posted: 05.3.2005
PHỤ LỤC
Lê Hiếu
Liêm Thần học Thiên Chúa giáo được xây dựng trên năm tín điều căn bản, như năm cột trụ chống đỡ toàn bộ giáo lý Thiên Chúa giáo, đó là: 1. Chỉ có một thế giới này thôi, trái đất này là thế giới duy nhất và là trung tâm duy nhất của vũ trụ, nó đứng yên và mặt trời quay xung quanh trái đất. 2. Thượng đế sáng tạo ra mọi sự hiện hữu, từ con người, xã hội, thế giới và vũ trụ. 3. Tất cả những cái gì xảy ra cho con người, cho xã hội, cho thế giới và vũ trụ là ý muốn của Thượng đế. 4. Con người không thể được giải thoát ngay trong thế giới này mà chỉ có thể được giải thoát sau khi chết đi và chỉ được giải thoát trong ngày phán xét cuối cùng và chỉ giải thoát sau khi được tuyển chọn để lên thiên đàng, Thiên quốc của Thiên Chúa. 5. Sự cứu rỗi chỉ có thể thực hiện qua trung gian của giáo hội Thiên Chúa Giáo La Mã (tòa thánh Vatiacan). Ngoài giáo hội này, con người, dù thánh thiện và chứng đắc cao siêu như thế nào, cũng không thể được cứu rỗi. Ngược lại, quan niệm giải thoát theo Phật giáo được xây dựng trên năm nguyên lý căn bản sau đây: 1 – Trong vũ trụ có vô số thế giới, hằng hà sa số như cát sông Hằng và các thế giới này không ngừng biến dịch, sinh, diệt. Trái đất này không phải là trung tâm vũ trụ, và như mọi thế giới khác, mọi sự hiện hữu khác, nó không ngừng chuyển động và thay đổi. 2 – Không có một Thượng đế nào sáng tạo ra thế giới này hết. Vũ trụ được tạo ra do trùng trùng điệp điệp, vô số vô lượng nhân duyên yếu tố. Không một ai, không một vật nào, tự một mình nó, mà có thể hiện hữu. Tất cả đều liên hệ chặt chẽ với nhau. Con người, xã hội, thế giới, vũ trụ được hình thành, sinh hoạt, biến dịch độc lập với ý muốn của bất cứ một cá nhân đơn độc nào, dù đó là Thượng đế, thần linh, trời Phật. 3 – Tất cả những gì xảy ra cho con người là do tâm ý, hành động của chính con người đã tạo ra trong vô lượng kiếp trước, hay trong quá khứ của kiếp này và đang tạo ra trong giờ phút hiện tại, chớ không phải do một ai khác. Và tất cả những gì xẩy ra cho xã hội, thế giới, vũ trụ là do vô số yếu tố tác động lẫn nhau mà thành, chớ không phải do sự quyết định của một Thượng đế nào cả. 4 – Con người có thể giải thoát ngay trong chính xã hội, ngay trong chính cuộc đời, chính thế giới này và ngay bây giờ, chớ không phải là một thế giới nào hết và trong một tương lai xa xôi nào hết. Sự giải thoát của con người là do chính con người chủ động thực hiện, bằng cách chấm dứt những ác nghiệp (tâm ý, lời nói, hành động tốt), thực tập tam huệ học – văn huệ, tư huệ, tu huệ và hành trì tam vô lậu học – giới, định, huệ – (chớ không phải do sự phán xét, cứu độ của bất cứ ai khác). 5 – Sự giải thoát không những có thể được thực hiện trực tiếp, mà còn phải được thực hiện trực tiếp bởi chính tự lực của con người, và lại càng không phải qua trung gian của bất cứ ai. Tha lực, của chư Phật, Bồ Tát, theo quan niệm giải thoát của Tịnh Độ tông hay Mật tông chỉ có tác dụng cứu độ – đưa con người đến cảnh giới cao hơn, thuận lợi hơn cho sự tu tập, nhưng ở đó, chính con người, trong thế giới Tây Phương Cực Lạc, cũng phải tự mình thực hiện sự giải thoát, bằng sự tự mình chứng đắc, giác ngộ, chớ không phải do ai ban cho sự giải thoát. Ngoài ra, tất cả mọi người, dù theo bất cứ giai cấp, tôn giáo nào hay không theo bất kỳ một tôn giáo nào cả, đều có thể thực hiện sự giải thoát ngay chính trong thế giới này và ngay bây giờ. Ngày nay, khoa học và nhận thức thông thường của nhân loại đã phá hủy tận gốc và toàn diện tất cả năm cột trụ giáo lý của thần học Thiên Chúa Giáo. Ngày nay, dưới ánh sáng của lý trí, thực nghiệm và khoa học, những người trí thức được thông tin và hiểu biết ở mức độ trung bình đã có thể tự mình suy xét, so sánh và nhận định đâu là quan niệm giải thoát đúng đắn, có giá trị và có thể áp dụng để thành tựu sự giải thoát đích thực và đâu là những giáo điều hoang tưởng, huyền hoặc, phản lý trí và khoa học, nghĩa là những giáo điều mê tín dị đoan. Quan niệm Thượng đế toàn năng toàn trí sáng tạo và quyết định tất cả, cũng như những quan niệm của các tôn giáo độc thần hay đa thần, khác biệt với quan niệm cho rằng mọi thứ xẩy ra trên đời này là do định mệnh hay do sự ngẫu nhiên, tình cờ. Nhưng cả ba quan niệm này (thuyết Thượng đế sáng tạo của Thiên Chúa Giáo, thuyết định mệnh an bài và thuyết ngẫu nhiên, tình cờ) cùng chung một đặc tính là tước đoạt sự tự do, sự chủ động và trách nhiệm của con người. Trong khi đó thế giới quan và nhân sinh quan của Phật giáo, nhất là quan niệm về sự giải thoát con người của Phật giáo, thì như đã trình bày ở trên, có những đặc tính hoàn toàn khác hẳn cả ba quan niệm này, những đặc tính đó là cho con người, mỗi và mọi người, không loại trừ bất cứ một ai, tự do, sự chủ động và trách nhiệm đối với chính cuộc đời của mình, và trong một chừng mực nào đó, đối với xã hội, với thế giới và cả với vũ trụ. Thật vậy quan niệm tự mình phải chuyển nghiệp, tự mình phải tu học, tự mình phải chứng đắc và giác ngộ, để đạt được sự giải thoát tối thượng, đã làm Phật giáo trở thành một tôn giáo, về mặt giáo lý, đưa con người lên vai trò chủ nhân thật sự của chính mình, kẻ sáng tạo thật sự cuộc đời của chính mình, vị chúa tể quyết định tối hậu tất cả những hành động và sự đau khổ hay hạnh phúc của chính mình. Và về mặt thực tiễn, đưa đạo Phật trở thành một tôn giáo tích cực nhất. Nó hoàn toàn không buông xuôi tất cả cho Thượng Đế, cho số mệnh hay cho sự ngẫu nhiên, tình cờ. Nó đánh thức, kêu gọi và trang bị ý thức trách nhiệm và nỗ lực tự cứu, tự sống đạo, tự tu chứng, tự giải phóng của mỗi người. Đạo Phật đã thật sự biến các tín đồ của mình bơi ngược dòng đời, không phó mặc số phận mình cho thần linh, phần số hay may rủi, trái lại, không ngừng phấn đấu để chuyển hóa nghịch cảnh, cải thiện số phận và thăng hoa cuộc đời. Đạo Phật đã thật sự biến mỗi Phật tử thành một chiến sĩ không những không ngừng thách đố, chuyển hoá, vượt thắng nghịch cảnh, mà còn tích cực, tinh tấn phụng sự tha nhân và xã hội. Vì người Phật tử tin rằng mình có thể thay đổi cuộc đời của mình, có thể đạt đến sự giải thoát cao nhất, như Chư Phật, Bồ Tát, hay AlaHán, như quan niệm của Phật giáo nguyên thủy, và không những thế, có thể thay đổi thế giới, hay ít ra, có thể xoa dịu, làm giảm bớt những khổ đau của đồng loại và của chúng sanh khác. Chỉ cần đọc một phẩm nhỏ, trong rừng kinh sách Phật giáo, ví dụ như phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện của kinh Hoa Nghiêm, ta có thể thấy những quan niệm giải thoát của Thiên Chúa giáo tiêu cực, thụ động và lầm lạc như thế nào và quan niệm giải thoát, cũng như quan niệm phụng sự, của đạo Phật tích cực, hùng tráng, siêu việt ra sao: “Này thiện nam tử, trong các thứ cúng dường, pháp cúng dường là hơn hết. Pháp cúng dường là: Tu hành đúng theo lời Phật dạy để cúng dường, LÀM LỢI ÍCH CHO CHÚNG SANH để cúng dường, CHỊU KHỔ THẾ CHO CHÚNG SANH để dúng dường, nhiếp thọ chúng sanh để cúng dường, siêng năng tu tập căn lành để cúng dường, không bỏ hạnh Bồ Tát để cúng dường, chẳng rời tâm bồ đề để cúng dường… Tôi từ vô thỉ kiếp về quá khứ, do làm tham lam, giận dữ, si mê khiến thân, khẩu, ý tạo vô lượng vô biên ác nghiệp. Nếu các ác nghiệp này mà có hình tướng thì khắp cõi hư không cũng chẳng thể chứa đựng hết được. Nay tôi đem trọn ba nghiệp trong sạch thường an trụ nơi pháp giới trong sạch đầy đủ công hạnh… Như đấng Tỳ Lô Giá Na Phật ở cõiTa Bà đây, từ khi mới phát tâm tinh tấn không trễ lui, đem bất khả thuyết thân mạng ra mà bố thí, LỘT DA LÀM GIẤY, CHẺ XƯƠNG LÀM VIẾT, CHÍCH MÁU LÀM MỰC dùng biên chép kinh điển chất cao như núi Tu Di, vì tôn trọng Chánh Pháp nên Phật không tiếc thân mạng ... BỒ TÁT TÙY THUẬN CÚNG DƯỜNG CHÚNG SANH TỨC LÀ TÙY THUẬN CÚNG DƯỜNG CHƯ PHẬT, TÔN TRỌNG, PHỤNG SỰ CHÚNG SANH TỨC LÀ TÔN TRỌNG, PHỤNG SỰ CHƯ PHẬT, LÀM CHO CHÚNG SANH VUI MỪNG TỨC LÀ LÀM CHO TẤT CẢ CHƯ PHẬT VUI MỪNG ... TẤT CẢ CHÚNG SANH LÀ GỐC RỄ, BỒ TÁT LÀ HOA, PHẬT LÀ QUẢ. Dùng nước đại bi đượm nhuần gốc rễ chúng sanh thì có thể trổ bông Bồ Tát trí tuệ và kết thành quả Phật toàn giác. Vì sao thế? Bởi vì các Bồ Tát dùng nước đại bi làm lợi ích cho chúng sanh, thì thể thành tựu quả vô thượng chánh đẳng chánh giác. Cho nên QUẢ BỒ ĐỀ THUỘC VỀ CHÚNG SANH, VÌ NẾU KHÔNG CHÚNG SANH, TẤT CẢ BỒ TÁT TRỌN KHÔNG THỂ THÀNH ĐẠO VÔ THƯỢNG CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC ... Nguyện cho tất cả chúng sanh thường được an lạc, không các bịnh khổ, muốn thực hành pháp ác thảy đều không thành, còn tu nghiệp lành thì đều mau thành tựu. ĐÓNG CHẶT CỬA CỦA TẤT CẢ ÁC THÚ, MỞ BÀY ĐƯỜNG CHÁNH, NGƯỜI, TRỜI ĐỀU CHỨNG NHẬP NIẾT BÀN. Nếu các chúng sanh nhơn vì trước kia nhóm các nghiệp ác nên chiêu cảm tất cả quả rất khổ, TÔI ĐỀU CHỊU THẾ CHO KHIẾN TẤT CẢ CHÚNG SANH ĐỀؕ ĐƯỢC GIẢI THOÁT, rốt ráo thành tựu quả vô thượng bồ đề ...”. Chỉ cần đọc một đoạn nhỏ này, ta có thể biết rõ Phật giáo chủ trương “tiêu cực”, “xa lánh cuộc đời”, “hờ hững, lãnh đạm” với tha nhân, đồng loại, với xã hội và thế gian như lời phê bình của Giáo Hoàng hay không? Các tăng, ni trong khóa lễ tụng kinh buổi sáng mỗi ngày đều tụng bài kệ: “Trong cõi ác thú địa ngục đau khổ nhất, con nguyện vào đó trước tiên. Nếu có một chúng sanh nào chưa được giải thoát, con nguyện mãi mãi ở cõi địa ngục để cứu độ chúng sanh chớ không an hưởng trong cảnh niết bàn cực lạc”. Nguyện lực cực kỳ dũng mãnh, hùng tráng và tuyệt đỉnh vĩ đại, cao thượng này đã đủ để chứng minh đạo Phật là yếm thế, an phận, hèn nhát, yếu đuối, bi quan hay không? Những nhận định của Đức Phật về con người và thế giới, là không ngừng chuyển dịch, thay đổi, là vô thường, là vô ngã, là khổ, là luân hồi vô tận ... chỉ là những nhận định khách quan, chính xác, xuất phát từ tuệ giác, từ trí tuệ ngộ của Đức Phật mà không một ai có thể phủ nhận được. Để kết thúc, ta hãy đọc một đoạn văn ngắn của nhà bác học lẫy lừng Albert Einstein: “IF THERE IS ANY RELIGION THAT WOULD COPE WITH MODERN SCIENTIFIC NEEDS, IT WOULD BE BUDDHISM. Buddhism requires no revision to keep it up to date with recent scientific finding. Buddhism needs no surrender its views to science, because it embraces science as well as goes beyond science. Buddhism is the bridge between religions and scientific thoughts, that stimulates man to discover the latent potentialities within himself and his environment. Buddhism is timeless”. (Dịch thoát: Nếu có một tôn giáo nào có thể thích nghi với những nhu cầu của khoa học hiện đại, thì đó chính là Phật giáo. Phật giáo không cần duyệt xét quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học. Phật giáo không cần phải từ bỏ những quan niệm của mình để chấp nhận khoa học, bởi vì Phật giáo bao gồm khoa học, và đồng thời cũng vượt qua khoa học. Phật giáo là một chiếc cầu nối liền tôn giáo và những tư tưởng khoa học. Chiếc cầu Phật giáo (nối liền tôn giáo và khoa học) đã kích thích con người khám phá những tiềm năng lớn lao nằm sâu kín trong chính nó và trong môi trường sống xung quanh nó. Phật giáo siêu việt qua thời gian và mãi mãi có giá trị).
|
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com