giao diem 3-2005

posted: 07.3.2005

Sau khi web Giao Điểm đăng bài “Kiến nghị 5B…” của ông Phan Đình Diệm vào tháng 2/05, chúng tôi đã nhận rất nhiều điện thư của độc giả mong được nghe quan điểm chính thức của GĐ về những điểm “không đồng ý kiến” với bài “Kiến nghị..” như đã thông báo. Để đáp ứng sự mong đợi đó, lần này GĐ xin giới thiệu “Vài ý kiến...” của GS Trần Chung Ngọc. Thay lời cho số bạn đọc này, web GĐ xin cảm ơn GS Trần Chung Ngọc.
VÀI Ý KIẾN VỀ :
“KIẾN NGHỊ 5B CỦA ÔNG PHAN ĐÌNH DIỆM”

Trần Chung Ngọc

Trang Nhà Giao Điểm tháng 2, 2005, có đăng bản Kiến Nghị 5B của ông Phan Đình Diệm, Hội Trưởng “Học Hội Giêsu Giáo Việt Nam” ở Houston, Hoa Kỳ, gửi các chức sắc cao cấp trong Giáo Hội Ca-Tô Rô-ma tại Việt Nam.  Bản Kiến Nghị cũng gửi đến:

+ Quý Thần Học Gia và Triết Gia Việt Nam trong và ngoài Nước.

+ Quý vị quan tâm đến Giáo Hội của Đức Giêsu tại Việt Nam.

Tôi không phải là một Thần Học Gia hay Triết Gia nhưng tôi rất quan tâm đến tổ chức mà ông Phan Đình Diệm gọi là “Giáo Hội của Đức Giêsu tại Việt Nam”.  Tôi sẽ luận về danh xưng này trong một đoạn sau.  Giao Điểm đã khẳng định là: “Việc đăng lại bài “Kiến Nghị” này thể theo lời ‘thỉnh cầu’ của tác giả Phan Đình Diệm, và cũng là dịp để tỏ tình thân hữu của GĐ; không phải vì toàn bộ nội dung của “Kiến nghị” đều phù hợp với quan điểm chủ trương của chúng tôi. Vì vậy, chúng tôi yêu cầu tác giả sẽ vui lòng mở ngỏ cho cuộc đóng góp ý kiến từ mọi giới độc giả.”   Vì thế cho nên tôi xin có vài ý kiến về bản Kiến Nghị của ông Phan Đình Diệm.

Nhận xét tổng quát của tôi sau khi đọc bản kiến nghị của ông Phan Đình Diệm là thấy tác giả viết để mà viết, nhiều khi không biết là mình đã viết cái gì.  Đọc thoáng qua, chúng ta có cảm tưởng là tác giả đã tỉnh cơn mê Công Giáo truyền thống, nhưng đọc kỹ thì thấy tác giả đang ở trong tình trạng nửa tỉnh nửa mê, mê nhiều hơn tỉnh, và vì vậy trong bản kiến nghị không thiếu gì những điều bất cập, mâu thuẫn, và pha trộn không ít hoang tưởng.  Một điểm rõ rệt khác là tác giả, nghe nói là một cựu linh mục, có vẻ như không hề đọc Kinh Thánh cho nên nhiều chỗ viết không đúng với Kinh Thánh, để đánh bóng khuôn mặt của Giê-su theo sự hoang tưởng của tác giả.  Những nhận xét này sẽ được chứng minh trong phần phân tích sau đây.

Bản kiến nghị gồm có 5 phần và phần kết.  Phần đầu luận về Thế Cuộc Đại Chiến Ác-ma-ghét-đôn, Ác-ma-ghét-đôn là phiên âm của từ Armageddon mà tác giả nói là mượn từ sách Khải Huyền ở cuối Tân Uớc, nhưng lại không hiểu rõ thế nào là Armageddon cho nên tác giả đã mượn một từ không thích hợp;  Phần II có chủ đề “Giáo Hội Của Đức Giêsu Tại Việt Nam Đã Tự Lực Vượt Thoát Ra Ngoài “Ác-ma-ghét-đôn”; Phần III, tác giả viết về một điều hoang tưởng: “Hội Đồng Giám Mục Việt Nam Rước Đức Giêsu Na-da-rét Về Nguyên Quán Đông Phương Vào Nhà Văn Hóa Và Linh Đạo Việt Nam” mà không xét đến việc nhân vật Giêsu thực trong lịch sử, với giáo lý và đạo đức của ông ta,  như được viết trong Tân Ước, có thực sự đáng để cho nhà văn hóa và linh đạo Việt Nam dung nạp hay không;  Phần IV, tác giả viết về “Mùa Noel Ác-ma-ghét-đôn Tại Hoa Kỳ”; Phần V, nội dung của Kiến Nghị, có đầu đề “Học Hội Giêsu Giáo Việt Nam Đề Nghị Phương Án “Aggiornamento Việt Nam”” (Aggiornamento có nghĩa là cập nhật hóa với thời đại); và cuối cùng là Phần Kết.

Vì nội dung kiến nghị nằm trong Phần V nên tôi xin tự hạn trong việc phê bình phần này và một vài điều lặt vặt trong các phần khác mà tôi nghĩ cần phải làm sáng tỏ. Trước hết chúng ta hãy đi vào vấn đề chính danh.

Trong Phần V, tác giả đề nghị 10 phương án “Aggiornamento Việt Nam”, mở đầu bằng:

Việt Nam Aggiornamento thứ nhất : "Hiến Pháp, Quốc Hội, Chính Quyền và Người Dân Âu Châu đã đồng thuận "gạt thiên chúa sang bên lề lục địa Âu Châu", đúng như lời tuyên bố của Hồng Y Joseph Ratzinger, có nghĩa là Giáo Hội đã lâm nguy hấp hối, chín phần chết một phần sống, và cái tên "Công Giáo" đã chết rồi trong lòng Người dân Âu Châu. Cái tên "Công Giáo" của các Hoàng Đế Roma ban cho Giáo Hội Roma làm "Quốc Giáo", đã mất hết ý nghĩa và không còn lý do tồn tại. Mùa Christmas năm nay tại Hoa Kỳ, Người Dân Mỹ giảm thiểu truyền thống chào nhau là Merry Christmas, và chỉ nói đơn giản là Merry Holyday. Christmas Party cũng đổi thành Holyday Party. Người Dân Mỹ bắt đầu tẩy chay Đấng Christ, ố kỵ Đấng Christ, nhiều bài báo xuất hiện tiêu đề "The Season Of Christophobia" [có nghĩa là Mùa Bài Christ. TCN]. Học Hội chúng tôi đề nghị cải danh: Giáo Hội của Đức Giêsu tại Việt Nam thành chính danh là "GIÊSU GIÁO VIỆT NAM."

Đọc đoạn trên, tôi có cảm tưởng là đầu óc của ông Phan Đình Diệm hơi bất bình thường.  Bởi vì cải danh Giáo Hội của Đức Giêsu tại Việt Nam thành chính danh là "GIÊSU GIÁO VIỆT NAM" thì chỉ là đổ rượu cũ vào một bình mới.  Trên trang nhà Giao Điểm, tháng 10, 2003, có bài của Charlie Nguyễn nhan đề “Vài nhận xét về “Thư Góp Ý Pháp Lệnh Tôn Giáo” của ông Phan Đình Diệm, chủ quản Học hội Giêsu giáo.”, trong đó Charlie Nguyễn đã chứng minh rằng cái tên “Giêsu Giáo” thật là vô nghĩa.

Vấn đề không phải là danh xưng của một tổ chức tôn giáo mà là bản chất của tổ chức đó như thế nào, và nhất là vết hằn lịch sử của tổ chức tôn giáo đó trên đại khối dân tộc ra sao. Nhưng vấn đề chính ở đây là ở chỗ ông Phan Đình Diệm muốn giữ lại đồ phế thải của Âu, Mỹ, nghĩa là Đấng Christ, alias Giêsu, để thờ phụng tại Việt Nam.  Ông muốn Việt Nam phải trân quý một đồ mà Âu Mỹ đã "gạt thiên chúa [alias Giêsu] sang bên lề lục địa Âu Châu"“Người Dân Mỹ bắt đầu tẩy chay Đấng Christ (alias Giêsu), bài đấng Christ.”  Như vậy, chính Âu Châu và Mỹ đang thực hiện Aggiornamento một cách tích cực để loại bỏ những sản phẩm đã không còn giá trị trong thời đại ngày nay.   Phải chăng ông Diệm cho rằng dân tộc Việt Nam vẫn còn mọi rợ, không biết thế nào là Aggiornamento mà phải đi hứng lấy đồ phế thải của Âu Mỹ?  hay là người dân Âu Mỹ còn mọi rợ cho nên không còn biết trân quý một người Do Thái tên là Giêsu?.  Vì thế tôi mới nói là ông Diệm nửa tỉnh, nửa mê.  Tỉnh Công Giáo nhưng vẫn còn mê Giêsu, và còn mê nặng.  Ông ấy mê Giêsu nhưng lại không để ý đến sự mâu thuẫn cùng cực trong đoạn trên và trong đoạn mở đầu của Phần I mà tôi sẽ phân tích sau.

Thực ra, nếu phân tích kỹ vấn đề, thì nhân danh Giê-su để lập giáo hội, bất cứ dưới danh xưng nào, đều không có chính danh, thực chất chỉ là ngụy giáo hội đầy tính thế tục chứ chẳng liên quan gì đến Giêsu cả.  Tại sao?  Vì ngày nay, các học giả chuyên gia về Ki-tô giáo cũng như tất cả các nhà thần học lương thiện trong Ki-tô Giáo, đều chấp nhận sự kiện là Giê-su không bao giờ có ý định thành lập một giáo hội. 

Trong cuốn Sự Thật Về Giáo Hội Công Giáo (The Truth About The Catholic Church), Linh mục Joseph McCabe viết:

     “Trong tất cả những chuyện giả tưởng vẫn còn được ẩn núp dưới cái dù dột nát “Chân lý Công Giáo”, truyền thuyết về chế độ giáo hoàng được thành lập bởi Chúa và hệ thống giáo hoàng thật đúng là lì lợm và có tính cách hư cấu nhất.  Chẳng có quyền lực thần thánh nào, mà chỉ là một chuỗi những ngụy tạo và cưỡng bách, những lừa đảo tôn giáo và tham vọng  ngỗ ngược, phạm phải trong một thời đại cực kỳ ngu si, đã dựng lên quyền lực của giáo hoàng, hệ thống giáo sĩ và tín ngưỡng.

     Từ “Giáo hội” chẳng có nghĩa gì trong thời của Giê-su và Phê-rô.  Không có từ đó trong tiếng Aramic [thứ tiếng mà Giê-su nói. TCN].  Giê-su đã phải nói là “Giáo đường” [nơi tụ tập cầu nguyện của người Do Thái], và ông ta ghét những Giáo đường.”

    (Of all the fictions which still shelter from the storm of modern criticism under the leaky umbrella of “Catholic Truth”, the legend of the divine foundation of the Papacy and the Papal system is quite the boldest and most romantic.  No divine force, but a pitifully human series of forgeries and coercions, of pious frauds and truculent ambitions, perpetrated in an age of deep ignorance, built up the Papal power, hierarchy and creed...

     The word “church” had no meaning at all in the days of Christ and Peter.  There was no such word in Aramaic.  Christ would have had to say “synagogue”; and he hated synagogues.)

Điều này thật là rõ ràng khi chúng ta đọc nhận định sau đây của Nữ giáo sư thần học Ca-tô Uta Ranke-Heinemann:

Giê-su không hề có ý định thành lập một “giáo hội”, nhất lại là một “giáo hội phổ quát”.  Thí dụ chân thực về quan điểm của Giê-su, chúng ta hãy xét đoạn văn trong Thánh Kinh, Matthew 10: 5-6, nội dung đối ngược hẳn với nhiệm vụ truyền giáo trên thế giới: “Mười hai tông đồ Giê-su phái đi để truyền đạo với lời dặn dò: “Không được đi đến nơi nào có dân Gentiles, và không được vào thành phố nào của dân Samaritan, mà chỉ đi đến những con dân Do Thái bị lạc” (nghĩa là chỉ đi rao truyền đạo Chúa trong dân Do Thái mà thôi.  Và câu tiếp theo trong Thánh Kinh, Matthew 10:7 là “Trong khi đi hãy rao truyền tin Nước Trời đã gần đến rồi”. TCN).  Hai đoạn khác là trong Matthew 15:24: “Ta được phái xuống trần chỉ để cứu đàn chiên Do Thái bị lạc mà thôi”, và 10: 23: “Ta bảo đảm với các ngươi, các ngươi chưa đi hết các thành phố của Do Thái thì Con của Người (nghĩa là Ta: Giê-su) đã đến rồi”.

   Chính Giê-su - và ngày nay mọi nhà thần học đều biết vậy – tin rằng Nước Chúa sắp tới.  Điều này đối ngược với nhiệm vụ truyền bá đạo một cách đại qui mô trên thế giới.

(Ranke-Heinemann, Uta, Putting Away Childish Things, Harper-Collins., San Francisco, 1995, p. 215:   Jesus has no intention of founding a “church” and certainly not a “church universal.”  For an authentic example of Jesus’ view, consider Matt 10:5-6, which expresses the exact opposite of a universal commission: “These twelve Jesus sent out, charging them, “Go nowhere among the Gentiles, and enter no town of the Samaritans, but go rather to the lost sheep of the house of Israel.”  Two further authentic passages are Matt 15:24, “I was sent only to the lost sheep of the house of Israel,” and Matt. 10:23, “You will not have gone through all the towns of Israel, before the Son of Man comes.”  ...Jesus himself – and all theologians have by now acknowleged this – believed that the Kingdom of God would be coming soon.  But that is the opposite of a world mission in the grand style.)

Cũng vì những bằng chứng không thể chối cãi được ở ngay trong Tân Ước mà khi được hỏi rằng: “Giê-su có ý định thành lập một tôn giáo mới, tôn giáo mà ngày nay chúng ta gọi là Ki Tô Giáo, hay ít nhất là tạo ra một giáo hội Ki Tô tách biệt (ra khỏi Do Thái giáo. TCN) không?” (Did Jesus intend to found a new religion, the one we now call Christianity, or at least create a separate Christian church?), linh mục John Dominic Crossan, Giáo sư danh dự về Nghiên Cứu Kinh Thánh tại Đại học DePaul, Chicago (Professor Emeritus of Biblical Studies at DePaul University in Chicago) đã trả lời: “Trả lời cho câu hỏi đó là một chữ “Không” quyết định” (Crossan, John Dominic & Watts, Richard G., Who Is Jesus?  Answers To Your Questions About The Historical Jesus, Westminster John Knox Press, Kentucky, 1996, p. 82: The answer to that is an emphatic NO).

Như vậy, khi ông Phan Đình Diệm nói đến một “Giáo Hội của Đức Giêsu tại Việt Nam” hay “Giêsu Giáo Việt Nam”, nếu có một giáo hội này, thì thực ra đó chỉ là một “ngụy giáo hội” cũng như là Ki-tô Giáo nói chung.  Đã là ngụy thì không thể chính danh.  Mặt khác, thực tế thì không làm gì có “Giáo Hội của Đức Giêsu tại Việt Nam” hay “Giêsu Giáo Việt Nam” mà chỉ có “Công Giáo La Mã tại Việt Nam”, một giáo hội lệ thuộc phần hồn cũng như phần xác một tập đoàn cai trị độc đoán ngự trị ở Vatican.  Tách khỏi Vatican thì “Công Giáo La Mã tại Việt Nam” hết chỗ chống lưng, và do đó không còn chỗ nào đứng trong lòng dân tộc, bất kể là đổi danh hiệu ra sao.

Mở đầu Phần I, ông Phan Đình Diệm viết:

"Học Hội Giêsu Giáo Việt Nam chúng tôi loại bỏ "Sách Khải Huyền" trong học trình, nhưng bây giờ chúng tôi bất đắc dĩ mượn một từ "Ác-ma-ghét-đon" (Armageddon) của Khải Huyền để đặt tên cho cuộc đại chiến trường kỳ ác liệt thế kỷ XX giữa hai đối thủ giao chiến chính là Giáo Hội Công Giáo Roma và Bè Nhiệm Tam Điểm (Hội Kín Tam Điểm - Free Mason - Franc MaÇon)."

Rồi ông viết về những cuộc chiến tranh trong Thế Kỷ 20: Thế Chiến Thứ Nhất, Thế Chiến Thứ Hai, và Thế Giới phân tranh Tư Bản Cộng Sản... Các Nhà Độc Tài nổi lên như nấm: Benito Mussolini,  Xít-ta-lin, Hít-le, Franco.. Trong suốt thế kỷ 20, Ác-ma-ghét-đon càng mở rộng, càng leo thang, càng tiếp nối nhau, càng khốc liệt, càng tàn phá v.v... và những chuyện chẳng dính líu gì đến nội dung Kiến Nghị.

Tôi không mấy quan tâm đến những điều ông Phan Đình Diệm viết trong phần này mà chỉ quan tâm đến từ Armageddon mà ông dùng và nhất là chủ trương “loại bỏ "Sách Khải Huyền" trong học trình” của ông.  Loại bỏ sách Khải Huyền, ông Diệm đã coi Ki-tô Giáo như là một nhà hàng Cafeteria, vào trong đó thích gì thì lấy ăn, không thích thì bỏ đi.  Đây không phải là một thái độ lương thiện trí thức trong vấn đề học thuật.  Mặt khác, Thánh Kinh là những lời mạc khải của Thiên Chúa.  Hoặc là ông tin, hoặc là ông không tin, chứ không thể bỏ đi những điều ông không ưa một cách độc đoán.  Ông không thể chỉ nhìn thấy những chỗ sạch trên mặt Chúa và bỏ qua những vết nhơ không thể tẩy xóa được trên mặt Chúa.

Thứ nhất, Armageddon là tên một địa danh trong sách Khải Huyền (Rev. 16:16: Then they gathered the kings together to the place that in Hebrew is called Armageddon). Theo cuốn Những Danh Từ Thần Học Trong Kinh Thánh (A Theological Word Book Of The Bible) của Alan Richardson thì Armageddon hay Harmagedon có thể là ngọn đồi Megiddo ở phía Bắc Palestine (the hill (Har) of Megiddo in northern Palestine).  Về sau, nền thần học Ki-tô Giáo đã diễn giải Armageddon là trận chiến cuối cùng giữa Giê-su và Satan, khi Giêsu trở lại trần (Second coming), và lẽ dĩ nhiên là Giê-su thắng, dù trong suốt 2000 năm nay, Giêsu luôn luôn thảm bại trước Satan.  Cho nên, áp dụng từ Armageddon vào những sự kiện lịch sử, những nhà độc tài, những cuộc chiến tranh lớn nhỏ trên thế giới trong thế kỷ 20 là không thích hợp nếu không muốn nói là vô nghĩa.

Thứ nhì, một khi đã loại bỏ Sách Khải Huyền thì không có lý do gì để giữ lại Giê-su vì Kinh Thánh viết rõ tên sách Khải Huyền: “The Revelation of Jesus Christ”, có nghĩa là “Lời khải thị của Giê-su Ki Tô”, và câu đầu trong sách Khải Huyền viết rõ: “Rev. 1: 1: The Revelation of Jesus Christ, which God gave Him to show to His servants – things which must soon take place, He made it known by sending his angel to his servant John....” [TCN tạm dịch: Lời khải thị, hay mạc khải, của Giê-su Ki-tô mà Chúa Cha đã ban cho ông ta để tỏ cho các tôi tớ của ông ta thấy những điều sắp phải xảy ra.  Giê-su tỏ điều khải thị này (cho các tôi tớ) bằng cách sai thiên sứ của ông ta đến với kẻ tôi tớ của ông ta là John (Gio-an hay Giăng)...].  Như vậy, muốn loại bỏ sách Khải Huyền, hàm ý sách này vô giá trị, thì đương nhiên cũng phải loại luôn Giêsu chứ giữ lại Giêsu làm gì, vì Giêsu chính là tác giả chính của sách đó.   Một cuốn sách vô giá trị thì không thể viết bởi, hay hơn nữa, mạc khải bởi một người có giá trị.  Do đó, loại bỏ sách Khải Huyền mà còn giữ lại Giêsu là một sự cực kỳ mâu thuẫn về phương diện trí thức, học thuật, vì nó quá vô lý. Nó tương tự như loại bỏ sự tàn sát 6 triệu người Do Thái của Hitler nhưng giữ lại Hitler để mà thờ phụng.  Mà thực ra, chủ trương của Thiên Chúa, cũng là Chúa Giêsu, trong sách Khải Huyền còn kinh khủng hơn chủ trương của Hitler nhiều.   Hitler chỉ chủ trương tiêu diệt người Do Thái, còn Chúa Giêsu chủ trương tiêu diệt tất cả loài người, trừ 144000 người thuộc 12 bộ lạc Do Thái như được viết rõ trong sách Khải Huyền [Xin đọc chi tiết trong bài Ngày Tận Thế Của Ki Tô Giáo trên trang nhà Giao Điểm, tháng 9, 2004]   Đây là một trong rất nhiều vết nhơ trên mặt Thiên Chúa mà không ai có thể tẩy xóa được.

 Trong Phần II, ông Phan Đình Diệm viết:

“Bây giờ đã đến lúc tư tưởng của Đức Giêsu có thể đến thẳng với các Dân Tộc Á Châu. Ngôn ngữ Kinh Thánh (Tin Mừng) quả thật gần với ngôn ngữ các thánh hiền Đông Phương hơn là ngôn ngữ của các nhà tư tưởng Tây Phương.  Do đó chúng tôi nghĩ nên có một nền Kitô học Châu Á và một nền thần học Châu Á mang một sắc thái nhân bản và hiện sinh hơn.”

Lẽ dĩ nhiên ông Phan Đình Diệm không cho chúng ta biết những tư tưởng nào của Đức Giê-su qua ngôn ngữ Kinh Thánh (Tin Mừng) gần với ngôn ngữ các thánh hiền Đông Phương hơn là ngôn ngữ của các nhà tư tưởng Tây Phương.   Ông viết cho những người chưa hề đọc Kinh Thánh.  Bởi vì trong Kinh Thánh không có Tin Mửng.  Chứng minh?

Nếu đọc kỹ Tân Ước, chúng ta phải biết rằng Giêsu tự nhận là con của Thần Gia-vê của dân Do Thái, xuống trần chỉ để cứu dân Do Thái mà thôi, và coi những người không phải là Do Thái là chó.  Đây không phải là Tin Mừng cho người Việt Nam.  Chúng ta cũng phải biết trong Tân Ước, Giê-su đã nguyền rủa những người không chịu tin theo ông là đồ rắn rết và dọa đầy đọa họ xuống hỏa ngục, bị thiêu đốt bởi ngọn lửa vĩnh hằng.  Đây không phải là Tin Mừng cho hơn 90 phần trăm người dân Việt Nam.  Và, trong gần 2000 năm nay, tin mừng, tin vui của Giêsu đã mang tới những kết quả gì cho nhân loại?  Thánh chiến, tòa án dị giáo, phá hủy tượng thờ của các tôn giáo khác, đồng lõa với thực dân đi xâm lăng để truyền đạo v..v..?  Vậy thì tin mừng, tin vui cho ai?  Cho những người không tin Giê-su?  Mở Tân Ước ra mà đọc thì sẽ thấy tất cả các giải đáp, và không có giải đáp nào phù hợp với những lời khẳng định vô trách nhiệm của ông Phan Đình Diệm.

    Tôi không muốn lôi những giải đáp trên từ Thánh Kinh ra, để cho ông Phan Đình Diệm tìm lấy mà đọc vì tôi tin chắc rằng ông chưa hề đọc kỹ Tân Ước.  Ở đây tôi chỉ nêu lên 3 nhận định của ba học giả Ki Tô: một giám mục, một học giả Ca-Tô, và một nhà tư tưởng tự do (free thinker):

a). Giám mục Tân Giáo (Episcopal) John Shelby Spong viết trong cuốn Hãy Cứu Cuốn Thánh Kinh Ra Khỏi Phái Bảo Thủ  (Rescuing The Bible From Fundamentalism), trang 21:

   “Có những đoạn trong 4 Phúc Âm mô tả Giê-su như là một con người thiển cận, đầy hận thù, và ngay cả đạo đức giả.”

   (There are passages in the Gospels that portray Jesus of Nazareth as narrowed-minded, vindictive, and even hypocritical).

Điểm qua vài hành động của Giêsu trong Tân Ước, Giám Mục Spong đưa ra nhận định:

Chúng ta có thấy hấp dẫn đối với một Chúa phải giết cả một bày heo để đuổi một con quỷ ra khỏi thân người hay không?  Chúng ta có nên khâm phục và kính trọng người mà chúng ta gọi là Chúa đã nguyền rủa một cây sung khi nó không ra trái lúc trái mùa không?...

Cuốn Thánh Kinh đã làm cho tôi đối diện với quá nhiều vấn đề hơn là giá trị.  Nó đưa đến cho tôi một Thiên Chúa  mà tôi không thể kính trọng, đừng nói đến thờ phụng.

(John Shelby Spong, Rescuing The Bible From Fundamentalism, pp. 21,24:  Are we drawn to a Lord who would destroy a herd of pigs in order to exorcise a demon?  Are we impressed when the one we call Lord curses a fig tree because it did not bear fruit out of season?...

A literal Bible presents me with far more problems than assets.  It offers me a God I cannot respect, much less worship.)

   Hiển nhiên là một con người thiển cận, đầy hận thù, và đạo đức giả, tâm địa tàn nhẫn như trên thì không thể nào mang được tin mừng, tin vui nào cho nhân loại, mà phần chắc là mang tới những tin xấu, tin dữ, phản ánh chính cá tính của mình.  Thật vậy:

b). Học giả Catô David Voas, giáo sư đại học bang New Mexico, viết trong cuốn Thánh Kinh Mang Tới Tin Dữ: Cuốn Tân Ước (The Bad News Bible: The New Testament), trang 1-2:

   “Vấn đề là người ta nghĩ rằng người ta biết ở trong Kinh Thánh có những gì, hoặc ít nhất là Kinh Thánh chứa loại tài liệu gì.  Hầu hết đều lầm, họ chỉ quen thuộc với vài đoạn trích dẫn đã được giáo hội chấp thuận, và họ sẽ ngạc nhiên khi thấy không những Thiên Chúa trong Cựu Ước khủng khiếp dễ sợ như thế nào, mà con của hắn (Giêsu) trong Tân Ước cũng còn ở dưới mức hoàn hảo khá xa.  Thông điệp của Giêsu không hẳn toàn là tin mừng, thiên đường nhiều nhất là một viễn cảnh không chắc chắn.  Xét về toàn bộ thì rất có thể đó là cuốn Kinh Thánh (Tân Ước) mang tới tin dữ.”

   (The problem is that people think they know what’s in the Bible, or at least what kind of material it contains.  Most of them are wrong: they are only familiar with a few church-approved extracts, and are atonished not just how awful God is in the Old Testament, but also at how much less than perfect his son seems in the New.  The message of Jesus isn’t all good news; paradise is an uncertain prospect at best.  Taken as a whole, it could well be the Bad News Bible.)

   Tại sao lại là Tin Dữ?  Chúng ta hãy đọc Robert G. Ingersoll:

c). Trong cuốn “Ingersoll: The Magnificent” do Joseph Lewis xuất bản, Robert G. Ingersoll, một nhà tư tưởng tự do nổi tiếng nhất của Mỹ, đã viết, trang 119:

  “Nhân danh chúa Ki Tô, hàng triệu nam nữ đã bị tù đầy, tra tấn và giết hại, hàng triệu người đã bị làm nô lệ.  Nhân danh hắn những tư tưởng gia, khảo cứu gia, bị coi như là những kẻ tội phạm, và những tín đồ theo hắn đã làm đổ máu của những người thông thái, giỏi nhất.  Nhân danh hắn, sự tiến bộ của nhiều quốc gia bị chặn đứng cả ngàn năm.  Trong Phúc Âm của hắn chúng ta thấy cái tín lý về sự đau khổ vĩnh viễn (đày hỏa ngục. TCN), và những lời của hắn đã thêm vào sự chết sự kinh khủng vô tận.  Phúc Âm của hắn chất đầy thế giới với thù hận và trả thù, coi sự lương thiện trí thức như một tội ác, hạnh phúc trên cõi đời là con đường dẫn xuống địa ngục, tố cáo tình yêu thương như là thấp hèn và như súc vật, thánh hóa sự nhẹ dạ cả tin, tôn vinh sự mù quáng và tiêu diệt tự do của con người.  Nhân loại sẽ tốt hơn nhiều nếu cuốn Tân Ước chưa từng được viết ra – chúa Ki Tô theo quan niệm thần học chưa từng được sinh ra.”

   (In Christ name millions of men and women have been imprisoned, tortured and killed.  In his name millions and millions have been enslaved.  In his name the thinkers, the investigators, have been branded criminals, and his followers have shed the blood of the wisest and the best.  In his name the progress of many nations was stayed for a thousand years.  In his gospel was found the dogma of eternal pain, and his words added an infinite horror to death.  His gospel filled the world with hatred and revenge, made intellectual honesty a crime,, made happiness here the road to hell, denounced love as base and bestial, canonozed credulity, crowned bigotry and destroyed the liberty of man.  It would be far better had the New Testament never been written – far better had the theological Christ never lived.)

 d). Không phải chỉ có Ingersoll mới đưa ra những nhận định như trên, mà Will Durant, một sử gia nổi tiếng nhất của Mỹ trong thế kỷ 20, trưởng thành trong một gia đình Catô, học trường học Catô, cũng đã viết trong cuốn sử dày 1196 trang về Thời Đại Của Đức Tin (The Age of Faith), một thời đại mà ông gọi là "Thời đại say men Thượng đế" ( It was a God-intoxicated age, p. 738) như sau, trang 734-736:

   Gây sợ hãi hơn nữa là cái giáo lý "Nhiều người được kêu gọi nhưng chỉ có ít người được chọn" (Matthew xxii, 14).  Những nhà thần học chính thống - Hồi giáo cũng như Ki Tô giáo - khẳng định rằng tuyệt đại đa số nhân loại sẽ xuống hỏa ngục.  Hầu hết các nhà thần học Ki Tô giáo đều tin vào lời mà người ta cho là Giê-su nói: "Kẻ nào tin và đã được rửa tội thì sẽ được cứu rỗi, còn kẻ nào không tin thì sẽ bị đầy đọa hỏa ngục (Mark xvi, 16)".  Thánh Augustine miễn cưỡng kết luận rằng những trẻ sơ sinh chết trước khi rửa tội sẽ xuống hỏa ngục hết..

   Hầu hết những tín đồ Kitô giáo tin rằng tất cả những người Hồi giáo - và hầu hết những tín đồ Hồi giáo tin rằng tất cả những người Kitô giáo - đều xuống hỏa ngục;  và đại cương thì đều cho rằng tất cả những người "ngoại đạo" đều xuống hỏa ngục.  Công Đồng Lateran thứ Tư (1215) tuyên bố là ngoài giáo hội phổ quát (nghĩa là giáo hội Catô Rôma. TCN) không một ai được cứu rỗi...

   Berthold ở Rehensburg, một trong những nhà giảng đạo nổi tiếng nhất ở thế kỷ 13, ước lượng là trong một trăm ngàn người, chỉ có một người được cứu rỗi.

    Một người thợ dệt ở Toulouse, vào năm 1247,  không chịu bị thuyết phục như vậy và phát biểu:

   "Nếu tôi tóm được cái tên thượng đế đó mà trong một trăm ngàn người do chính hắn ta tạo ra, chỉ cứu rỗi có một người và đầy đọa hỏa ngục số còn lại, thì tôi sẽ bẻ gãy hết răng, lột hết móng chân móng tay của hắn ra, coi hắn như là một kẻ phản bội và phỉ nhổ vào mặt hắn."

   (More alarming was the doctrine that "many are called but few are chosen" (Matt. xxii, 14).  Orthodox theologians - Mohammedan as well as Christian - held that the vast majority of the human race would go to hell.  Most Christian theologians took literally the statement ascribed to Christ: "He that believeth and is baptized shall be saved; but he that believeth not shall be damned" (Mark xvi, 16).   St. Augustine reluctantly concluded that infants dying before being baptized went to hell...

... Most Christians believed that all Moslems - and most Moslems believed that all Christians - would  go to hell; and it was generally accepted that all "heathen" were damned.  The Fourth Lateran Council (1215) declared that no man could be saved outside the Universal Church...

 ... Berthold of Regensburg, one of the most famous and popular preachers of the thirteenth century, reckoned the proportion of the damned to the saved as a hundred thousand to one.

   A weaver of Toulouse, in 1247, remained unconvinced.  "If", he said, "I could lay hold on that god who, out of a hundred thousand men whom he has made, saves one and damns all the rest, I would tear and rend him tooth and nail as a traitor, and would spit in his face.")

Tôi không hiểu ông Phan Đình Diệm đã đọc Phúc Âm kỹ tới mức nào mà lại khẳng định rằng ngôn ngữ Kinh Thánh chính là Tin Mừng và Tin Mừng đó lại rất gần với tư tưởng Đông Phương, những lời có vẻ tự tôn nhưng sự thực thì huênh hoang, trống rỗng, không có một căn bản thuyết phục nào, trái ngược hẳn với những kết quả nghiên cứu Tân Ước của giới thức giả?

Theo chính ông viết ở trên thì Giêsu là đồ mà thế giới Tây Phương và Mỹ đang phế thải.   Vậy mà ông lại chọn một đầu đề thuộc loại hốt rác cho Phần III:  “Hội Đồng Giám Mục Việt Nam Rước Đức Giêsu Na-Da-Rét Về Nguyên Quán Đông Phương Vào Nhà Văn Hóa Và Linh Đạo Việt Nam.  Thế nghĩa là thế nào?  Ông và Hội Đồng Giám Mục Việt Nam muốn tiếp tục say men Giêsu thì cứ việc, chẳng có ai buồn phản đối.  Nhưng muốn rước Đức Giêsu vào Nhà Văn Hóa Việt Nam thì không thể được.  Nhà Văn Hóa Việt Nam không thể có chỗ cho một con người thiển cận, đầy hận thù, và ngay cả đạo đức giả, tâm địa độc ác, tàn nhẫn, với trình độ hiểu biết, tư cách, đạo đức không có gì là xứng đáng cả.  Nhà Văn Hóa Việt Nam là gia tài văn hóa của toàn dân Việt Nam, không phải là của riêng của Giêsu Giáo Việt Nam mà muốn nhét ai vào đó cũng được.  Trong cuốn “Who Is Jesus”, trang 46, Linh mục John Dominic Crossan đã giảng về Giêsu như sau:

Giêsu, chúng ta luôn luôn phải nhớ rằng, ông ta không phải là một người có học như một ông thầy giảng ở giai cấp trên mà là một người nhà quê thất học.  Ông ta ăn nói rất hay mà ít có nhà khoa bảng nào có thể đạt tới cùng một trình độ ăn nói như vậy.

(Jesus, we must always remember, was not a literate upper class scribe, but an illiterate peasant.  He spoke with an oral brilliance that few academically trained persons ever attain.)

Như vậy, Giêsu có xứng đáng để vào nhà Văn Hóa Việt Nam hay không?   Văn hóa gì của Giêsu?  Văn hóa du mục tàn bạo, mê tín, sợ hãi thần linh?   Ông Phan Đình Diệm có thể nói rõ hơn cho độc giả biết không?  Hay là chỉ vì Giêsu có tài ăn nói như mấy nhà truyền đạo trên TV ngày nay?

Ông Diệm cũng còn quảng cáo cho cái mà ông gọi là "CAO TRÀO SĨ PHU TRONG HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM", và ông khẳng định:  “Để được gọi xứng danh là "Sĩ Phu", phải hội đủ ít nhất 3 điều răn chủ yếu là:

  • Hiểu biết đúng nhờ trí tuệ và học vấn (chính kiến và chính tư duy)

  • Chí thành nói thật và nói hết (chính ngôn, chính ngữ, và chỉ ư chí thiện)

  • Làm thật và làm đúng (tri hành hợp nhất, chính mệnh, và chính danh)

Ông viết đúng, nhưng đây không phải là những điều răn mà chỉ là một vài trong những điều kiện cần và đủ để xứng đáng làm một sĩ phu Việt Nam.  Nhưng ông chỉ viết mà chơi, chứ phân tích bản kiến nghị của ông thì tôi thấy chính ông không có được bất cứ điều nào trong ba điều trên.  Chứng minh?

Thứ nhất, tôi không biết trí tuệ và học vấn của ông ra sao, nhưng sự hiểu biết của ông không thể gọi là đúng.  Vài phần phân tích ở trên đã chứng tỏ như vậy và trong phần tiếp theo tôi sẽ chứng minh thêm nhiều nữa.

Thứ nhì, ông không có tâm thành nói thật và nói hết, trừ khi ông thuộc lớp người thất học, thiếu hiểu biết, điều mà tôi không tin, vì ông là một cựu linh mục, hội trưởng học hội Ki Tô Phục Sinh.

Thứ ba, không hiểu biết đúng thì không thể làm thật làm đúng, nó trở thành “bất tri hành hợp nhất”, và lẽ dĩ nhiên chẳng dính dáng gì đến chính mệnh hay chính danh.

Sau đây tôi sẽ điểm qua vài điều trong Phần V của bản kiến nghị của ông để chứng minh rằng những luận cứ của tôi ở trên không sai.  Ông viết:

Việt Nam Aggiornamento thứ hai: Rabby Giêsu Nazareth thủa sinh thời muốn khử trừ Thánh Kinh Cựu Ước của Mai-sen Giáo nhằm mục tiêu cứu nhân độ thế, và Ngài phế truất luôn thần Gia-vê bên bờ giếng Gia-cóp xứ dân ngoại Samaria. Giêsu Giáo tuyệt đối không nằm trong quần thể các giáo hội Thiên Chúa Giáo phát xuất từ gốc chung Thánh Kinh Cựu Ước và tù trưởng du mục Abraham. Học Hội chúng tôi đề nghị chặt đứt "cái đuôi Thánh Kinh Cựu Ước" lìa khỏi "Thân Thể Giêsu Giáo". Vĩnh biệt tù trưởng Abraham và các tổ phụ Do-thái!

Viết như trên thì thật ra ông Phan Đình Diệm chỉ viết để mà viết, viết mà chơi như Tú Gàn.  Nhưng viết như vậy thì lại chứng tỏ sự hiểu biết về Thánh Kinh của ông quá kém đi, có vẻ hầu như ông chưa bao giờ đọc kỹ và đọc hết Tân Ước. Cho rằng Rabbi Giêsu muốn khử trừ Thánh Kinh Cựu Ước của Mai-sen Giáo và phế truất luôn thần Gia-vê là viết bậy, vì sự thực trong Tân Ước trái hẳn lại.  Tôi sẽ chứng minh cho ông thấy rõ điều này.

Đọc Tân ước, chúng ta thấy rõ Giê-su tự cho mình như là một khuôn mặt thần thánh và dạy những điều răn với quyền năng của Cha ông ta: John 5: 30,36: “Ta không phải theo ý Ta mà là ý của đấng đã sai ta...làm nhiệm vụ mà Cha Ta đã giao phó cho Ta để hoàn thành, những công việc mà Ta đang làm, với sự chứng nhận của Cha Ta đã gửi Ta xuống đây.”;  John 10:30: “Ta với cha ta là một”; John 12:49: “Ta không nói theo ý ta; chính người cha sai ta xuống đây đã cho lệnh ta phải nói những gì và nói như thế nào.” v..v.. 

Cha ông ta là ai?  Chính là thần Gia-vê trong Cựu Ước.  Vậy nếu Giê-su muốn truất phế cha ông ta là thần Gia-vê thì có nghĩa là Giê-su đã tự truất phế chính mình.  Ông Diệm có đọc Tân ước và có hiểu được điều này không?

Về luật của Mai-sen, Giêsu phán, Matthew 5:17-19:

Các ngươi đừng tưởng ta đến để phá Luật (của Moses = Mai-sen) hay là các lời tiên tri; ta đến để hoàn thành chúng.  Ta bảo thật các ngươi: chừng nào mà trời đất còn thì một chấm một nét của luật đó cũng không được bỏ qua cho đến khi chúng được hoàn thành.  Vậy, ai mà vi phạm một điều nhỏ nhất trong những luật răn này, và dạy người khác cũng làm như vậy, thì người đó sẽ bị coi là nhỏ nhất trong nước thiên đường, và người nào thực hành và dạy những điều răn này thì sẽ được coi là lớn trong nước thiên đường

(Do not think that I have come to abolish the Law or the Prophets; I have not come to abolish them but to fulfill them.  I tell you the truth, until heaven and earth disappear, not a small letter, not the least stroke of a pen, will by any means disappear from the Law until everything is accomplished.   Any one who breaks one of the least of these commandments and teaches others to do the same will be called least in the kingdom of heaven, but whoever practices and teaches these commands will be called great in the kingdom of heaven)

Luật của Mai-sen và các lời tiên tri nằm ở đâu? Ở trong Cựu Ước.  Từ những câu trích dẫn từ trong Tân ước ở trên, điều rõ ràng là Giê-su không thể nào muốn khử trừ Cựu ước hay truất phế Cha ông ta.  Đây chỉ là những hoang tưởng của ông Diệm trong mục đích tách biệt riêng khuôn mặt Giê-su ra nhưng ông không thể nào thành công vì ông không nên cho rằng ở trên đời này không có người ngoại đạo nào đọc Kinh Thánh cho nên ông nói hươu nói vượn gì thì nói.  Hơn nữa, về phương diện thần học, không có Cựu Ước thì tất cả những điều viết về Giê-su trong Tân Ước đều là láo lếu.  Nhiệm vụ của Giê-su được cha mình sai xuống, rồi theo ý cha leo lên thập giá để cho người ta đóng đinh là gì?  Có phải là để cứu chuộc nhân loại khỏi tội lỗi đối với Chúa Cha hay không dù phân tích kỹ ra thì nhân loại không hề có tội lỗi mà tội lỗi chính là của Chúa Cha.  Không có tội tổ tông trong Cựu Ước, không có sự giận vô lý của Chúa Cha đối với Adam và Eve, thì ai cần ai cứu chuộc, vai trò của Giê-su nhiều nhất là một ông Rabbi Do Thái, muốn dạy luật Mai-sen cho người Do Thái, và khuyên người Do Thái phải thống hối vì nước Thiên đường sắp tới.   Đọc Tân ước, chúng ta thấy rõ Giê-su chịu ảnh hưởng của Cựu Ước rất nhiều, đến độ tự cho mình là đấng cứu thế để phù hợp với những lời tiên tri trong Cựu Ước.   Vì không tự mình đọc kỹ Cựu Ước, chỉ nghe lời giảng bậy của các bề trên, cho nên các tín đồ Ki-tô Giáo thường chỉ trích dẫn vài câu vụn vặt trong Tân ước và diễn giải sai lầm là Giê-su đã đưa ra những giáo lý độc đảo ngược với Cựu Ước.  Không có gì sai sự thực hơn.  Sau đây là vài thí dụ.

Trong những trường hợp mà Giê-su có vẻ như là một nhà cải cách những luật cũ của Do Thái và đưa ra những luật mới, nhưng thực ra là ông ta đã hiểu sai nội dung của luật.  Trong   Matthew 5: 21-22, Giê-su phán: “Các ngươi đã nghe luật cho người xưa là “Không được giết người, người nào giết người sẽ bị phán xét”, nhưng ta bảo các ngươi: hễ người nào giận anh em mình vô cớ (without a cause) thì sẽ bị phán xét.”.  Cấm nổi giận không phải là mới lạ trong truyền thống Do Thái.  Chúng ta thấy cùng một ý tưởng trong Levitius 19: 17: “Không được thù ghét người anh em”.  Nhưng ở đây, Giê-su nói một câu ngớ ngẩn: “giận vô cớ” (whoever is angry with his brother without a cause).  Ở trên đời này có ai đi giận một người khác vô cớ, nhất là người đó lại là anh em mình?  Câu phán trên chứng tỏ Giê-su bạ đâu nói đấy, nói mà không suy nghĩ, khoan nói đến chuyện quay lưỡi bảy vòng trước khi nói.

Một thí dụ khác là, trong Matthew 5: 27-28, Giê-su dạy các đệ tử: “Các ngươi đã được dạy: “không được phạm tội tà dâm, nhưng ta bảo các người: “Người nào nhìn một người đàn bà mà nổi lòng ham muốn thì đã phạm tội tà dâm trong tâm rồi.””  Đây có phải là một tư tưởng mới lạ không?  Không hẳn vậy, trong Cựu ước, Exodus 20: 17: “Không được tham muốn chiếm hữu vợ người” (You shall not covet your neighbor’s wife); và trong Proverbs 6: 25, “Không được ham muốn sắc đẹp của người đàn bà trong tâm” (Do not lust after her beauty in your heart).  Trong Kinh Talmud của Do Thái, Berachot 24:1, cũng có câu: “Người nào chỉ nhìn ngón tay út của một người đàn bà đã mang tội lỗi trong tâm rồi” (Whosoever regardeth even the little finger of a woman hath already sinned in his heart).

Vài thí dụ trên và nhiều thí dụ tương tự khác mà chúng ta có thể rút ra từ Tân Ước đã chứng tỏ rằng Giê-su không đi ra ngoài truyền thống Do Thái, điều mà các tác giả Phúc Âm muốn chúng ta phải tin là Giê-su có những giáo lý đặc biệt, khác với truyền thống Do Thái.  Các giới lãnh đạo Ki-tô Giáo, qua bao thế kỷ, đã giữ độc quyền đọc và diễn giải Kinh Thánh, cũng đã luôn luôn và tiếp tục cho đến ngày nay, rao giảng trước đám tín đồ thấp kém, những giáo lý mà họ bảo là đặc biệt, độc đáo của Dê-su sáng tác ra.  Chẳng có lẽ họ lại không đọc Kinh Thánh và không biết đến sự mâu thuẫn sơ đẳng giữa lời rao giảng của họ và sự thật nằm trong Kinh Thánh?  Tôi cho rằng họ đã thiếu lương thiện trí thức, cố tìm cách giam hãm đầu óc tín đồ trong niềm tin vào một khuôn mặt Giê-su đặc biệt mà họ đã ngụy tạo ra.

Chúng ta hãy đọc một đoạn khác của ông Phan Đình Diệm:

Việt Nam Aggiornamento thứ ba: Chặt bỏ cái đuôi Thánh Kinh Cựu Ước, đương nhiên cái gọi là "Tội Tổ Tông" là một mẩu thần thoại hư cấu rất vô duyên. "Nhiệm Cuộc Thiên Chúa Cứu Độ Con Người" tất nhiên không gắn vào hình cụ cây thập giá Jerusalem, nhưng gắn buộc vào Đại Cuộc Công Bố Giao Ước Mới Thiên Mệnh Cứu Độ Tại Tâm trên đỉnh núi Korazim, cực kỳ cao cả, uy nghi, hoành tráng, và an hòa. Học hội chúng tôi đề nghị thay đổi "biểu tượng cứu độ" từ nay là "ĐỨC GIÊSU NGỒI TRÊN ĐỈNH NÚI GIỮA MUÔN DÂN", thay cho biểu tượng Đức Giêsu bị kết án tử hình chết trần truồng trên hình cụ thập giá Jerusalem.

Thánh Kinh Cựu Ước là cái đầu chứ không phải là cái đuôi.  Cái đuôi của Cựu Ước chính là Tân Ước.  Ông Diệm muốn đảo ngược thứ tự, lấy đầu làm đuôi và lấy đuôi làm đầu.  Đúng là "Tội Tổ Tông" là một mẩu thần thoại hư cấu rất vô duyên, nhưng không có cái huyền thoại rất vô duyên này thì Giê-su chỉ là con một ông thợ mộc tầm thường.  Không có tội tổ tông thì ai cần ai cứu chuộc tội lỗi, và cái chết của Giê-su không khác gì cái chết của một tội phạm giống như bao tội phạm khác đã bị hành quyết trên cây thập giá.  Thật ra, các tín đồ Ki-tô Giáo tin Giê-su không phải vì Giê-su là một nhà đạo đức cao cả, hay là một người có một trí tuệ tuyệt luân như nhiều nhân vật khác trong lịch sử nhân loại, mà chỉ vì tin vào một huyền thoại dựng lên bởi một số nhỏ tông đồ của Giê-su khi xưa và được nền thần học Ki-tô giáo thêm thắt về sau, rằng Giê-su có khả năng làm cho xác chết của họ sống lại trong ngày phán xét và cho họ lên thiên đường sống một cuộc sống đời đời hưởng nhan thánh Giê-su, tuy rằng Kinh Thánh đã viết rõ: “Nhiều người được mời gọi nhưng chỉ có ít người được cứu”.

Nhưng ở đây, tôi muốn hỏi ông Phan Đình Diệm: cái gì là Đại Cuộc Công Bố Giao Ước Mới Thiên Mệnh Cứu Độ Tại Tâm trên đỉnh núi Korazim?  Ông có biết Korazin không phải là một đỉnh núi mà là một thị trấn đã bị chính Giê-su nguyền rủa hay không?  Và Giao Ước Mới  tức Tân Ước là như thế nào không?  Cái chuyện Giao Ước Mới Thiên Mệnh Cứu Độ Tại Tâm tương đương với chuyện lông rùa, sừng thỏ.   Ông thử kiếm trong Tân Ước xem có chỗ nào Giê-su nói về chủ đề Thiên Mệnh Cứu Độ Tại Tâm hay không?  Trong mục Việt Nam Aggiornamento thứ năm ông cũng còn viết: "Bí tích thánh thể Ca-phác-na-um" là Giao Ước Mới trở thành biểu tượng cụ thể hóa "Thịt và Máu" của Đức Giêsu Nazareth kết hợp và hòa nhập vào tâm hồn và thể xác với bất cứ ai thành tâm thiện chí kết ước thi hành các ước khoản của Giao Ước Mới.”  Như vậy là Giê-su có hai “giao ước mới”: Giao Ước Mới Thiên Mệnh Cứu Độ Tại Tâm “Giao Ước Mới Bí tích thánh thể Ca-phác-na-um"  Phải chăng ông Diệm cho rằng Cứu Độ Tại Tâm cũng là Bí tích thánh thể?    Mặt khác, nếu đã là Cứu Độ Tại Tâm, có nghĩa là có muốn được giải thoát hay không là do chính tâm mình quyết định, thì tại sao lại phải cần đến “thiên mệnh” hay “bí tích thánh thể”, nôm na là ăn thịt và uống máu Giê-su, là những vật chất bên ngoài, ăn uống vào rồi cũng bị thải ra qua đường tiêu hóa không ít thì nhiều?  Có sự mâu thuẫn ở đây không?  Sau đây tôi sẽ trình bày để ông biết rõ về Korazin, Capernaum (Ca-phác-na-um) và thế nào là giao ước mới.

Trước hết, Korazim và Capernaum là hai thị trấn đã bị chính Giê-su nguyền rủa vì dân trong các nơi đây không tin và những phép lạ của Giê-su không có một tác dụng nào đối với những người dân trong hai thành phố này cũng như ở nhiều nơi khác, và họ không tin những lời đe dọa của Giê-su: “Phải thống hối vì nước thiên đàng sắp tới”, hay lời dạy của Giê-su là phải ăn thịt uống máu ông ta để có được một đời sống vĩnh cửu, lẽ dĩ nhiên là sau khi chết.  Chúng ta có thể đọc trong Tân Ước như sau:

Matthew 11: 21-23:  Chúa phán:  Khốn cho thành Korazin!  Khốn cho thành Bethsaida! Vì nếu các phép lạ ta làm nơi đây được thực hiện ở Tyre và Sidon, thì dân các nơi đó đã mặc áo gai, trải tro lên đầu để tỏ lòng ăn năn từ lâu rồi.  Đến ngày phán xét, TyreSidon còn đáng được dung thứ hơn là Korazin và Bethsaida.  Nhưng ta bảo các ngươi, hai thành đó còn bị trừng phạt nhẹ hơn là các ngươi.  Và các ngươi trong thành Capernaum.  Các người sẽ được kéo lên thiên đường?  Không đâu, các ngươi sẽ đều xuống hỏa ngục.”

(Voe to you, Korazin! Voe to you, Bethsaida!  If the miracles that were performed in you had been performed in Tyre and Sidon, they would have repented long ago in sackcloth and ashes.  But I tell you, it will be more bearable for Tyre and Sidon on the day of judgment than for you.  And you, Capernaum, will you be lifted up to the skies? No, you will go down to the Hades (Hells))

Vậy, cái gì là Thiên Mệnh Cứu Độ Tại Tâm trên đỉnh núi Korazim?.  Tại sao Giê-su lại nguyền rủa các thị trấn Korazin, Betsaida?  Suốt trong Tân ước, Giê-su đã lên tiếng nguyền rủa bất cứ nơi nào, người nào không chịu tin theo ông dù ông đã trổ tài làm nhiều phép lạ.  Đây là bản tính, tâm địa thật của Giê-su, đúng như nhận định của Giám Mục John Shelby Spong đã  mô tả Giê-su như là một con người thiển cận, đầy hận thù, và ngay cả đạo đức giả.” Thánh Phao-Lồ (Paul) viết, theo lời mặc khải của Thiên Chúa: "Giê-Su luôn luôn như vậy, ngày hôm qua, ngày hôm nay và cho tới mãi mãi, không bao giờ thay đổi." (Hebrew 13:8)  Vậy thử hỏi, chúng ta có thể hi vọng gì ở một con người như vậy trừ khi chúng ta chỉ biết nhắm mắt mà tin, không cần biết, không cần hiểu?

Ông Diệm còn quảng cáo cho cái Bí tích thánh thể Ca-phác-na-um?  Đúng là ông Diệm đã viết lăng nhăng mà không hiểu là mình đã viết cái gì.   Ông không hiểu tại sao Giê-su lại nguyền rủa thành Capernaum như trên.  Trước hết chúng ta cần phải hiểu cái bí tích Thánh thể của Giê-su là như thế nào.  Chúng ta hãy đọc John 6: 53-56, 59:

Chúa Giê-su nói: “Ta bảo cho các ngươi biết sự thật, trừ khi các ngươi ăn thịt và uống máu của Con của Người [nghĩa là Giêsu], các ngươi không có sự sống trong người.  Ai ăn thịt ta và uống máu ta sẽ được sự sống đời đời; ta sẽ khiến người ấy sống lại trong ngày cuối cùng (ngày phán xét).  Vì thịt ta là thức ăn thật, máu ta là thức uống thật.  Ai ăn thịt ta và uống máu ta là người đó ở trong ta, và ta ở trong người đó... Giê-su đã nói như vậy trong khi giảng đạo trong Giáo đường ở Capernaum.”

(Jesus said to them: “I tell you the truth, unless you eat the flesh of the Son of Man and drink his blood, you have no life in you.  Whoever eats my flest and drinks my blood has eternal life, and I will raise him up at the last day, “For my flesh is real food and my blood is real drink.  Whoever eats my flesh and drinks my blood remains in me, and I in him.  These things He said in the synagogue as He taught in Capernaum)

Những lời nói trên có xuất phát từ một đầu óc bình thường hay không hay chỉ phản ánh những điều hoang tưởng trong thời đại bán khai mà những niềm tin như ăn gan uống máu quân thù thì thân thể sẽ cường tráng có đầy trong các xã hội.  Ngày nay người nào mà thốt lên những lời trên thì lập tức bị nhốt ngay vào nhà thương điên.  Cũng vì vậy mà ngay trong thời đó, những người dân ở Capernaum cũng chẳng có ai tin những điều hoang đường mà Giê-su nói, họ cho là Giê-su mất trí, và ở nhiều nơi khác cũng như cả gia đình Giê-su gồm có bố mẹ và các em trai em gái Giê-su, trước những lời giảng đạo của Giê-su, cũng không tin, cho là đầu óc Giê-su bất bình thường (out of his mind).  Mặt khác, theo Matthew 4: 13, 17 thì “Giêsu rời Nazareth, đến ngụ tại thành Capernaum bên bờ biển Galilee trong vùng Zebulun và Napthtali – đúng như lời tiên tri của Isaiah.. Từ đó, Giêsu bắt đầu giảng dạy: “Hãy ăn năn tội lỗi, trở về với Thượng đế, vì nước trời sắp đến”.  Nhưng ở Capernaum cũng chẳng có ai tin theo Giêsu mà ăn năn tội lỗi mà trở về với Thượng đế nên Giê-su đã lên tiếng nguyền rủa cả thành Capernaum cũng như đã nguyền rủa các thành Korazin và Bethsaida như trên.  

Điểm kỳ lạ trong sự mê tín của Ki-tô Giáo là tin vào cái “bí tích thánh thể” này.  Theo niềm tin trong Ki-tô Giáo, bánh thánh [một mẩu bánh làm bằng bột thường, sau khi ông linh mục hoa tay phù chú vài câu tiếng La-tinh, nó biến thành bánh thánh, ấy thế mà người ta vẫn tin tuy rằng các khoa học gia đã mang những mẩu bánh thường và bánh thánh ra phân tích và không thấy có bất cứ một sự khác biệt nào] tượng trưng cho thịt của Giê-su, rượu lễ tượng trưng cho máu của Giê-su, nhưng tín đồ không chỉ ăn thịt Chúa, uống máu Chúa một lần là đủ vì Chúa đã phán “Ai ăn thịt ta và uống máu ta là người đó ở trong ta, và ta ở trong người đó”, mà cứ phải ăn thịt Chúa uống máu Chúa hoài hoài.  Điều này chứng tỏ thịt Chúa máu Chúa hay chính Chúa không ở lại trong mình tín đồ, và chắc chắn là một phần Chúa sẽ bị thải ra ngoài theo đường bài tiết sau một thời gian.  Vậy mà tín đồ cứ tiếp tục tin, thật là quái dị.

Vì không nghĩ ra nghịch lý này nên một trong những đề nghị của ông Phan Đình Diệm là mang những điều người dân Capernaum không thèm tin khi xưa về cho giáo dân Ca-tô Việt Nam [xin đừng nhập nhằng giáo dân với quảng đại quần chúng], muốn cho người Việt trở thành Dracula [chuyên hút máu người để sống vĩnh viễn] và Jeffrey Dahmer  [kẻ giết trẻ con và ăn thịt chúng]:

Học Hội chúng tôi đề nghị "tái phục chế Bí Tích Thánh Thể Thịt Máu Giao Ước Mới Ca-phác-na-um" và hoàn trả vô điều kiện"Thánh Thể Thịt Máu" về cho quảng đại quần chúng, gia đình và cá nhân.”

Hai ngàn năm trước, chính dân Capernaum đã không tin “bí tích thánh thể” này rồi mà ngày nay ông Phan Đình Diệm còn muốn tái phục “thánh thể thịt máu” về cho “quảng đại quần chúng “ (sic), gia đình và cá nhân Việt Nam???  Ông cứ tùy tiện tái phục “thánh thể thịt máu” cho tín đồ Ca-tô, cho gia đình và cá nhân họ, chẳng có ai cấm, nhưng đừng có hoang tưởng mưu đồ reo rắc sự mê tín cực kỳ man rợ và rùng rợn thuộc thời bán khai trong “quảng đại quần chúng “ Việt Nam.

Tôi nghĩ có lẽ vì quá mê mẩn với tác dụng của thịt và máu của Giêsu [thật ra chỉ là bột bánh và rượu] nên đầu óc ông Phan Đình Diệm cũng trở nên bất bình thường giống như Giêsu.  Vì bất bình thường nên ông Diệm đã viết theo những sự hoang tưởng của chính mình bất kể sự thật trong Kinh Thánh.  Tôi tưởng phân tích vài điểm trong bản kiến nghị của ông Phan Đình Diệm ở trên cũng đủ để cho quý độc giả thấy rõ cái mê của ông Diệm vẫn còn quá nặng.

Tôi không muốn mất thêm thì giờ để phê bình những đoạn tiếp theo trong Phần V của bản Kiến Nghị, vì trong đó, ngoài những chuyện lăng nhăng chẳng ăn nhập vào đâu, ông Diệm còn tiếp tục diễn giải sai lạc Tân Ước theo cái đầu óc bất bình thường của ông ta, hoặc tin rằng những điều viết trong Tân ước đều là những sự thật lịch sử, thí dụ như: “Vào đúng lúc Đức Giêsu sinh thì trên hình cụ thập giá, bức màn trướng thánh trong đền thờ Jerusalem bị xé toạc ra làm đôi từ trên xuống dưới.” [một chuyện hoang đường mà chẳng có mấy người còn tin];  “Đức Giêsu đặt vấn đề hiểu biết nặng chín phần còn đức tin chỉ có một phần thôi.” [hoàn toàn sai với những lời rao giảng của  Giêsu trong Tân Ước: vấn đề đức tin nặng cả 10 phần và không có phần nào hiểu biết]; “Đức Giêsu đầu đội trời chân đạp đất, sống cuộc đời "tu hành bồ tát đạo", đi đến đâu là nhà, nằm ngồi đâu là giường. Ngài không vào đền thờ để giảng đạo cứu nhân độ thế.” [sai, John 6: 59: Giê-su đã nói như vậy trong khi giảng đạo trong Giáo đườngCapernaum]; “Giêsu Giáo là tôn giáo của Dân Tộc.” [viết bậy, Giêsu giáo là tôn giáo của những người tin Giêsu, gồm khoảng 5-7% dân Việt Nam, không thể nào là tôn giáo của Dân Tộc VN] v..v..

Tuy nhiên, có vài tư tưởng loạn trí của ông Diệm trong Phần Kết tôi không thể bỏ qua mà không phê bình vì nó liên hệ đến các truyền thống văn hóa và tôn giáo ở Việt Nam. 

Trước hết, ông Phan Đình Diệm viết về tình trạng Công Giáo ở Âu Châu và Hoa Kỳ.  Chúng ta nên nhớ Âu Châu là cái nôi của Công Giáo trước đây, và Hoa Kỳ có khoảng 22% theo Công Giáo.

Từ Âu Châu mấy thập niên rồi, và ở Hoa Kỳ bắt đầu từ mùa Christmas năm nay 2004, người dân da trắng mũi lõ mắt xanh đạp đổ và vùi chôn luôn cả ba thành phần của Giáo Hội Công Giáo Roma là:

  • Thành phần thứ nhất là Tân Ước, Đức Giêsu Cứu Độ Nhân Loại bằng Đạo Lý Giao Ước Mới công bố trên núi Korazim.

  • Thành phần thứ hai là "Thánh Kinh Cựu Ước của Maisen Giáo do giai cấp tư tế Lêri biên soạn và hư cấu tại Jerusalem.

  • Và thành phần thứ ba là "chính tự thân tổ chức Giáo Hội Công Giáo Roma" do các Hoàng Đế Roma sáng lập và bồi đắp thành "Quốc Giáo của Đế Quốc Roma"...

Rồi ông Diệm, trong một cơn loạn trí, đề nghị Việt Nam phải hốt đồ phế thải của Âu Châu và Hoa Kỳ và đưa ra những ý kiến kỳ quặc như sau:

Từ hai thập niên qua, Học Hội Giêsu Giáo Việt Nam chúng tôi hiểu biết đúng, nhận định phương hướng đúng, và chọn lựa giải pháp đúng: là đành chịu phải đoạn tuyệt Thánh Kinh Cựu Ước, lìa bỏ Giáo Hội Công Giáo Roma, để cứu thoát một mình Đức Giêsu. "Đức Giêsu phải Sống" ít ra là tại Việt Nam, để Giao Ước Mới Thiên Mệnh Cứu Độ Tại Tâm của Ngài đóng góp thêm vào "Nhà Văn Hóa Tam Giáo Việt Nam" thành ra "Nhà Văn Hóa Tứ Giáo Việt Nam" của các Vua Hùng. Đó là công thức: "Bỏ hai chọn một"...

Ước vọng chân tình nhất của chúng tôi là Giêsu Giáo ngồi chung chiếu vuông bốn góc Phật Giáo, Khổng Giáo và Lão Giáo, thành Tứ Giáo Đồng Lưu và Đồng Hành. Vui vẻ cả làng!

Đình Làng Việt Nam cấm tuyệt truyền giáo! Trống làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào làng ấy thờ. Đình Làng không dành chỗ cho Tôn Giáo, kể cả Phật Giáo cũng không.

Nhưng Giao Ước Mới Thiên Mệnh tại Tâm có cơ hội thuận tiện Lên Đình, người ta có thể đóng niêm Giao Ước Mới vào cột đình.

Trên Đình nói lời cách ngôn "Dĩ Hòa Vi Quý", thế là Đức Giêsu đang ngồi giữa Đình Làng rồi!

Trên Đình nói lời châm ngôn "Ở Hiền Gặp Lành", thế là Đức Giêsu đang tham dự vào sinh hoạt của Đình Làng rồi!

Đức Giêsu đầu đội trời, chân đạp đất, mặc áo vải, mang mặt Người, có trái tim Người, tu thân và an bần lạc đạo. Một "Con Người" như thế lên đình được quá đi chứ! Nhất định Ngài sẽ được đón tiếp như là "Thượng Khách của Đình Làng Việt Nam". Và cứ đà này, người ta còn tôn vinh Ngài là "Thần Hoàng Làng" chưa biết chừng nào bất ngờ đây!

Đọc những đoạn trên mà ai không cho là ông Phan Đình Diệm điên thì chính người đó phải có một đầu óc bất bình thường.  Không điên mà dám tự nhận là Học Hội Giêsu Giáo Việt Nam chúng tôi hiểu biết đúng, nhận định phương hướng đúng, và chọn lựa giải pháp đúng: là đành chịu phải đoạn tuyệt Thánh Kinh Cựu Ước, lìa bỏ Giáo Hội Công Giáo Roma, để cứu thoát một mình Đức Giêsu, hàm ý nền thần học Ki-tô Giáo trong 2000 năm nay do các bậc vô thượng thiên tài Ki-tô Giáo nặn óc nghĩ ra đều đáng vứt vào thùng rác hết.  Nhưng cứu thoát Đức Giêsu để làm gì khi mà người dân da trắng mũi lõ mắt xanh đã đạp đổ và vùi chôn luôn cả cuốn Kinh Thánh gồm Cựu Ước và Tân Ước, và vùi chôn luôn cả Đức Giêsu Cứu Độ Nhân Loại... ? như ông Diệm đã nhận định ở trên.  Mặt khác, người Ki-tô giáo tin rằng Chúa của họ là bậc toàn năng toàn trí, nghĩa là biết hết và muốn làm gì cũng được, nhưng lại phải nhờ đến Học Hội Giêsu Giáo của ông Phan Đình Diệm cứu thoát.  Mà cứu thoát khỏi cái gì, thoát khỏi số phận bị đào thải trước sự tiến bộ trí thức của nhân loại?  Muộn rồi, ông Phan Đình Diệm ơi!  Hãy chịu khó đọc kỹ Tân Ước và tỉnh hẳn giấc mê về một Đức Giêsu cứu độ nhân loại.  Giêsu tự cứu mình còn chẳng xong nữa là cứu độ nhân loại.

Ông Diệm có tìm hiểu là tại sao người dân Âu Châu và Hoa Kỳ đều đang dần dần từ bỏ niềm tin truyền thống của họ về một Thiên Chúa sáng tạo ra vũ trụ muôn loài trong 6 ngày, và một Chúa Con có khả năng “cứu độ nhân loại” hay không?  Bởi vì thực sự họ đã mở mắt ra rồi.  Hơn 70% tín đồ Công Giáo ngày nay thuộc thế giới thứ ba, nghèo nàn, ít học.  Ngay ở Hoa Kỳ cũng vậy, những ốc đảo Công Giáo phần lớn là thuộc những sắc dân Latino và Blacks.  Báo Chicago Tribune ngày Thứ Năm 24 tháng 2, 2005 loan tin:  Giáo Phận Công Giáo Chicago quyết định đóng cửa 23 trường học Công Giáo và nặng nhất là trong các giáo xứ Latino và Blacks (Latino, black parishes hit hardest by decision).  Chicago có một hệ thống trường học Công Giáo lớn nhất Hoa Kỳ.   Thống kê cho biết năm 1965 có 366,000 học sinh, năm nay chỉ còn có 107,000, giảm 70% trong 4 thập niên.  Và đây là tình trạng chung cho cả nước.  Tại sao vậy?  Vì người dân đã thấy rõ: nền giáo dục Công Giáo là nền giáo dục nhồi sọ, khuyến khích tin bướng tin càn, phi lý trí, phản khoa học v..v..  Khi mà chính Giáo Hoàng của Công Giáo đã phải lên tiếng công nhận thuyết Tiến Hóa và phủ nhận sự hiện hữu của Thiên Đường và Hỏa Ngục, thì tất cả những sản phẩm thần học của Ki-tô Giáo như chuộc tội, cứu rỗi, hay dọa dẫm đầy đọa hỏa ngục đã không còn một chút giá trị nào ngoài giá trị lừa bịp những đầu óc vốn lười hoặc không có khả năng suy nghĩ.

Ông Diệm cũng còn không hiểu ý nghĩa của các Đình Làng và Thành Hoàng thờ trong Đình nên đã viết lăng nhăng, chẳng ra đâu vào đâu, và rất mâu thuẫn.  Nếu Đình Làng Việt Nam cấm tuyệt truyền giáo, không dành chỗ cho Tôn Giáo thì cái anh Do Thái Giêsu vào ngồi trong đó làm gì?   Giêsu có phải là một khuôn mặt tôn giáo hay không?  Đình làng là nơi rước tất cả những người “đầu đội trời, chân đạp đất, mặc áo vải, mang mặt Người, có trái tim Người, tu thân và an bần lạc đạo” [đạo nào?] vào làm thượng khách hay sao?  Viết một cách ngớ ngẩn và mâu thuẫn như vậy mà cũng viết được thì thật là tài.

Tôi có thể tin chắc là ông Phan Đình Diệm không biết cái Đình Làng là cái gì, và cũng chưa bao giờ nhìn thấy cái Đình hay bước chân vào cái Đình khi ông viết : “Cái Đình Làng Việt Nam bốn mặt thông thoáng, nắng mưa hắt vào, gió thổi thông qua, là địa chỉ địa phương Đức Giêsu hết lòng mơ ước..”

Cái mà Giêsu mơ ước, hay hoang tưởng, là làm con Thiên Chúa của Do Thái, là cứu tinh của dân Do Thái, là một vài bộ lạc Do Thái phải tin ông ta, và một ngày tận thế sắp xảy ra ngay trong thời mà một số người theo ông còn sống như đã viết rõ trong Tân Ước.  Giêsu tuyệt đối không biết gì về cái Đình của Việt Nam cả vì cái Đình của Việt Nam tuyệt đối không phải là bốn mặt thông thoáng, nắng mưa hắt vào, gió thổi thông qua.  Ông Phan Đình Diệm mô tả cái Đình như trên là viết bậy.  Muốn biết về chi tiết kiến trúc của cái Đình ra sao, theo hướng nào, có bao nhiêu gian, xếp đặt ra sao, xung quanh có tường vách hay không, có cửa vào, cửa sổ hay không v..v.., ông Diệm hãy tìm cuốn Làng Xóm Việt Nam của Toan Ánh, trang 279-283, mà đọc.  Ông cũng có thể đọc trong đó thế nào là một Thành Hoàng Làng.  Tác giả Toan Ánh viết, trang 276: “Theo tục lệ xưa, nhà Vua phong các vị Thành Hoàng làm Thượng, Trung hoặc Hạ-đẳng thần tùy theo các vị thần có công trạng với nước với dân.  Đối với dân làng, Thành Hoàng là biểu hiệu của lịch sử, phong tục đạo đức, pháp luật cùng hy vọng bình yên,làm ăn thịnh vượng của cả làng...”   Vậy ông Diệm muốn nhét cái anh Do Thái Giêsu vào Đình Việt Nam làm cái gì.  Làng xóm Việt Nam có cần đến cái “giao ước mới ăn thịt uống máu” đầy tính cách man rợ của thời bán khai không?

Cuối cùng, cái ước vọng của ông Phan Đình Diệm: “Giêsu Giáo ngồi chung chiếu vuông bốn góc Phật Giáo, Khổng Giáo và Lão Giáo, thành Tứ Giáo Đồng Lưu và Đồng Hành.” bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết về sự khác biệt giữa Giêsu Giáo và Tam Giáo.   Không có cách nào Giêsu Giáo có thể đồng hành với Tam Giáo được, vì Tam Giáo đi suôi thì Giêsu giáo đi ngược; Tam Giáo có tính cách nhân bản và nhân chủ, phục vụ con người, còn Giêsu giáo là thần giáo, phục vụ một ông thần hay một người đã chết trên thập giá gần 2000 năm nay; Tam Giáo chủ trương tu tập, tận dụng trí tuệ, còn Giêsu giáo thì là tín giáo, tin mà không cần biết không cần hiểu.

Cũng vì thiếu hiểu biết về bản chất của Tam Giáo và Giêsu Giáo, và cũng vì không hiểu thế nào là Tam Giáo Đồng Nguyên nên ông Phan Đình Diệm đã viết lên những lời thuộc loại hoang tưởng như ở trên, không có cách nào có thể thực hiện được.  Ở đây, tôi không thể đi vào chi tiết để chứng tỏ tinh thần Tam Giáo Đồng Nguyên đã đi vào nền văn học, tinh thần quốc gia, đời sống xã hội của Việt Nam như thế nào.  Tôi chỉ có thể tóm tắt qua vài lời ngắn gọn.

“Tam Giáo đồng nguyên” là một nét rất đặc sắc trong nền văn hóa Việt Nam. Tinh thần Tam Giáo Đồng Nguyên được đẩy mạnh nhất trong các triều đại Lý Trần, và trong các thời đại đó Việt Nam đã có những chương lịch sử oai hùng nhất về chống xâm lăng cũng như nở rộ về văn chương thơ phú. Người ta thường hiểu lầm Tam Giáo trong Tam Giáo Đồng Nguyên là ba tôn giáo: Thích, Nho, Lão. Nhưng chữ Giáo trong Tam Giáo Đồng Nguyên không phải là tôn giáo mà là Giáo thuyết, hay môn học về Phật Giáo, Khổng Giáo, và Lão Giáo. Khổng giáo không phải là một tôn giáo.  Phật Giáo, Lão Giáo cũng không phải là những tôn giáo theo nghĩa như người Tây phương thường hiểu, thí dụ như Ki-tô Giáo.

Các triều Lý, Trần khuyến khích đồng đều ba lãnh vực học thuật: Phật Học, Nho Học và Lão Học, và mở các khóa thi Tam Giáo.  Có thời Phật Học hoặc Nho Học chiếm địa vị chỉ đạo trong xã hội.  Tuy nhiên, ảnh hưởng của Phật Học luôn luôn sâu đậm và tiềm tàng trong văn học quốc gia.  Điều đặc biệt của tinh thần Tam Giáo Đồng Nguyên là nhiều tư tưởng của Phật Giáo, Khổng Giáo và Lão Giáo đã bổ túc cho nhau và kết tụ thành một nhân sinh quan rất đặc biệt Việt Nam, phản ánh qua lối sống hiền hòa, khoan nhượng, có tôn ti trật tự, kiên cường, có tinh thần quốc gia dân tộc rất cao v..v.. nhưng cũng không kém thơ mộng và siêu thoát của người dân Việt Nam. Chúng ta có thể thấy nhân sinh quan trên qua những chiến công hiển hách chống xâm lăng của người dân Việt Nam trong thời Lý, Trần cũng như trong thời cận đại, và những tác phẩm văn chương thơ phú và ca dao bình dân đượm màu sắc Tam Giáo.  Nói tóm lại, Tam Giáo cùng lấy con người làm căn bản, ý thức được vị trí của con người trên thế giới, và chỉ có con người tự mình làm chủ chính mình và từ đó mới có thể thoát ra khỏi bức màn vô minh để luôn luôn tiến tới.  Đó là kết quả của Tam Học: Thích, Nho, Lão.

Nhưng trong Giêsu Giáo thì Giêsu học, nếu có, là học cái gì.  Học sự mê tín của người Do Thái, sợ hãi một ông Thượng đế vô hình do con người tưởng tượng ra, hay học những lời không đáng học của Giêsu như trong vài lời điển hình sau đây của chính Giêsu trong Tân ước:

Matthew 10: 34-36:  Đừng tưởng rằng Ta xuống trần để mang lại hòa bình trên trái đất.  Ta không xuống đây để mang lại hòa bình mà là gươm giáo.  Vì Ta xuống đây để làm cho con chống lại cha, con gái chống lại mẹ, con  dâu chống  lại mẹ chồng, và kẻ thù của con người ở ngay trong nhà hắn.

Lưu-Ca  12: 51-53: Đừng tưởng Ta đến để đem hòa bình cho thế giới.   Không, Ta đến để chia loài người làm hai.  Từ đây, một nhà có năm người sẽ chia rẽ chống đối nhau: hai chống ba, và ba chống hai.  Mâu thuẫn sẽ diễn ra giữa con trai với cha, con gái với mẹ, con dâu với mẹ chồng.

Matthew 12:30: Kẻ nào không theo ta, ở  với ta, là chống đối ta.

Luke 19:27 :  Hãy  mang  những  kẻ  thù  của  Ta  ra  đây, những người không muốn Ta  ngự  trị trên họ, và giết chúng ngay trước mặt Ta.