giao diem 3-2005

posted: 05.3.2005

PHỤ LỤC
ĐẠO PHẬT TRONG MẮT TÔI
Nguyễn Tử Đóa

MỘT

Dân tộc Việt Nam đang tự cởi trói và vận động tự cởi trói, trong đó có Phật giáo. Vì vậy hòa khí giữa các tầng lớp dân chúng và các tôn giáo trong nước và ngoài nước là một điều cần thiết, tối ư cần thiết, một điều sinh tử của chúng ta. Do đó thay vì dùng từ ngữ “đối ngoại”, người viết chỉ xin trình bày “cái nhìn của mình về đạo Phật”. Mỗi tổ chức của con người trong vũ trụ qua mỗi thời, về đạo cũng như đời, đều có vấn đề của mình. Phật giáo có vấn đề của Phật giáo. Thiên Chúa giáo Vatican cũng có vấn đề của mình. Giáo Hoàng, vị chủ chiên cũng có vấn đề của Ngài và có cái nhìn riêng của Ngài. Ngài đang “lão và bệnh”.

Cái nhìn của kẻ viết bài này được căn cứ vào kim chỉ nam của Phật Thích Ca: “Suy nghĩ cho kỹ, thấy đúng rồi hãy theo”. Một số lý thuyết trừu tương và khô khan được chọn lựa, đãi lọc hoặc trình bày đơn giản với ước mong bạn đọc đặc biệt là những bạn không theo đạo Phật và độc giả thuộc thế hệ trẻ, nhìn thấy vấn đề như người viết đã cố gắng trình bày một cách khách quan.

HAI

Tây phương là nơi phát xuất và khai triển khoa học. Người Tây phương rất trọng tinh thần khoa học, luôn luôn tìm kiếm và phổ biến những điều mới lạ. Các nhà triết học Tây phương luôn luôn suy tư về tôn giáo. Nối gót họ là các văn hào và khoa học gia. Họ phân tách, chọn lựa, phê phán và phổ biến. Một số đã cổ vũ cho Phật giáo như điển hình dưới đây:

   (1) Văn hào H.G.WELLS (1866 – 1946)

 “Lời giảng dạy căn bản của ngài Cồ Đàm, nghiên cứu từ cội gốc ngày nay đã trở nên rõ ràng, dễ hiểu và hoàn toàn phù hợp với những tư tưởng tân tiến. Đó là công trình của một khối óc thông minh tuyệt vời của thế giới. Hơn hết mọi ảnh hưởng khác trong lịch sử loại người, đạo Phật đã giúp nhiều nhất cho bước tiến văn minh và văn hóa nhân loại”.

   (The fundamental teaching of Gautama, as it is being made plain to us by study of original sources, is clear and simple and in the closiest harmony with modern ideas. It is beyond all disputes the achievement of one of the most penetrating intelligences the world has ever known. Buddhism has done more for the advance of world civilization and true culture than anyother influence in the chronicles of mankind ...)

   (2) Sau đó là văn hòa HERMAN HESSE (1877 – 1962) người đoạt giải văn chương Nobel. Ông đã nghiên cứu đạo Phật tận gốc Ấn Độ, suy tư và nhập thế:

   Ta nhập thế bằng tình yêu bát ngát

   Dù cuộc đời vẫn quằn quại thương đau

Ông viết:

   Bất cứ ai, nếu chăm chú đọc một vài bài thuyết pháp của Phật (Thích Ca) cũng sẽ nhận thấy sự nhịp nhàng, sự yên tỉnh của tâm hồn, sự cao đẹp vui tươi, sự quyết tâm không mảy may lay chuyển, lòng yêu thương dạt dào và sự kiên trì không bờ bến. Nhưng thuyết pháp của Phật chỉ là một phần sự đóng góp của Ngài. Nửa còn lại là đời sống của Ngài, đời sống thực mà Ngài đã sống ... một sự rèn luyện tinh thần cao độ mà ngài đã hoàn tất và đem ra giảng dạy ... Thực vậy, Đức Phật đã hoàn tất việc rèn luyện chính mình và đem ra áp dụng cho các đệ tử. Ngài đã lựa chọn mục tiêu và đã đạt được những kết quả mà các nhà hành động chân chính nổi danh của Tây phương đã phải ngả mũ kính phục”.

   (Whoever attentively reads a small number of the countless speeches of Buddha is soon aware of harmony in them, a quietude of soul, a smiling transcendence, a totally unshakable firmness, but also invariable kindness, endless patience ...The intellectual content of Buddha’s teaching is only half of his work, the other half is his life, his life as lived ... a training, a spiritual self training of the highest order was accomplished and is taught here ... Buddha accomplished a training for himself and his pupils, set up a goal, and produced results before which even the genuine heroes of European action can only feel awe).

(3) Về khoa học, tới nay chưa ai vượt qua được tên tuổi ALBERT EINSTEIN (1879 - 1955). Thiên tài khoa học này đã viết:

“Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo vũ trụ (cosmic religion). Nó cần vượt qua một Thượng Đế cá thể, tránh những giáo điều và thần học. Bao gồm cả thiên nhiên, vật lý và tinh thần. Nó cần y cứ vào một ý niệm tôn giáo vươn lên từ kinh nghiệm của mọi thứ, kinh nghiệm về thiên nhiên (vật lý) và về tinh thần và vươn lên từ một nhất thể tràn đầy ý nghĩa (meaningful unity). Phật giáo bao gồm các thứ đó… Nếu có một tôn giáo nào đáp ứng được yêu cầu của nền khoa học tân tiến, tôn giáo đó chính là Phật giáo”.

(The religion of the future will be a cosmic religion. It should transcend a Personal God and avoid dogmas and theology. Covering both the natural and the spiritual, it should be based on a religious sense arising from the experience of all things, natural and spiritual and a meaningful unity. Buddhism answers this descripition… If there is any religion that would cope with modern scientific needs it would be Buddhism).

(4) Ngày nay ngành phân tâm học thuộc tâm lý học phát triển rất mạnh, đi sâu vào Tâm Lý chiều sâu (psychologie de profondeur). Ông tổ của ngành này là bác sĩ CARL C.JUNG (1875 - 1961) một người nghiên cứu rất sâu sắc về Thiền học, là bạn thân của SUZUKI người nổi danh về Thiền học Nhật Bản. Bác sĩ Carl C.Jung đã viết:

“Là một người nghiên cứu về tôn giáo tỷ giảo, tôi tin tưởng đạo Phật là đạo hoàn toàn nhất mà thế giới đã có. Triết thuyết tiến hóa và thuyết luân hồi cao đẹp hơn bất cứ niềm tin nào khác. Không phải lịch sử tôn giáo, cũng không phải việc nghiên cứu triết học mà chính nghề nghiệp y sĩ của tôi đã kéo tôi tới lãnh vực tư tưởng Phật giáo. Công việc của tôi là chữa trị sự đau khổ về tâm thần. Chính điều này đã đẩy tôi làm quen với quan điểm và phương pháp của bậc thầy vĩ đại của nhân loại mà đề tài chính yếu là sự trói buộc của đau khổ, già yếu, bệnh tật và chết chóc”.

(As a student of comparative religions, I believe that Buddhism is the most perfect that the world has ever seen. The philosophy of the theory of evolution and the law of karma was far superior to my other creed. It was neither the history of religion nor the study of philosophy that first drew me to the world of Buddhist thought but my professional it was this that impelled me to become acquainted with the view and methods of that great teacher of humanity, whose principal theme was the chain of suffering, old age, sickness and death).

(5) Về toán học, người đã đưa môn học này tới đỉnh cao chót vót của triết học là nhà bác học BERTRAND RUSSELL (1872 - 1970). Danh nhân này đã viết:

“Trong các tôn giáo lớn của loài người, tôi chọn Phật giáo… Đạo Phật là sự phối hợp triết học suy cứu (speculative) và triết lý của khoa học. Nó áp dụng phương pháp khoa học để đi tới một cứu cánh hợp lý trong đó có những câu giải đáp cho những thắc mắc quan trọng của con người. Như: Tâm và Vật là gì? Cái nào quan trọng hơn? Vũ trụ có tiến tới một cứu cánh nào không? Cương vị của con người là gì? Có đời sống nào cao quý không? Đạo Phật giải đáp những điều mà khoa học không có khả năng giải đáp vì khoa học bị gò bó bởi phương tiện của nó. Đạo Phật có khả năng giải đáp những câu hỏi liên quan tới tinh thần”.

(Of the great religions of history I prefer Buddhism… Budddhism is a combination of both speculative and scientific philosophy. It advocates the scientific method and pursues that to a finality that may be called rationalistic. In it are to be found ansers to such question of interest as: “What is mind and matter? Of them which is of great importance? Is the universe moving towards a goal? What is man’s position? Is there living that is noble?” It takes up where science cannot lead because of the limitations of the latter’s instruments. Its conquests are those of the mind).

BA

Năm danh nhân trên đây tiêu biểu cho một số thức giả Tây phương sau khi đi tìm hiểu đạo Phật. Họ đã dùng lý trí để phân tách, phán đoán trước khi quyết định. Niềm tin của họ không phải tự nhiên mà có. Khối óc của họ mang tính chất duy lý (rationalism). Tôi chắc những người này cũng chẳng để ý tới kinh kệ hoặc tới chùa lễ Phật. Họ chỉ đọc sách, nghiền ngẫm, suy tư rồi quyết định. Thế thôi. Họ cũng chẳng bao giờ ngân nga như chúng ta: “Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha!”. Có thể một số đôi khi trầm tư và áp dụng lời Phật dạy. Thế thôi, rất đơn giản và rất thực tế.

Nếu đem so sánh những ý tưởng của năm danh nhân Tây phương trên đây, người viết xin chọn Bertrand Russell. Cách trình bày của ông khúc triết, gọn gàng, trong sáng như những con số trong bài giải đáp toán học. Đồng thời nó còn mang tính chất vừa phân tách vừa tổng hợp của một bài luận văn triết học.

Theo ông, Phật giáo vừa mang tính chất triết ký suy cứu vừa mang tính chất triết lý của khoa học. Chúng ta có quyền hoài nghi: cách đây gần 26 thế kỷ khi Phật Thích Ca tại thế, khoa học đâu đã có, đâu đã phát triển thì làm gì có triết lý của khoa học.

Riêng kẻ viết bài này khi mới đọc “Bát nhã tâm kinh” đã phải khựng lại vì mấy câu mở đầu:

“Quán tự tại bồ tát hành thâm bát-nhã-ba-la-mật-đa, thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc; thọ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị” (Bồ tát Quán tự tại đi sâu vào bát-nhã-ba-la-mật-đa, nhìn thấy năm uẩn đều “không”, nên vượt qua được mọi điều đau khổ, Này! Ông Xá Lợi Tử: sắc chẳng khác “không”, “không” chẳng khác sắc, sắc tức là “không”, “không” tức là sắc; thọ, tưởng, hành, thức đều cũng như vậy).

Điều thắc mắc của tôi được giải tỏa sau khi biết được những điều trên đây cũng là những khám phá của khoa vật lý học hiện đại. Vì vậy Bertrand Russell gọi đó là triết lý của khoa học. Chúng ta hãy nghe ROBER J.OPPENHEIMER, nhà vật lý, cha đẻ ra trái bom nguyên tử đầu tiên của Hoa Kỳ viết:

“If we ask, for instance, whether the position of the electron remains the same, we must say “NO”; if we ask whether the electron’s position changes with time, we must say “NO”; if we ask whether the electron is at rest, we must say “NO”; if we ask whether it is in motion, we must say “NO”. The Buddha has given such answers when interrogated as to the conditions of man’s self after his death; but they are not familiar answers for the tradition of seventeenth and eighteenth century science”.

(Ví dụ nếu hỏi âm điện tử có ở mãi một vị trí không, chúng ta phải trả lời là không; nếu hỏi vị trí của âm điện tử có thay đổi cùng với thời gian hay không, chúng ta phải trả lời là không; nếu hỏi âm điện tử có di động không, chúng ta phải trả lời là không. Đức Phật cũng trả lời như vậy khi được hỏi về tình trạng của bản thể con người sau khi chết. Những câu trả lời đó xa lạ đối với truyền thống khoa học thế kỷ 17 và 18).

Đạo học và khoa học là hai đứa con đẻ của loài người. Đạo học có cái nhìn phóng chiếu, soi sáng đường sống cho con người. Khoa học thì đi chậm chạp nhưng vững chắc, lần mò, chứng minh cái nhìn của đạo học đúng hay sai. Quan niệm của Đạo Phật “sắc” (form, matter) chẳng khác “không”, “không” chẳng khác sắc, không tức là sắc, đang được khoa học lần mò bước tới. Đó là luật bổ túc (complementarity) của Niels Bohr về ánh sáng: ánh sáng không là hạt cũng không là sóng, nó vừa là hạt vừa là sóng, cả hai thứ bổ túc cho nhau, nó vừa có, vừa là không. Trong tương lai khi luật bổ túc của Bohr được khai triển, chắc rằng quan niệm “sắc-sắc-không-không” của Phật giáo sẽ được trình bày rõ hơn trong khoa học. Cho tới nay giáo lý của Đạo Phật chưa có điều nào ngược lại với khoa học. Vì vậy chưa có khoa học gia nào phản đối đạo Phật. Những điều mà một số người gọi là huyền bí chỉ là những điều chưa được khoa học chứng minh mà thôi, chưa chứng minh không có nghĩa trái với khoa học.

BỐN

Phật Thích Ca Mâu Ni không phải là nhà khoa học. Nhưng Bertrand Russell đã nhìn thấy triết lý khoa học của Ngài. Nhà khoa học bậc thầy của thế kỷ 20, Albert Einstein lại đi xa hơn nữa bằng cánh xác quyết là Phật giáo là tôn giáo đáp ứng được những yêu cầu của nền khoa học tân tiến.

Ý nghĩa trên đây có thể dẫn chúng ta tới luận điểm: khi nghiên cứu bằng suy nghĩ (suy cứu), thái tử Tất Đạt Đa đã đạt tới một hệ thống lập luận vững chắc, khít khao, trong sáng, khúc chiết như ngày nay chúng ta tìm thấy trong những định lý về khoa học vậy. Vấn đề chúng ta cần tìm hiểu: Ngài đã áp dụng phương pháp nào để đạt tới mục tiêu đó?

Trước khi đi tu, ý tưởng muốn cứu khổ chúng sanh ám ảnh thái tử ngày đêm, ngày thì suy tư, đêm thì trằn trọc. Sau đó nó trở thành một vấn đề bắt buộc phải có giải đáp, nếu không, nó sẽ ám ảnh làm chàng mất ăn mất ngủ, nó dày vò, nó cắn xé, nó như đám mây đen từ chân trời lan rộng che kín mặt trời, làm u tối trái đất.

Tới một hôm thái tử nhìn thấy một đạo sĩ chống gậy đang chậm bước, nét mặt bình thản, không bợn chút khắc khoải lo  âu. Chàng quyết định: ta phải đi tu như đạo sĩ này, ta phải đi tu để tâm hồn lắng xuống, ta phải đi tu để dứt bỏ phiền não, ta phải đi tu để tìm ra giải pháp cứu khổ chúng sinh, trong đó có con người.

Thoát ly gia đình, thái tử bỏ đi xa, tới một vương quốc khác. Tuần lễ đầu, chàng nhịn ăn, thong thả bách bộ trong một rừng xoài. Lần lần những thói quen, những kỷ niệm những hình ảnh, những vướng mắc của 29 năm trời sống trong nhung lụa được từ từ gạt bỏ. Chàng hoàn toàn tự do trong tâm tưởng cũng như trong cuộc sống mới của một nhà tu hành. Còn lại một vấn đề duy nhất: suy tư tìm lời giải đáp cho bài toán cứu khổ. Suy tư bằng cách nào cho hữu hiệu? Tìm tòi bằng cách nào cho chính xác? Chàng đã tìm thấy giải đáp: Yoga.

Yoga là sản phẩm đặc biệt của dân tộc Ấn Độ cống hiến cho loài người. Yoga phát nguồn từ cổ xưa trước khi có kinh Vệ Đà của đạo Bàlamôn. Nó được truyền khẩu trong dân gian. Yoga có nghĩa đen là cái ách mà người dân quê khoác vào cổ trâu bò hoặc ngựa để hướng dẫn nó trong việc kéo xe hoặc cày bừa. Với con người, yoga là phương thức giúp ta làm chủ xác thân và tâm linh để tiến tới chỗ giác ngộ và hòa hợp cùng vũ trụ. Trước khi áp dụng yoga người hành giả phải gạt rửa cho thật trong sạch thể xác và tinh thần qua năm điều giới cấm và năm điều luật dưới đây:

5 giới cấm: (1)- Cấm sát sanh; (2)- Cấm nói dối; (3)- Cấm trộm cắp; (4)- Cấm dâm dục; (5)- Cấm tham lam ích kỷ.

5 điều luật: (1)- Trong sạch thể xác và tâm hồn; (2)- An phận sống an nhiên tự tại, diệt bỏ cái “ta”; (3)- Bình thản chịu đựng mọi khổ hạnh; (4)- Cố gắng tu hành và luyện tập; (5)- Tin kính, sùng bái Thượng đế Isvara của tôn phái Yoga.

Trong năm điều giới cấm, cấm dâm dục là điều quan trọng nhất. Sau khi giác ngộ, Thích Ca đã nói:

Nếu tu phép thiền định nhưng chẳng diệt trừ tâm ham muốn cũng ví như muốn nấu sạn đá thành cơm vậy. Dầu trãi đến trăm ngàn kiếp cũng chỉ gọi là sạn đá nóng chứ không thể gọi là cơm được. Nếu lấy cái tâm dâm dật mà cầu được diệu quả của Phật, dầu ngộ được nhiệm mầu, cũng đều là dâm căn. Căn bản đã là dâm tất phải trôi lặn trong ba đường khổ lụy chứ không đạt được tới giải thoát. Vậy phải bỏ cái dâm của thân và tâm mới mong diệu quả được bồ đề của Phật”.

Riêng điều luật thứ 5 (tôn kính, sùng bái thượng đế Isvara) đã trở thành một thứ ngăn cản thái tử Tất Đạt Đa thiền định tới mức giác ngộ. Thái tử cho rằng nó là một chướng ngại cho việc đi tìm phương thức cứu khổ loài người. Vì vậy Ngài đã chối bỏ không chấp nhận.

 Sau khi rửa sạch thân và tâm mới tới 4 giai đoạn chính của YOGA:

(1)                     Chế ngự giác quan (PRATYAHARA)

(2)                     Tập trung quán tưởng (DHARANA)

(3)                     Thiền (DHYANA)

(4)                     Nhập đại định (SAMADHI)

Chính giai đoạn 3 (Thiền) và 4 (Định) đã xây dựng hệ thống triết học suy cứu và triết học khoa học như Bertrand Russell đã nêu. Thiền là tập trung quán tưởng vào một ý niệm nào đó. Thí dụ quán niệm về sự khổ đau của con người, người hành giả chú tâm suy tư về tất cả các sự việc liên quan tới khổ: khổ về thể chất, khổ về tinh thần, khổ về cái “có”, khổ về cái “không”, khổ về sống, khổ về chết, khổ vì mình, khổ vì người…

Định (Samadhi) là trạng thái xuất thần và bất thần vươn tâm thức lên cao, thoát ra khỏi cái “có” và cái “không”, đạt tới cội nguồn nơi phát sinh ra thần lực, tinh lực, Phật lực, Phật tánh, bát-nhã-ba-la-mật-đa hoặc bất cứ một danh từ nào khác. Nơi đó không có gì ngoại trừ tinh lực hoặc thần lực (force divine). Đạt được tới đó là giác ngộ, là SATORI. Thái tử Tất Đạt Đa đã tới được nơi đó nên tự gọi mình là “người tới được nơi đó hoặc người từ nơi đó lại” (Như Lai).

Theo VIVEKANANDA, một đạo sĩ nổi tiếng của Ấn Độ giáo thuộc đầu thế kỷ 20 này, người tu thiền định có thể khai thông được một nguồn tinh lực mới đầy năng động vẫn tiềm ẩn trong mỗi con người chúng ta. Hệ thống tinh lực này gồm có 7 trung tâm chứa đựng đầy tinh lực của vũ trụ. Với người thường, hệ thống này bị bế tắc, nhưng người tu thiền định có thể khai thông nó dễ dàng nếu được vị thiền sư có kinh nghiệm chỉ dẫn bí quyết.

(1) Trung tâm thứ nhất nằm phía dưới chót xương sống. Theo Vivekananda đó là nơi trú ngụ của con rắn lửa, người Tàu dịch là HỎA TAM MUỘI.

(2) Trung tâm thứ nhì nằm ở cuối bụng dưới.

(3) Trung tâm thứ ba nằm ở sau rốn.

(4) Trung tâm thứ tư nằm ở chỗ trái tim.

(5) Trung tâm thứ năm nằm ở nơi yết hầu.

(6) Trung tâm thứ sáu nằm ở giữa hai lông mày.

(7) Trung tâm thứ bảy nằm ở nơi đỉnh đầu.

Khi trung tâm (1) được khai thông, luồng hỏa tam muội sẽ lan sang các trung tâm kế tiếp. Khi nó lan tới đâu có thể bị nóng ran tới đó, nhiều khi mắt đổ hào quang; người hành giả nếu không được hướng dẫn có thể bị điên khùng hoặc đứt mạch máu trong óc.

Việc thực hành HỎA TAM MUỘI (TUMO YOGA) đã được khoa học Tây Phương trắc nghiệm. Năm 1979, khi đương kim Đạt Lai Lạt Ma Tây Tạng tới thăm Hoa Kỳ, bác sĩ HERBERT BENSON, khoa trưởng phân khoa y học hành xử (behavoural medicine) tại đại học Harvard có tới thăm và xin được nghiên cứu về trạng thái sinh lý của người thực hiện thiền định thuộc trình độ cao cấp. Được Đạt Lai Lạt Ma đồng ý, bác sĩ Benson với hai người phụ tá đã đem theo các máy móc đo lường tối tân để thử nghiệm mấy vị sư Tây Tạng hành thiền lửa tam muội tại Ấn Độ.

Theo Phật giáo, tâm thức (consciousness) của con người có nhiều lớp, trong đó có hai lớp chính: lớp thô sơ và lớp vi tế. Lớp thô sơ là phần nhận thức của mắt, tai, mũi, lưỡi và thân. Lớp vi tế là phần nhận thức rất siêu việt, tinh vi, chỉ phát hiện ra khi con người sắp chết. Khi người hành giả khai thông 7 trung tâm sinh lực, họ có thể kiểm soát và tạm ngưng lớp tâm thức thô sơ và đi vào sinh hoạt tâm thức vi tế. Khi này, thân nhiệt của hành giả gia tăng: bác sĩ BENSON đo được nó cao hơn nhiệt độ trung bình tới 18 độ Fahrenheit (hay 10 độ C). Bác sĩ đã đo cả ngoài da lẫn trong hậu môn. Nhiệt độ gia tăng này có thể làm khô tấm vải nhúng nước lạnh quấn quanh thân thể các nhà sư ngồi hành thiền dưới không độ. Ngay cả khi họ ngồi trên tuyết suốt đêm, thân nhiệt của họ cũng không giảm; ngoài ra họ đã giảm thiểu số lượng khí hít vào phổi, chỉ thở chừng bảy hơi trong một phút.

Thử nghiệm trên đây là bước đầu tiên Tây phương dùng phương pháp khoa học để tìm hiểu đạo học Đông phương. Họ tìm ra sự thực bằng con số nhưng không hiểu tại sao. Vì đó là cái vi tếcủa tâm linh.

Theo Phật giáo thế giới tâm linh gồm có 10 cảnh giới, theo từ dưới lên trên như sau:

10. Pháp giới địa (Phật giới)

9. Tịch diệt địa (A la hán, Bồ tát)

8. Phi-tưởng-phi-phi-tưởng-xứ-định

7. Vô sở hữu xứ định.

6. Thức vô biên xứ định.

5. Không vô biên xứ định.

4. Tứ thiền.

3. Tam thiền.

2. Nhị thiền.

1. Sơ thiền.

Khi đạt tới cảnh giới 10, Phật Thích Ca không nói cảm tưởng Ngài thế nào. Ngài chỉ cho biết những gì ngài “nhìn” thấy:

Phật tánh là trong sạch và hoàn toàn, bao gồm tất cả nhưng không phân biệt cái này với cái khác. Nó không phải là cái đầu óc giới hạn, không phải là “khoảng-không-trống-rỗng”, không phải là đất, nước, gió; không phải là giác quan hay toàn cơ thể, không phải là cảm giác, không phải là cảm xúc, không phải lãnh vực của sự phân biệt của tri thức, không phải lãnh vực của ý thức tùy thuộc vào sự suy nghĩ… Bản chất của cái tuyệt diệu thông minh đó không thuộc về nhân quả, không thuộc về thiên nhiên hay hiện tượng, không thuộc về sự gút mắc của sinh vật hay không sinh vật, không thuộc về cái “không-có” hay “không-không-có”. Tuy nhiên nó bao gồm tất cả các hiện tượng”.

Tới cuối thế kỷ thứ 19 mới có người diễn tả cảm tưởng của mình khi đạt tới mức độ cao chót của đại minh. Người đó là RAMAKRISHNA, một đạo sư nổi danh của Ấn Độ giáo, giáo chủ của đạo sĩ VIVEKANANDA. Ramakrishna đã cho văn hào Pháp Romain Rolland biết ông đã nhập đại định tới tầng thứ 7. Sau đây là cảm tưởng của ông khi tới mấy tầng trời chót:

Tương tự như con voi đạp đỗ hàng rào, tâm thức tôi bay vào tầng trời thứ tư. Như ngọn đuốc, tâm hồn tôi cháy ngùn ngụt. Ánh sáng tỏa ra ra chung quanh. Tất cả hình như cất lên tiếng ca kỳ lạ. Sau đó ánh sáng lan rộng, sáng chói như một thái dương hệ. Đó là tầng trời thứ năm. Mỗi tế bào, mỗi nhịp đập của tim, mỗi ý nghĩa đều quyện lấy hào quang… Bỗng một hôm tâm thức tôi đột nhập vào tầng trời thứ sáu rồi tới tầng trời thứ bảy. Nơi đây không có lời nói của loài người. Linh hồn tôi trở thành tự tại, khoác chiếc màn hoàn toàn im lặng, chan hòa vào vũ trụ…

Tầng trời thứ bảy của Ramakrishna cao hơn hay thấp hơn Pháp giới địa của Phật Thích Ca? Tôi không biết, không tò mò vì tôi không có tham vọng đi sâu vào Thiền định, nhất là đại định

NĂM

Sau khi giác ngộ, Phật Thích Ca dành ra bảy ngày đi quanh cây bồ đề để sắp xếp tư tưởng thành một hệ thống suy luận khít khao, từ gần tới xa, từ thấp tới cao, từ cụ thể tới trừu tượng. Nếu có ai hỏi về đạo Phật, kẻ viết bài này với sự hiểu biết nông cạn chỉ xin được tóm lược bằng một vòng tròn với 4 chữ: sinh, lão, bệnh, tử.

Nếu vòng tròn đó bắt đầu từ đâu, xin trả lời: không bắt đầu từ đâu (vô thủy). Nếu hỏi tiếp: nó chấm dứt ở đâu, xin trả lời: không chấm dứt (vô chung). Vòng tròn đó là vũ trụ, là con người, là vạn sự vạn vật.

Con người và các sinh vật khác cũng đều theo luật vòng tròn đó: sinh ra, lớn lên, già nua rồi chết, rồi lại tái sinh và tiếp tục mãi như vậy. Sinh, lão, bệnh ai nấy đều trôi qua hoặc đã biết, đã nhìn thấy. Riêng hình cung từ Tử tới Sinh đối với Phật giáo là quan trọng nhất. Phật giáo quan niệm: chết không phải là hết vì sau chết chúng ta sẽ tái sinh (reborn) trong một thể xác khác hoặc một hình thức khác.

Năm 1992 tại Hà Nội, nhà văn trẻ Trần Huy Quang đã viết một truyện ngắn “Ám Ảnh Có Thật”, nội dung như sau: Có một cô gái nông thôn tên Thơm chồng chết sớm vì đi bộ đội. Cô gặp một anh lính giải ngũ. Hai người yêu nhau. Anh bí thư chi bộ cộng sản cũng yêu cô gái nên rất ghen tức, ngầm theo dõi. Một buổi tối trời anh lính giải ngũ và cô Thơm lén lút gặp nhau ngoài đồng. Bí thư chi bộ huy động dân quân lùng bắt. Anh lính giải ngũ thoát được vòng vây. Riêng cô Thơm bị giải về trụ sở để lấy khẩu cung. Cô không nhận tội. Anh bí thư chi bộ thét lên ra lệnh: “Con đĩ già mồm! Các đồng chí hãy khám xét nó thật kỹ. Có tinh dịch đàn ông “trong ấy” là nó trắng mắt ra”. Bị sĩ nhục, cô gái ngay đêm đó nhảy xuống ao làng tự tử. Hai năm sau bí thư chi bộ “tự nhiên hai con mắt nổ tung con ngươi ra ngoài. Đi khắp nơi không chữa khỏi…” bài báo thật ngắn gọn và thâm thúy. Số báo bị đảng ra lệnh tịch thu ngay. “Nổ con ngươi cho trắng mắt ra” là cái nghiệp quả do tội ác gây nên. Nghiệp quả do tội ác gây nên được đại sứ Ấn Độ Cưu Ma La Thập, cách đây 1600 năm dịch trong kinh Kim Cương Bát Nhã ra tiếng Trung Hoa là “tội nghiệp”.

“Nghiệp” là một danh từ phổ biến nhất trong Phật giáo: nghiệp báo, nghiệp quả, nghiệp lực, thiện nghiệp, ác nghiệp, tội nghiệp. “Nghiệp” là kết quả tạo nên do ý nghĩ, lời nói hoặc hành động của một chúng sinh. Kết quả đóó thể tốt hoặc xấu, nó có thể xảy ra khi chúng sinh tạo ra nó còn sống hoặc đã chết. Khi chúng sanh đó chết, “nghiệp” đó sẽ nhập vào một thể xác khác, trở thành tâm linh của chúng sinh đó trong kiếp sau. NGHIỆP được dịch từ tiếng Phạn: KARMA. Triết gia Hoa Kỳ William James (1842 - 1910) biết rất ít về đạo Phật nhưng cũng đồng ý về lý thuyết NGHIỆP QUẢ, Ông đã viết: “I am ignorant of Buddhism, but as I apprehend the buddhistic doctrine of karma, I agree in principle with that.”

Sau danh từ NGHIỆP, phổ quát không kém là danh từ KIẾP, được dịch từ tiếng Sanskrit: SAMSARA. Danh từ SAMSARA cũng đã được quốc tế hóa. Xin các bạn trẻ hãy dở tự điển Hoa Kỳ (bất cứ tự điển nào) để biết về định nghĩa của danh từ SAMSARA (KIẾP).

Chúng ta đã từng nghe danh từ kiếp luân hồi (luân = bánh xe, hồi = trở lại). Đó là vòng tròn vô thủy vô chung mà ta đã đề cập trên đây.

Cái gì trở lại? – NGHIỆP; vì NGHIỆP có sức đẩy vô hình của nó, cũng như khi ta ném một hòn đá, tay đã buông ra nhưng hòn đá vẫn tiếp tục văng ra xa. Sức đẩy của NGHIỆP được gọi là NGHIỆP LỰC.

NGHIỆP trở lại đâu? Trở lại kiếp sau (SAMSARA).

Có kiếp sau hay không? Thay vì trả lời, xin đưa ra nhân chứng: Đương kim Đạt Lai Lạt Ma Tây Tạng và tiến sĩ ALEXANDER BERZIN (sinh năm 1944 tại New Jersey). Đương kim Đạt Lai Lạt Ma Tây Tạng sinh năm 1935 tại tỉnh Amdo tít phía Đông Bắc Tây tạng. Năm 1933 Đạt Lai Lạt Ma thứ 13, vị tiền nhiệm của ngài mất. Mấy năm sau một pháp sư niên trưởng đã nhìn thấy trên mặt hồ ở phía Nam Tây Tạng nổi lên mấy chữ Tây Tạng Ah, Ka, Ma. Tiếp theo đó là hình ảnh của một tu viện ba tầng với một đường mòn dẫn lên đồi. Sau đó là hình ảnh một căn nhà nhỏ có máng xối hình dạng kỳ cục. Vị pháp sư già tin rằng chữ A chỉ tỉnh Amdo, chữ K chỉ tu viện KUMBUM. Chính phủ liền cử một phái đoàn vi hành lên Amdo. Họ tới tu viện Kumbum. Họ đi tìm căn nhà có máng xối kỳ cục. Họ dấu kín mục đích đi tìm kiếm của họ. Họ chỉ xin ngủ lại một đêm. Suốt tối hôm đó vị trưởng phái đoàn lân la chơi với chú bé nhất trong nhà chừng 3 tuổi. Chú bé tươi cười, la lên: “SERA LAMA, SERA LAMA”. Mọi người trong gia đình không ai hiểu. Riêng nhân viên trong phái đoàn thì trố mắt ngạc nhiên và vui mừng vì chú bé nói tiếng thổ ngữ (dialect) của thủ đô Lhasa cách đó tới ba bốn ngày đường. Câu đó có nghĩa là “Lạt ma ở Sera”. SERA chính là tên tu viện của vị trưởng phái đoàn.

Mấy ngày sau phái đoàn trở lại, đem theo một số đồ dùng của vị Đạt Lai Lạt Ma tiền nhiệm, trộn lẫn với một số đồ vật trông tương tự nhưng không phải của ngài. Mỗi lần một vật nào được đưa ra chú bé đều vồ lấy đúng vật của vị Đạt Lai Lạt Ma tiền nhiệm và nói, “Của tôi! Của tôi!”. Cuộc trắc nghiệm này kết thúc việc lựa chọn: chú bé được công nhận là Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, hậu thân của Đạt Lai Lạt Ma thứ 13. Chú bé đó là đương kim Đạt Lai Lạt Ma Tây Tạng.

Nhân chứng thứ hai là một người Hoa Kỳ, tiến sỹ Alexander Berzin. Từ năm 1969 khi 25 tuổi, ông đã cộng tác với Trung tâm định cư Tây Tạng tại Ấn Độ, làm thông dịch viên cho nhiều vị thiền sư, trong đó có đương kim Đạt Lai Lạt Ma, ông đã nghiên cứu kinh sách Phật giáo Tây Tạng, học hỏi và phỏng vấn rất nhiều vị Lạt Ma. Theo chỗ ông biết được có chừng một ngàn vị Lạt Ma đã được công nhận và được chứng minh đã tái sinh. Khi một vị Lạt Ma nào già chết những người thân thuộc đi tìm kiếm xem vị Lạt Ma đó được tái sinh ở đâu, như trường hợp vừa kể trên đây vềđương kim Đạt Lai Lạt Ma Tây Tạng.

Tiến sĩ Berzin đã viết về trường hợp đại sư trưởng lão LING, vị thầy học, vị đỡ đầu, vị cố vấn của Đạt Lai Lạt Ma như sau. Đại sư luôn luôn sống gần Đạt Lai Lạt Ma. Năm 1968 khi ngài thở hơi thở cuối cùng, đại sư vẫn tiếp tục ngồi thiền định, tâm thức vi tế(subtle consciousness) vẫn tiếp tục sinh hoạt, kéo dài trong hai tuần lễ. Trái tim đại sư đã ngừng đập nhưng phía ngực bên trái vẫn ấm. Ngày thứ 15 khi đại sư ngưng thiền định đầu ngài nghiêng đi, vài giọt máu chảy qua lỗ mũi. Khi đó tâm thức ngài rời khỏi xác thân.

Tại trung tâm tỵ nạng Tây Tạng mỗi năm có chừng vài ba trường hợp tương tự.

Hóa thân của đại sư LING được tìm thấy qua cậu bé 21 tháng mới bập bẹ biết nói. Sau khi sinh được mấy tháng, mẹ cậu bé chết. Nhà nghèo, ông bố phải gửi hai anh em cậu vào Viện mồ côi. Anh cậu lớn hơn cậu chừng ba, bốn tuổi. Cậu anh này thường nói: "Em tôi là một vị Lạt ma (đại sư) đó. Đừng chòng nghịch em tôi."

Một bữa một vị thân cận của cố đại sư trưởng lão LING nằm mộng thấy hóa thân của ngài. Họ đi tìm. Họ đưa ra các đồ dùng cũ kỹ, chú bé vồ lấy những thứ do lão đại sư đã dùng lúc sinh thời. Họ đưa ra một tràng hạt, chú bé nhận lấy bằng hai tay và ngồi lần tràng cũng bằng hai tay như cố đại sư đã làm. Chú được rước về căn nhà cũ của đại sư. Chú nhận ra được mọi người trong nhà. Người ta bế chú lên chiếc ghế cao. Hai ba ngàn người tới chúc mừng và chào chú. Chú xếp chân bằng tròn trong một tiếng rưỡi đồng hồ, giơ hai tay nhận quà tặng của mọi người rồi trao cho người đứng phục dịch bên cạnh. Cử chỉ của chú thật đàng hoàng chững chạc như một vị đại sư. Chú ban phép lành cho mọi người. Sau đó Đạt Lai Lạt Ma dùng cơm trưa với chú. Hai người ăn chung nhưng rất ít nói, vì chú mới bập bẹ, đang học nói. Khi ăn xong Đạt Lai Đạt Ma từ biệt chú. Chú nắm lấy áo ngài, khóc, nhõng nhẽo đòi ngài ở lại... Ba năm sau, chú bé đã thuộc làu kinh kệ một cách dễ dàng.

SÁU

Thiền sư Huệ Trung là đệ tử của Lục tổ Huệ Năng. Sau khi ngài tu bốn mươi năm trên núi, vua Đường Túc Tông thỉnh ngài về kinh đô làm quốc sư. Một hôm Túc Tông hỏi ngài:

- Bạch thầy, thầy đã tu chứng tới mức nào rồi?

Thiền sư không đáp, mờivua ra ngoài sân chỉ lên trời, hỏi vua:

- Xin bệ hạ cho biết đám mây trên trời kia do đinh đóng vào hay do dây buộc lại?

Ngài chỉ trả lời có vậy. Nhưng Vua Túc Tông đã nhìn thấy rõ: đạo như mây bay, không chứng không đắc mà vẫn tự do tự tại.

Trong khi cầu học, kẻ viết bài này cũng ví mình như mây bay. Nhưng không bay về Hy Mã Lạp Sơn hoặc núi Thiên Thai. Chỉ mong được lơ lửng bay trên dãy Trường Sơn thân yêu từ Nam tới Bắc, rồi sà xuống thăm viếng ngôi chùa nhỏ Vũ Lâm thuộc tỉnh Ninh Bình, nơi cách đây chừng bảy thế kỷ Vua Trần Nhân Tông đã để lại một số bài thơ tràn đầy bóng thiền na:

Vũ Lâm cảnh

Họa kiều đảo ánh trám khê hoành

Nhất mạt tà dương thủy ngoại minh

Tịch tịch thiên sơn hồng diệp lạc

Thấp vân hòa lộ tống chung thanh.

Tạm dịch:

Cảnh Vũ Lâm

Ngang suối lung linh ngược bóng cầu

Nước in dìu dịu nắng đìu hiu

Núi im lìm, vèo bay lá úa

Thoáng mây đưa tiễn tiếng chuông chiều.

Mây bay và tiếng chuông thu không là hình bóng và âm thanh gắn bó với tiềm thức đối với ai đã sống và lớn lên nơi thôn dã Việt Nam, trong đó có kẻ viết bài này. Chính vì vậy người viết, mỗi ngày trước khi đi ngủ đều dành chừng nửa giờ để tụng kinh và nghe những hồi chuông nho nhỏ ngân vang do mình tạo ra để đi sâu vào quá khứ vang vọng nơi tiềm thức. Tụng kinh để tâm tư lắng đọng, vọng động chìm xuống để sống an nhiên tự tại như đám mây lơ lửng của thiền sư Huệ Trung. Đối với người viết, đó là Thiền. Đơn giản thế thôi. Người viết không bao giờ có tham vọng nhập đại định để đạt tới Như Lai. Chỉ mong theo Như lai để tu học làm người, mong kiếp sau lại được làm người, nhất là người Việt Nam.

Trước khi tụng kinh, thấp nén hương, nhìn khói bay, lòng ghi ơn Phật Thích Ca, vị hướng đường chỉ nẻo trong quá khứ, hiện tại và tương lai.

Tối hôm qua, sau khi tụng kinh, nhìn Phật Thích Ca mờ nhòa trong khói tỏa, lòng bỗng nhói đau. Từ nơi xa nghe vang vọng bài thơ mình đã dịch:

Cúi dâng bát cơm tù

Xin cúng dường Chư Phật

Thế gian dài hận thù

Phẩm dâng tràn nước mắt.

Nguyên bản bài thơ viết bằng chữ Nho, nguệch ngoạc viết từ ở trong tù:

Phụng thử ngục tù phạm

Cúng dường tối thắng tôn

Thế gian trường huyết hận

Bỉnh bát lệ vô ngôn.

Tác giả bài thơ là Tuệ Sỹ, một nhà sư mình chưa gặp nhưng tư tưởng rất gần gũi thân yêu. Bỗng lại văng vẳng nghe tiếp:

Phố trưa nắng đỏ cờ hồng

Người yêu cát bụi đời không tự tình

Sầu trên thế kỷ điêu linh

Giấc mơ hoang đảo thu hình tịch liêu

Hận thù sôi giữa nắng chiều

Sông tràn, núi lở nước triều mênh mông

Khói mù lấp kín trời Đông

Trời ơi tóc trắng rủ lòng quê cha

Con đi xào xạc tiếng gà

Đêm đêm trông bóng Thiên hà buồn tênh

Đời không cát bụi chung tình

Người yêu cát bụi quê mình là đâu?

Tối tắt đèn đi ngủ. Vừa nằm xuống bỗng thấy nước mắt tràn ra.


04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com