giao diem 3-2005

posted: 05.3.2005

THƯ NGỎ GỬI GIÁO HOÀNG JOHN PAUL II
 
Vũ Trọng Minh

Hoa Kỳ, ngày 15-3-1995

Kính gửi: Giáo Hoàng John Paul II
Tòa Thánh Vatican
La Mã

Kính thưa Ngài,

Người được hân hạnh viết thư này gởi đến Ngài là một Phật tử Việt Nam tỵ nạn tại Hoa Kỳ đã mười sáu năm; Sau khi đọc cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng của Ngài, do ông Hoàng Quý dịch ra Việt ngữ, thấy cần phải lên tiếng trình bày với Ngài một vài điều ngộ nhận để góp ý kiến phê phán và sửa chữa.

Trước hết vì dịch giả là một trí thức Công giáo, tổng thư ký nguyệt san Hiệp Nhất, hẳn phải là một tín hữu thuần thành, do đó tôi tin rằng bản dịch này không có gì thiếu sót hoặc sai lầm trong việc chuyển ngữ, và phản ảnh trung thực những ý tưởng của Ngài nên tôi căn cứ vào đó mà viết thư này.

Điều thứ hai là những vấn đề mà Ngài nêu ra cho các giáo hữu Kitô toàn thế giới, có ít hoặc không có liên hệ đến Phật tử chúng tôi thì xin miễn bàn đến. Tôi chỉ nêu lên một vài điểm ở chương “Đức Phật Thích Ca” từ trang 104 đến trang 109 của bản dịch, nói về Phật giáo. Sau hết, tôi không phải là trí thức hay học giả, mà chỉ là một người thường dân trung bình, nên tôi không đi vào lý luận trừu tượng, tối tăm mà chỉ nói đến những sự việc có thực, nhiều người biết, đã và đang xảy ra tại nước tôi hoặc nơi khác, nhất là những việc tôi đã nhìn thấy bằng mắt, nghe thấy tận tai đối chiếu với lời nói thành văn của Ngài.

“Trăm nghe không bằng một thấy” là câu tục ngữ quen thuộc của người Việt chúng tôi. Cũng như Ngài đã hiểu rõ Cộng sản bằng thực tế xảy ra ở quê hương Ba Lan của Ngài, tôi cũng hiểu đạo Chúa bằng thực tế xảy ra tại nước tôi. Vậy thì trong cả hai trường hợp ấy, sách vở đâu có giá trị bằng cái biết trực tiếp, mà nhiều khi sách vở chỉ là văn chương phù phiếm, hoặc lý luận quanh co để che dấu những sự thật chẳng tốt đẹp gì.

Thưa Ngài, ở đầu chương này (trang 105 của bản dịch) Ngài viết rằng:

Giáo lý của Phật giáo về ơn cứu độ tạo thành tâm điểm hoặc đúng hơn là một điểm duy nhất trong hệ thống này. Tuy nhiên, cả truyền thống Phật giáo lẫn những phương pháp khơi nguồn từ đó đưa ra một nền thần học cứu rỗi hầu như độc hữu tiêu cực.

Nói ngắn gọn hơn nữa, Ngài khẳng định: “Giáo lý, truyền thống, phương pháp của Phật giáo đều là tiêu cực cho nên thần học cứu rỗi của Phật giáo đều là tiêu cực”. Nếu đó là ý kiến của Ngài thì tôi xin nói ngay là Ngài đã sai lầm nghiêm trọng, nếu không muốn nói là Ngài cố tình xuyên tạc với hậu ý không lương thiện.

Trước hết, ý niệm cứu rỗi hàm ý có một vị thần linh toàn năng, toàn triệt, cao cả nhất (tức là Thượng Đế hoặc Chúa) ban ân huệ cho các tín đồ bằng cách xóa bỏ các tội lỗi của họ, như ông quan tòa tha tội cho các phạm nhân. Ý niệm ấy không có trong Phật giáo vì đó chỉ là một ảo tưởng do con người bịa đặt ra để dọa dẫm và lừa dối nhau mà thôi. Cả mấy ngàn năm qua, chưa có ai thấy Thượng Đế mặt mũi ra sao, chưa có ai nhìn thấy Thiên Đường ở đâu. Người nhút nhát, sợ hãi nghe vậy vội vàng lễ lạy ngày đêm, dâng cúng phẩm vật tiền bạc, ruộng đất nhà cửa, làm giàu cho các tu sĩ và Giáo hội cho nên họ mới có tài sản đồ sộ hàng trăm, hàng ngàn tỷ, mà Ngài thừa biết, là tài sản của Tòa Thánh Vatican.

Phật giáo bác bỏ ý niệm ấy vì nó không có thực, nó phi lý, nó làm ngu tối con người. Phật tử không bao giờ tin là có một ông hay bà Thượng Đế nào có quyền năng như vậy cả. Những hành động xấu xa, ác độc, của một cá nhân tạo ra, trở thành nghiệp quả xấu cho chính cá nhân đó. Muốn tháo gỡ nghiệp quả đó thì chính bản thân người ấy phải nỗ lực để tự cải thiện, làm điều lành, tránh điều dữ, tu tỉnh lại và thay đổi lối sống, lối suy nghĩ, hướng về cái tốt, cái lành trong đời sống, yêu thương súc vật cho đến cây cối. Có như vậy mới mong giảm thiểu hoặc chuyển đổi được nghiệp quả đó chứ không có một ông thần, bà thánh nào can thiệp được cả. Không cần phải lễ lạy đêm ngày, không cần phải cúng tiền, hiến ruộng, hiến thân cho ông tu sĩ nào hết.

Chỉ với đoạn văn trên của Ngài, tôi cũng biết là Ngài chưa bao giờ đọc một cách kỹ lưỡng về Phật giáo, hoặc nếu có thì chỉ coi mấy bản tường trình tóm tắt của các cận thần phụ tá. Tiện đây xin nói thêm rằng kinh điển Phật giáo rất nhiều, quá nhiều nữa - không có một tôn giáo nào trên thế giới này có nhiều kinh điển như Phật giáo, không phải vài ba chục cuốn như Công giáo, Tin Lành, Do Thái, Hồi Giáo... mà có hàng ngàn bộ kinh, đọc cả đời chưa chắc đã hết.

Ngay cả mấy bộ kinh quan trọng như kinh A Hàm, kinh Lăng Già, kinh Hoa Nghiêm, kinh Thủ Lăng Nghiêm... có muốn đọc hết cũng phải hàng chục năm. Mà có đọc chăng nữa, cũng không chắc gì hiểu nổi, nếu chưa tuần tự tu hành (vừa tu tập vừa hành động) theo đúng phương pháp để đạt được một trình độ tâm linh sung mãn. Dù Ngài có muốn đọc đi nữa, thì ở ngôi vị Giáo Hoàng, vừa làm chính trị toàn cầu, vừa quản trị một Giáo hội lớn như Vatican, làm sao Ngài có thì giờ, trong khi biết bao vấn đề cấp bách cần phải giải quyết vì Giáo hội đang trên đà xuống dốc như hiện nay.

Ngoài ra, những điều Ngài phê bình là tích cực hay tiêu cực, dù có định nghĩa trong tự điển, cũng chỉ là những khái niệm tương đối và trừu tượng.

Ta không thể nhìn thấy, không thể nghe thấy, không thể đo lường được những khái niệm ấy, mà phải cụ thể hóa nó bằng sự việc rõ rệt. Hơn nữa, cùng là một khái niệm tiêu cực hay tích cực thì mỗi người, mỗi tập thể có thể hiểu một cách khác nhau, tùy theo trình độ hiểu biết, ước vọng và quyền lợi xa hoặc gần của tập thể ấy chi phối nhận định của họ.

Như Ngài đã biết, trong Thế chiến II (1939-1944) khi Hồng quân Liên Xô tràn vào nước Balan quê hương của Ngài, họ đã giết chết cả ngàn sĩ quan Balan và chôn xác họ ở rừng Katyn, thì đối với chúng ta, đó là một tội ác man rợ, đáng ghê tởm, nhưng đối với những người cộng sản Liên Xô và Balan, thì đó là một hành động tích cực, quyết liệt, để  diệt trừ mầm phiến loạn còn trong trứng nước, để họ yên tâm xây dựng một xã hội Balan mới theo mô hình cộng sản mà họ chủ trương.

Cũng hệt như vậy, ở nước tôi, vào những năm đầu của chế độ Đệ I Cộng Hòa, khi ông Tổng Thống Công Giáo là Ngô Đình Diệm cùng với mấy em là các ông Ngô Đình Nhu và Ngô Đình Cẩn (đều là Cố vấn chính trị của ông Diệm) chủ trương tiêu diệt những người Quốc gia chống Cộng hăng say, nhưng không cùng một tôn giáo với họ, như ông Nguyễn Bảo Toàn (Hòa Hảo) và ông Hồ Hán Sơn (Cao Đài) bằng cách bắt cóc bí mật, trói chặt họ rồi đút vào bao bố, lấy dao nhọn và lưỡi lê đâm cho đến khi chết hẳn rồi buộc đá nhấn chìm xuống sông Nhà Bè Saigon (ông Nguyễn Bảo Toàn) hoặc vứt xuống giếng khô rồi lấp lại (ông Hồ Hán Sơn). Nhân chứng hãy còn sống đây, sau hơn 30 năm mới dám viết sách ở Hoa Kỳ tố cáo những việc man rợ này. Các kẻ sát nhân này chắc hẳn nay cũng ở Hoa Kỳ, vẫn sống ung dung phè phỡn và ngày nào mà chẳng đến nhà thờ cầu nguyện Chúa cho lên Thiên Đàng. Đối với Phật tử chúng tôi thì đó là một đại trọng tội, một hành động man rợ, nhưng đối với tập thể Công giáo tôn thờ anh em ông Diệm và Giáo hội Công giáo thì chắc hẳn họ coi đó là một hành động tích cực, vì Chúa, vì Giáo hội để mở mang nước Chúa. Bằng chứng là hơn ba chục năm nay họ ngậm miệng, coi như không có việc gì xảy ra. Còn Phật tử chúng tôi, sau khi chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ, chúng tôi chưa hề truy lùng bọn sát nhân đó để bắt đền tội. Thái độ đó lại được coi là tiêu cực sao?

Cũng vẫn chế độ Công giáo trị của Ngô Đình Cẩn ở miền Trung Việt Nam, đã thủ tiêu và tàn sát cả chục ngàn người dân, gán cho họ là Cộng sản (theo bảng tổng kết của Ủy Ban Điều tra tội ác của chế độ Nhu Diệm, sau khi họ bị sụp đổ) thì theo ý Ngài đó là hành động tích cực chăng? Vì Chúa, vì Giáo hội mà giết người như vậy thì Tòa Thánh có cho rằng đó là công lao tích cực mở mang nước Chúa không? Nếu có, thì Tòa Thánh còn đợi gì mà chưa phong Thánh cho mấy anh em ông Diệm, Nhu, Thục, Cẩn?

Nêu lên mấy sự kiện lịch sử cận đại của nước Việt Nam, tôi muốn nhấn mạnh rằng việc xác định thế nào là tích cực hay tiêu cực là một việc hoàn toàn có tính cách chủ quan, cho nên không thể nào hồ đồ, không nên dùng cách chơi chữ, mượn những từ ngữ mập mờ đánh lận con đen, lộn sòng thiện và ác để che dấu những việc xấu xa, tàn ác, man rợ để trốn tránh trách nhiệm hoặc để tự tô vẽ cho mình. Cách tốt hơn cả là phải đối chiếu lời nói với việc làm, mới tìm ra sự thật.

Điều thứ hai Ngài viết rằng đạo Phật “đòi hỏi sự đoạn tuyệt với những ràng buộc nối liền chúng ta với thế giới bên ngoài... để thành thản nhiên trước những gì thuộc về thế giới đó” và “không đề cập đến Thượng Đế hay Trời Đất (vô thần).” ở trang 105 của bản dịch.

Đọc đoạn này tôi thật sự ngạc nhiên thấy Ngài khẳng định những điều về Phật giáo mà chẳng hiểu gì về giáo lý đạo Phật cả. Tôi sẽ không dài dòng, mà chỉ xin vắn tắt như sau: Nếu chủ trương của Đức Phật chỉ là đoạn tuyệt với thế giới bên ngoài, thì sau khi thành đạo, tại sao Đức Phật không ngồi yên ổn ở một đạo tràng hoặc một khu rừng nào đó, an nhàn thư thả, chứ tại sao lại phải dầm mưa đội nắng, du phương khất thực, truyền đạo suốt 49 năm trên gần khắp miền Bắc nước Ấn Độ thời đó, từ làng này qua làng khác, dạy dỗ từng người, từ các quốc vương tới người hành khất, cả người hạ tiện gánh phân giữa đường, có khi bị kẻ mưu hại, bị kẻ công kích đả phá và âm mưu ám sát nữa?

Rồi Ngài Bồ Đề Đạt Ma, vị Tổ thứ nhất của Thiền tông ở Viễn Đông, tại sao lại lặn lội từ Ấn Độ qua Trung Hoa thời Lương Vũ Đế? Tại sao 13 thế kỷ trước đây, pháp sư Huyền Trang, một mình mà dám liều mạng lặn lội từ thành Trường An (tây Trung Hoa) đi bộ suốt hai ba năm trời, vượt qua mười vạn dặm đường, để đi thỉnh kinh ở Ấn Độ, rồi lại trở về cặm cụi dịch kinh, dạy dỗ tín đồ? Nói như Ngài “cắt đứt mọi ràng buộc với thế giới bên ngoài” thì hai vị nói trên họ có khùng hay không mà làm những việc nguy hiểm đến tính mạng như thế?

Ngài nói rằng Phật giáo không đề cập đến Thượng Đế (Trời và Đất) là vô thần. Tôi yêu cầu Ngài, vì sự thật, vì sự lương thiện của một vị chủ chiên một tôn giáo lớn mà hỏi ngay các nhà trí thức, học giả người Âu Châu và Mỹ Châu, hiện nay có cả ngàn người, hỏi họ coi tại sao họ lại bỏ đạo Công giáo của ông cha họ đã hai ngàn năm rồi mà đi theo Phật giáo vô thần. Phật giáo không phải vô thần (như Ngài đã nói về Cộng Sản, mà bây giờ lại dùng cho Phật giáo với dụng tâm đó), Phật giáo chỉ không tin có cái gọi là Thượng Đế mà đạo Giatô (Công giáo) đã bày đặt ra và trang trí cả hai ngàn năm nay để làm giàu cho Giáo hội, cho các tu sĩ cao cấp.

Lịch sử Giáo hội Công giáo còn là lịch sử của tiền bạc thừa mứa, ăn chơi trác táng của các Giáo Hoàng, Giáo Chủ, của những âm mưu đen tối tranh giành, cướp phá, giết hại lẫn nhau. Chúng tôi đã đọc nhiều rồi. Các tài liệu, văn bản đều do người Giatô viết ra, chứ không có một “tên ngoại đạo” nào biết được mà viết cả. Ngài muốn biết tôi nói đúng sự thật hay không, xin đọc cuốn Vicars of Christ - the Dark Side of the Papacy (tạm dịch: Triều Đại Dâm Loạn của các Giáo Hoàng) do nhà Crown Publishers Inc xuất bản năm 1988, các thư viện lớn đều có. Tác giả là Tiến sĩ Peter de Rosa, Tổng Giám Mục giáo sư thần học của chủng viện Westminster và là giáo sư Niên trưởng của môn Thần học tại Corpus Christi College ở Luân Đôn, tức là một đại trí thức Thiên Chúa giáo và là thầy dạy cao cấp của các Linh mục, giám mục. Đọc xong, các độc giả trí thức Công giáo sẽ thấy rõ sự thật về Giáo hội tốt đẹp hay xấu xa như thế nào, khỏi cần bàn cãi nữa.

Đọc hết 6 trang trong chương nói về Đạo Phật Thích Ca (của bản dịch), sau khi   đả phá Phật giáo (lẽ dĩ nhiên) Ngài đề cao Công giáo bằng những từ nghe rất kêu: suy niệm thần bí, ngọn lửa nồng nhiệt của Tình yêu, nhận thức về sự dữ, mặc khải của Chúa Hằng sống, công đoàn của đức tin, đức cậy và đức mến, giải phóng toàn triệt, bẻ gãy uy quyền của Thần Dữ, duy trì chủ nghĩa hoàn thiện trần gian, v.v... Tôi dám đánh cuộc rằng số tín đồ Công giáo ở một số vùng quê nước tôi như Hố Nai, Gia Kiệm, Phát Diệm, Bùi Chu, dù có đọc thì cũng chẳng hiểu gì. Nhưng đã là lời Đức Thánh Cha thì đương nhiên họ khâm phục và nhắm mắt mà tin.

Tôi xin tình nguyện giúp họ thấy một phần của sự thật bằng những kinh nghiệm bản thân tôi đã trải qua từ lúc còn nhỏ cho đến ngày nay, với tư cách là một nhân chứng quan sát sự việc có thực xảy ra để đối chiếu với mớ danh từ mơ hồ, ai hiểu sao cũng được, mà Ngài đã dùng. Sự đối chiếu này chỉ để chứng minh một quy luật “kinh tế”: cứ nhìn phẩm chất của một sản phẩm thì biết giá trị của “hệ thống” sản xuất ra nó.

Năm 1930, hai anh em tôi mới 9, 10 tuổi, theo người chị sang làng Kẻ Sặt (huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương) chỉ cách làng tôi gần 3 cây số để coi rước lễ. Ở thôn quê nghèo, đâu có gì giải trí như ở thành phố, nên đâu có đám ma, đám rước là cũng đi coi. Kẻ Sặt là một làng Công giáo rất đông dân, có chợ Sặt lớn nhất vùng đó. Trên bến dưới thuyền, có phố chợ, nhiều Hoa kiều ở từ lâu đời. Lúc đó là mùa hạ (chắc là lễ Phục sinh) chúng tôi ghé một nhà Hoa Kiều quen biết, lên lầu coi cho đỡ chen chúc. Đám rước đi qua lúc trời đã tối, tôi đang mãi coi hai hàng mấy trăm bà sơ, mặc toàn đồ trắng rất đẹp mắt, cầm mỗi người một cây nến, vừa đi vừa cầu kinh. Rồi đến một ông cha Tây, mũi lỏ da trắng hồng, cũng mặc toàn đồ trắng. Ông cha to béo, bệ vệ, râu rậm và dài chấm ngực, bốn người lớn đi bốn góc nâng cái phương du (mùng) lụa trắng, có nóc và bốn mặt riềm thêu hoa trắng. Lại có cả chục đứa bé, cở tuổi tôi, vừa nhảy múa vừa hát, vừa đập phách chung quanh ông Cha Tây. Tiếng trống tây, kèn tây vang dội khắp phố. Đang mãi coi thì có tiếng trẻ con la hét và khóc ở hai bên phố, phía sau - thì ra kiệu Chúa sắp đến, những thanh niên trong ban trật tự điều hành đám rước (không phải là lính hay cảnh sát, ở các huyện nhỏ này làm gì có cảnh sát) họ dùng roi đánh những đứa trẻ con (ngoại đạo) đứng coi hai bên đường, bắt chúng phải quỳ xuống đón kiệu Chúa. Đứa nào không quỳ, bị đòn, phải quỳ xuống hết, còn những đứa đứng phía sau không chịu quỳ, chạy vào các nhà bên đường. Những người cũng đứng trên lầu nhìn xuống như chúng tôi thì họ dùng sào tre dài thọc vào cửa sổ, bắt phải xuống đường không được nhìn từ trên cao xuống kiệu Chúa. Chị tôi vội vàng kéo chúng tôi lùi vào phía trong cho họ khỏi thấy. Từ đó chúng tôi không bao giờ đi coi rước Chúa nữa, nhưng hình ảnh này không bao giờ quên được. Đó là lần đầu tiên tôi được biết đến đạo Chúa.

Lần thứ Hai, cách đó hai năm, tôi học ở trường tiểu học huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, gần dinh Tri huyện và cũng ở sau lưng Phố Sặt, trọ ở nhà người quen trong phố. Gặp ngày nghỉ, tôi đi bộ về làng. Ra khỏi làng Sặt, tôi gặp một cố đạo Tây khác - ông đang ngồi trên một chiếc xe caosu (như xe xích lô nhưng không có người đạp mà kéo bằng hai càng dài phía trước) chắc ông đi hóng mát vì xe đi chậm. Có một đứa con trai chắc hơn tôi mấy tuổi vì tôi chỉ đứng bằng vai nó, đang đứng gần đó. Gặp xe ông cố đạo đi tới, nó giơ hai tay chắp vào nhau lên cao quá đỉnh đầu, vái xuống sát đất, vừa vái lạy vừa nói: "Muôn lạy Cha ạ". Điều tôi lấy làm lạ là cách nó vái chào. Chúng tôi chào ông bà, cha mẹ, thầy giáo hay người già cả thì chỉ chắp tay cúi đầu một chút là đủ. Sao thằng bé này (dân đạo Chúa) nó lại lạy từ trên trời xuống tận đất như vậy. Bốn chục năm sau tôi mới hiểu được rằng do các cha cố thực dân dạy dỗ, chúng chỉ tôn thờ Chúa (thực dân), ngoài ra không còn tuân lệnh ai hết.

Lần thứ Ba tôi gặp đạo Chúa, cũng lại ở làng Kẻ Sặt. Hôm đó được nghỉ, tôi đi bộ về làng. Đường từ phố Sặt về làng tôi phải đi qua trước cửa nhà thờ. Chẳng biết vì sao mà người làng kéo đến rất đông ở sân nhà thờ, ồn ào, lại có tiếng khóc nữa. Tò mò, tôi đi đến cổng, dưới lầu chuông nhìn vào. Thấy giữa đám đông là một khoảng trống như sân khấu, người ta dựng cây thập ác trên có hình nộm Chúa bị đóng đinh, giống y như người thật, có cả máu me nữa. Dưới chân thập ác là 5, 6 chục các bà đang khóc. Có mấy bà tóc bạc phơ, còn phần đông ở lớp tuổi mẹ tôi chừng trên dưới 40 tuổi. Khi mấy bà khóc to, tiếng khóc thật thiểu não, nức nở nghe thương tâm vô cùng. Từ lúc còn nhỏ, tôi đã được coi mấy đám ma ở làng, con cái khóc bố chết hay mẹ chết, lúc quan tàn hạ huyệt, không còn bao giờ thấy bố mẹ nữa, cố nhiên là khóc. Nhưng không có đám ma nào có thể khóc với lòng thương xót, tiếc nuối, đau khổ đến cùng cực như các bà đi đạo này. Tôi không hiểu được tại sao theo “đạo” lại khóc một ông Tây hơn cả người ta khóc cha mẹ sinh thành, nuôi dưỡng mình từ khi trứng nước.

Rồi cũng phải mấy chục năm sau nữa, tôi mới hiểu được rằng: các cha cố Tây uốn nắn tín đồ đạo Chúa thành  những kẻ cuồng tín, không biết cái gì hơn là Chúa và Giáo hội, từ đó đến chỗ phản lại Tổ quốc của họ theo thực dân (nước Chúa) chỉ còn gang tay.

Lần thứ Tư là năm 1935 - 1936, tôi học lớp nhì năm thứ nhất (cours moyen première année) tại trường tiểu học tỉnh lỵ Hưng Yên, trọ học tại phố Hiến cổ, cuối làng Mậu Dương. Ngày rước thần làng năm đó tôi đi theo coi. Đám rước đi từ đình làng, sát với phố Hiến, lên đền Thiên Hậu, nằm trên bờ Hồ Bán Nguyệt, nhìn sang tư dinh của quan Công sứ (Tây) bên kia hồ. Đám rước đi dọc theo bờ hồ, từ dinh Bố Chánh, đến Vọng Cung (nơi vua sẽ ở khi ra kinh lý) rồi tới dinh Tuần phủ (tỉnh trưởng người Việt). Vừa tới Vọng Cung thì chiêng trống, thanh la, đàn sáo im bặt, đám rước thành ra đám người đi chợ, không ai nói một lời nào. Chẳng hiểu vì sao, tôi chạy lại hỏi mấy người khiêng trống lớn sao không đánh trống thổi kèn nữa. Người ấy chỉ tay về phía dinh Tuần phủ, bảo: “Quan Tuần cho lính ra cấm không cho đánh trống thổi kèn đi qua cửa dinh”. Thế là từ đó về đến Đền Thiên Hậu (chỉ còn độ bốn, năm trăm mét nữa), cả đám rước hơn bốn trăm người lửng thửng đi như một đàn chó bị cắt đuôi, chẳng ai nói lời nào, im lặng, nhẫn nhục chịu đựng… Ông Tuần phủ ấy là một người theo đạo Chúa, tên là Nguyễn Văn Thư mới đổi về ít lâu. Hai năm sau, ông Lê Đình Trân đổi về thay, tôi có học cùng với hai người con của ông là Lê Hồng Giang và Lê Duy Kỳ ở lớp nhất (cours supérieur) niên học 1937 - 1938 mà sau này khi kết bạn với nhạc sĩ Phạm Duy, khi nhạc sĩ làm con nuôi ông bà Lê Đình Trân (coi hồi ký Phạm Duy).

Lần thứ Năm, tôi ở Sư đoàn Bộ Binh 23 mới thành lập cuối năm 1958 đóng ở Dục Mỹ, phía bắc Nha Trang trên con đường từ quận Ninh Hòa (quốc lộ 1) lên Ban Mê Thuột. Lúc tôi đến, Sư đoàn còn đang xây dựng doanh trại, tiếp sau đó là dựng nhà thờ và trại gia binh nhưng không làm một cái chùa nào cả. Ngân khoản do Quân nhu cấp bao nhiêu không ai biết, nhưng binh sĩ phải lên rừng cưa cây, xẻ gỗ làm kèo cột, lấy lá lợp mái và tre nứa làm vách. Mỗi ngày đại đội tôi phải cử một tiểu đội (từ 10 đến 12 người) ra làm nhà thờ. Tính ra hơn cả trăm người mỗi ngày làm không công cho đạo Chúa. Quân số Sư đoàn lúc đó có khoảng 7.000 người mà cả sĩ quan và binh sĩ theo đạo Chúa chưa đầy 250 người với 2 cha tuyên úy, còn lại toàn là Phật giáo, Cao Đài, Hòa Hảo và đạo Ông Bà, nghĩa là Công giáo chỉ có một nhóm nhỏ xíu, nhưng nắm tất cả quyền hành. Tư lệnh Sư đoàn là Trung tá Trần Thanh Phong (bà con với Tướng Trần Văn Đôn) sau lên Thiếu Tướng rồi tử nạn máy bay.

Trong vụ làm nhà thờ và trại gia binh này không hiểu quý vị Trung đoàn trưởng và các Cha tuyên úy kiếm được bao nhiêu, chỉ biết các binh sĩ có gia đình phải ký nhận đã lãnh mỗi người 2000đ (lúc đó mỗi lượng vàng giá 3000đ) để hưởng căn nhà mà chính tay họ đổ nền, lên rừng lấy cây, lấy lá dựng nhà, lợp mái, nghĩa là do họ làm ra, nay phải nhận đã lãnh 2000đ để làm nhà mà thật sự chẳng được đồng nào. Có đến ba bốn chục binh sĩ không ký, dọa dẫm họ cũng không ký. Sau các quan lớn phải bắt nhân viên phòng kế toán mạo chữ ký của họ nạp hồ sơ lên Quân Nhu mà không dám làm gì mấy chú lính bướng bỉnh này, e vỡ lỡ câu chuyện. Mấy kẻ bẩn thỉu trong chuyện này toàn là Công giáo. Ông Thiếu tá Trung đoàn 1 (tên Võ VC) và Trung đoàn 2 (Nguyễn V Tr.) đều là người Công giáo, riêng ông Nguyễn V Tr. còn là Bí thư Đảng bộ Cần lao của Sư đoàn, nên ông Tư lệnh Sư đoàn cũng phải kiêng nể. Mà cái ông Tr. này chỉ là Trung Úy, được lên Đại úy tạm thời, và khi thành lập sư đoàn thì đeo lon Thiếu tá giả định (fictif). Đem sĩ quan loại đó, bẩn thỉu như thế mà đòi đánh Cộng sản, hèn chi chẳng chạy như đàn vịt.

Lần thứ Sáu, muốn biết người Công giáo nghĩ gì về Quốc gia, dân tộc, xin Ngài và độc giả nghe câu chuyện này: Đầu năm 1960, tháng 2 tức là Tết Việt Nam, Cộng sản đánh úp đồn Trảng Sụp ở Tây Ninh, đoạt toàn bộ vũ khí giữa đêm 30 tết mà chúng không thiệt một người nào. Sau khi binh sĩ nhảy dù càn quét quanh Tây Ninh chỉ lấy lại được một số rất nhỏ súng đạn Cộng sản bỏ lại khi di chuyển trong rừng, Trung đoàn tôi được lệnh lên Tây Ninh càn quét tiếp. Suốt từ cuối tháng 2/1960 đến tháng 5 năm đó, Trung đoàn ra thông báo gởi xuống cho các đơn vị. Thông báo dài choán hết trang đánh máy nghe vui tai lắm, nhưng kết quả thu được sau 3 tháng hành quân với một Trung đoàn đầy đủ quân số, chỉ có 2 khẩu súng lục và 30 bao lúa mà Cộng sản bỏ lại ở một trạm trong rừng - cho đến hôm đó là ngày lãnh lương cuối tháng, có xe Trung đoàn đến phát lương - chúng tôi đóng trên một ngọn đồi thấp, sát đường lộ Tây Ninh đi Kà Tum, ở một nơi gọi là Giếng Thí, cách Tây Ninh chừng 15 hoặc 18 cây (không còn nhớ rõ) có tất cả 4 anh em hạ sĩ quan cùng ngồi với ông Đại đội trưởng.

Tất cả đều băn khoăn về tương lai cuộc chiến, nếu cứ ấm ớ thế này mãi, nếu Việt cộng nó thắng thì mình chạy đi đâu, còn chỗ nào nữa. Dù có nước nào giúp, thì chẳng lẽ bỏ đất đai, Tổ quốc lại mà chạy sao? Đang nói thì có một ông Trung sĩ ở Trung đoàn theo xe lương xuống, tên là Thức (hoặc Chức vì tôi không quen) ghé vào tham gia câu chuyện. Ông này làm y tá và cũng là một người Công giáo quan trọng trong đảng Cần lao của Sư đoàn, là tai mắt của ông Trung đoàn trưởng nữa. Ông Thức này phát biểu một câu đáng ghi nhớ để đời. Xin Ngài và quý độc giả cho phép tôi nhắc lại nguyên văn như sau: “Xin lỗi Trung úy (Đại đội trưởng) và quý ông, người Công giáo chúng tôi đéo cần Tổ Quốc!”

Bốn anh em chúng tôi ngơ ngác nhìn nhau, không nói gì. Cả ông Đại đội trưởng của chúng tôi cũng không dám nói, lẳng lặng đưa mắt nhìn chúng tôi có ý bảo nên giữ miệng. Rồi ông chăm chú nhìn ông Thức như có ý thắc mắc muốn nghe thêm. Thấy mọi người im lặng, ông Thức nói tiếp như giải thích: “Tổ quốc là cái gì? Tổ quốc chỉ là một mảnh đất do Chúa sinh ra. Tất cả đất đai, sông núi, cây cỏ này, cả vũ trụ này đều là Chúa sinh ra. Nếu mất mảnh đất này Chúa lại sinh ra chỗ khác cho mà ở, cần gì”.

Đến đây thì bọn chúng tôi lấy cớ ra xe lãnh lương, đứng dậy, không muốn nán lại, nếu chẳng may ngứa miệng tranh luận với ông ta thì nguy hiểm. Thời đó, quyền uy của Công giáo và gia đình Tổng Thống Diệm ghê gớm lắm, nếu kẻ nào dại dột nói cái gì bị nghi là có ý chống Công giáo thì tàn đời ngay, dại gì mà vuốt râu hùm. Hôm đó là ngày 30 tháng 8 năm 1959. tôi nhớ được là vì ngày lãnh lương và đúng một tháng sau đó, tôi thuyên chuyển đi đơn vị khác. Từ ngày nghe câu nói bất hủ đó đến hôm nay tôi viết thư này, vừa đúng 35 năm 6 tháng và 15 ngày tôi còn nhớ như in.

Tôi rất cám ơn ông Thức về chuyện này. Nhờ ông nói ra tôi mới hiểu tâm địa thầm kín của người Công giáo Việt Nam. Điều đó giải thích được bao nhiêu là thắc mắc của tôi mà không tìm ra nguyên nhân. Tại sao Công giáo lại theo Tây cướp nước mình, tại sao họ lại làm tay sai cho Tây suốt đời Pháp thuộc, tại sao họ lại giết các nhà ái quốc mà không phải là Cộng sản, và tại sao đàn bà, con gái của họ ngủ chung với các cha Tây đẻ ra cả lô con lai, mà họ vẫn không hề ngượng ngùng, lại còn hãnh diện nữa. Con của các cha Tây thì cũng do ý muốn của Chúa chứ sao. Các Cha đã dạy rằng: một sợi tóc rụng, một giọt mồ hôi chảy ra cũng là do ý Chúa mà!

Lần Thứ Bảy, để hiểu về tinh thần đoàn kết của Công giáo ở Mỹ này, các cha cố đang ra sức mở chiến dịch đoàn kết tôn giáo để chống Cộng. Có mấy nhà sư không hiểu chính trị là gì và chưa bao giờ hiểu tâm địa thật sự của người Công giáo, nhất là các cha cố của họ, còn phần đông uất ức vì Cộng sản tàn ác đã gây ra mối thù bất cộng đái thiên, nên họ thành công được bề mặt, lập được một vài tổ chức tượng trưng gọi là có, nhưng thực lực chẳng có gì. Đa số vẫn đứng ngoài, vì đã có kinh nghiệm với Công giáo thế nào rồi. Muốn biết tâm địa thực sự của Giatô (tức Công giáo) đối với các tôn giáo Đông Phương, nhất là Phật giáo họ khinh bỉ ra sao, xin vui lòng nghe câu chuyện này:

Năm 1934, một ngày đẹp trời, một vị cố đạo Tây mũi lõ tóc quăn đi dạo buổi sáng. Gặp một ngôi chùa ở vùng Hậu Giang (Nam phần Việt Nam), ông sồng sộc đi thẳng vào chánh điện chùa. Lúc đó chỉ có một ông thầy 60 tuổi và một chú sa di (chú tiểu) hơn 10 tuổi. Trong chùa có pho tượng Phật lớn nhất thì ông ta biết rồi, còn hai tượng bồ tát ở hai bên có lẽ ông chưa thấy bao giờ. Chẳng cần chào hỏi ai cả, ông cầm ba toong chỉ vào một pho tượng hỏi trống không:

- Thằng này tên gì?

Chú tiểu vừa tức, vừa sợ không dám lên tiếng, nhưng vị sư già thản nhiên đáp:

- Tên nó là Văn Thù (Bồ Tát Văn Thù tượng trưng cho Trí huệ siêu việt)

Ông cố đạo Tây lại chỉ sang pho tượng bên kia:

- Còn thằng này tên gì?

Vị sư già cũng vẫn điềm đạm trả lời:

- Tên nó là Phổ Hiền (Bồ Tát Phổ Hiền tượng trưng cho Từ Bi)

Đến đây ông có đạo Tây sắp sửa ra về thì vị sư già nói tiếp ngay:

- Ấy, chúng nó có ba anh em tất cả, nhưng một thằng bỏ chạy đi đâu mất nên chỉ còn hai đứa này thôi.

Ông Tây cố dạo quay lại hỏi:

- Thằng chạy đi ấy tên gì?

Vị sư già đáp liền:

- Tên nó là Giêsu.

Vị sư già ấy chết đã lâu, nhưng chú tiểu hồi đó còn sống, nay là một nhà sư bảy mươi tuổi. Tôi không nói tên ngôi chùa và địa điểm vì tôi muốn tránh cho vị sư có thể gặp phiền nhiễu do câu chuyện tôi được nghe. Nếu Đức Thánh Cha muốn biết tường tận xin cho tôi biết tôi sẽ ghi pháp danh và địa chỉ của vị sư này (đã sang Mỹ từ hơn mười năm nay và hiện cũng ở California).

            Lần thứ Tám, cũng trong chương này, Ngài viết rằng “... những vị Tiến sĩ Hội thánh này không chủ trương tách rời khỏi thế giới...” (trang 106 của bản dịch). Câu ấy đúng quá, tôi thiết nghĩ Ngài khỏi cần nhắc, các vị chức sắc Hội Thánh, các vị cha xứ ở nước tôi đã làm từ lâu rồi. Chắc chắn các vị ấy không bao giờ mơ tưởng Niết Bàn hay Thiên Đường đâu mà cứ khư khư ôm chặt lấy thế giới này đấy. Mà thế giới là gì? Là đất đai, vườn ruộng, nhà cửa và con người, đàn ông và đàn bà con gái, nhất là tài sản của Giáo hội đã nắm trong tay. Tôi xin đưa ra một thí dụ rõ rệt xảy ra gần nơi tôi ở và nhiều người được nghe, được thấy:

            Năm 1968 tại Saigon, quân đội Cộng sản tổng công kích (đợt hai) vào khoảng tháng 5/68. Lúc đó tôi đang ở Đồng Ông Cộ, thuộc Gia Định, gần Ngã Năm Bình Hòa và đang làm thuê cho hãng Denis Frères ở đường Tự Do Saigon. Từ gần sáng đã nghe tiếng súng từ Cầu Sơn. Đến khi sáng rõ, thấy tình hình nguy quá vợ chồng tôi dẫn bảy đứa con chạy khỏi nhà, lếch thếch dìu dắt mấy đứa nhỏ, theo đoàn người đông đảo chạy loạn, xe cộ, đồ đạc vứt đầy đường, tính xuống Bàn Cờ ở nhờ nhà quen. Xuống tới chợ Bà Chiểu (Gia Định), chúng tôi định đi xuống Cầu Sắt vào Sài Gòn, thì gặp ở phía tay trái ngay bên đường lộ một ngôi nhà thờ lớn và ngọn tháp chuông rất cao (tôi quên tên nhà thờ đó rồi) nhưng nó chỉ cách chợ Bà Chiểu chừng 400 mét là nhiều ngay sát đường lộ. Nhìn những chân tường nhà thờ dầy có lẽ tới vài ba mét, tôi nghĩ nếu có đạn lớn nhỏ bắn từ đâu tới thì cứ núp quanh đây cũng chẳng hề hấn gì. Còn Cộng sản có bắn súng cối thì tường dày cũng chẳng đổ được. Thế là chúng tôi theo người ta kéo vào sân nhà thờ mỗi lúc một đông. Ba mặt nhà thờ lại mới xây trường học ba tầng bao quanh, hình chữ U, như vậy yên tâm chờ ở đây, nếu yên thì trở về nhà cũng gần, còn nguy lại chạy tiếp lên Sài Gòn cũng hợp.

            Người ta theo nhau vào sân nhà thờ mỗi lúc một đông, cho đến tối thì sân đầy người, đàn bà con gái già trẻ lớn bé chẳng biết nằm đâu, ngủ đâu. Có hai người đàn bà bụng to có lẽ gần đến ngày sanh, phải nằm trên đất vì cửa nhà thờ đóng kín, các lớp học dưới đất và trên lầu đều khóa chặt, mà chẳng có ai để hỏi han hoặc xin ngụm nước uống. Lần mò vào bên hông nhà thờ thấy một khoang trống không có cửa, nền xi măng, có lẽ là nơi để xe đạp của học sinh, nên hơn trăm người chen chúc trong đó có gia đình tôi, giải áo và mền nằm tạm qua đêm. Trời tối hẳn thì bóng đèn điện duy nhất trên trần nhà sáng lên, mọi người đang sửa soạn cho con cái ngủ, thì một vị linh mục (áo chùng đen, cổ áo khoanh trắng bên trong) bước vào cùng với một người chắc là phụ tá. Ông nói gì không nghe rõ, vì ồn ào quá. Mãi sau, ông vỗ tay la lớn: “Im lặng nghe đây, im lặng nghe đây” thì tiếng ồn mới hạ xuống dần dần. Ai nấy đoán rằng ông là cha xứ ở nhà thờ hoặc là hiệu trưởng của ngôi trường này với gần 5, 6 chục lớp học, chắc ông sẽ lên tiếng an ủi đồng bào gặp nạn phải bỏ nhà cửa chạy lấy thân, hoặc sẽ nói về sự cần giúp của Giáo Hội, và kỷ luật, trật tự cần phải có trong lúc này. Nhưng không, ông chỉ nói thế này: “Im lặng, tôi nói cho mà nghe, ai có cái gì thì giữ lấy mà ăn, ở đây chúng tôi không có gì cả”.

            Thấy mọi người chỉ nhìn mà không ai nói gì cả, ông nói thêm cho rõ: “Tôi nhắc lại, ai có gì thì giữ lấy mà ăn, ở đây chúng tôi không có gì cả”, nói xong ông đi ra luôn. Lũ người tị nạn nhìn nhau không ai nói lời nào. Đáng chú ý là ông Cha này không gọi chúng tôi là anh em, không gọi là đồng bào mà cũng không gọi là bà con cô bác gì hết, ông chỉ nói trống không. Tôi đoán là ông thấy đám người chạy loạn này là bọn Phật giáo đáng khinh bỉ (vì tôi không thấy ai chào ông “Lạy Cha” hay “Muôn lạy Cha ạ” như người Công giáo thường nói khi gặp các vị chăn chiên).

            May sao đêm ấy không có đánh nhau lớn nên ngủ được. Đến khi trời sáng rõ hẳn, mọi người sửa soạn ra đi. Gia đình tôi ra đến ngoài sân nhà thờ thì đã thấy bốn chiếc xe vận tải GMC của quân đội chỡ phẩm vật cứu trợ của Sở Xã Hội Đô Thành đem xuống phát cho dân di tản như chúng tôi. Chắc chắn 100% là các cha đã gọi điện thoại lên Sở Xã Hội từ ngày hôm trước, vì khi xe vừa tới thì đã có sẵn hơn chục người của nhà thờ ra xe khuân đồ vào như: mùng, mền, chiếu, gạo, bánh mì, nồi niêu, chén bát, v.v... còn cả ngày hôm trước chẳng thấy bóng dáng một ai. Những người bỏ đi sớm vì hôm qua cha đã nói là “ai có gì giữ lấy mà ăn, ở đây chúng tôi không có gì cả” thì còn nán lại làm gì. Còn lại lúc đó không quá ba chục người, mà cũng chẳng có ai ở lại lấy cái gì cả. Có một người khoảng 36, 37 tuổi, người miền Nam đứng trên đống đá, nói thật to: “A ha! hôm nay nhà thờ trúng mối!” Cả bọn chúng tôi đều cười ồ rồi kéo nhau ra đi, chẳng ai thèm lấy cái gì hết. Nhà thờ trúng mối lớn quá thật - chẳng phải tốn phí xu nào, chẳng tốn một ngụm nước máy cho ai uống mà được 4 xe vận tải phẩm vật thì còn gì phát tài bằng.

            Kính thưa Đức Thánh Cha,

            Trên đây là một việc làm tiêu biểu cho tinh thần bác ái, giúp đỡ người nghèo, người bị nguy khốn của đạo Chúa của Ngài, của các cha cố và cả tập thể Công giáo Việt Nam của Ngài đấy.

            Câu chuyện thứ Chín, là tinh thần tích cực làm tiền của các cha cố ngay tại Sài Gòn mà cả nước ai cũng biết. Khi thực dân Pháp chiếm xong Nam Kỳ (miền Nam nước Việt) thì họ cho một công ty Pháp mở một đồn điền trồng cao su, chạy dài 14 cây số từ cổng trường bay Tân Sơn Nhất xuống đến Chợ Lớn. Năm 1954, Pháp bị Cộng sản đánh bại, phải rút khỏi Việt Nam, họ liền bí mật bán cho nhà Chung, không ai biết bao nhiêu nhưng chắc chắn là rẻ mạt vì Hiệp định Genève đang tiến hành trước sau cũng mất. Đất bán cho nhà Chung cứ để y nguyên nên ai cũng tưởng là đất của chánh phủ lấy lại của Tây. Đến năm 1970, nhà Chung Công giáo chia lô làm nhà ra bán cho người ta mua làm nhà vì dân số đô thành lúc đó tăng gấp năm lần, nhà bán chạy như tôm tươi. Mỗi lô bán trung bình hai trăm năm mươi ngàn đồng lúc đó. Số tiền bán nhà đất thu về sơ sơ cả mấy trăm triệu không biết có gởi về nhà băng Tòa Thánh hoặc các ngân hàng không?

Chỉ biết một phần số tiền đó các ngài mở ngân hàng Đại Nam, trước ngày Cộng sản thống nhất toàn bộ đất nước có lẽ các Ngài biết rõ tình hình sắp sụp đến nơi nên thu vốn lại, không rõ đem đi đâu vì ngân hàng Đại Nam không kèn không trống biến mất tiêu trước ngày 30/4/1975. Thế là đất nước Việt Nam bị kẻ cướp thực dân lấy khai thác chán chê rồi bán cho bạn chí thiết của kẻ cướp là Giáo hội Công giáo. Chưa ai thấy ơn cứu rỗi của Chúa và Giáo hội Công Giáo đâu cả, chỉ thấy tài sản đất đai nước tôi chuyển từ tay bọn ăn cướp ngày là thực dân sang tay bọn cướp đêm là công ty bán vé cứu rỗi của quý Ngài.

            Cũng chuyện đất đai, năm 1925 một nhóm Cách mạng Việt Nam ở Pháp, trong đó có mấy người nổi tiếng như các ông Nguyễn Thế Truyền và ông Nguyễn Ái Quốc (tức Hồ Chí Minh sau này) viết nhiều sách báo tố cáo những tội ác của thực dân Pháp. Tôi được đọc ngay tại Sài Gòn một cuốn của ông Nguyễn Ái Quốc (Le Procès De La Colonisation Francaise), vào tháng 2 năm 1955 tại một phòng thông tin của Pháp (lúc đó chưa rút hết) khi lần đầu tiên tôi đến thành phố này. Phòng thông tin đó nằm trên đường Lê Văn Duyệt (tên cũ) ở trong tòa nhà lớn gọi là Nhà Kiếng (sau chính phủ Diệm cấp trụ sở cho Tổng Liên Đoàn Lao Công của ông Trần Quốc Bửu (lãnh tụ công giáo) làm trụ sở). Tôi còn nhớ cuốn sách mỏng độ hơn 100 trang, tố cáo thực dân Pháp nhiều việc. Tôi chỉ còn nhớ một việc là thực dân Pháp cho Giáo hội Công giáo 200 ngàn mẫu tây (ha) đất ở tỉnh Vĩnh Long. Trải qua hai triều đại Công giáo Diệm và Thiệu, số đất đó vẫn được miễn thuế. Tuy chính quyền Diệm và Thiệu theo lời khuyến cáo của Mỹ có cải cách ruộng đất tất cả 2 lần, nhưng không ai dám đụng đến số 200 ngàn mẫu ruộng đó của Giáo Hội. Sách xuất bản giữa Paris, vào thời thịnh đạt của đế quốc Pháp và Paris là trung tâm chính trị lớn nhất Âu Châu. Nếu họ nói sai sự thật, giáo hội Công giáo có tinh thần tự trọng phải lên tiếng cải chính rằng đó là chuyện vu cáo, không có, người ta bịa đặt ra để nói xấu. Sao từ đó đến nay là 70 năm rồi, quý vị cứ “ngậm miệng ăn tiền” như vậy? Quý vị đã bòn rút được bao nhiêu của cải của đất nước tôi gần một trăm năm đem về La Mã.

            Ngoài số 200 ngàn mẫu đất ruộng này ở Vĩnh Long, Giáo hội còn đầu tư bao nhiêu vốn vào hàng trăm công ty lớn nhỏ khai thác tài nguyên nước tôi, chỉ kể ra đây ba công ty thôi:

-            Công ty trồng cao su Đông Dương (Société des plantations d’hévéas de l’Indochine).

-            Công ty Mỏ than Bắc kỳ (Société des charbonnages du Tonkin).

-            Nhà băng Đông Dương (Banque de l’Indochine).

Còn bao nhiêu công ty khai thác mỏ vàng, mỏ bạc, đồng, thiếc, kẽm, chì, wolfram, tungsten, nước suối... và xuất nhập cảng ở khắp nước không kể hết được. Tòa Thánh và Giáo hội Công giáo Việt Nam đã đầu tư lấy lời bao nhiêu máu mủ của đất nước tôi đem về La Mã, không ai biết cả. Chỉ có một người Pháp, viên thanh tra chính trị phủ Toàn quyền, ông Aurousseau (?), đã viết rằng tài sản của Giáo hội Công giáo ở Việt Nam (khi cuộc đô hộ Việt Nam vừa mới vững chân) còn lớn hơn là tài sản của Chánh phủ Đông Pháp (gồm nước Việt-Miên-Lào). Quý vị cứu rỗi được bao nhiêu linh hồn? Không ai thấy. Quý vị đem tiền bạc cướp được đó cứu giúp được những ai đang sống? Không ai thấy cả.

Còn mấy cái Viện mồ côi mà chánh phủ thực dân Pháp bỏ tiền ra xây, trợ cấp hàng tháng hoặc hàng năm, giao cho các cha, các bà sơ trông nom để kiếm thêm tín đồ vì quá ít người theo đạo. Họ cho số cô nhi này học đạo trước khi học chữ, thế là vừa được tiếng làm phước lại vừa mở rộng đường đạo. Trong việc truyền giáo thâu lợi đó quả là tích cực hết chỗ nói, thưa Ngài, nhớ lại thời cổ (thế kỷ thứ 8), khi người Ả Rập Hồi giáo chiếm được Tây Ban Nha công giáo, bắt cả triều đình vua quan, hoàng hậu, phi tần và thu hết vàng bạc châu báu, đàn bà con gái, binh lính và dân phu từ Tây Ban Nha vượt eo biển Gibraltar, và đi suốt từ Maroc qua Algérie, Tunisie, Ai Cập sang bán đảo Á Rập mất mấy tháng mới về tận triều đình của họ ở Bagdad (Irag ngày nay). Đoàn người dài cả trăm cây số, giữa ban ngày cả thiên hạ đều biết là một vụ cướp lớn lao, nhơ nhớp để tiếng xấu trong lịch sử, ai cũng biết.

 Thời đại mới này, quý vị lãnh đạo Công giáo khôn ngoan, tính toán giỏi hơn họ nhiều. Tài sản cướp được ở các nước thuộc địa, xuống tàu chở về Âu Châu bán nguyên liệu sống (như than đá, cao su, quặng kim khí) hoặc chế biến rồi lại xuất cảng bán cho cả thế giới, làm sao người ta biết nổi khi gởi tiền vào các nhà băng, chia chác nhau trên giấy tờ, rồi lại chuyển tới các nhà băng giữ, đâu có cái gì lọt ra cho bên ngoài thấy. Cách chiếm đoạt và phân tán ấy thật là kính đáo tuyệt hảo, hơn người Ả Rập cả trăm lần. Dân chúng thuộc địa, như các tín đồ Công giáo của Ngài, là loại dân chỉ biết làm ruộng, đánh cá, làm muối ở ven biển nước tôi, hầu hết là mù chữ, làm sao mà hiểu nổi, cho nên từ đời ông cố, ông sơ cho đến cha mẹ họ và họ ngày nay, vẫn tin rằng Giáo hội và các chức sắc trong Đạo của họ là đạo đức là thánh thiện lắm.

Từ khi các cha cố đầu tiên đến nước tôi, đã ngoài 400 năm, quý vị và con chiên đã làm được gì để đóng góp xây dựng đất nước này? Cách đây 50 năm, học giả Đào Duy Anh viết cuốn sách nổi tiếng Việt Nam Văn Hóa Sử Cương đã phê bình rằng : Sự đóng góp của người Giatô tức Công giáo vào văn hóa Việt Nam cho đến nay (tức 1940) không có gì đáng kể. Từ đó đến nay, thêm  50 năm nữa cũng chẳng có gì hơn.

Đời họ từ trong bụng mẹ ngoài việc đi lễ ở nhà thờ đã nghe cầu kinh từ tờ mờ sáng, từ đêm khuya, ngắm rồi nguyện tới mỗi đàng. Kết quả là tầm mắt của họ không nhìn được cái gì cao hơn nóc nhà thờ, không thấy cái gì xa hơn cổng nhà thờ, không thấy ai trên đời này giỏi bằng ông cha xứ, không tuân lệnh ai ngoài cha xứ, quanh năm suốt tháng không đọc sách vở nào ngoài cuốn kinh bổn với những câu như: ⼯span>Lạy Cha chúng tôi ở trên trời, xin tha cho chúng tôi là kẻ có tội⼯span> hoặc là ⼯span>xin cho chúng tôi đồ ăn đủ ngày⼯span> v.v... Tôi hiểu được tâm địa của họ qua những hành động và lời nói của những người Công giáo mà tôi đã thấy trong thời Pháp thuộc và thời Diệm - Thiệu.

Chuyện thứ Mười: Làng Phù Ủng, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên (nay gọi là tỉnh Hải Hưng) có đền thờ Tướng quân Phạm Ngũ Lão, một danh tướng nước tôi đời nhà Trần (thế kỷ 12) có công lớn chống giặc Nguyên, vẫn được các triều đại sau đó phong thần. Ngôi đền này ở đầu làng Ủng chỉ cách làng Kẻ Sặt (Công giáo) có hơn hai cây số. Vì mẹ tôi là người làng Ủng và có ít ruộng ở đó, nên năm nào tôi cũng thường qua chơi và ở luôn nhà ông cậu suốt tháng giêng, đền mở hội hàng năm. Người ta đổ về hội Ủng lễ bái rất đông không chỉ tháng Giêng mà suốt năm, từ các tỉnh xa như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Sơn Tây. Cho đến năm tôi 25 tuổi, vì chiến tranh tôi mới rời khỏi vùng này. Suốt mấy chục năm như vậy, tôi chưa hề thấy một người Công giáo nào ở làng Kẻ Sặt đến coi (chưa nói là đến lễ bái làm gì), dù họ hàng ngày vẫn đi qua đó mua lúa về bán cho các tiệm Tàu và thuyền buôn, hoặc xay giã thành gạo bán ở chợ Sặt.

Đường đi vào làng Ủng sát ngay sân đình, tôi đã để ý nhiều lần, lần nào cũng vậy, họ không hề ngó vào đình, không hề bước vào sân đình, chứ đừng nói đến vào lễ. Tôi còn nhớ được tên mấy người làng đó thường qua lại mua lúa của ông cậu tôi là bà Ba Lẹm, khá giàu, mua lúa có khi cả mấy trăm thùng một lúc (mỗi thùng 10 kilôgram). Người ít vốn hơn như bà Lệ (gọi theo tên anh con trai là anh Lệ). Năm 1956, 57, chúng tôi còn gặp anh này ở khu Bàn Cờ Saigon khi anh từ Hố Nai xuống thăm nhà quen, và còn một người nổi tiếng ở làng Kẻ Sặt là ông Lý Kiệm, làm lý trưởng làng Kẻ Sặt có lẽ đến hai chục năm liền. Tôi có biết, thấy và gặp ông này tháng 6 năm 1952, khi một đoàn quân Pháp hành quân, tiểu đoàn ba thuộc trung đoàn 1 Maroc (1er Régiment des Tirailleurs Marocains) đóng tại làng Sặt và bộ chỉ huy đóng ngay tại nhà ông ta. Vì quân Pháp rất tin cậy người Công giáo, nên chẳng đề phòng như khi đến các làng khác, cả bộ chỉ huy ở đó mà chỉ có một người lính Marốc đứng gác, lúc đó đang trò chuyện rất vui vẻ với các cô gái làng Sặt bán trái cây và quà bánh cho họ, còn các sĩ quan Pháp thì đi ăn tiệc với các cha, cho nên có lần đó năm tù nhân làm phu khuân vác của tiểu đoàn (Prisonniers internés militaires, viết tắt là PIM), lẩn vào dân đi chợ và trốn luôn, trong đó có một người làng tôi, anh Nguyễn Văn Mai nay còn sống. Tình quân dân giữa lính Tây Maroc và dân làng công giáo thật là nồng hậu, thắm thiết, cho nên suốt 9 năm chống Pháp, quân đội kháng chiến không bao giờ dám đóng ở một làng Công giáo nào cả.

Chắc hẳn cũng do dân làng Kẻ Sặt chỉ dẫn, nên đền thờ làng Phù Ủng, thờ vị anh hùng dân tộc Phạm Ngũ Lão bị pháo binh Tây bắn nát vụn không còn gì, chủ ý là họ phá ngôi đền chơ vơ ở đầu làng. Còn lính Tây thì họ đâu có biết lịch sử nước tôi, ông Phạm Ngũ Lão là ai, có công gì với dân Tây đâu. Đến khi hòa bình trở lại, đền mới được trùng tu, xây nhỏ hơn đền cũ. Ngài có biết ai đứng ra trùng tu ngôi đền này không? Thưa rằng do chính phủ Cộng sản mà người Công giáo vẫn chửi bới là vô thần, vô Tổ quốc đó!

Tôi không hiểu người Công giáo nghĩ thế nào, vì mấy người tôi quen biết trên đây, những khi họ đến nhà dân chúng tôi mua lúa, gặp khi có kỵ giổ cúng ông bà tổ tiên, mời họ ăn một miếng họ cũng không ăn, dù họ gánh lúa từ sáng đến xế chiều chưa kịp ăn gì. Có lần bà Ba Lẹm (đã nói ở trên) đến kiếm ông cậu tôi để nói về chuyện mua lúa hoặc trả tiền nong gì đó, ông cậⵠđang ở ngoài chùa, tôi phải đưa bà ra chùa. Đến cổng chùa, bà ta nhất định không vào bắt tôi vô gọi ông cậu ra nói chuyện. Các chùa ở thôn quê rộng rãi như một xóm nhỏ, đâu có chật hẹp như các chùa ở thành phố. Trước khi đến chùa thờ Phật, còn nhà khách, nhà kho, nhà bếp, còn chùa ở xa đó, riêng một nơi.

            Nhưng đối với người Công giáo, thì bất cứ cái gì liên quan đến chùa, đến Bụt là ma quỷ, họ sợ phải đi xưng tội với các cha Tây vì đụng chạm hoặc đến gần ma quỷ. Đã sống trong thời Pháp thuộc, tôi hiểu được ý nghĩ thật sự của người Công giáo, toàn là những ý nghĩ phản dân tộc. Cho nên ngày nay, thấy họ hô hào đoàn kết hòa đồng tôn giáo để chống Cộng, tôi chỉ thấy buồn cười!

            Thư đã quá dài, tôi xin phép tạm dừng bút. Tôi rất quý trọng Ngài ở điểm kêu gọi các tín đồ Giatô (nay gọi là Công giáo) hãy thống hối các tội ác hợp tác với thực dân mà trở thành đám phản quốc. Nếu họ không muốn con cháu họ sau này đời đời bị người ta coi rẻ, nhìn bằng nửa con mắt thì họ nên thành thật hối lỗi, đừng dở trò bịp bợm như hiện nay nữa, không ai mắc lừa lâu đâu.

Cuối thư xin kính chúc Ngài thêm nhiều sức khoẻ, sống lâu để làm việc công ích thật sự cho nhân loại và nhất là thay đổi được tư duy và hành động của số người Công giáo cuồng tín ở Việt Nam (là đám Cần lao Nhu-Diệm), kéo họ ra khỏi vũng bùn lâu đời: phản quốc và phản dân tộc.

Kính thư.

Vũ Trọng Minh

Falls Church.VA. 4/95


04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com