posted: 03.3.2005
NHỮNG ĐIỀU DỐI
TRÁ VÀ HOANG ĐƯỜNG TRONG THÁNH KINH ĐẠO KI-TÔ (Dịch từ cuốn Deceptions
and Myths of the Bible của Lloyd Graham, 1975; Bell Publishing Company, New York
tái bản năm 1979; Crown Publishers, Inc. phát hành. ) Trần Thanh-Lưu LỜI MỞ ĐẦU: Cuốn “Thánh Kinh” có thánh
hay không? Nó có phải là “lời của Chúa”? Và nó có thể bị phản bác
hay không? Nói tọat ra thì chẳng có gì
là thánh với cuốn sách ấy cả, và nó cũng chẳng phải là “lời của
Chúa”. Nó không hề được viết ra bởi các ông thánh được thiên khải,
mà bởi bọn thầy tu ham muốn quyền lực. Ai ngòai nhóm thầy tu này làm lớn
chuyện “tội lỗi”? Rồi ai nếu không phải là bọn này lại viết hàng
khối cuốn sách về những nghi thức tôn giáo? Những điều “tội lỗi”
và nghi thức do bọn tu sĩ bày vẽ ra có tính cách bó buộc: mục đích của
họ là để tạo dựng một tôn giáo đầy sợ hãi. Với sự chuyên chế
trí thức này, bọn họ muốn khống chế con người và họ đã thành công.
Khỏang 400 năm trước Tây lịch, họ là những chủ nhân ông của xứ
Do-thái cổ. Để thực hiện được cái kế họach đó, họ cần có một
bài bản, một cái khung truyện, và họ đã tìm được trong những chuyện
dân gian về Sáng Thế ở các dân tộc hiểu biết hơn họ. Từ đó họ
xào nấu và lèo lái câu chuyện từ “tự nhiên” thành “siêu nhiên”,
và “chân lý” thành “phi lý”. Chúng tôi khẳng định cuốn Kinh Ki-tô
chỉ là vũ trụ quan lầm lạc của họ. Tiến trình bắt đầu ngay
trong chương thứ nhất – sự tạo dựng thế giới. Cái thứ nhất này vốn chẳng phải là chính gốc
thứ nhất; nó đã bị bọn thầy tu thay thế mấy thế kỷ sau vì tham vọng
của họ. Cái thứ nhất chính gốc đã bị đưa xuống hạng thứ hai. Đối
với các học giả thì tác giả chính gốc có tên là Jhwhist, vốn chẳng phải
nhà một nhà thần thọai học chí tâm gì. Ông ta chỉ là một Homer (kịch
tác gia chuyện thần thọai) của dân Do-thái, và giống như dân Hy-lạp,
Chúa hay Thần của ông ta không hề có ý để được tôn thờ. Những nhân
vật do ông sáng tác, ngay cả Chúa chỉ là nhân cách hóa, và qua họ ông đề
cập đến bản chất trung thực của Duyên khởi: Cain giết anh, Noah nghiện
rượu, Jacob gian xảo và Joshua cùng Moses giết người. Rõ ràng chuyện của
ông về Sáng Thế, giống như tự nhiên, bí hiểm mà thật. Nhưng vì nó
không phục vụ gì cho mục đích của bọn tu sĩ nên đã bị dẹp bõ, rồi
thay vào đó luận điệu áp đặt và siêu nhiên của giới tăng lữ. Những
nhân cách hóa biến thành hiện thực và mất hết cả ý nghĩa. Điều đòi hỏi tiên khởi của
một đám thầy tu là phải có một ông Thần Trả Thù mà con người là một
tội nhân, và vì thế phải lệ thuộc vào bọn thầy tu để được cứu rỗi.
Để đạt chủ đích, tiến trình phải được nối tiếp như sau: thứ nhất,
nhà biên tập gần hoang đường Elohist sọan lại và thánh hóa những nhân
vật của Jhwhist, và rốt ráo bọn Tu-sĩ tuyên bố là có một ông Chúa giống
con người tạo dựng nên thế giới trong vòng sáu ngày và thế là có ngay
địa đàng. Cái quan niệm về Chúa kiểu này của đầu óc tăng lữ chính
là then chốt của cuốn thánh kinh đạo Ki-tô, và nếu nó sai lầm thì mọi
sự dựa vào nó cũng đều sai lầm cả. Đại để thì câu chuyện của
bọn thầy tu về Sáng Thế chỉ là vũ trụ quan của con nít, ấy vậy mà
nó đã áp đặt lên chúng ta cả hai ngàn năm nay. Chẳng qua là vì người tây
phương không có khả năng tư duy trừu tượng. Tất cả những hiểu biết
về siêu hình và vũ trụ của người tây phương đều do đông phương truyền
sang. Người đông phương cổ đều có khả năng tư duy ấy, chỉ trừ người
tây phương gồm cả giống Do thái. Trong cái bất lực về siêu hình ấy,
người tây phương đóng cái ấn “bản ngã” (ego) của mình lên trên mọi
thứ, ngay cả đấng Tạo Hóa. Rồi vì mù lòa trong cái sai lầm của mình,
hắn không thể thấy rằng chỉ một phần của giống dân thiếu khả năng
tư duy trừu tượng tin vào cái sáng tạo mang dáng dấp con người ấy. Một
phần đó của hắn gọi là người Ki-tô lại không tạo ra được một vị
Chúa hay tôn giáo riêng cho mình; mà lại đi vay mượn từ đám dân Do-thái
ở vùng Trung-đông. Và họ làm sao mà biết được về những thế giới và
thiên hà khác? khi không hiểu được ngay quả đất này hình tròn nữa. Vậy
thì vũ trụ quan của họ có đúng không? Dù dân Do-thái làm ra vẻ thân
cận với đấng Tạo Hóa, nhưng họ chẳng hiểu biết tí gì đến những sự
vật trong vũ trụ và cõi siêu hình; họ chỉ là bọn đạo văn và bới
mót những cái hoang đường nhân tạo mà họ không hiểu được. Vào thời
của họ, sự hiểu biết thông thái đã mất và họ chỉ là đám cóp nhặt
– “bọn hậu bối vô tích sự của Homer vĩ đại”. Điều này dẫn đến
một điểm khác mà ta cần phải hiểu – thời đại giác ngộ trước thời
có tôn giáo, và sự mất mát của tri thức này. Thời kỳ ấy nhân lọai còn
hiểu biết rộng rãi về Duyên Sinh (Causation and Creation) hơn là bây giờ -
Thời đại Phát sinh Thần thọai (the Mythopoeoic Age). Chúng ta gọi những bậc
giác ngộ ấy, các vị Tiên phong (Initiates) và sự hiểu biết của họ, là
Nền Thông thái cổ đại. Họ có thể học hỏi Thực tại và đạt đến
Chân lý với lý trí không bị vấy bẩn bởi những nền thần học sai lầm.
Nhưng rồi theo sự đổi thay của luật tuần hòan sự hiểu biết ấy bị
thất lạc; đám tăng lữ cướp chỗ của các vị Tiên phong và tôn giáo
siêu hình. Đó là sự suy tàn của thông thái (wisdom’s Gotterdammerung - Ghi
chú của ND: “Gotterdammerung: hoàng hôn của chư thần” dựa vào tên của
một kịch bản của Richard Wagner, người Đức) và của con người tâm
linh. Chúng ta bước vào một thời kỳ của chủ nghĩa duy vật và mù lòa
tâm linh – thời kỳ Mạc Pháp (Kali-yuga) của Ấn giáo. Ở đây, chúng ta
trở thành “bầy trẻ tăm tối” và chúng ta vẫn là “đám trẻ tăm tối”
về Duyên khởi và Sáng thế. Chấp nhận điều này còn tùy
vào sự hiểu biết của chúng ta về Luật tuần hòan, và đặc biệt hơn nữa
là chu kỳ được biết là “Tuế sai” (Precession of the Equinoxes) – ước
khỏang hai mươi lăm ngàn năm. Nó được chia làm hai nữa đối lập bằng
nhau, ta có thể gọi là Ngày Hòang Đạo và Đêm Hòang Đạo. (Xem sơ đồ bên
dưới). Đêm Hòang Đạo bắt đầu sáu ngàn năm về trước khi mũi kim hòang
đạo đi vào chòm sao Kim Ngưu (Taurus), và đuôi kim đi vào chòm Hổ cáp
(Scorpio). Nữa dưới là phần vật chất và chúng ta đang ở đấy; mà lại
ở mức thấp nhất – là trong chòm Xử Nữ- Hải sư (Virgo-Leo). Trớ trêu
thay, lúc chúng ta rơi vào đáy của vật chất lại là lúc chúng ta tìm ra bản
chất thực của vật chất – đó là năng lượng hạt tâm. Điều này chỉ
xảy ra trong thời đại chuộng vật chất. Nhưng vì thiếu sự hiểu biết
thông thái chúng ta lại không thể nhìn ra rằng vật chất tăng tiến thì
gây nên tâm linh thụt lùi – bạn không thể nào cùng lúc mà phục vụ hai
ông chủ được. Đây chính là điều mà người tây phương ngạo mạn và
ham vật chất nên học hỏi, nhất là về mặt tôn giáo. Họ vốn tin các
điều họ tin chỉ vì họ không biết gì về “các chứng cớ đời sống”
của vũ trụ. Vì cuốn kinh Ki-tô giáo là sản phẩm của thời kỳ đen tối
này, nên các tác giả của nó cũng u mê không kém.
Từ đấy chúng ta thấy rằng
món thần học và vũ trụ học trong cuốn kinh Ki-tô không hẳn là thật, nhưng
những gì mà “bầy trẻ tăm tối” đã tin mới là thật. Chúng ta cũng phải
thấy rằng những tôn giáo được dựng trên cái gọi là sự thật của
nó không phải là chân lý vĩnh cữu mà chỉ là mảnh vụn giai đọan. Chúng
là một phần của thời kỳ Dương Cưu (Aries) và Song Ngư (Pisces), và thời
kỳ này đã trôi qua và vì thế sản phẩm của chúng cũng phải đào thải.
Chúng ta đang bước vào một thời đại mới, được gọi là Bảo Bình
(Aquarius), chúng ta cần có một vũ trụ quan mới, một triết học mới, và
trên tất cả mọi chuyên, một kích thước mới cho tri thức – tri thức
vũ trụ để vận dụng được năng lượng vũ trụ. Điều này chỉ đạt
được với sự hiểu biết về “các chứng cớ đời sống”vũ trụ, chứ
không từ cái nền thần học và vũ trụ quan sai lầm. Vì thế mà chúng ta
phải nhận ra cái bản chất lừa mị và sự an tòan dối gạt do chúng đem
lại và học hỏi lại bản chất thực sự của Duyên khởi và vị trí của
chúng ta trong việc Sáng thế. Với những việc này các bậc Khai sáng đã
đề cập ở trên vốn có sự hiểu biết lớn lao và họ đã để lại cho
chúng ta sự hiểu biết đó trong những di khảo thời kỳ tiền tôn giáo
– đó là thần thọai và kinh điển, chiêm tinh và kim tự tháp. Đấy là
những thành tựu của nền Thông thái Cổ đại mà con người thời nay khó
mà hiểu nỗi. Sự hiểu biết này đã bị bọn thầy tu cóp nhặt và sau đó
tiêu hủy đi. Nhưng chỉ là phần vật thể; nó không hòan tòan bị mất
mát và bây giờ qui luật tuần hoàn lại làm nó tái hiện; nó đang trở lại
để tiêu diệt bọn đã phá hủy nó. Cuốn Kinh Ki-tô chẳng phải
là “lời của Chúa”, mà chôm chỉa từ những nguồn gốc tín ngưỡng
đa thần. Chuyện vườn địa đàng Eden, Adam và Eve mượn từ chuyện của
người Babylon; chuyện “Đại Hồng Thủy” chỉ là phần tóm tắt của cả
bốn trăm chuyện lụt lội; Có hàng khối chuyện thần thọai tương tự về
núi Ararat và chiếc thuyền Ark; ngay đến tên của những đứa con trai của
Noah cũng lại cóp nhặt, rồi cũng như thế với chuyện hy sinh của Isaac,
chuyện phán xét của vua Solomon, và chuyện đẩy sập các trụ đá của
Samson; chuyện về Moses đã được trau chuốc lại từ chuyện của Mises ở
Syria; luật lệ trong cuốn Kinh bắt chước các qui tắc của vua Hammurabi. Đấng
Cứu thế Messiah của nó thì lấy từ chuyện Thần cứu rỗi Mahdi của Ai Cập;
vài câu kệ đã cóp lại nguyên văn từng chữ một. Giữa Jesus và thần
Horus, Gerald Massey tìm thấy 137 điểm tương tự, và cũng thế giữa Christ và
Quần chúng chưa bao giờ đọc
được những nguồn tài liệu đã kể và đám tăng lữ thì lại im như hến.
Ngày nay những nguồn tài liệu này còn rất ít chỉ vì cuốn kinh Ki-tô đã
xúi những kẻ cuồng tín hũy diệt chúng gần hết. Tuy vậy người Do-thái
cổ đã tiếp cận được vô số nguồn này mà chúng ta biết rằng vào năm
125 TL, thánh Irenaeus bảo “Đã có vô số sách phúc âm (gospels)” trong thời
của ông ta. Những cuốn được truyền lại đến chúng ta chỉ là một phần
bọn tăng lữ cần để phục vụ mưu đồ của họ, phần còn lại đã bị
tiêu hũy. Để nhận ra điều này, độc giả phải biết rằng đã có một
âm mưu rộng lớn được tiến hành khi cuốn kinh được viết ra. Một phần thì nằm trong cấu
trúc của nó. Nó được viết ra bằng hai lọai văn chương; bí ẩn và hiễn
nghĩa – mà sự thật bị che dấu và lớp che lừa bịp lại nằm trong phần
lộ liễu. Phần này là những gì chúng ta biết được ngày nay, và những
đầu óc nhẹ dạ vẫn còn nghĩ rằng sự sáng thế bắt đầu như truyện
Adam và Eve, Cain và Abel, tội lỗi, sa đọa, và rồi được cứu rỗi. Phần
bí ẩn thì hòan tòan bác bõ phần hiễn nghĩa này. Nó cho chúng ta biết một
cách kín đáo rằng Adam và Eve không phải là những con người tiên khởi;
rằng Cain và Abel không phải là con của Adam; rằng Solomon chẳng phải con của
David; rằng dân Do-thái chẳng hề bị câu thúc ở Ai-cập, chẳng hề có
chuyện Exodus, là chuyện dân Do-thái trốn thóat khỏi Ai-cập; rằng luật lệ
đạo đức chẳng phải là luật từ những phiến đá, chúng cũng chẳng hề
được trao xuống từ núi Sinai; rằng dân Do-thái không hề chiếm được xứ
Canaan, họ chũng chẳng hề được hứa tặng đất Palestine; rằng đất Palestine hiện nay không hề là “Đất Hứa”
hay ngay cả “Đất Thánh”. Kẻ nào không biết đến những điều này là
hòan tòan không hiểu được ý nghĩa thực của cuốn kinh Ki-tô. Hắn còn
không biết ngay cả hắn đã bị bịp. Rất ít người trong chúng ta
nhận ra cái giá mà chúng ta phải trả cho sự lừa bịp này: hai ngàn năm
thờ cúng mà chẳng lo đến an sinh, một ngàn sáu trăm năm trong tăm tối, bệnh
tật và chiến tranh, Thập tự chiến, Tòa Dị giáo, tàn sát, thành kiến
và mù quáng đức tin. Ngay đến ngày nay, các tôn giáo được thiết lập dựa
trên nó đang chia rẽ chủng tộc và xúi dục chiến tranh. Vì ảnh hưởng lệch
lạc của nó mà chúng ta bị chậm lại cả ngàn năm so với qui trình hành
tinh; tri thức của chúng ta hòan tòan không thích hợp với vị trí của
chúng ta trong sự Tiến Hóa. Tóm lại, nó không xứng đáng với Thời đại
Bảo Bình (Aquarius) đang đến, nó không dủ khả năng để giải quyết những
vấn đề của thời đại này. Đã đến lúc cái chuyên chế của cuốn
kinh tan rã và chúng ta nên dồn tâm trí của chúng ta vào con người hơn là
vào Chúa, khai hóa chúng ta hơn là cứu chuộc linh hồn không bao giờ mất của
chúng ta. Những kẻ thù của cuốn Kinh
đã từ lâu tìm cách tiêu diệt sự chuyên chế này, vậy mà nó vẫn là
sách bán chạy nhất, và những nạn nhân của nó lại đem phân phát năm
mươi triệu bản mỗi năm. Những kẻ thù của nó thất bại vì hai lý do:
Thứ nhất, bởi vì họ không có những hiểu biết cần thiết mà may mắn
ngày nay mới có, và thứ hai, vì họ dùng sai phương pháp. Thiếu hiểu biết
cần thiết cho nên họ hay dùng phương sách chế diễu và vạch trần; họ
cho thấy những cái tục tĩu, phi lý và tàn ác của cuốn kinh, nhưng chẳng
đi đến đâu. Trò lừa bịp của bọn thầy tu này không thể bị tiêu diệt
bằng chế diễu, khoa học hiện đại hay cái lối “bác học” của chúng
ta. Cái vũ khí duy nhất có thể tiêu diệt được nó là sự hiểu biết
cao hơn những tác giả của nó, và thời điểm duy nhất là lúc nhân lọai
đạt được sự giác ngộ vừa đũ để tự nhận ra nó là sự dối trá.
Chỉ khi nào con người đạt được sự hiểu biết về Duyên Sinh tự
nhiên thì chủ nghĩa hoang đường của cuốn kinh bị đào thải; con người
phải ngộ ra sự tiến hóa phát sinh của những phẩm chất đạo đức thì
sẽ không thể chấp nhận nguồn gốc của chúng qua những câu chuyện kể
trong cuốn kinh Ki-tô. Đây là phương pháp của chúng ta và lý do cho việc
tiếp cận dài dòng về cuốn Kinh. Đáng tiếc, đó là việc cần thiết, bởi
vì thiếu sự hiểu biết này độc giả không thể thấy được chủ đề
của cuốn Kinh. Duyên Khởi vẫn còn là một bí mật ám chỉ rằng sự kém
hiểu biết thật là đáng lo. Nhờ vào khoa học mà ta có được một khối
lượng to lớn dữ kiện chẳng liên hệ gì đến nó một cách không cần
thiết. Lý do sự bí mật ấy vẫn còn tồn tại là vì chúng ta thiếu khả
năng triết học để tổng hợp và phân tích chúng. Những trang sau này ít
ra mô tả cái tiến trình tổng hợp và phân tích ấy. Sự bí mật và chuyên chế tồn
tại chỉ vì còn khá nhiều việc không thể giải thích được nếu không
dựa vào giả thuyết – một đấng Tạo Hóa siêu nhiên và nguồn gốc của
thiện tâm. Richard Carrington đã bảo trong cuốn Một triệu năm của Nhân lọai … “các
nhà khoa học vì chân lý, đã từng cố lọai bõ một ông thần Tạo hóa khỏi
vũ trụ, nay rốt ráo lại thấy mình không thể giải thích được chuyện
gì cả, xem ra họ lại chuẩn bị mang ông ấy trở lại.” Đây là điều
oái oăm phải được lọai bõ. Chúng ta có thể nào tìm được một cứu cánh
hợp lý để giải thích hơn là cái cứu cánh phản lý mà tôn giáo mang đến,
rồi chúng ta có thể nói với ông Chúng ta đã từng nghe rằng những
câu chuyện khoác lác trong cuốn Kinh Ki-tô là “chân lý được hiển bày”.
Cái mà chúng ta muốn bây giờ là “chân lý được hiển bày” ấy phải
được vạch trần ra, vì nó vẫn chưa hề bị vạch trần. (còn tiếp) |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com