giao diem 3-2005

posted: 05.3.2005

PHỤ LỤC
NỖI ĂN NĂN THỐNG HỐI
CỦA MỘT NGƯỜI THEO “CÔNG GIÁO”

Phan Quốc Đông

Đọc xong cuốn sách Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng  của Giáo Hoàng Gioan Phao Lồ II, tôi nhớ lại thời còn là một học sinh tiểu học, được gia đình ghi tên vào trường Puginier ở Hà Nội. Đây là một trường đạo thuộc Giáo Hội Công Giáo Việt Nam. Những bài giáo lý (catéchisme) tôi đều thuộc làu làu. Đạt được một số thành tích khả quan trong học vấn, tôi được nhiều vị sư huynh, nhiều vị linh mục xoa đầu khen ngợi. Cho tới khi tôi cảm thấy mê Thiên Chúa Giáo quá và sau khi được nhiều người khuyên bảo, tôi xin phép được rửa tội, được đặt "tên thánh". Cha tôi cũng rất hài lòng. Gia đình tôi là một gia đình Phật giáo, nhưng hầu như chưa ai nghiên cứu gì nhiều về những lời dạy của Đức Phật, chỉ thờ cúng tổ tiên một cách kính cẩn, mỗi năm đi chùa vài lần. Nay có tôi là người đầu tiên theo Công Giáo La Mã, tôi cảm thấy hãnh diện lắm, cảm thấy "văn minh" hơn anh chị tôi là những người học ở các trường Chu Văn An, Trưng Vương. Còn cha tôi thì cho rằng sau này, khi học hành xong, tôi sẽ dễ dàng kiếm được địa vị cao trong xã hội vì lú c đó nước ta vẫn còn bị đặt dưới ách đô hộ của thực dân Pháp.

Người Pháp tính kế lâu dài vì họ biết rằng phong trào giải phóng các dân tộc bị nô lệ đã lên cao. Việt Nam cầm lá cờ đầu trong phong trào này; chế độ thực dân cũ do sự cai trị trực tiếp của người Pháp đã lỗi thời. Họ tính xây dựng một chế độ thực dân mới tinh vi hơn, nghĩa là bề ngoài họ sẽ trao trả "độc lập" cho một số các nước thuộc địa, nhưng họ vẫn đứng đằng sau khống chế chính phủ, trong đó những người thừa hành không phải là người Pháp mà là những người bản xứ hoàn toàn nghe lời Pháp (thường là người theo Công giáo). Như vậy, các nước thuộc địa như Việt Nam trông có vẻ "độc lập" hơn.

Sau này gia đình tôi di cư vào Nam và khi đã khá lớn, tôi mới hiểu rõ vấn đề. Nhờ đọc sách tôi được biết Đức Cha Puginier là một ông Tây thực dân xâm lược đã từng cầm quân đi tiêu diệt các phong trào cách mạng Việt Nam, quân đội của ông hầu hết là giáo dân. Rất nhiều người Việt Nam yêu nước đã bị giết một cách tàn bạo bởi đạo quân này. Tôi cảm thấy xấu hổ đã học trường Puginier! Nhưng tôi vẫn còn là một con chiên ngoan đạo; bởi vì theo Công Giáo, tôi chỉ có một mục đích là khi chết sẽ được Chúa GiêSu bênh vực trong ngày phán xét cuối cùng và có thể sẽ cho tôi lên thiên đàng nếu tôi tuyệt đối tin tưởng ở Chúa Trời qua những lời dạy của Ngaiy trong cuốn Thánh Kinh và tuyệt đối nghe lời những người chủ chiên, những vị linh mục, giám mục là những người đại diện cho Chúa.

Những điều tiên đoán của cha tôi đã tỏ ra đúng: ngày tôi ra trường sau khi tốt nghiệp đại học, tôi dễ dàng kiếm được địa vị cao trong ngành tư pháp. Dưới thời hai chính phủ Công Giáo trị ở miền Nam Việt Nam trước kia, tôi thấy họ xét lý lịch rất kỹ những người ở cấp bậc chỉ huy. Người nào có đạo Công Giáo đều được dễ dàng. Người nào khai Phật giáo thường bị loại. Tuy nhiên, những người nào Phật giáo nhưng khai là có "đạo thờ ông bà" thì cũng có thể được trọng dụng gần bằng người Công Giáo.

Bởi thế, tôi thấy có nhiều người Phật giáo nhưng phải giấu diếm bàn thờ Phật ở tuốt trên lầu: họ lập một bàn thờ Chúa rất to, rất trang ngiêm ở ngay phòng khách cho mọi người nhìn thấy. Các xứ đạo tưng bừng nhộn nhịp được chánh phủ nâng đỡ tối đa. Vị cha xứ được dân chúng khúm núm tôn thờ như một ông thánh. Có những xứ đạo tự tạo ra những luật lệ riêng, bất chấp luật lệ quốc gia! Thí dụ như ở Hố Nai, nếu bạn lái xe qua mà vô tình cán chết một con chó của họ, bạn có thể bị giáo dân đánh chết mà không có luật pháp nào bênh vực bạn cả. Một người bạn tôi bị mất chiếc xe Toyota mới tinh. Anh ta tự điều tra và biết được chiếc xe của mình hiện ở trại di cư Hố Nai, nhưng không biết làm sao lấy chiếc xe ra được! Báo cảnh sát họ cũng lắc đầu! Sau cùng anh ta phải đăng báo chuộc lại chiếc xe theo "luật giang hồ"!

Gia đình tôi có 2 người con gái út, tuy không xinh đẹp lắm nhưng cũng vào loại "coi được", dầu rằng tính nết rất đanh đá. Ông anh tôi thường hay nói đùa: "Hai con em mình mà cũng có thằng nó "ngửi" được kể cũng lạ!" Một cô gả cho một ông bộ binh mang cấp bậc trung úy từ năm 1962, năm 1969 được thăng đại úy. Cho tới năm 1975 bò mãi cũng không lên được thiếu tá vì ông khai là Phật giáo. Trái lại cô em út lấy chồng Công Giáo, cô ta phải rửa tội theo chồng thì hôn nhân của hai người mới không bị cản trở. Cậu này năm 1962 mới đi sĩ quan Thủ Đức để rồi ra trường với cấp bậc chuẩn úy. Thế mà năm 1975 cấp bậc của cậu ta đã là trung tá.

Mỗi khi có một giới chức nào thuộc Tòa Thánh Vatican tới thăm Việt Nam, ông ta được đón tiếp theo thủ tục nghi lễ quốc gia một cách vô cùng trọng thể. Từng đoàn xe hộ tống dẫn đường, không khác gì xe của một vị quốc trưởng. Vào tới dinh Độc Lập, ông ta được các công chức cao cấp của chính phủ Việt Nam đón tiếp một cách kính cẩn và khúm núm. Bởi vì càng kính cẩn, càng khúm núm thì địa vị các công chức đó càng vững chắc, bổng lộc càng nhiều. Người ta còn để ý xem những người Công Giáo có địa vị cao trong chính phủ có đi lễ nhà thờ đều vào mỗi sáng chúa nhật không. Bởi vậy, cứ tới khu nhà thờ Đức Bà tại Sài Gòn vào mỗi sáng chúa nhật, ta sẽ thấy xung quanh đậu toàn những loại xe đắt tiền bóng loáng.

Các vị linh mục, giám mục nhiều khi trực tiếp can thiệp vào các công việc của ngành tư pháp, hành chánh, quân đội và lần nào cũng đạt được kết quả như ý muốn. Việt Nam được phong chức "Trưởng nữ của Tòa Thánh Vatican ở Á Châu", một chức vụ mà ngay cả Phi Luật Tân lấy Công Giáo làm quốc giáo cũng không có được. Tôi rất hãnh diện về chức vụ này, tuy tôi biết rằng tài chánh của nước Việt Nam được các Tổng Thống Công Giáo lấy đi đem gởi ở Vatican không phải là ít.

Cho tới năm 1975 khi quân đội miền Nam Việt Nam thảm bại một cách hết sức nhanh chóng sau khi bị quan thầy Mỹ bỏ rơi, tôi may mắn chạy ra được ngoại quốc nên tránh được cảnh tù đày. Chính trên đất Mỹ này, tôi học được một điều hết sức rõ rệt là: Người Công Giáo MỸ khác hẳn những người Công Giáo Việt Nam! Họ đặt quyền lợi tổ quốc của họ lên trên hết. Họ coi quốc gia nhỏ bé Vatican chẳng ra gì. Dù rất giàu có, họ không đóng góp một xu nào cho Vatican cả. Họ đang vận động thành lập Giáo Hội Công Giáo Tự Trị vì họ biết rõ những người lãnh đạo Vatican chỉ có cái bề ngoài có vẻ đạo đức nhưng bên trong là một tập đòan hết sức thối nát: Giáo Hoàng nào đã phạm giới, Hồng Y nào đã cấu kết với đảng Mafia ở Ý tạo được những tài sản kết sù, Giáo Hoàng nào đã bị ám sát vì tiền, họ đều biết rõ! Các vị giám mục, linh mục có liên hệ bất chính với đàn bà con gái, đều bị họ phanh phui trên báo chí một cách thẳng thắn. (Ở Việt Nam mà đụng tới các vị này thì chắc không khá!). Đọc báo Mỹ, ta thấy những chuyện này hầu như hàng ngày.

Dân chúng Mễ Tây Cơ còn đi xa hơn nữa: Họ ghi hẳn vào Hiến Pháp cấm chính phủ không được đặt liên hệ ngoại giao với Vatican, các linh mục không được mặc áo đen ra đường, không được mua ruộng đất, không được dạy học, không được kinh doanh! Người Tây Phương theo Công Giáo chỉ vì truyền thống từ ngàn xưa. Hỏi họ có tin vào những điều dạy trong Kinh Thánh không thì ít ai tin. Người Công Giáo Việt Nam đặt đức tin “cao” hơn nhiều.

                              **

Cũng chính trên đất Mỹ này tôi bàng hoàng nhận thấy điều vô cùng thiếu sót là: mặc dầu là người Công Giáo đã mấy chục năm, đi lễ đều đặn, say sưa trong câu kinh tiếng hát, tôi vẫn chưa bao giờ đọc hết 2 cuốn kinh Cựu Ước và Tân Ước cả! Có lẽ tất cả những người Công Giáo Việt Nam cũng đều như tôi: chưa đọc, bởi vì chưa có một bản dịch tiếng Việt nào thật đầy đủ 2 cuốn kinh đó. Nhiều bản tự nhận là dịch nguyên văn, nhưng so với bản tiếng Anh thì còn thiếu sót nhiều. Người ta cố tình chỉ dịch một số đoạn và chỉ cho phép con chiên được đọc những đoạn đó mà thôi.

Tìm hiểu sâu hơn tôi biết rằng tòa thánh Vatican đã từng ngự trị ở khắp Châu Âu suốt mười mấy thế kỷ và họ đã cấm con chiên không được đọc Kinh Thánh. Từ thế kỷ thứ 4 đến thế kỷ thứ 14, các sử gia gọi là Thời Kỳ Đen Tối, người dân sống trong tăm tối và đầy sợ hãi với những Tòa án tôn giáo, những cuộc chiến tranh bẩn thỉu được mệnh danh là "Thánh Chiến", những cảnh cướp đất dành dân, nô lệ hóa con người của các vị lãnh chúa. Chỉ kể từ thời kỳ Phục Hưng trở đi, khi người dân cương quyết bác bỏ các giáo điều phản khoa học của Kinh Thánh để đi vào con đường khoa học thực nghiệm, Âu Châu mới khá lên dần dần. Tuy nhiên, Tòa Thánh Vatican vẫn còn muốn dạy dỗ con chiên của họ ở Á Châu (nhất là ở Việt Nam) theo kiểu mẫu Âu Châu thời Trung Cổ, bởi vì như thế thì họ mới có lợi, còn nếu tiến bộ như người Công giáo Mỹ thì dĩ nhiên họ chẳng được lợi gì. Các cán bộ của họ, các linh mục, giám mục vẫn đang tận tụy làm công việc này vì Việt Nam có khoảng 7 triệu người Công giáo có đức tin rất cao, sẽ là một lực lượng chánh trị và kinh tế quan trọng trong tương lai.

Nhờ có khả năng đọc được ngoại ngữ, lại có nhiều thì giờ rảnh rỗi, tôi quyết chí tìm hiểu cẵn kẽ, suy nghĩ từng chữ, từng câu của 2 cuốn Thánh Kinh này. Tôi cũng đọc kỹ lịch sử của Giáo hội Vatican, tiểu sử của từng vị Giáo Hoàng, các phương pháp bành trướng tôn giáo của họ tại các lục địa khác ngoài Aⵠchâu, phương pháp nào nhanh, phương pháp nào chậm. Phương pháp nhanh nhất được thực hiện bởi thực dân Tây Ban Nha tại các xứ thuộc Châu Mỹ La Tinh thật là vô cùng tàn ác: Họ dùng gươm súng giết hết những người đàn ông bản xứ, chỉ còn lại toàn đàn bà con gái thôi, để họ vừa bắt buộc theo đạo, vừa hãm hiếp đồng hóa. Số người bị giết lên tới mấy chục triệu. Đây là phương pháp truyền đạo của phái bộ truyền giáo Tây Ban Nha được Giáo Hoàng Alexander Đệ Lục hỗ trợ. Đi du lịch ở các xứ này ta chỉ thấy toàn những người lai mà thôi, hầu như không còn một người bản xứ nào sống sót. Tại Phi Luật Tân, họ cũng giết hàng triệu người, đập phá toàn bộ các đền thờ cổ, thủ tiêu hoàn toàn mọi chứng tích của nền văn minh cổ của xứ này. Ngôn ngữ, văn tự, truyền thống, văn hóa hoàn toàn mất hẳn.

Tại Việt Nam phương pháp truyền giáo được đảm nhiệm bơihái bộ truyền giáo Pháp Quốc, tuy cũng dùng những cán bộ, những linh mục đi theo các đoàn quân viễn chinh, nhưng phương pháp này hơi chậm vì phải bưng bít, phải mua chuộc, phải dùng những người bản xứ làm tay sai, vì đạo quân viễn chinh đã bị dàn quá mỏng, không còn đủ sức. Không phải phái bộ truyền giáo Pháp thương xót gì người Việt Nam, nhưng nước Việt Nam ta có lúc ở trong một hoàn cảnh đặc biệt khiến họ không thể dở trò tàn bạo như ở Nam Mỹ:

- Dân chúng Nam Mỹ đã bị xâm lược từ thế kỷ thứ 16, trong khi Việt Nam chỉ thật sự bị xâm lược vào thế kỷ thứ 19.

- Dân chúng Nam Mỹ lúc đó chỉ là những bộ lạc lẻ tẻ, do đó không chống lại nổi. Trái lại, nước ta lúc đó đã là một quốc gia lớn, có chủ quyền, có truyền thống chống xâm lăng. Dù vũ khí của ta thô sơ, nhưng nếu chúng dở trò quá tàn bạo, chúng sẽ gặp sự chống cự mãnh liệt và không thắng nổi.

Lịch sử đã ghi rõ là Pháp chiếm được nước Việt Nam phần lớn là nhờ những người Việt Nam làm tay sai hợp tác với Pháp hơn là do sức mạnh của Pháp. Người Việt Nam đã sai lầm khi hợp tác với Pháp với khẩu hiệu “Thà mất nước chứ không mất Chúa”. Thật ra, nếu họ đặt đức tin một cách đứng đắn thì Chúa vẫn còn trong lòng họ, mà nước cũng không bao giờ mất.

Thực dân Pháp lúc xâm lăng nước ta đang ở trong vị thế rất suy yếu: đoàn quân viễn chinh bị đánh tan tành ở Mễ Tây Cơ. Khắp nơi hải quân Pháp bị hải quân Anh đánh bại. Ngay tại chính quốc, Pháp cũng bị Đức đánh bại (1870), thủ đô Paris bị xâm chiếm, Pháp phải đầu hàng, cắt đất cho Đức, và bồi thường chiến phí. Người Pháp đã định ngưng cuộc chinh phục Việt Nam nhiều lần, nhưng vì các linh mục tích cực vận động, lấy cớ chiếm nước Việt Nam chẳng tốn kém gì nhiều, vì đã có đạo quân thứ năm sẵn sàng hỗ trợ, do đó Pháp lại tiếp tục và hoàn tất cuộc xâm lăng.

Đọc cẩn thận hai cuốn kinh Cựu Ước và Tân Ước, tôi bàng hoàng tìm ra lý do vì sao Giáo hội Vatican đã cấm giáo dân không được đọc Kinh Thánh suốt mười mấy thế kỷ: Họ muốn giáo dân chỉ là những con cừu ngu muội để họ nói gì phải tin thế, không được thắc mắc gì cả. Họ nói “mặt trời quay chung quanh trái đất” cũng phải tin là “mặt trời quay chung quanh trái đất”. Nếu có người nào thắc mắc hoặc đưa ra những câu khỏi khó trả lời thì hãy coi chừng, người đó sẽ bị đưa ra các tòa án tôn giáo (gọi là tòa hình án: Inquisition) với những cực hình hết sức dã man: nào là đánh đập tàn nhẫn, nào là xẻo thịt, cắt lưỡi, cắt vú, lóc xương, rất nhiều người bị thiêu sống, vì không tin Chúa nên họ bị gán cho tội làm phù thủy. Tôi đã được coi các dụng cụ tra tấn của tòa hình án của Công Giáo tại một viện bảo tàng. Viện bản tàng này gọi là “Believe It or Not” được đặt trong một tòa nhà gọi là Cliff House, ở ven biển San Francisco. Vé vào cửa là 6 đô la, nhưng mỗi tháng có một ngày vào cửa miễn phí (ngày thứ tư đầu tiên trong tháng). Vào những ngày đó người ta tới coi rất đông. Các hội đoàn, các trường học cũng tổ chức những đoàn xe đưa học sinh đi coi có các thầy cô giáo hướng dẫn rất trật tự. Họ đến để nhớ lại quá khứ mà học bài học cho tương lai.

Người Mỹ đã nhất quyết cho con em học được biết tất cả những sự thực lịch sử về Đạo Thiên Chúa. Các giáo dân Việt Nam chắc chắn chưa được biết những sự thật này. Ngay cả tôi là người thích đọc sách, thích tìm hiểu, mà suốt mấy chục năm qua tôi cũng không biết gì! Nếu không có cơ hội sang Mỹ thì chắc tôi cũng như nhiều người khác chỉ được biết những gì các vị linh mục Việt Nam cho biết mà thôi. Nhiều khi chính các vị linh mục cũng không biết những sự thực này! Có bao nhiêu vị linh mục Việt Nam đã đọc các sách như Secters Of The Dead Sea Scrolls (một tài liệu khảo cổ hết sức giá trị), Vicars Of Christ: The Dark Side Of The Papacy của Peter De Rosa (tác giả là một cựu Tổng Giám Mục), Why I Am Not A Chirstian? Của Bertrand Russell (triết gia, giải thưởng Nobel), The Spanish Inquisition của John Wiley? Và hàng trăm cuốn sách tương tự khác?

Vốn là một con chiên ngoan đạo, tôi chưa bao giờ vắng mặt ở nhà thờ vào các ngày Chúa nhật dù có bận rộn tới đâu. Sự siêng năng của tôi với ước vọng mãnh liệt là sẽ được lên Thiên Đàng sau khi chết là điều tôi rất tự hào. Từ xưa tới nay, giáo hội Vatican đã tiên đoán bao nhiêu lần về ngày tận thế. Nhiều người đã bán cửa bán nhà, nhiều người đã bỏ cả công ăn việc làm để chờ Chúa đón. Nhưng tới ngày đó chẳng có gì xảy ra cả! Mặc dầu người ta đã cẩn thận dạy rằng “việc lên Thiên Đàng chỉ có sau khi chết” (nghĩa là điều không ai có thể chứng nghiệm được và cũng không có ai đã lên thiên đàng ròi về kể lại cho người khác nghe), nhưng đọc rất kỹ 2 cuốn Kinh Thánh tôi mới biết rằng điều đó chỉ là tưởng tượng. Vì sao? Bởi vì cái Thiên Đàng đó hoàn toàn không có! Bởi vì Kinh Thánh cũng không phải do Chúa viết ra mà chỉ là sản phẩm của những con người cũng trần tục như chúng ta với trí tưởng tượng và sự hiểu biết về khoa học có lẽ còn thua chúng ta nữa! Nếu cứ nhắm mắt tin bừa vào những tác giả đó thì chắc chắn ta sẽ đi vào hố thẳm! Lịch sử nhân loại đã ghi lại không biết bao nhiêu hố thẳm như vậy. Bởi thế nên khi đạo Công Giáo La Mã không còn đủ quyền lực để giết chết những người nói lên sự thực nữa thì các nhà thông thái đã mạnh dạn lên thuyết giảng về những sai lầm trong Kinh Thánh.

Triết gia Bertrand Russell, cựu giáo sư đại học Harvard của Hoa Kỳ, thì cho rằng hình ảnh Đức Chúa Cha được mô tả như một vị Thượng Đế đã sanh ra thế gian này chỉ là một bịa đặt bắt người khác phải tin bằng gươm súng. Ông đã dùng lý luận để bác bỏ những luận cứ của Giáo hội về vấn đề này. Vả lại trước thời Môisen, loài người cũng đã đưa ra hình ảnh của nhiều vị Thượng Đế khác nữa. Mỗi địa phương, mỗi giống dân, mỗi nền văn hóa lại đưa ra một vị Thượng Đế khác nhau. Đúng là loài người đã sanh ra Thượng Đế, chớ không phải Thượng Đế sanh ra loài người! Nhưng giống dân nào, địa phương nào cũng cho rằng Thượng Đế của mình là đúng, là nhân từ, là có nhiều quyền phép, còn các Thượng Đế khác chỉ là ngụy tạo, là sai lầm, là tà giáo. Do đó mà có những mâu thuẫn và người ta đem quân đi giết nhau về vấn đề này! Lịch sử đã ghi lại không biết bao nhiêu những cuộc chiến tranh như vậy (đến nỗi từ ngữ “Thánh Chiến” đã trở thành thuật ngữ riêng biệt của lịch sử bành trướng của Giáo Hội La Mã). Sự tàn phá những kinh thành, tàn sát cả những lương dân vô tội, đã gây ra không biết bao nhiêu điêu linh cho nhân loại. Như vậy, phát minh ra một vị Thượng Đế xem ra không có lợi cho loài người, có hại là đằng khác. Nếu ta không biết vũ trụ này khởi đầu ra sao thì ta cứ thành thật nói là không biết chứ không cần phải bịa đặt ra rằng có một ông Thượng Đế ở trên trời đã sanh ra nó. Bởi vì giải thích như thế chỉ có thể đánh lừa được một số người nhẹ dạ và ngu dốt mà thôi. Và sẽ không bao giờ hết được những thắc mắc.

Nhà văn Lâm Ngữ Đường, con của một vị mục sư, thì viết rằng mặc dầu cha ông là mục sư giảng đạo lâu năm, ông vẫn hoàn toàn không tin vào Kinh Thánh. Ông cho rằng nếu quả có một Đức Chúa Cha như đã được mô tả thì ông này thật vô cùng tàn ác! Ông đã giận dữ giết chết không biết bao nhiêu người. Adam và Eva do ông sinh ra chỉ ăn có một trái táo cấm thôi mà đã bị trừng phạt quá nặng nề. Nào là bị đuổi ra khỏi vườn địa đàng, nào là biết xấu hổ, biết đói rách, phải làm lụng vất vả để sinh sống. Tàn ác hơn nữa là tất cả con cháu của Adam và Eva cũng bị trừng phạt luôn! Nếu ai làm lỗi thì trừng phạt người đó thôi chớ sao lại trừng phạt cả con cháu người ta, tức là cả nhân loại ngày nay. Cho tới khi Đức Chúa Cha hối hận cho ông con độc nhất (là chúa Giêsu) xuống thế để cứu nhân loại, thì nhân loại lại giết ông con này một cách hết sức đau đớn. Thế mà Đức Chúa Cha không giận gì cả! Cho rằng Chúa Giêsu tình nguyện chịu đau đớn để “chuộc tội” cho nhân loại là một điều vô lý. Trên đời này không có ai chịu tội dùm được cho ai cả. Ai làm thì người ấy chịu mà thôi. Vả lại nếu Chúa Giêsu đã chịu tội cho nhân loại thì sau Chúa Giêsu nhân loại (kể cả những người Công giáo tin vào Chúa) phải hết tội, phải sung sướng lắm mới đúng chớ. Tại sao đau khổ đến thế? Người ta lại còn nhân danh Chúa đi chém giết nhau suốt bao nhiêu thế kỷ. Nếu Chúa có quyền phép, tại sao Ngài lại dung túng điều đó.

Điều đáng nói là những người Do Thái thì tin vào Cựu Ước, những người Công giáo thì tin thêm Tân Ước. Chỉ khác nhau có một chút vậy thôi. Thế mà họ đã giết nhau vô cùng khủng khiếp suốt gần 20 thế kỷ, không bỏ qua một thủ đoạn tàn độc nào để ám hại nhau.

Một trong những giáo điều ông cho là sai lầm nhất của đạo Cơ Đốc là sự hiện hữu của một địa ngục vĩnh cửu. Người nào bị trừng phạt ở đó thì sẽ bị lửa cháy đời đời hết sức đau đớn, muốn chết cũng không chết được nữa. Bạn thử đưa một ngón tay vào ngọn lửa cho nó cháy xem bạn đau đớn ra sao! Đàng này cả một thân thể bị thiêu cháy như ngọn đuốc với những đớn đau suốt từ ngày này sang tháng khác không bao giờ dứt. Ông cho rằng một người dù tội lỗi đến đâu thì sau khi bị trừng phạt rồi cũng có ngày được tha. Không có lý do gì trừng phạt người ta mãi mãi. Chỉ có những kẻ bệnh hoạn mới nghĩ ra cách trừng phạt như vậy! Thì ra tôn giáo này thường được đánh bóng bằng hình ảnh một vị Thượng Đế nhân từ bác ái, lại đặt nền tảng trên sự đe dọa đầy ác tính và vô lý!

Tiến sĩ Peter De Rosa sau khi từ bỏ chức vụ Tổng Giám Mục, ông âm thầm nghiên cứu các tài liệu cổ xưa về giáo hội Công Giáo La Mã để viết cuốn Vicars Of Christ: The Dark Side Of The Papacy. Ông kể lại những chuyện kinh hoàng của giáo hội với những cảnh giết người, cướp bóc, hãm hiếp, trụy lạc, vô đạo đức. Kinh Thánh viết rằng mặc dầu các vị Giáo Hoàng là do các vị Hồng Y bầu lên, nhưng luôn luôn các cuộc bầu cử đó đều được hướng dẫn bởi Đức Chúa Thánh Thần, và người được bầu vào chức Giáo Hoàng là do Chúa chọn. Do đó, các Giáo Hoàng là những người vô cùng đạo hạnh, tài năng xuất chúng và không bao giờ sai lầm cả. Thế nhưng, lịch sử còn ghi lại rằng: Giáo Hoàng Sergius III (904 - 911) có vợ là cô điếm Marozia; Giáo Hoàng John XI (931 - 936) đã từng loạn luân với em gái; Giáo Hoàng Leo VIII (963 - 964) bị chết vì thượng mã phong; Giáo Hoàng Boniface VII (984 - 985) cướp ngôi của Giáo Hoàng John XIV; Giáo Hoàng John XXIII (1410 - 1415) cưỡng dâm trên 300 nữ tu; Giáo Hoàng Pius II (1458 - 1464) có vợ và 2 người con; Giáo Hoàng Sixtus IV (1471 - 1484) loạn luân và có con với bà chị ruột, cấp giấy phép mở nhà điếm ở La Mã để thu vào 30,000 đồng tiền vàng mỗi năm và chính ông thành lập tòa án dị giáo năm 1478, tòa án giết hàng chục triệu người vô tội: Có khi chỉ trong một ngày có đến 100,000 người “dị giáo”, kể cả những người theo Tin Lành bị tàn sát. Giáo Hoàng Innocenti VIII (1484 - 1492) có vợ và bán đấu giá các chức vụ của giáo hội.

Nhưng khủng khiếp nhất vẫn là Giáo Hoàng Alexander VI thuộc giòng họ Borgia. Chính vị này là thủ phạm những vụ tàn sát kinh hoàng nhất trong việc bắt buộc theo đạo Công Giáo ở các lục địa Á Châu, Phi Châu và Mỹ Châu La Tinh. Số người bị giết lên tới 100 triệu. Vị này lại còn loạn luân với chính con gái mình, tức nàng Lucretia Borgia xinh đẹp, sau khi đã bậy bạ với mẹ cô ta và cả bà ngoại cô ta nữa (cả 3 thế hệ). Nàng Lucretia có một người tình là một sĩ quan hầu cận của Giáo Hoàng, nhưng anh nàng là Caesar Borgia không bằng lòng ông sĩ quan này nên cấm đoán. Mối tình trở thành vụng trộm. Một ngày kia Caesar Borgia thấy viên sĩ quan này quanh quẩn gần chỗ em gái mình, ông ta rút gươm đuổi theo. Sĩ quan này không dám chống cự, bèn chạy tới ôm lấy Giáo Hoàng để xin che chở. Nhưng Caesar Borgia đã không nể nang gì. Ông ta đâm viên sĩ quan này nhiều nhát đến nổi máu bắn đầu mặt Giáo Hoàng.

Càng đọc Kinh Thánh, tôi càng thấy những sai lầm nghiêm trọng. Thí dụ Kinh Thánh dạy rằng loài người mới có trên trái đất này khoảng 6000 năm. Ngày nay một cậu học sinh trung học cũng biết rằng loài người có mặt trên trái đất này cả triệu năm rồi. Còn sự diễn tả trời đất thì cho thấy tác giả là một người có trí tưởng tượng quá nghèo nàn và hạn hẹp. Ta hãy trích một đoạn Kinh Thánh nói về ngày thứ nhì lúc Chúa sinh ra trời đất:

“Ngày thứ 2: dựng nên vòm trời (GEN.1:6) vòm trời đó cứng nhắc, có thể giữ nước ở phía trên, không cho rơi xuống trần gian. Nó có hình vòng cầu hoặc như cái chảo úp như ta thường trông thấy. Nó chắc chắn là phải hết sức cứng vì có thể chứa một lượng nước khổng lồ ở bên trên. Vòm trời đó theo JOB đã được đúc bằng đồng thay (JOB.37:18). Vòm trời đó có những cửa. Khi muốn có hồng thủy, những cửa trời đó sẽ được mở ra cho nước trên trời tuôn xuống (GEN.7:11). Mặt trăng, mặt trời và các vì sao là những đèm đóm đều nương vào nền trời đó y như những ngọn đèn trên trần nhà (GEN.1:17). Những ngọn đèn đó dĩ nhiên là nhỏ xíu, vì lúc tận thế, tinh tú sẽ rụng xuống trần gian như những trái cây vả chín rơi rụng khi cây vả bị dập vùi trong một trận cuồng phong (GEN.6:13). Cung đình Chúa Cha và tòa ngôi ngài đặt trên vòm trời đó (PSALM.11:4) vì Sáng Thế Ký đã định nghĩa cái vòm trời đó là Trời (GEN.1:8).

Chúa Giêsu cũng xác quyết Chúa Cha ở trên đó khi Ngài dậy cầu xin: Lạy Cha chúng con ở trên trời (MAT.6:9). Vòm trời đó có nhiều cột chống đỡ (JOB.27:11) và trái đất cũng có nhiều cột chống đỡ (JOB.9:6). Đất được Chúa đặt vững trên mặt nước (PSALM 136:6), muôn đời đứng yên một chỗ.”

Nếu nói thêm về những sai lầm trong Kinh Thánh thì thật dài dòng. Trong một bài viết ngắn ngủi tôi không thể viết hết được. Các bạn nào muốn tìm hiểu sẽ đọc sách thêm. Trong cuốn Kinh Thánh Của Những Người Không Tin Chúa (The Bible Handbook For Atheists) của 2 tác giả, tiến sĩ G.W.Foote và W.P.Ball đã tìm ra tới 870 điều sai lầm trong Kinh Thánh. Bạn nào muốn đọc xin cứ tới các thư viện của Mỹ, hoặc gởi mua với giá 3.95 đô la theo địa chỉ American Atheist Press: 2210 Hancock Drive, Austin, Texas 78756. Kinh Thánh có nhiều sai lầm như thế nên nếu bảo rằng tin tưởng hoàn toàn ở cuốn sách đó sẽ được lên Thiên Đàng, chắc chắn cũng sai nốt.

Bác sĩ Nguyễn Văn Thọ sinh trưởng trong một gia đình đạo gốc. Cũng như nhiều người Công giáo khác, ông được trọng dụng, được qua Mỹ du học từ sớm, được giữ chức vụ chỉ huy (Giám đốc Tổng Y Viện Duy Tân). Nếu ông không xin giải ngũ thì chức vụ Cục Trưởng Cục Quân Y đối với ông không khó khăn gì vì ông còn là đàn anh của nhiều vị Cục trưởng. Thế nhưng, ta hãy đọc lời ông viết:

“Năm 36 tuổi, nhân khảo về Khổng giáo, tôi được một sự giác ngộ nội tâm, nên đã bừng tỉnh giấc Nam Kha và đã nhìn thấy rõ những sự sai trái thấp kém của Thiên Chúa giáo. Cho tới ngày nay, mỗi khi nghĩ lại sự mình thoát khỏi được Thiên Chúa giáo để đi vào chánh đạo giải thoát nội tâm, tôi cho là một đại hồng ân của trời đất”.

Trong một đoạn khác, ông viết rằng những người Thiên Chúa giáo không chịu đọc sách tìm hiểu nhiều, đều là những người đã “bị lừa bịp bởi một lời nói láo vĩ đại” (lời nói láo rằng “họ sẽ lên Thiên Đàng sau khi chết”).

Tôi may mắn chịu khó đọc sách nhiều nên cũng kịp thoát như ông. Thấy tôi không còn tin tưởng gì về cái Thiên Đường bánh vẽ nữa, một vị linh mục đã nói với tôi:

- Con đừng bỏ đạo vì chắc chắn con sẽ là một nhà lãnh đạo tương lai của nước Việt Nam. Bởi vì Công giáo sẽ nắm chính quyền là điều chắc chắn, và sẽ nắm vĩnh viễn! Đảng Cộng Sản cho dù giỏi lắm cũng chỉ tồn tại được 10, 15 năm nữa là cùng. Chúng ta không cần phải chống đối gì họ cho thiệt hại! Chỉ cần âm thầm củng cố lực lượng. Bởi vì, so sánh về tương quan lực lượng thì Công Giáo có 7 triệu Đảng viên hết sức trung thành, có đoàn ngũ, có kỷ luật, lại được hỗ trợ bởi tòa thánh Vatican với một tài sản khổng lồ (3000 tỉ đô la), được hỗ trợ bởi Mỹ, và các quốc gia Tây Phương hùng mạnh. Đảng Cộng sản chỉ có khoảng 2 triệu Đảng viên, lỏng lẻo và đang có triệu chứng rạn nứt sau khi bị Đông Âu bỏ rơi. Chúng ta chỉ cần tranh đấu (hoặc xúi người khác tranh đấu) cho một nền dân chủ đa nguyên là chúng ta sẽ thắng ngay. Bởi vì ở Mỹ như con biết, dù bầu cử tự do, nhưng ứng viên nào nhiều tiền chắc chắn sẽ thắng! Ở Việt Nam mặc dầu Phật giáo thường rêu rao rằng có tới 80% là Phật tử, nhưng những người theo Đạo Phật thực sự hiểu biết giáo lý có lẽ không tới 0.1%. Những Phật tử lưng chừng ta lôi kéo họ rất dễ, nhất là người Việt Nam nào cũng thường có tật bất mãn với chính quyền!

Thì ra chính tôi cũng đang bị mua chuộc bởi một chức vụ lãnh đạo trong tương lai! Nhưng tôi vốn là một con người suy tưởng. Tôi cho rằng khi ta già rồi, nhìn lại cuộc đời chỉ là một chuỗi ngày vất vả, tranh dành tiền bạc, tranh dành địa vị, tranh dành ái tình, thì thật là đáng buồn. Cuộc đời phải có một ý nghĩa gì khác nữa chứ. Nhiều người quan niệm một cách hời hợt rằng “đạo nào cũng tốt cả, cũng dạy người ta ăn hiền ở lành”. Nhưng đọc kỹ lịch sử nhân loại thì tôi không tin như vậy! Tôi sẽ tìm hiểu kỹ hơn. Lịch sử đã ghi rằng những đế quốc hhùng mạnh xưa kia như đế quốc Hy Lạp, đế quốc La Mã, đế quốc Ba Tư, đế quốc Mông Cổ, đến ngày sụp đổ là do những khủng hoảng nội tại chứ không phải do ngoại nhân đánh phá. Sự sụp đổ của đế quốc Cộng sản Liên Xô gần đây cũng không ra ngoài định luật này. Một khi những khủng hoảng nội tại không giải quyết được thì đế quốc sẽ sụp đổ.

Nước Mỹ hiện đang trải qua một cuộc khủng hoảng tinh thần hết sức trầm trọng, hậu quả khó lường. Theo thống kê chính thức của chính phủ Mỹ được công bố trên nhiều tờ báo, thì tại Mỹ hiện nay:

- Cứ 5 người thì 1 người có vấn đề thần kinh.

- Cứ 5 gia đình thì có 1 gia đình loạn luân (thường là sự giao hợp giữa người cha và con gái).

- 1 trong 4 người da đen ở trong tù. Số người da đen ở trong tù nhiều hơn số tốt nghiệp đại học.

- Mỗi ngày có 100,000 học sinh mang súng tới trường. Nghề dạy học ở Mỹ là nghề bạc bẽo nhất.

- Tỷ số tội phạm cao hơn 60 lần so với Nhật Bản.

Với những con số như trên, người Mỹ đang cố gắng đi tìm một cái phao để tự cứu vớt. Và họ đã tìm thấy: Đó là sự nghiên cứu và thực hành các đạo lý Đông phương. Các trung tâm THIỀN mọc lên như nấm ở khắp nước Mỹ. Các đạo sĩ Ấn Độ, Nhật Bản, Việt Nam, Trung Hoa, Tây Tạng, sang Mỹ giảng đạo được người Mỹ xin làm đệ tử rất đông. Nhiều người được chính phủ Mỹ tài trợ mở cả trường đại học (như Ngài Maharishi ở Iowa). Riêng thành phố nhỏ bé Berkeley có tới 7 trung tâm Thiền. Nhiều đại học danh tiếng Mỹ (như Harvard, UC Berkeley ...) đã mở phân khoa Phật học. Các nhà trí thức Âu Châu cũng đang gia công nghiên cứu về Thiền và coi Thiền như một phương cách mang an lạc cho tâm hồn. Dân chúng Mỹ và Âu Châu đang đua nhau hành Thiề⮬ từ bỏ những giáo điều cũ đã trói buộc họ suốt bao thế kỷ, khiến Giáo Hoàng rất sốt ruột phải viết một cuốn sách để đả phá và xuyên tạc Đạo Phật. Ngài ngăn cấm các tín đồ Công Giáo không được hành Thiền. Nhưng ở đời cái gì càng ngăn cấm, người ta lại càng tò mò tìm hiểu.

Riêng tôi không a dua theo học để trở thành Phật tử một cách dễ dàng. Bởi vì tôi rất thận trọng và sẽ không theo một tôn giáo nào, nếu tôn giáo đó không hội đủ những điều kiện dưới đây:

- Tôn giáo đó đã có từ ngàn xưa và suốt giòng lịch sử xem ra có lợi cho nhân loại.

- Tôn giáo đó đem lại từ bi bác ái thật sự, không bao giờ truyền đạo bằng gươm súng, không giết người. Các tín đồ không bao giờ cho phép các vị lãnh đạo được dùng tôn giáo như một công cụ để chinh phục, để xâm lược bằng quân sự và ngoại giao.

- Tôn giáo đó phải đem lại sự an lạc trong tâm hồn mỗi người từ khi còn sống.

- Tôn giáo đó cho phép tín đồ được tự do nghiên cứu các tôn giáo khác.

- Khoa học càng tiến bộ thì những điều dạy trong kinh sách của tôn giáo đó càng được chứng minh, không bị đào thải.

- Và tôn giáo đó không bao giờ coi mỗi tín đồ như một khách hàng, không phải đóng tiền cho một giáo hội quốc tế.

Tôi chưa nghiên cứu kỹ đạo Phật qua những vấn đề kể trên, do đó trên nguyên tắc tôi vẫn là người Công giáo. Và tôi rất kính trọng Giáo Hoàng khi Ngài dạy rằng:

“Bước sang thế kỷ 21, người Công giáo phải dọn mình công khai ăn năn sám hối về những tội lỗi mà những người Thiên Chúa giáo thuộc giáo hội La Mã đã phạm trong qúa trình lịch sử do việc bảo vệ đức tin một cách nhiệt thành và sai lầm”.

Tôi tin rằng Ngài là một con người có lương tâm trong trắng và tôi theo dõi xem những người Công giáo Việt Nam (trong đó có cả tôi và bạn bè tôi) sẽ ăn năn sám hối ra sao về những tội lỗi đã gây ra trên quê hương Việt Nam, một quê hương có quá nhiều đau khổ tủi nhục suốt 100 năm qua, kể từ khi người Công giáo tiếp tay cho thực dân xâm lược.


04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com