posted: 05.3.2005
PHỤ LỤC
suy tư về nhận định đạo Phật
bất toàn và tiêu cực GIÁO LÝ NHÀ PHẬT VÀ
PHÁT TRIỂN KINH TẾ Nguyễn Phúc Bửu Tập Người Việt Nam chúng ta làm quen với danh từ kinh tế từ thập niên Ba mươi, lúc cuộc khủng hoảng kinh thế giới 1929 thổi dần đến Đông dương, gây ra thất nghiệp đói kém, và lúc vua Bảo Đại lập Viện Cơ Mật mới, có một ông “Thượng thư Bộ Kinh Tế”. “Cụ Thượng kinh tế”, ông Nguyễn Khoa Kỳ, dung mạo giống như người tài tử thủ vai Bao Thanh Thiên trong phim “Bao Công kỳ án” bấy giờ, phương phi, có chòm râu dài rất đẹp, và có bà vợ dáng dấp đài các đi đâu cũng có ba bốn tì nữ cầm quạt theo phe phẩy. Hình ảnh kinh tế đối với người bình dân chỉ có vậy, trong lúc phải làm kinh tế tối mày tối mặt để kiếm ăn. Thế Chiến Thứ Hai kết liễu, các quốc gia nhược tiểu vùng dậy đổ máu giành tự chủ, và sau đó, tìm những mô hình để phát triển xứ sở. Ta mới có dịp làm quen thiết thực hơn với danh từ kinh tế trong năm mươi năm vừa qua. Trong phạm vi tìm hiểu đạo Phật, câu hỏi ta đặt ra là đạo của Thích Ca đã quan niệm phát triển kinh tế như thế nào. Những điều ràng buộc của đời sống giáo lý có làm trì hãm các mục tiêu nhằm thực hiện no ấm và phú cường cho nhà, cho nước hay không? Trong bài này, trước ta tìm định nghĩa danh tự, kế tới sưu khảo các mối liên hệ lịch sử giữa kinh tế và giáo lý nhà Phật. Tiếp theo, ta sẽ tìm phân tích quan điểm của Đức Phật, qua đời sống hành trì của Ngài và qua kinh điển, đối với việc phát triển kinh tế. Các dữ kiện tìm được sẽ cho phép ta ước lượng ảnh hưởng trì hãm hay phù trợ của giáo lý nhà Phật với công cuộc phát triển kinh tế. Để hướng việc tìm học đạo Phật vào hệ thống, trong bài sưu khảo này, ngữ vựng sẽ dựa vào cuốn Phật Học Tự Điển của Thầy Minh Châu (Nhà Xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1991). Các danh từ chung hay riêng sẽ được cố gắng giữ hình thức chữ Sanskrit (S.) hay Pali (P.), dịch một lần qua chữ Nho hay tiếng Việt, đặt trong vòng đơn, trừ trường hợp các danh từ quá thông dụng. Như vậy, hầu giúp được người đọc dễ theo dõi hoặc tra cứu các tài liệu Phật giáo bằng tiếng Anh, Pháp, Đức, … hiện hữu rất nhiều, lại chính xác, dễ đọc, dễ hiểu, so sánh với tài liệu bằng chữ Nho không còn ở trong tầm tay của người học Phật, nhất là bạn trẻ. ĐI TÌM ĐỊNH NGHĨA
KINH TẾ Ngày nay không dễ gì tìm một định nghĩa thỏa đáng
cho danh từ kinh tế (economics, Anh ; économie, Pháp). Trong xã hội bình dị,
kinh tế có nghĩa là sử dụng dè dặt các phương tiện gia chánh, và chính
Aristotle, triết gia Hy Lạp đến sau Đức Phật 300 năm cũng đã hiểu kinh tế
là vậy, trong sách Politics ông để lại.
Nghĩa này còn áp dụng gần đây tại các nước văn minh và chậm tiến,
ngay tại trường học với các lớp Gia chánh (Home economics). Thế kỷ Mười tám, các nhà làm chính trị và học giả như Adam Smith quan niệm kinh tế là tài sản, là nền phú cường của quốc gia. Ông viết cuốn sách căn bản về kinh tế, lấy tựa đề là An Inquiry into the Nature and Causes of Wealth of Nation (“Khảo sát về Bản Chất và Nguyên Nhân việc Phú Cường của các Quốc gia”). Một thế kỷ sau, John Stuart Mill định nghĩa kinh tế là “khoa học thực dụng về việc sản xuất và phân phối tài nguyên”. Nhờ áp dụng phát minh khoa học vào kỹ nghệ (chiếc máy chạy bằng hơi nước của James Watt phát minh cùng một năm với cuốn sách của Adam Smith, 1776 – bây giờ ta ở Mỹ, nói theo sách vở Anglo-saxon, ngày trước học theo Pháp, ta được dạy là máy hơi nước do Denis Papin chế tạo). Âu Châu trở thành phú cường trong hai thế kỷ Mười tám, Mười chín, và kinh tế lại đổi nghĩa là mậu dịch và định giá hàng hóa. Đi theo kỹ nghệ là những vấn đề xã hội: như đô thị hóa, như lao động trong nhà máy, như giai cấp đấu tranh … kinh tế lại được định nghĩa theo an sinh xã hội, làm sao nâng cao mức sống con người lao động lên cho tương xứng với nền thịnh vượng chung. Một nhà học giả cấp tiến Alfred Marshall, trong sách Principles of Economics (“Nguyên tắc Kinh tế học”) lại đề nghị nhìn vào khía cạnh tâm lý, định nghĩa kinh tế theo tài nguyên và đồng thời theo hành trạng của con người, như việc dân số gia tăng qúa mức, như việc môi sinh bị hủy hoại không lường … Bây giờ kinh tế lại được nhìn dưới khía cạnh bảo trì tài nguyên thiên nhiên và lựa chọn phương thức khai hóa để vừa nuôi con người, vừa đảm bảo đời sống lâu dài của trái đất. Như vậy nhìn vào quá trình đổi thay của quan niệm kinh tế, ta có thể tóm lược được một định nghĩa kinh tế vào thời bấy giờ là con người vì nhu cầu an sinh phải hành động nhằm vào các chức năng sản xuất, phân phối và tiêu thụ các tài nguyên thiên nhiên trong giới hạn môi trường họ được sử dụng. Nhu cầu bắt buộc phải hành động ; vì nhu cầu đa dạng nên buộc hành động phải đa hiệu, toàn bộ. Bởi lẽ đó mà hành động kinh tế thế nào cũng phải vượt ra khỏi phạm trù đạo đức. Tất nhiên, ta thấy hiện ra rõ ràng mối mâu thuẫn giữa sự đòi hỏi phải hoạt động kinh tế để đảm bảo đời sống và những ràng buộc đạo đức ngăn cấm một phần các hoạt động kinh tế. Giáo lý nhà Phật dạy phải giải quyết mối mâu thuẩn này như thế nào? ĐỜI SỐNG KINH TẾ TẠI ẤN ĐỘ DƯỚI THỜI
ĐỨC PHẬT Các tôn giáo lớn thường đã thần thánh hóa các vị khai sinh ra đạo (Đức Chúa Trời, Thượng Đế …). Riêng đạo Phật thì không. Giáo lý dạy là có một người thầy đầy lòng nhân từ (gọi là mâu-ni), thuộc dòng họ Thích-Ca, sống cuộc đời bình thường, và chỉ hơn người thường ở chỗ tìm được giác ngộ. Lúc sinh thời, Thích Ca đã chấp nhận hệ thống kinh tế trong môi trường sinh sống của Ngài. Cách đây hai mươi sáu thế kỷ, trên bờ sông Gangas (Hằng Hà), nền kinh tế dựa theo nông nghiệp và chăn nuôi và đang chuyển dần tới một hoạt động mới là thương mại. Giai cấp quí tộc vẫn giữ nguyên quyền lợi làm chủ đất và làm chủ các dịch vụ cai trị, nhưng nền kinh tế buôn bán mới thành hình và bắt đầu dùng vốn liếng, tạo nên giai cấp của một số người sống với tư bản, buôn bán hay cho vay để người tiểu thương buôn bán. Giai cấp này tiếng Ấn Độ gọi là setthi (cụ Nguyễn Văn Vĩnh dịch là sét-ti), người bình dân trở thành công cụ của hai lớp người thống trị: quý tộc và chủ điền và người có tiền buôn bán cho vay, sét-ti. Nhà học giả Phật giáo S.K.Nanagakkara dẫn chứng sự kiện
kinh tế dưới thời Đức Phật trong đại tập Anguttara Nikaya (Tăng Chi Bộ Kinh), tóm lược
bổn kinh Kutadanta Sutta, thuộc hệ thống
Pali (Encyclopaedia of Buddhism, QIII). Tưởng cần nhắc lại cho các bạn chưa
quen kinh Phật là, nói chung, kinh điển nhà Phật vô cùng phong phú (hơn 6500
bộ) chia làm hai hệ thống, Người Việt Trong kinh Kutadanta, có đoạn mô tả tình trạng tổ chức kinh tế dưới thời Đức Phật. Một ông thầy cả, “guru” cố vấn của nhà vua (ông vua tưởng tượng), tâu lên nhà vua là: “Trong nhân gian có kẻ nào chăm lo cày cấy và chăn nuôi, xin Bệ hạ giúp đỡ phẩm vật và ban bố lúa giống cho họ. Trong nhân gian có kẻ nào chăm chỉ đi buôn, xin Bệ hạ ban bố vốn liếng cho họ. Trong nhân gian có kẻ nào chí thú làm dịch vụ cho cộng đồng, cho nhà nước, xin Bệ hạ cấp bổng lộc cho họ”. GIÁO LÝ NHÀ PHẬT VÀ
KINH TẾ: MỘT LÝ THUYẾT KINH TẾ
Ý NGOẠI Vậy, một nền kinh tế mới đang tuần tự thành hình trong môi trường sinh sống của Đức Phật. Ngài phản ứng ra sao? Có hai điểm cực kỳ quan trọng chúng ta cần ghi nhận từ bây giờ. Một là, vì giáo lý của Đức Phật chú trọng vào đời sống tinh thần của con người và ít quan tâm đến đời sống vật chất, cho nên ta khó mà tìm được trong hành trì và kinh điển của Ngài một lý thuyết kinh tế học, một lời chỉ dạy cách thức làm giàu, làm được nhiều phúc lợi vật chất cho cá nhân, hay là một đường lối hướng dẫn việc phát triển kinh tế cho một quốc gia. Có chăng là một số nhận xét cấp thời – ad hoc – liên hệ đến một số sự việc đã xảy ra, và người đời sau học Phật chắp nối với các dữ kiện thiết thực trong lịch sử để suy diễn và ước lượng cái nhìn kinh tế của Đức Phật. Các nhà học giả thế hệ mới đã tìm ra được trong một số kinh điển những lời dạy có hệ thống của Đức Phật có liên hệ với đời sống kinh tế (ở sau, ta sẽ trình dẫn một số ít). Tuy nhiên, ngay cả khi Đức Phật dạy về đời sống làm ăn và kế hoạch phát triển, Ngài trình bày quan điểm nhắm vào mục đích xa và cao hơn là những việc thiết thực làm giàu, việc cụ thể khai phá canh tân. Các dữ kiện này phù hợp với chủ trương siêu thoát, thanh thản, nhưng cũng là đầu mối gây nên hiểu lầm là giáo lý nhà Phật tách con người ra khỏi cuộc đời. Điểm thứ hai là, tuy những lời dạy của Đức Phật liên hệ tới sinh hoạt của một nền kinh tế phôi thai và giản dị, và có tính cách chắp nối như ta đã nói ở trên, nhưng gần 3 nghìn năm sau, ta học và nếu đem áp dụng vào đời sống hiện tại, ta vẫn thấy phù hợp với kinh tế hiện hữu. Hai điểm này sẽ chiếu ánh sáng vào những mục ta bàn thảo ở sau. Liên hệ với điểm một – giáo lý nhà Phật không
đưa ra một lý thuyết kinh tế trọn vẹn, Đức Phật chỉ có những lời
răn dạy cấp thời khi Ngài sống trong những cộng đồng đang gặp khủng
hoảng đói kém – ta nhận chân được là lập trường kinh tế của Ngài
luôn luôn dựa trên kinh nghiệm thực tiễn. Học giả Phật giáo người Tích
Lan W. G. Weeraratne dẫn chứng lời dạy của Đức Phật trong kinh
Cakkhavattisihanađa (Cakkha, bánh xe ; vatti, quay ; shiha, sư tử, chỉ Đức Phật;
nada, lời răn dạy; tức là bộ Phật Thuyết Cổ Kim
Nhân Quả Kinh của tạng Pali đánh
số 26 trong bộ kinh Trường Bộ). Nếu
đọc và tìm hiểu kỹ ta sẽ thấy Weeraratne lược dẫn là Đức Phật ngồi dưới bóng mát một gốc cây bên vệ đường thuyết giảng cho hàng tì kheo và chúng đệ tử. Đức Phật dùng sự tích một câu chuyện xưa làm ví dụ để răn dạy. Parabôn này nhắc tích vua Dalhameni biết cách trị nước, đem lại công ăn việc làm cho dân chúng, quốc gia trở thành phú cường. Trên hoàng cung, thấy hiện ra một bánh xe giáp luân rực rỡ, như để báo hiệu an lành. Một hôm bánh xe quay một vòng, đổi chỗ. Nhà vua xem đó là điều báo hiệu mình tận số, nên nhường ngôi cho con, đi tu khất thực. Khi vua con mới lên ngôi, bánh xe biến mất. Triều thần lo sợ, nhưng một vị đạo sĩ giải thích là ơn trên không phải cha truyền con nối được, nếu vua mới biết làm như vua cha, lo cho dân có công ăn việc làm và no ấm, thì bánh xe pháp luân lại trở về. Vua mới tuân lời, sửa sang chính trị, lo cho dân làm ăn, bánh xe hiện ra lại. Lịch sử tiếp diễn lần nữa, đến đời cháu Dalhameni, vua trẻ hoang dâm, không nghĩ đến dân, bánh xe biến mất không trở lại. Nhân dân không có công ăn việc làm, đâm ra trộm cướp. Vua trẻ muốn tái lập kỷ luật, tăng cường quân đội và cảnh sát, mà lại quên không làm những biện pháp kinh tế. Vua ra lệnh kẻ cắp bắt được phải bị dùi xuyên qua tay. Quân gian phản ứng, tự tổ chức thành đoàn cướp, chống cảnh sát. Trong nước không còn đạo đức, kỷ luật. Dân chúng sinh ra đồi trụy, các tệ đoan như hiếp dâm (visama lobha), đồng tính luyến ái (michad hamma), loạn luân (adhamma raga) ... xảy ra hàng ngày. Nhà vua hoảng sợ, bỏ tiền trong ngân khố phân phát cho dân, hy vọng họ có vốn làm ăn. Dân chúng tự nhiên được tiền lại càng lười biếng, đồi trụy hơn nữa. Một nhóm người thấy mối tai ương chung, không trông cậy nhà vua, đứng ra khuyên bảo người trong cộng đồng sống trở lại đạo đức. Kết quả trông thấy được là dần dần đời sống an bình được phục hồi. Triết lý cao siêu của cuốn kinh, theo Weeraratne, là sự việc trong đời sống do định luật nhân quả quyết định. Muốn giải quyết một vấn đề, phải sáng suốt tìm hiểu nguồn gốc sự việc. Do đó, mà về phương diện hành trì cá nhân, đời sống luân lý và đạo đức phải do chính mình tu sửa, không thể trông cậy vào tha nhân hay một sức mạnh thần thánh bên ngoài, vì chính cá nhân muốn và tạo ra hành động (nghiệp). Cũng do đó mà trên bình diện xã hội, nước lấy dân làm gốc, nước loạn là vì dân đói kém không có công ăn việc làm. Giải quyết trật tự không phải là tạo ra bộ máy áp chế, mà chính là phải tìm tự lúc ban đầu phải có một kế hoạch kinh tế, sửa soạn và trù định áp dụng cho kịp thời, tránh các cơn khủng hoảng. Hai mươi lăm thế kỷ sau, Karl Marx mới nói tới “kinh tế quyết định” và cũng chỉ là lặp lại lời dạy của Đức Phật. Điểm một, như trên đã nói, Đức Phật dựng lên tôn giáo của Ngài trong xã hội Ấn Độ đang do giáo sĩ Bà-la-môn thống trị. Xã hội được phân chia làm bốn giai cấp, mỗi giai cấp trách nhiệm một loại nghề nghiệp, và việc phân chia này dựa trên quyền lực của tôn giáo. Như vậy, nghề nghiệp (svadharma) sẽ được cha truyền con nối, không ai cãi được số phận nghề nghiệp của mình, việc thăng tiến trong xã hội không có cách gì thực hiện được, vì làm trái lại là chống quyết định của thần linh. Đức Phật đến, Ngài xóa bỏ ý niệm svadharma. Ngài bảo là nghề nghiệp do nhu cầu xã hội tạo nên, không phải do thần linh sắp đặt. Nếu xã hội công bình, mỗi người được nuôi dưỡng và giáo huấn hoàn mỹ, thì bất cứ nghề nghiệp nào khó khăn đến mấy, cá nhân nào cũng có thể đảm đương được. Không ai có thể làm một cuộc cách mệnh tư tưởng lớn hơn, thay đổi toàn diện cái nhìn nhân dụng và số phận con người như Đức Phật đã làm. Điểm hai, mối liên hệ giữa chủ và người làm, ông xếp và người thợ, vấn đề then chốt của mọi cuộc tranh chấp từ lúc con người làm kinh tế ra ngoài phạm vi gia đình. Đạo Bà-la-môn muốn giữ quyền lợi độc tôn của giai cấp do thần linh quyết định. Như vậy là khẳng định quyền lợi của chủ (giai cấp trên) đứng trên quyền lợi của người làm công (thuộc giai cấp dưới), và chính Thượng đế đã cho người chủ thẳng tay bóc lột người làm công. Chịu đựng tới một mức nào, người làm công sẽ đứng dậy chống đối. Đấu tranh xã hội xảy ra vì nguyên do giản dị như vậy. Trong kinh Sigalovada (Thi Ca La Việt), Đức Phật dạy phương thức tránh tranh chấp, đề ra một mô hình gương mẫu của một bổn luật về đạo dức nghề nghiệp. Kinh dạy người làm chủ phải sống đời sống đạo đức, tuân theo ngũ giới để tránh sa đọa, tránh bị sạt nghiệp (apayamukla) hại cho mình và cho người giúp việc mình. Kinh dạy người làm chủ phải lựa việc tương xứng với khả năng của người làm công ; không cho trẻ con làm việc nặng nhọc của người lớn, đàn bà làm việc nặng nhọc của đàn ông. Kinh dạy phải cho người làm ăn uống đầy đủ và phải trả tiền công tương xứng với việc làm. Lời dạy còn đi vào chi tiết, dặn là nhu cầu dinh dưỡng của người làm công độc thân hay đã có gia đình, trẻ tuổi hay người lớn tuổi, phái nam hay phái nữ đều khác nhau và người chủ phải lưu ý cấp dưỡng tương xứng. Kinh cũng dạy là chủ có bổn phận cung cấp dịch vụ y tế cho người làm công. Y tế phòng ngừa như ăn mặc thích nghi, cho nghỉ ngơi theo hạn kỳ ; y tế điều trị như chuẩn bệnh, thuốc men. Lời dạy còn đi xa hơn, như đề nghị giờ giấc làm việc, nghỉ ngơi, trả thù lao khi làm ngoài giờ, cho quà cáp khi công tác hoàn mãn, cho công nhân tham gia các cuộc giải trí khi có hội hè lớn. Phật còn khuyên người chủ biết chia xẻ món ngọt bùi với người làm công để tạo nên mối ưu ái giữa chủ và thợ. Được đối đãi như vậy, người làm công phải cư xử thế nào? Kinh dạy phải biết “thức khuya dậy sớm”, làm việc tận tình, không lừa đảo, trộm cắp của chủ, không nói xấu chủ. Tựu chung giáo lý dựng lên một bổn luật đạo đức nghề nghiệp của người làm công tương xứng với luật đạo đức của người làm chủ nói ở trên. Lời răn dạy về đạo đức nghề nghiệp không phải để áp dụng riêng trong nhà mà còn để áp dụng cho cộng đồng xã hội, trong nước Ấn Độ trên đà biến thể từ kinh tế nông nghiệp (có tính cách gia đình) sang kinh tế thương mãi (đô thị hóa). Đạo đức nghề nghiệp này cũng áp dụng vào sinh hoạt hành chánh, nhằm vào thành phần thứ ba trong xã hội Đức Phật ngày đó. Kinh Sigalovada Sutta nói rõ bổn phận của người làm công tác cai trị đối với dân và quyền lợi nhà nước (ở đây là ông vua) phải đảm bảo cho người dưới quyền để tránh việc tham nhũng, hà lạm. Mặt bên kia, kinh dạy bổn phận cá nhân – tức là người dân – đối với nhà, với nước. Có lẽ duy nhất trong bài kinh Phật Thi-ca-la-việt mới có đoạn nói tới bổn phận người dân “phải đóng thuế” cho nhà nước hành sự. ĐẠO PHẬT TRÌ HÃM HAY KHUYẾN TRỢ PHÁT TRIỂN? Ở trên ta đã nêu hai tiêu đề dẫn lối cho việc bàn luận đạo Phật và kinh tế. Tiêu đề một là lý thuyết kinh tế của Đức Phật hiện hữu tiềm tàng trong kinh điển, nhưng chỉ được trình bày một cách ngoại biên. Tiêu đề hai, ta bàn tới bây giờ, bởi lẽ đại đa số nhân dân Á đông và Đông-Nam-Á thờ đạo Phật và chịu ảnh hưởng của đạo Phật, mà ngày nay kinh tế lại phát triển mạnh trong vùng này, hiện tượng đó có cho phép ta kết luận là đạo Phật đã không trì hãm mà trái lại, đã phù trợ việc phát triển hay không? Nhà học giả Thụy Điển Gunnar Myrdal, giải thưởng Nobel 1974, ước lượng chính sách phát triển kinh tế tại các quốc gia Đông-Nam-Á, nhìn vào hai khía cạnh chính: con người trong cấu trúc xã hội và kế hoạch phát triển kinh tế mỗi quốc gia đem ra áp dụng (Asian Drama: An Inquiry into the Poverty of Nations, Random House, New York, 1972). Trên bình diện cá nhân, kinh tế gia đo sức sống cần lao, kế hoạch tổ chức đời sống gia đình (tức là gia chánh), và tính cần kiệm để tạo vốn của mỗi người. Trên phương diện kế hoạch phát triển của quốc gia, học giả kinh tế ước lượng sự thích ứng và hiệu năng của chương trình kế hoạch, trình độ bảo toàn tài nguyên thiên nhiên, khả năng đầu tư vào những chương trình lợi ích lâu dài, và quan trọng hơn nữa là điều biết nhìn xa vào việc tăng cường phẩm chất đời sống nhân dân. Con người sống trong cấu trúc xã hội chịu ảnh hưởng của áp lực tập đoàn, áp lực kinh tế và bị chi phối bởi các ràng buộc về văn hóa tập tục, về tôn giáo. Một số học giả Tây phương sang Đông-Nam-Á nhìn qua hình ảnh người tu sĩ mặc áo vàng cầm bình bát đi xin ăn, kết luận là đạo Phật kềm hãm đà phát triển kinh tế. Trevor Ling trong World Development, Bộ VIII, nghiên cứu phát triển kinh tế tại Miến Điện khẳng quyết là đạo Phật đã làm đình trệ các chương trình phát triển tại quốc gia này. Tác giả cho rằng người Miến tin ở thuyết định mệnh luân hồi của Thích Ca, nhìn vào đời sống một cách bi quan, và cái nhìn này đi ngược lại với chính sách phát triển lúc nào cũng phải tích cực. Tự bao giờ, người Đông phương vẫn phản ứng thụ động đối với cái nhìn khinh khi của người da trắng. Nếu ta nhìn kỹ vào kinh điển nhà Phật, ta sẽ có đủ mọi chứng cớ để chối bỏ những lời buộc tội hàm hồ nói trên. Đức Phật dạy là hạnh phúc an sinh hay là đau khổ suy tàn của mỗi cá nhân đề do chính thân, khẩu, ý mình tạo ra. Đức Phật nhắc đi nhắc lại là sinh ra làm người phải biết cố gắng (viriya) và phải sống cho ra người (purisathana-purisakara). Muốn vậy, chỉ có một cách là tránh xa lười biếng. Kinh Thi-ca-la-việt đã nói ở trên, giải thích việc thất bại cá nhân vì không chuyên cần làm việc sẽ gây kết quả to lớn là tiêu nhà, hại nước. Lại nữa, cái quan niệm tu Phật là xuất thế, đi ra khỏi cuộc đời, là một quan niệm do hoàn cảnh lịch sử tạo nên, đã gây ra hiểu lầm. Giáo lý nhà Phật, vào thời kỳ nguyên thủy, do Phật thiết lập nhằm vào việc tổ chức đời sống Tăng (sangha). Người xuất gia phải quên liên hệ với đời sống kinh tế, không làm việc và không sờ đến tiền bạc. Nhưng, ngay trong tăng đoàn, điều cấm kỵ này cũng đã đổi thay để giữ đạo. Một trăm năm sau Niết Bàn (năm Đức Phật mất), tăng đoàn chia làm hai khối vì bất đồng ý kiến trên mười điều cấm kỵ. Một trong những điểm không đồng ý quan trọng là tiền bạc. Phái thủ cựu (gọi là Therevada) duy trì lời dạy ban đầu của Phật, không sờ đến tiền ; phái mới Mahasanghika (sau là Mahayana) chủ xướng đổi thay. Vì sao? Đạo Thích Ca lớn mạnh trên lưu vực sông Gangas được vô số người cúng dường ruộng đất. Muốn duy trì tài sản cho chùa để phát huy đạo, tăng chúng buộc phải làm việc, làm kinh tế. Hiện tượng này càng thấy rõ hơn khi đạo Phật tràn sang Trung Hoa. Chỉ trong mấy thế kỷ, chùa trở thành một thế lực kinh tế giàu mạnh. Tăng chúng nước Tàu, lúc đầu cũng không làm việc, sau phải thay đổi giới luật, hoạt động kinh tế. Một nghìn năm sau Niết Bàn, trường Thiền trở nên hưng thịnh tại Trung Hoa và Nhật Bản, làm cách mệnh trong nội bộ tôn giáo, bỏ các hình thức phù phiếm tế lễ tụng niệm, quay về đời sống bên trong là suy tư, và làm việc. Phương châm của lối tu Thiền là “một ngày không làm việc là một ngày không được ăn”. Vả chăng ta đừng quên là những điều cấm kỵ nói ở trên chỉ áp dụng trong tăng giới. Người tu đạo Phật không xuất gia và tín đồ bình thường, nói chung là đại đa số, vẫn phải hoạt động kinh tế như thường để sinh sống. Giáo lý nhà Phật không cấm lao động mà trái lại Đức Phật còn dạy chuyên cần và trách nhiệm như kinh Sigalovada (Thi Ca La Việt) đã dẫn. Chuyên cần và trách nhiệm chưa đủ, Đức Phật còn dạy tiết kiệm (làm bốn, ăn một) tức là phương thức gây vốn – tư bản, đầu mối của việc xây dựng kỹ nghệ. Đối với việc làm giàu, dựng vốn, giáo lý có đặc điểm nào? Kinh dạy là ngày nào còn một người nghèo khổ, ngày đó niết bàn chưa dựng được. Tuy nhiên, kinh cũng nói rõ là vốn phải tích lũy theo pháp luật của quốc gia và đúng theo Pháp của đạo (dharma). Ví dụ việc cho vay lấy lãi, nguyên tắc căn bản của tín dụng kinh tế. Trong khi không hề thấy cấm đoán việc lấy lãi, nhưng chỉ thấy lời răn dạy phải lấy lãi thật nhẹ. Đối với các chương trình công ích, Nhà nước đổ của công cho dân có vốn làm ăn, kinh còn dạy phải cấp bổ (grant) chứ không cho vay (loan). Khi vốn đã tích lũy được nhiều, không được đem ra vung xài hoang phí, mà phải bỏ vào việc công ích, đặc biệt là những công tác tinh thần như tôn giáo. Kinh cũng dạy phải chọn nghề nghiệp, Phật giáo Như vậy, rõ ràng là qua kinh điển, ta sắp xếp được một bổn Luật đạo đức nghề nghiệp cho cá nhân, nếu biết tuân theo sẽ được no ấm (atthi-sukha), tránh được nợ nần (anana-sukha) và tìm được thoải mái trong sung mãn (bhoga-sukha). Bổn luật đạo đức nghề nghiệp này còn đi rộng vào mối tương quan giữa người làm công và người làm chủ; nếu theo lời dạy này, tránh được tranh chấp chủ thợ, đầu mối của xung đột trong đời sống kỹ nghệ. Đối với cộng đồng, Đức Phật dạy điểm đầu tiên là đời sống kinh tế phải có kế hoạch, như qua hai bổn kinh Cakkhavattisihanada và Kutadanta đã dẫn ở trên. Trong kinh điển tôn giáo, có lẽ chỉ thấy kinh Phật độc nhất nói tới bổn phận của quốc gia về nhân dụng, dùng người cho đúng khả năng, bổn phận của chính phủ phải cấp vốn cho dân lập nghiệp, bổn phận của chính phủ phải lo cho công bộc sống đầy đủ và được thăng thưởng để triệt bỏ tham nhũng. Kinh dạy là kế hoạch phải được thiết lập có phương pháp, không phải làm chắp nối, tùy hứng, chờ đợi lúc có biến cố mới tạo dựng. Thiết lập kế hoạch chỉ là một giai đoạn, thực thi kế hoạch và tra kiểm thường xuyên mới đến được thành công, cũng là lời giáo lý đã dẫn ở trên. Điểm thứ hai, nhằm vào kinh tế cộng đồng, nhà Phật dạy phải bảo trì tài nguyên để đảm bảo phồn thịnh lâu dài. Nhà giàu làm nên nước mạnh; sinh hoạt tại gia cư và sinh hoạt quốc gia phải đặt trên nền tảng tiết kiệm; tiết kiệm sẽ gây lên vốn để đầu tư. Điểm thứ ba Đức Phật dạy là cách dùng vốn vào những việc công ích. Từ đời Đường là lúc đạo Phật cực thịnh tại Trung Hoa, người Tàu dùng danh từ “bi điền” để chỉ hoạt động nhằm vào công ích của cá nhân và của cộng đồng (Kennth Ch’en: Buddhism in China: A Historical Survey, Princeton, 1973). Kinh Hán tạng Phật Thuyết Chu Đức Phúc Điền Kinh dạy là bi điền gồm có bảy mục: 1- Xây tháp dựng chùa; 2- Lập vườn trồng cây để có quả ăn và có bóng mát; 3- Chẩn trị bệnh; 4- Đóng ghe thuyền độ người sang sông; 5- Xây cầu; 6- Đào giếng; 7- Làm nhà vệ sinh. Trong bảy điều bi điền Phật dạy chúng sinh phải làm: chỉ có một điều hướng về đạo (xây tháp dựng chùa); sáu điều kia hướng về tha nhân và hướng về lợi ích ngắn hạn và dài hạn cho đời sống vật chất – tức là kinh tế – của cộng đồng xã hội. Như vậy đúng là gây vốn để dùng vào những việc nâng cao đời sống của chủng loại. Thêm một câu chuyện nhỏ để chứng minh quan điểm kinh tế tích cực của nhà Phật, trong sách Tục Cao Tăng Truyện, thi hào Bạch Cư Dị ca tụng một nhà sư là Hòa thượng Minh Nguyên: “Đất Hoài Châu và Dự Châu mỗi năm trời làm lụt nên dân chúng bị mất mùa rất cơ cực. Ngài (hòa thượng) xin quan thái thú giúp cho trồng mười ngàn gốc cây. Cây cản gió, gây bóng mát và giữ đất, tránh được nạn lụt, bảo vệ mùa màng”. Từ nghìn năm trước, cái nhìn quán xuyến của người tu Phật đã đáp ứng đủ mọi khía cạnh của nhu cầu kinh tế: thông suốt kế hoạch ngắn và dài hạn, bảo vệ tài nguyên, và đầu tư lâu dài. Giáo lý Phật dạy phải trồng cây (bi điền số hai), ngày nay áp dụng vào đời sống kinh tế làm phương pháp chống lại uế nhiễm môi sinh, mối hiểm họa diệt vong đang đè nặng trên muôn loài sinh vật. Đúng là biết nhìn xa để nâng cao phẩm chất đời sống, đúng là biết làm kinh tế. Cuối cùng là điểm liên hệ tới mục tiêu tối hậu của hoạt động kinh tế: dân giàu, nước mạnh để làm gì? Kinh điển nhà Phật dẫn chứng những cuộc hưng thịnh suy vong của nhà, của nước để dạy một điều quan yếu là tạo vật luôn luôn biến dời, đổi thay, và chỉ có một con đường cứu rỗi là hành thiện và hướng về tâm linh. Hoạt động cá nhân và hoạt động tập đoàn để phát triển, cuối cùng phải nhằm vào việc thực hiện những điều kiện nâng cao đời sống tinh thần và đời sống tâm linh – đạo – của con người. Max Weber, nhà xã hội học lừng danh người Đức, thường được đưa ra đối chiếu với Karl Marx, nghiên cứu nguyên do chế độ tư bản Tây phương đã thành công, đặt câu hỏi là vì sao cùng một giải đất màu mè chưa khai thác là Châu Mỹ, mà người Âu Châu Latinh chinh phục phía Nam đã đem lại nghèo khổ và tình trạng chậm tiến, trong lúc người Âu Châu Anglo-Saxon chinh phục và định cư tại miền Bắc Châu Mỹ đã khai hóa lập nên một nền văn minh cao. Max Weber khẳng quyết là vì lý do tôn giáo: đạo Tin lành, phái Calvin, tôn giáo chính của những người đã từ bỏ đất Âu Châu đồi trệ về tín ngưỡng, sang sống cuộc đời hướng về đạo tại đất mới Bắc Mỹ. Đối với họ, chuyên cần làm việc, tiết kiệm để dựng vốn và quyết tâm thành tựu là sứ mệnh của mỗi con người trước Thượng đế. Cái “đạo đức Tin lành” (the Protestant ethic) của người Bắc Mỹ đã làm cho nước Hoa Kỳ trở thành bá chủ thế giới. George Lodge, giáo sư trường đại học Harvard là một tư tưởng gia thuộc thế hệ sau Max Weber, cũng tin tưởng là nguồn gốc phát triển kinh tế trực thuộc tâm linh con người. Cùng với Ezra Vogel, (giáo sư đại học Harvard, tác giả cuốn sách nổi tiếng khắp thế giới Japan As Number One), ông nghiên cứu sự thành công phát triển kinh tế tại Đông-Á và đi đến kết luận là sở dĩ các quốc gia Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan đã bắt kịp các nước lớn ở Châu Mỹ và Châu Âu vì “cốt lõi giá trị tinh thần là cần lao, tiết kiệm và hy sinh”, những điều mà tôn giáo Á đông, trong bao nhiêu thế kỷ đã thấm nhuần vào tinh thể con người. Ngoài đức tính trên, tôn giáo còn nhào nặn con người Á đông trong tinh thần “tập đoàn” (communitarian) khác với tinh thần “cá nhân” (individualistic) của Tây phương, và đó cũng là yếu tố quyết định người Á đông thành công (George Lodge and Ezra Vogel: Ideology and National Competitiveness, Harvard University, 1989). Thế mà, không phải ta đã chứng minh ở trên là đạo Phật dạy cần lao, tiết kiệm và hy sinh, và cái ý niệm tập đoàn là cốt lõi của đời sống hành trì trong đạo Phật hay sao? Đạo Phật đã thấm nhuần vào tâm khảm của con người Á đông trong hơn hai ngàn năm. Hành trang của người Châu Á trên đường đi phát triển kinh tế bắt đầu từ cuối thế kỷ Hai mươi sang kỷ nguyên mới (thế kỷ Hăm mốt) để ngự trị kinh tế thế giới, chắc chắn phải mang nặng nền “đạo đức việc làm” (work ethic) của đạo Phật. Những người kết tội đạo Phật tiêu cực, làm trì trệ đà tiến triển của Châu Á, chắc chắn đã nhìn thấy cái khía cạnh phiến diện thụ động của đạo Phật mà không quên khảo sát cái chức năng cực động tiềm tàng trong giáo lý đạo Thích Ca. TÀI LIỆU THAM KHẢO: 1- The Encyclopaedia Britannica. 2- The Encyclopaedia of Buddhism, G.P.Maylalasekera, Ed., Sri-lanka. 3-
The Encyclopaedia of Religion, Mircia Eliade, Ed.,
4-
The Encyclopaedia of Religion and Ethics,
J.Hastings, Ed., 5-
Kenneth
Ch’en: Buddhism in 6-
George
Lodge and Ezra Vogel: Ideology and National
Competitiveness, 7- Hajime Nakamura: “Economic Ethics of Buddhism”, in Young East Review, 1973. 8-
Padmasiri
de Silva: The Search for Buddhist Economics,
|
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com