói thật cũng không ai tin.  Ông Phạm Văn Phổ có bài đăng trên tờ Người Việt số ra ngày thứ năm, 2 tháng Ba 1995, trang A6, cũng lại “Xuyên tạc tin tức” y như tờ Người Việt: Ông viết:

  “Những lời tuyên bố của Ngài liên quan tới việc thừa nhận Giáo Hoàng Công Giáo “Quốc Doanh” (Chứ không phải chế độ Trung Cộng như một số dư luận đưa ra”, theo đó Ngài cho biết sẽ công nhận Giáo Hội này (Công Giáo Quốc Doanh) nếu họ chịu tuân phục Giáo Hoàng”.

   Trước hết, ông bảo, “Những lời tuyên bố của Ngài liên quan tới việc thừa nhận Giáo Hội Công Giáo “Quốc Doanh”, chứ không phải chế độ Trung Cộng như một dư luận đưa ra”. Nếu đọc kỹ lại tin tức của tờ The Register ở đoạn trên, thì câu viết của ông Phạm Văn Phổ phải đem đảo ngược lại mới đúng.   Bản in của The Register: “Giáo Hoàng đề nghị với Trung Cộng hai bên công nhận lẫn nhau”. Không những thế, để “Mở đường cho một sự bàn giao mới với Bắc Kinh”, thì Giáo Hoàng phải “thừa nhận” chế độ Trung Cộng, chứ không thể nào lại đi thừa nhận Giáo Hoàng Quốc Doanh? Giáo Hoàng Quốc Doanh do Trung Cộng chế tạo và điều khiển làm sao có được cái quyền chấp thuận cho Tòa Thánh đem các linh mục đang nằm chờ sẵn ở Phi Luật Tân, vào nước Tàu truyền đạo? Đúng là chuyện tiếu lâm.

   Để bênh vực Giáo Hoàng, mà viết lách như thế thì lại là làm hại Giáo Hoàng, coi như người không biết gì về tình hình chính trị bên Trung Cộng, nên Ngài mới đi điều đình với Giáo Hội tay sai, không có quyền hạn gì cả. Giáo Hoàng chắc chắn không cần một người bênh vực Ngài như ông Phạm Văn Phổ.

   Thứ hai,… “Ngài cho biết sẽ công nhận Giáo Hội này (Công Giáo Quốc Doanh) nếu họ chịu tuân phục Giáo Hoàng”. Chỉ cần suy nghĩ một chút, ta sẽ thấy ông Phạm Văn Phổ có dụng ý “Xuyên tạc Tin Tức” để lừa gạt độc giả, nếu ông Phạm Văn Phổ tin như điều  ông viết, thì quả thật ông không hiểu biết chút nào về bản chất của Giáo Hội Quốc Doanh. Như danh từ Quốc Doanh đã mô tả rất rỏ bản chất của nó, đó là Giáo Hội Nhà Nước. Vì thế, nếu Giáo Hoàng muốn Giáo Hội Nhà Nước tuân phục Ngài, thì Ngài phải điều đình với Nhà Nước Trung Cộng, chứ không phải tuyên bố hứa suông, “sẽ công nhận Công Giáo Quốc Doanh, nếu họ chịu tuân phục Giáo Hoàng”. Giáo Hoàng không lẽ lại không biết một sự thật sơ đẳng như thế? Cho nên Ngài đã điều đình với Nhà Nước Trung cộng, như tin của The Register mà chúng tôi đã nêu trên, chứ không phải với Giáo Hội Nhà Nước:

“Tòa Thánh yêu cầu Bắc Kinh công nhận quyền của Giáo Hoàng đối với những người theo đạo Gia-tô để đánh đổi lấy việc Giáo Hoàng công nhận Giáo Hội Quốc Doanh của Trung Cộng”.

   Một khi Giáo Hội Quốc Doanh tuân phục Ngài, thì họ không còn là một Quốc Doanh, và họ không còn “không cho phép những người theo đạo Giatô công nhận quyền tâm linh tối cao của Giáo Hoàng, và…” như thế thì như lẽ đương nhiên Ngài mừng quá, và Ngài phải dang hai tay ra mà chào đón họ. Chứ việc gì lại còn phải phải xác nhận, “Tuân phục Ngài thì Ngài công nhận”. Chắc chắn là Đức Giáo Hoàng không bao giờ tuyên bố một điều xa vời thực tế đến như thế, mà chỉ có thể là do sự bịa đặt của ông Phạm Văn Phổ.

   Giáo Hội Quốc Doanh Trung Cộng có thật ngu mới không biết Đức Giáo Hoàng muốn họ tuân phục Ngài, không tuân phục Nhà Nước Trung Cộng. Và nếu họ tuân phục Ngài, và đó là điều mà Ngài mong bằng chết, thì không ai có thể đặt nghi vấn là Ngài lại có thể không công nhận họ. Đặt vấn đề như vậy, thì quả thật là ngườii viết tỏ ra thiếu tự trọng, coi thường độc giả.

   Sự thật đã rỏ ràng là Đức Giáo Hoàng muốn “thừa nhận chế độ Trung Cộng” với những bằng chứng hiển nhiên, thế mà ông Phạm Văn Phổ còn cố ý ngụy biên, xuyên tạc tin tức để lừa gạt chúng ta thì thật đáng sợ. Những người cuồng tín như thế có thể phạm bất cứ tội ác nào để bênh vực hay làm lợi cho Giáo Hội, rồi chối tội. Ước mong rằng những người Việt Nam theo đạo Gia-tô không phải là những Phạm Văn Phổ. Ông Phạm Văn Phổ bắt đầu bài viết bằng “xuyên tạc”, thì làm sao người đọc có thể tin được, phần còn lại lại không phải là Tin Tức đã bị Xuyên Tạc.

   Bài viết của ông lấy nhan đề “Có Sự Ngộ Nhận...” Có ai Ngộ Nhận đâu, mà Ngộ Nhận lại chính là ông Phạm Văn Phổ. NGƯỜI VIỆT số ra ngày Thứ Sáu 25/3/1994 cũng loan tin:

          “Đoàn đại diện Vatican đã đồng ý với đoàn đại diện Việt Nam, tất cả mọi vấn đề liên quan đến Giáo Hội Công giáo Việt Nam, Tòa Thánh sẽ thông báo cho Chính phủ Việt Nam và có sự thỏa thuận của Chính phủ Việt Nam thì Tòa Thánh mới ra quyết định.”

   Những tin tức nêu trên rõ ràng cho chúng ta thấy, Tòa Thánh đã tìm cách hay đã Thỏa Hiệp với Cộng Sản và Thân Cộng Sản. Nếu cần chứng minh thêm, tôi còn nhiều tài liệu khác nữa. Những người Việt Nam theo đạo Gia-tô cũng thừa biết vì quyền lợi của Giáo Hội Công Giáo, Tòa Thánh phải thân Cộng, nhưng họ cứ to mồm chụp mũ Phật giáo thân Cộng để che giấu âm mưu thân Cộng của họ. Họ muốn độc quyền thân Cộng.

Phật giáo và những người bị chụp mũ Phật giáo thân Cộng, để che giấu âm mưu, bèn hăng say chống Cộng để chứng minh là không thân Cộng. Chống càng hăng, thì đàn áp càng mạnh. Dư đảng Cần Lao Công Giáo đứng ở ngoài vỗ tay vào. Họ mượn tay Việt Cộng trả thù hộ cho ông Diệm.

Như thế thì có phải chúng ta không nên chống Cộng? Chống chứ, nhưng không theo đường lối sách động của Cần Lao Công Giáo, và chống để xây dựng chứ không phải chống để phá hủy. Cần Lao to mồm vỗ ngực ta đây chống Cộng. Nhưng kết quả đường lối Chống Cộng Cò Mồi của họ ra sao sau 20 năm? Hai mươi năm chủ trương “Lật Đổ” không kết quả. Bây giờ thời thế mới, chiến lược chiến thuật cũng phải đổi mới, họ đòi “Giải thể”. Tại sao không tiếp tục đòi “Lật Đổ”? Tại cái Hiệp Định Thư đùng lăn, phải gió, khi không lại cấm “Lật Đổ”. Có người không biết là tính cộng, trừ, bèn bảo, “Lùi hai bước, Tiến một bước”. Như thế là Tiến hay Lùi?

Tòa Thánh Vatican vì quyền lợi riêng đã thân Cộng rồi, mà dư đảng Cần Lao thì luôn luôn tuân theo đường lối chỉ thị của Vatican, nên họ chỉ có thể chống Cò Mồi thôi. Họ xúi giục người khác chống để họ thủ lợi.

Tòa Thánh La Mã bề ngoài thân Cộng, nhưng vẫn ngấm ngầm chỉ thị cho Cần Lao âm mưu gây loạn bằng chống bãi bỏ Phong Tỏa Kinh Tế mà họ gọi là Cấm Vận, và chống Mỹ bang giao. Nếu dân nổi loạn, bạo quyền đàn áp đổ máu, người nọ đâm chém người kia để trả thù, thì Cần Lao - mà lực lượng còn nguyên vẹn, vì không tham gia nổi loạn - với sự hỗ trợ của Tòa Thánh, mới có cơ hội chiếm được chính quyền. Vì vậy bất cứ ai chủ trương làm cho Việt Cộng thay đổi từ từ bằng “Diễn Tiến Hòa Bình”, hay “Bất Bạo Động”, đều bị Cần Lao chụp cho cái mũ thân Cộng, hay Cộng Sản.

Cần Lao chống Cộng rất hăng. Khi cao hứng họ còn tuyên bố “Đạo Công Giáo Chống Cộng”. Đạo Công Giáo mà chống Cộng, thì theo lẽ đương nhiên, Thiên Chúa cũng chống Cộng. Hồi còn ở Việt Nam, mỗi lần trước khi đi hành quân tướng Huỳnh Văn Cao đều cầu xin Đức Mẹ phù hộ, nên ra quân trận nào thắng trận đó. Chỉ thua có một lần ở trận Ấp Bắc. Lần ấy thua, chắc là tại tướng Cao quên không cầu nguyện? Trước kia người ta đã đưa Đức Mẹ đi đánh giặc, bây giờ Cần Lao chế tạo ra Thiên Chúa chống Cộng. Nếu Thiên Chúa mà chống Cộng thì khi Đức Giáo Hoàng thỏa hiệp với Cộng Sản, là Người chống lại “Thiên Chúa”. Cần Lao xưa nay vẫn vỗ ngực tuyên bố chống Cộng, và chủ trương “Đạo Công Giáo Chống Cộng”, và nếu họ thực tình chống Cộng, chứ không phải Cò Mồi, thì bây giờ là lúc họ nên lên tiếng chống lại sự thỏa hiệp với Cộng Sản của Đức Giáo Hoàng.

Tại sao tôi biết rõ âm mưu của Tòa Thánh? Có gì khó hiểu đâu. Nghĩ như thế nào thì làm y như thế. Như vậy cứ coi hành động, thì biết được âm mưu. (Xin coi thêm chi tiết ở đoạn dưới về thành tích của Giáo Hoàng John Paul II ở Đông Âu, nhận xét của Đức Hồng Y Poupard).

Nhưng quyền lợi của Mỹ lại khác với quyền lợi của Tòa Thánh, Mỹ đã bãi bỏ Phong tỏa Kinh tế. Hai bên đã thiết lập Văn Phòng Liên Lạc. Mỹ không muốn Việt Nam loạn. Đô Đốc Richard C. Macke, tư lệnh Mỹ ở Thái Bình Dương, đã tuyên bố trong cuộc viếng thăm Việt Nam, hồi tháng 11/94, là sau khi hai bên thiết lập bang giao, Washington có thể hợp tác quân sự với Hanoi. Tại sao? Để làm gì? Mỹ cần có Việt Nam để ngăn chặn sự bành trướng của bá quyền Trung Cộng?

Khi chủ trương gây loạn, để thừa nước đục thả câu, là Tòa Thánh đã hoàn toàn mâu thuẫn với lời dạy “Các con sẽ không được giết” của Chúa. Nếu Chúa là Đấng sinh ra muôn loài, muôn vật, thì tất cả đều là con cái của Chúa rồi, và theo lẽ đương nhiên không khi nào Chúa lại muốn con cái của Chúa cầm súng, cầm dao, giết nhau như thú vật? Lời dạy của Chúa đã hoàn toàn bị hiểu sai lạc đi.

Ở bên Mỹ ta thấy những người chống phá thai bằng biểu tình và bắn giết những Bác Sỹ phá thai. Bảo vệ sự sống bằng giết người là mâu thuẫn. Không khác gì để lấp một lỗ, ta đào đất ở chỗ này làm thành một cái lỗ ở đó, để lấy đất đem lấp ở chỗ kia. Chống phá thai, thì bảo vệ được bao nhiêu đứa trẻ, mà người mẹ không muốn nuôi? Sao không chống chiến tranh? Thế Chiến II làm cho khoảng 40 triệu người Âu Châu chết tan thây, nhiều nhà thờ bị bom phá hủy. Tại sao không đòi giải giới, giải tán quân đội?

Nhưng thật là lạ lùng và mâu thuẫn, vì chính đạo Gia-tô đã gây ra những cuộc gọi là Thánh Chiến giết người khủng khiếp nhất trong lịch sử, như đã trình bày ở đoạn trên. Mà đấy chỉ là một phần rất nhỏ của những tàn sát đẫm máu để mở mang nước Chúa. “Có Thần” nhưng nếu là “Thần Chiến Tranh” gieo tang tóc cho loài người thì chẳng thà “Vô Thần”. Chúa dạy “Các con sẽ không được giết” đã bị các ông thầy “Phù Thủy” xuyên tạc cho những lợi ích ích kỷ của họ, mà họ tuyên bố là Thánh Thiện”. Sau đây là nhận định của André Chouraqui (Paris Match số 2171,3 Janvier 1991):

“Chiến tranh còn quyết liệt hơn nữa giữa những người con của Abraham, và những người đa thần, những người này đã hoàn toàn bị loại ra khỏi những quốc gia Gia-tô, Hồi giáo - bằng sắt máu và lửa. Kinh thánh dạy rằng Elohim (Thượng Đế) là Một. Những nhà thần học (mà Bác sỹ Nguyễn Văn Thọ gọi là Bồi Bút) đã biến đổi giáo điều “Một” thiêng liêng, thành nhiệm vụ tiêu diệt tất cả những dân không thờ Thượng Đế chân thật. Từ sự sai lầm ấy mà nảy sinh ra những tàn sát vĩ đại những dân thờ Thần, từ đỉnh núi Andes (Tây Nam Mỹ Châu) tới tận cùng Châu Phi và Châu Á.

… “Không phải tôn giáo đã sai lầm, mà là con người, họ đã lợi dụng tôn giáo để phục vụ cho những lợi ích ích kỷ của họ mà họ tuyên bố là thánh thiện. Thảm thương thay! Thượng Đế đã bị Động Viên phục vụ dưới lá cờ của những quốc gia hay tôn giáo thù nghịch nhau: Các ông thầy tu của họ làm phép lành cho những kẻ phạm tội sát nhân, và những người lính chiến, họ giải cho họ những tội vô cùng độc ác, không thể nào tha thứ được.” (Xin coi nguyên văn tiếng Pháp, trong Thời Đại Mới của tác giả, trang 213 và kế tiếp).

III. VỀ ĐẠO GIA-TÔ

1- Vấn đề Thần Bí. Đức Giáo Hoàng có nói về những nhà Thần Bí Thiên Chúa Giáo, chúng tôi không dám có ý kiến, mà chỉ xin ghi lại nhận định của tác giả Tom Paine về vấn đề này, và về nguồn gốc của Kinh Thánh:

When the church Mythologists established their system, they collected all the writings they could find, and managed them as they pleased. It is a matter altogether of uncertainty to us whether such of the writings as now appear under the name of Old and New Testament, are in the same state in which those collectors say they found them, or whether they added, altered, abridges, or dressed them up.

Be this as it may, they decided by vote which of the books out of the collection they had made, should be the Word of God, and which should not. They rejected several; they voted others to be doubtful, such as the books called the Apocrypha; and those books which had a majority of votes, were voted to be the Word of God. Had they voted ortherwise, all the people, since calling themselves Christians, had belived ortherwise for the belief of the one comes from the vote of the orther. Who the people were that did all this, we know nothing of, they called themselves by the general name of the Church; and this is all we know of the matter. (Selected work of Tom Paine, The Age og Reason, page 293).

“Khi những nhà Thần Học của Giáo Hội thiết lập hệ thống của họ, thì họ tập trung tất cả những Kinh Sách mà họ tìm thấy và tùy nghi sắp xếp. Chúng ta hoàn toàn không biết chắc rằng những Kinh Sách đó mà ngày nay gọi là Cựu và Tân Ước có còn giữ được y nguyên như khi những người đi thâu thập nói là họ tìm ra, hay là họ đã thêm vào, sửa chữa, cắt bớt, hay tô điểm thêm”.

“Cứ cho là như thế đi, họ bỏ thăm để quyết định xem sách nào là Lời Chúa, và sách nào không, trong số những sách mà họ làm ra với những tài liệu thâu thập được. Họ đã bác bỏ rất nhiều; họ bỏ phiếu loại những sách cho là nghi ngờ, tỉ dụ như những sách gọi là Apocrypha; và những sách nào được đa số phiếu, được bầu làm Lời của Chúa. Nếu họ bầu khác, thì tất cả những người, kể từ khi nhận mình là người Kitô, đã tin khác đi - vì đức tin của người này là do phiếu bầu của người khác. Ai là những người làm ra tất cả những cái đó, chúng ta không biết một tí gì, họ gọi họ bằng cái tên chung Giáo Hội; và đó là tất cả những điều mà chúng ta biết về vấn đề đó.”

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ cũng có một nhận định tương tự như thế về Kinh Thánh:

“Tôi mới đầu không hiểu tại sao Giáo Hội cấm không cho giáo dân có Kinh Thánh hay đọc Kinh Thánh, nhất là bằng quốc ngữ. Dần dà tôi mới thấy sự cấm đoán đó hết sức là hữu lý, vì nếu cứ để cho giáo dân đọc Kinh Thánh, dần dà họ sẽ bới ra được những cái dở của Kinh Thánh, những chỗ dịch sai, dịch bậy của Kinh Thánh, những chỗ thêm, bớt vào Kinh Thánh.” (Nguyễn Văn Thọ, trang 12).

Tới đây, bất cứ ai cũng có thể nhận ra rằng trong Kinh Thánh có những điều hoàn toàn phản bội Lý Trí, nên Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ đã phải kêu lên, “Chúng ta chỉ có thể mù hay điếc, mới không nhìn thấy, nghe thấy”. Tòa Thánh sợ rằng giáo dân không mù, không điếc, nên đã cẩn thận đề phòng:

“Kinh Thánh là Lời Chúa, là Chân Lý. “Giáo Hội có độc quyền giải thích Kinh Thánh. “Giáo Hội dạy làm sao, con chiên phải vâng phục như vậy, không được cãi. Đức Tin vượt lên trên Lý Trí con người.” (Nguyễn Văn Thọ, trang 15).

Trong khi đó thì Đức Phật hoàn toàn chỉ dạy trái ngược lại:

“Đừng tin vào Kinh Sách cổ viết tay, đừng tin vào một điều mà Dân Tộc mình tin hay làm cho mình tin từ lúc nhỏ. Đối với tất cả mọi điều, đều phải áp dụng Lý Trí. Sau khi phân tách, nếu thấy những điều ấy tốt cho mọi người và cho mỗi người, thì hãy tin nó, sống cho nó, và giúp cho người khác cùng sống như vậy”.

Hai tôn giáo, hai quan niệm khác nhau về kinh sách. Về điểm này, khi bảo rằng Phật giáo và Thiên Chúa Giáo “đối nghịch” nhau, thì Đức Giáo Hoàng đã hoàn toàn đúng.

2- Chống Khoa Học

Infidelity does not consis in believing, or in disbelieving; it consist in professing to believe…When a man has so far corrupted the chastity of his mind, as to subscribe his professional belief to thing he does not believe, he has perpared himself for the commission of every other. (Tom Paine, The Age og Reason, Page 286).

“Bất lương không có nghĩa là tin hay không tin; mà là xác nhận rằng mình tin vào một điều mà mình không tin. Khi một người đã đi đến cái độ hủ hóa và đánh đi sự trong trắng của tâm hồn, để công nhận, vì lý do nghề nghiệp, rằng mình tin vào điều mà mình không tin, thì người ấy đã tự ý sửa soạn để phạm bất cứ tội ác nào”.

Kinh Thánh không những đã phản bội Lý Trí, mà còn chống lại Khoa Học. Đức Giáo Hoàng bảo: “Giáo Hội đã xây dựng, đặc biệt là Văn Minh Âu Châu, nền văn minh này được đánh dấu bởi việc tìm hiểu cuộc đời một cách tích cực, và đã phát triển nhờ có thành quả của khoa học, kỹ thuật”. Không biết Đức Giáo Hoàng căn cứ vào đâu mà nói thế, vì thực tế rõ ràng đã chứng minh trái ngược lại. Kinh Thánh có nhiều đoạn chống lại Khoa Học:

Thứ Nhất. Kinh Thánh bảo, “Trái Đất là Trung Tâm Vũ Trụ, và Mặt Trời xoay quanh Trái Đất”. Trái Đất không là Trung Tâm Vũ Trụ, mà chỉ là một hạt bụi trong Vũ Trụ. Mặt Trời cũng không xoay quanh Trái Đất, mà ngược lại. Tòa Hình Án của Tòa Thánh đã thiêu sống Giordano Bruno, và giam lỏng Galileo Galilei chỉ vì các nhà khoa học này chứng minh là Trái Đất xoay quanh Mặt Trời chứ không phải trái ngược lại, như đã ghi trong Kinh Thánh.

Thứ Hai. “Chúa tạo dựng ra con người cách đây khoảng từ 6.000 đến 10.000 năm”. Nhưng Khoa Học cho biết con người xuất hiện trên Trái Đất cách đây nhiều triệu năm. Nếu theo thuyết của Darwin, con người từ loài vật tiến hóa lên mà thành, thì không có chuyện Sáng Tạo, không có tội Tổ tông. Kinh Thánh như vậy hoàn toàn bị phủ nhận, nên Giáo Hội Giatô La Mã bắt buộc phải  chống lại Khoa Học.

Thứ Ba: Sau đây là nhận định của Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ, trích ra từ “Ít Nhiều Nhận Định về Thiên Chúa Giáo” (Trg.4):

“Adam Eva không phải là thủy tổ loài người, vì con người đại khái đã xuất hiện cách đây tối đa khoảng nhiều triệu năm”. “Nếu Adam Eva không phải là thủy tổ loài người, thì làm gì có tội Tổ Tông? Nếu không có tội Tổ Tông, thì làm gì có chuyện Chúa giáng trần Cứu Chuộc?”. “Nếu vậy, đạo Thiên Chúa Giáo hoàn toàn đã được xây dựng trên những ảo tưởng”.

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ cũng còn viết (trg.3):

“Sánh các đoạn Thánh Kinh với nhau, với các khám phá khoa học ta thấy: Hai Chương 1 và 2 Sáng Thế Ký hoàn toàn mâu thuẫn nhau. “Cái vòm trời, cái “Trời” - bằng đồng thau - mà Chúa đã vất vả dùng cả ngày thứ 2 xây dựng nên với những cửa có thể mở đóng tùy nghi, đã được chứng minh là hoàn toàn không có. Đó chỉ là một ảo giác của chúng ta mà thôi!”

Chỉ vì Đạo Giatô La Mã đã cấm giảng dạy Khoa Học trong các trường của Giáo Hội, và xử tội thiêu sống một số nhà khoa học, như Giordano Bruno, nên Tom Pain trong The Age of Reason (Trg.313) cho rằng: “Thời đại của ngu si bắt đầu với đạo Ky-tô.” (The age of ignorance commenced with the Christian system).

Giáo Hội Giatô La Mã, như trên chứng minh, đã làm cản trở sự tiến bộ của Văn Minh Âu Châu, chứ không “Xây Dựng Văn Minh Âu Châu” như Giáo Hoàng nói. Không lẽ Giáo Hoàng lại không biết đâu là Sự Thật, nhưng Người vẫn cứ nói sai với Sự Thật, có lẽ để làm cho dân Á Châu không thuộc lịch sử Âu Châu tin rằng đạo Giatô La Mã là một đạo tiến bộ.

3- Phật giáo Tiêu Cực. Với Luật Nhân Quả mà Khoa Học không thể bác bỏ, Phật giáo đã tích cực góp phần vào việc lành mạnh hóa xã hội. Nhân và Quả theo nhau như Hình với Bóng. Gieo Nhân nào thì gặt hái Quả đó. Gieo Nhân Ác thì gặp Quả Ác. Trong sách Buddhism and Present Life, trang 56 có đoạn viết như sau:

We are the results of what we were and we will be the results of what we are. Actions condition our happiness or unhappiness and finally secure our salvation.

“Chúng ta là kết quả của chúng ta hôm nay và chúng ta sẽ là kết quả của chúng ta hôm nay. Hành động là nguyên nhân Hạnh Phúc hay Đau Khổ và cuối cùng là đảm bảo sự Giải thoát cho chúng ta”.

Một khi con người phải chịu kết quả về việc mình làm, không ai Cứu Rỗi được, thì đương nhiên phải làm điều Thiện. Rõ ràng là Tích Cực. Nhưng  khi tin rằng, làm điều xấu, nhưng nếu trở về với Chúa được Chúa Cứu Rỗi, thì con người dễ sa ngã, dễ phạm tội ác, thì có phải là Tiêu Cực không?

Quan niệm sai lầm về Cứu Rỗi là nguyên nhân gây ra những tội ác khủng khiếp.

“Linh Mục Công giáo Edward A. Synan, tác giả quyển “The Popes and the Jews in the Middle Ages” cũng đã phải thành khẩn công nhận rằng: Khi Âu Châu được đặt dưới quyền thống trị của các Giáo Hoàng thời Trung Cổ đã không biết chuyện bình đẳng và công bằng; luật pháp thì dã man từ ý hướng đến hình phạt, và đã chĩa mũi vào dân chúng Do Thái tội nghiệp”. (Nguyễn Văn Thọ, trg .12).

Như vậy, nếu bảo đạo Giatô Tích Cực, thì có lẽ là Tích Cực tàn sát người ngoại đạo. Sau đây là một thành tích Tích Cực nữa của đạo Giatô La Mã:

“Tòa Hình án có quyền hết sức rộng rãi, tha hồ tra tấn những kẻ tình nghi để bắt buộc họ phải cung khai những tội họ đã bị tố cáo hoặc vu cáo. Hình phạt tối hậu có thể là thiêu sống…Nguyên thời Thomas de Torquemada là Chánh án trong vòng mấy chục năm trường, có khoảng 20.000 người đã bị ông cho lên giàn hỏa, hoặc bị tra tấn, tù đày, vong gia bại sản”. (Nguyễn Văn Thọ, trg 13).

Tôi không nghĩ rằng có một tôn giáo nào Tích Cực hơn thế. Và ở Việt Nam những người Việt Nam theo đạo Gia-tô cũng rất Tích Cực!

IV. THIỀN ĐỊNH

Đức Giáo Hoàng: “Cảnh giác những người Thiên Chúa Giáo đang nhiệt tình tập Thiền”. Thiền là gì? Thiền nói một cách tóm gọn là một phương pháp tập để làm cho Tâm bớt động, rồi không động. Đức Phật có nói: “Tâm Bình Thế Giới Bình” . Hành động bao giờ cũng là kết quả của Ý Nghĩ. Nghĩ trước hành động sau. Nghĩ như thế nào thì làm y như thế ấy. Cho nên hành động luôn luôn phản ảnh rất trung thực những điều ta nghĩ. Khi viết ra những điều bẩn để vu cáo bôi bẩn ai, thì Tâm của người viết cũng bẩn y như thế. Đọc văn, thì biết ngay người.

Tâm bẩn thì xã hội bẩn; Tâm loạn thì xã hội loạn.

Tâm là gốc, tất cả đều từ  Tâm mà ra. Trong gia đình, một cái Tâm ích kỷ sẽ đưa đến ngoại tình, gia đình đổ vỡ. Ngoài xã hội, một cái Tâm bất chính sẽ đưa đến trộm cướp, hiếp dâm. Người có quyền mà loạn Tâm, thì thế nào cũng xảy ra chiến tranh, hay đâm chém nhau.

Tại sao lại có Thánh Chiến? Tại vì những người có khả năng gây chiến cũng nghĩ sai lầm rằng Thượng Đế của họ mới là chính, tất cả những dân không thờ Thượng Đế như họ đều là tà ma ngoại đạo cần phải diệt trừ, gọi là để làm sáng danh Chúa. Họ cũng tin rằng giết người để làm sáng danh Chúa không những không có tội, mà còn có công với Chúa, được Chúa ban cho nhiều Ơn Phước, nên họ giết một cách tự nhiên vui vẻ. Ở Việt Nam, dưới thời tổng thống Ngô Đình Diệm, khi có thể giết người mà không bị xét xử, Cần Lao Công Giáo đã giết được 300.000 người mà họ vẫn thản nhiên như không.

Tâm là nguồn gốc của mọi hành động. Đây là một sự thật hiển nhiên, không một lập luận, hay một môn khoa học nào có thể bác bỏ, nhưng Giáo Hoàng thì lại cho rằng chỉ cần Chúa thương là đủ. Người nói: “Kết hợp với Thượng Đế không phải chỉ bằng sự trong sạch mà thôi, mà là do Tình Thương”.

Nhờ được Chúa Thương, nên Jeffrey Dahmer, một kẻ giết người hàng loạt sau khi hiếp dâm họ, cũng được lên Thiên Đàng. Nếu trên cái Thiên Đàng đó có Jeffrey Dahmer, chắc chắn không bao giờ có tôi.

Khi tin rằng theo đạo Chúa, thì Chúa cho lên Thiên Đàng, dù phạm đủ thứ tội ác, thì tại sao lại không phạm tội ác, ăn chơi cho sướng? Rồi đằng nào thì cũng được lên Thiên Đàng. Sao lại có một thứ tôn giáo chiều chuộng con người đến như thế? Giáo điều này không ngăn ngừa tội ác, biến cái xã hội mà chúng ta đang sống thành địa ngục trần gian.

Người theo đạo Phật quan niệm hoàn toàn khác. Người Phật tử chân chính lo tu Tâm, giữ gìn cho Tâm trong sạch, không dám phạm tội ác, vì biết rằng, nếu phạm tội ác, thì phải nhận hậu quả, Phật không cứu được.

Tầm quan trọng của Tâm cũng có thể chứng minh được, một cách rất cụ thể:

a- Lấy hai ly nước phù sa. Một ly để yên. Còn ly kia, ta lấy chiếc đũa khuấy lên hoài. Ly nước để yên sẽ lóng cặn, và nước dần dần trở nên trong. Còn ly nước động thì vẫn đục.

Tập Thiền là để làm cho Tâm yên tĩnh lắng trong. Khi tâm yên tĩnh lắng trong, ta sẽ nhìn sự vật một cách rõ ràng hơn. Vì vậy tập Thiền có thể làm cho con người trở nên thông minh hơn, vì Tâm trong hơn. Có những tên người mà ta quên mất, nhưng nếu ngồi yên suy nghĩ lại, tự nhiên nhớ ra.

b- Ce sont les idées qui mènent le monde : “Chính các ý nghĩ đã dẫn dắt thế giới”.

Tầm quan trọng của Ý Nghĩ đã được chứng minh trong tuyên truyền, quảng cáo, và truyền đạo :

Tuyên truyền. Là nói về chính trị. Khi còn chiến tranh lạnh, Mỹ và Nga đều tìm cách ảnh hưởng tới sự suy nghĩ của dân chúng đối phương. Hai bên đều muốn chinh phục đầu óc của dân chúng đối phương. Tầm quan trọng của thông tin, tuyên truyền, đã được hai nước Mỹ - Nga chứng nhận, và được tờ U.S. News & World Report số ra ngày 5/3/84, gọi là “Chiến tranh luồng sóng”. Mỗi năm chi phí về thông tin tuyên truyền của hai nước được ghi nhận là Mỹ 153,5 triệu, và Nga 700 triệu. Riêng để phá rối hai đài phát thanh Radio Free Europe, và Radio Liberty, Nga đã thiết lập 2.500 máy phá rối luồng sóng điện, với chi phí 300 triệu cho mỗi năm.

Quảng cáo. Là làm cho người nghe tin, rồi mua hàng của mình. Mỗi năm các nhà sản xuất hàng hóa, như xe hơi…, đã chi phí hàng tỉ đôla cho quảng cáo. Các đài truyền hình đều sống nhờ quảng cáo. Tùy theo chương trình, mỗi một phút quảng cáo trị giá từ 100.000 đôla cho đến cả triệu. Năm 1986, nhân lễ kỷ niệm 100 năm Tượng Thần Tự Do, mỗi phút quảng cáo là 165.000 đôla. Năm 1995, mỗi phút quảng cáo cho trận banh bầu dục Mỹ (football) là 1.000.000 đôla.

Truyền đạo. Là làm cho người ta nghe, rồi tin theo đạo của mình. Khi người ta đã nghe và theo mình, thì tiếp tục nói nữa để người nghe tin theo mình nhiều hơn. Cứ nói mãi, ngày này sang ngày khác, thì người nghe sẽ triệt để tin theo mình, cho đến một ngày, người nghe có thể chết cho đạo của mình, dù đạo ấy có thể chỉ mê tín dị đoan.

Kinh thánh tiên đoán ngày tận thế. Những nhà Thần học Nam Hàn theo đạo Giatô La Mã quyết định rằng ngày tận thế sẽ tới vào nửa đêm 28/10/92. Con chiên nghe theo Cha, bán nhà bán cửa, xin nghỉ việc kéo đến nhà thờ chờ chết, để cùn