posted: 19.4.2005
Ngày đưa đám của Ngài đã có đến
2 triệu người đến La Mã (Roma, thủ đô nước Ý) tiễn đưa Ngài đến nơi an nghỉ cuối cùng. Người ta ước
lượng có thể có đến 2 tỷ người - tức một phần ba nhân loại –
theo rõi qua vô tuyến truyền hình đám táng của người, mặc dầu tín đồ
theo Ngài chỉ là 1.1 tỷ người, tức khoảng 17% dân số thế giới. Một
điều đáng chú ý nữa là đã có rất đông các vị nguyên thủ quốc gia,
nhất là từ những quốc gia Tây Âu và Mỹ Châu, mà truyền thống văn hóa
là Cơ Đốc giáo, đã thân hành sang La Mã dự đám táng. Chỉ vắng bóng những
nhà lãnh đạo Á Châu mà truyền thống văn hóa nước họ không phải là
Thiên Chúa giáo, như Trung Quốc, Nhật bản, Ấn Độ, Việt Điều này đã nói lên một sự kiện:
Giáo Hoàng John Paul II quả là một nhân vật lịch sử được mọi người
- người Công Giáo cũng như người không Công Giáo - cảm phục. Ông là vị
Giáo Chủ lỗi lạc với nhiều sáng kiến, nhiều can đảm, hết sức đề
cao vai trò lãnh đạo tinh thần của Nhà Thờ Thiên Chúa Giáo La Mã, luôn
luôn nhắc nhở tông đồ những giáo lý bổn đạo, giữ vững lòng tin vào
tôn giáo mình. Ông được
người ta nhớ tới như là một lãnh tụ tôn giáo muốn bắt nhịp cầu
thông cảm với với các tôn giáo khác
mà chỉ thế kỷ trước vẫn còn bị Nhà thờ TCG La Mã nói xấu, chén ép
đủ điều, không kể đến những tàn sát kinh hồn trong nhiều thế kỷ trước.
Người theo đạo Do Thái cũng như người Muslim (Hồi Giáo) ghi nhận ông là
vị Giáo Hoàng đầu tiên đã bước chân vào một thánh đường Do Thái tại
La Mã, cũng như một thánh đường Hồi Giáo tại Damascus, và nói lên lời
sám hối về những lỗi lầm của người Công Giáo trước đây đối với
hai tôn giáo này. Hành động ấy có
giúp cho liên hệ Công Giáo với hai tôn giáo ấy bớt căng thẳng đôi
chút. Giáo Hoàng John Paul II trong suốt cuộc đòi làm giáo chủ, đã đi đến
với con chiên của Ngài không ngừng nghỉ, chu du biết bao nhiêu nước, mặc
dầu sức khoẻ đã suy yếu. Đi đến đâu, Ngài cũng nói lên những lời từ
ái, tình thương vô bờ của Chúa Ki Tô đối với tông đồ, bất phân giầu
nghèo sang hèn. Và mọi người đều nhận thấy Ngài đã nói lên tiếng
nói của những kẻ hèn kém, những kè thế cô bị áp bức. Ngay tại Ba
Lan, quê hương xứ sở, lúc đó còn dưới chế độ cộng sản, Ngài đã
dám lớn tiếng kêu gọi dân chúng Ba Lan hãy vùng thoát khỏi chế độ kìm
kẹp. Nhiều người nghĩ rằng Ngài là người đã có công làm sập đổ chế
độ cộng sản tại nước Ngài và các nước khác tại Âu Châu(1).
Mọi người cũng nghĩ Ngài là tiếng nói của Hòa Bình khi Ngài lên tiếng
phản đối cuộc chiến tranh xâm lăng của Hoa Kỳ chiếm đóng Irắc. Tuy nhiên, tất cả những cố gắng
phi thường ấy - phi thường so sánh với
những Giáo Chủ tiền nhiệm của Ngài - dường như đã không hẳn đem lại
những kết quả thật hài lòng. Không dễ gì mà người Do Thái, sau
nhiều thế kỷ bị tàn sát, đọa đầy, kỳ thị, nói xấu bởi người Công
Giáo, với cái tội bị gán cho là những
kể giết chúa Ki Tô, lại có thể, vì những lời sám hối chốc lát của
vị chủ chăn, mà có thể hài lòng. Ngoài ra, người Do Thái cũng như người
Muslim còn thấy rằng Ngài đã chỉ nói tới những lỗi lầm của người Công
Giáo, những nhà thờ Công Giáo, đối với tôn giáo của họ, và khuyên
các nhà thờ, các tông đồ của Ngài phải sám hối tội lỗi. Ngài đã
không nhân danh Giáo Hội mà sám hối những tội lỗi của chính Giáo Hội
đối với tôn giáo của họ. Có thể là Ngài nghĩ rằng những lỗi lầm
đó không đúng với những giáo lý căn bản của đạo Thiên Chúa, do đó,
Giáo Hội của Ngài phải ở trên những chuyện đã xẩy ra cho người Do Thái
và người Muslim. Đó chỉ là những lầm lỗi của những cá nhân tín đồ
Công Giáo, cho dù người đó có phải là những vị Giáo Chủ thời Đế Quốc
La Mã hay một vị Giáo Chủ mới đây(2)
đi chăng nữa. Mặt khác Ngài cũng hẳn biết rõ rằng trong giáo hội của
Ngài có nhiều thành phần rất thủ cựu, chủ quan, như Hồng Y giáo chủ
người Đúc Ratzinger(3), Hồng Y Giáo Chủ
Christopher Schonborn, người Áo, rất tin tưởng ỏ tánh vô thượng
của tôn giáo mình, mà coi thường tất cả những tôn giáo khác, nên không
thể chấp nhận bất cứ một nhân nhượng nào đối với Do Thái giáo hay
đạo Islam. Thái độ tự tôn, tự coi là vô thượng,
có ý coi rẻ các tôn giáo khác, không ngang bằng với tôn giáo của Ngài đã
thể hiện thật là rõ rệt trong một cuộc phỏng vấn với nhà báo Ý
Vittorio Messori năm 1994 mà kết quả là cuốn sách nổi tiếng thế giới
Crossing the Threshold of Hope(5) (Bước qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng) của
Ngài. Những lời phê bình chủ quan về Phật Giáo, trong cuốn sách, không
những đã sai lầm, chứng tỏ Ngài có một hiểu biết rất nông cạn về
Phật Giáo, mà lại có ý làm giảm giá trị của tôn
giáo này, đã gây ra những phản ứng phẫn
nộ trong các cộng đồng Phật Giáo thế giới, nhất là tại Tích Lan
(Ceylan) mà ở đó quốc giáo là Phật Giáo Nam Tông khiến Ngài đã phải xin lỗi thế giới Phật
Giáo. Trong khi tại vì, Ngài cũng không quên
những người anh em ruột thịt của người Công Giáo là những người Chính
Thống Thiên Chúa Giáo nước Nga. Trước năm 1054, không có gì phân biệt giữa
những người cùng đi theo một đạo là Thiên Chúa Giáo, cùng công nhận
giáo quyền từ La Mã này. Chỉ vì năm ấy, một vị Hồng Y giáo chủ người
Pháp, theo lệnh của Tòa Thánh, đã rút phép thông công và khai trừ vị Thượng
Phụ Chính Thống của thành Constantinople, gây ra rối loạn đi đến sự lật
đổ Hoàng Đế Byzantine theo Chính Thống giáo. Từ đó trở đi, Chính Thống
Thiên Chúa Giáo và La Mã Công Giáo trở nên cừu địch. Khi Giáo Hoàng John Paul II mới lên ngôi,
Ngài đã nghĩ đến ngay việc phải đi đến hòa giải với Nhà Thờ Chính
Thống bên Nga, là nơi đại đa số dân chúng là tông đồ. Tín dồ Công
Giáo chỉ là một thiểu số. Ngài đã ngỏ ý với chính phủ Nga và Nhà Thờ
Chính Thống được phép sang Nga, trước là để tiếp xúc ban phép lành cho
tín đồ, sau là để tỏ tình huynh đệ với các nhà lãnh đạo Chính Thống
giáo. Thế nhưng, Ngài đã thất vọng. Chính phủ Nga, thể theo lời yêu cầu
của Nhà Thờ Chính Thống giáo, đã chối từ.
Tỵ hiềm giữa hai tôn giáo anh em này không vì những khác biệt
về triết học, về giáo lý, môn hộ, mà là vì cung cách hành xử của
Thiên Chúa Giáo La Mã. Nhà Thờ Chính Thống đã tố cáo Thiên Chúa Giáo La
Mã đã có chánh sách tranh dành giáo dân, tìm đủ mọi cách để cải đạo
những người ngoại đạo - kể cả những người Chính Thống Thiên Chúa
Giáo - hầu có thêm tín đồ. Tất nhiên La Mã bác bỏ lời tố cáo này nhưng
vẫn nhấn mạnh mọi người phải được tự do thay đổi, chọn lựa tín
ngưỡng cho mình. Uy tín của Giáo Hoàng John Paul II lên
cao nhất có lẻ đạt được khi Ngài đi đến thăm giáo dân tại các nước
Nam Trung Mỹ. Hàng triệu tín đồ mà rất đông thuộc thành phần thấp
kém, nghèo khổ trong xã hội đã nô nức kéo nhau đến đón tiếp, chiêm ngưỡng
Ngài và lắng nghe những lời vàng ngọc của Ngài. Bởi vậy cho nên Ngài
đã được tông đồ ca tụng như là người nói lên tiếng nói của những
kẻ bị áp bức thiệt thòi, và bênh vực cho nhân phẩm, cho nhân quyền. Thế
nhưng những người hiểu biết hơn lại rất thắc mắc khi thấy, trong khi
đó, Giáo Hội của Ngài lại vẫn hết lòng ủng hộ các chính phủ quân
nhân tàn bạo của các nước ấy, từ Argentina, Chile, Brazil, San Salvador, đến
Nicaragua…Những lãnh tụ quân phiệt này là những tập đoàn tàn ác đã
đàn áp thẳng tay, cầm tù không xét xử, bí mật thủ tiêu, không thương
xót giết hại cả trăm ngàn người trong nước bất đồng chánh kiến với
họ, không coi nhân phẩm nhân quyền ra cái gì, ngược
hẳn với những giáo lý Ngài vẫn giảng dậy. Nạn nhân của nhóm quân phiệt
phần lớn lại là những thành phần thấp cổ bé miệng bị áp bức bóc lột
tận cùng. Không phải là Giáo Hoàng John Paul II không biết đến những chuyện
như thế. Ngài đã từng được đại diện địa phương bá cáo đầy đủ. Một trrường hợp đau thương đã xẩy
ra đối với đại diện của Ngài tại nước El Sanvador là Tổng Giám Mục
Oscar Romero. Ngài Tổng Giám Mục rất đau khổ khi thấy giáo dân của mình
đã bị chính phủ quân nhân đàn áp, kìm kẹp, giết hại, chẳng khác chi
giáo dân nước Ba Lan của Ngài Giáo Hoàng dưới ách Cộng Sản. Ngoài những
bá cáo viết về La Mã, Ngài đã ba lần đích thân về Tòa Thánh trình bầy
tự sự, và cũng để xin Toà Thánh can thiệp, bởi vì Ngài đã nhiều lần
bị nhóm quân phiệt đe dọa tính mạng. Giáo Hoàng John Paul II đã không muốn
can thiệp và ngược lại lại chỉ khuyên can vị Tổng Giám Mục phải biết
mềm dẻo nhân nhượng với chính quyền. Lần cuối cùng, Ngài Tổng Giám Mục
đã chờ cả ngày mà không được vào bệ kiến vì đức Giáo Hoàng không
chịu tiếp. Ngài đã phải chờ đến khi vị Giáo Chủ của mình ra khỏi
phòng mà chạy đến níu áo xin được che chở. Vẫn vô hiệu. Trở về nhiệm
sở, chỉ ít tháng sau, ngày 24 tháng 3, 1980, Tổng Giám Mục Romero đã bị một
kẻ vô danh bắn chết trong khi Ngài đang giảng đạo tại nhà thờ. Biến cố này đã làm chấn động thế
giới Công Giáo và đã phải làm xúc động đức Thánh Cha không ít. Thế
nhưng dường như vị chủ chiên vẫn không bằng lòng với đức ông Romero,
mặc dầu rất thánh thiện, đã không chịu nghe theo lời khuyên của Ngài
để bị giết hại. Cho đến nay, sau 25 năm, Ngài vẫn không chấp nhận đề
nghị tuyên phúc (beatification) cho Tổng Giám Mục Oscar Romero. Những sự việc xẩy ra có vẻ nghịch
lý này, thực ra có thể hiểu được nếu nhìn sâu vào bản chất của
nhà thờ Thiên Chúa giáo La Mã. Nhà thờ La Mã không phải chỉ là một tổ
chức tôn giáo đơn thuần có giáo quyền lớn lao trên 17% nhân loại qua những
hệ thống chế ngự và kiểm soát tinh thần tông đồ một cách rất tinh
vi hữu hiệu, mà còn là một tổ chức chính trị có quyền lực đáng kể
khiến cho rất nhiều nhà lãnh đạo chính trị trên thế giới phải nể
vì. Tòa Thánh La Mã là một tổ chức chính trị vì khởi thủy nó đã
thoát thai từ những nhu cầu chính trị với nhiều Giáo Hoàng nắm giữ quyền
bính của một Cesar Hoàng Đế La Mã. Và sau đó nó đã được nẩy nở, bành
trướng, lan tràn khắp thế giới, với vai trò tiên phong hay tiếp tay cho những
chế độ thực dân, những quân đội viễn chinh áp đặt những nền thuộc
địa bóc lột lên các dân tộc châu Phi, châu Mỹ và châu Á. Ưu tiên hàng
đầu của đạo Công Giáo là khuyếch trương giáo quyền lên dân chúng thế
giới, song song với mục tiêu chính của chế độ Thực Dân là bành trướng
lãnh thổ và quyền bính lên các nước. Cho nên, đối với Ngài, đạt được
sự ủng hộ của chính quyền Salvador để tiếp tục nắm giữ được giáo
dân trong nước, dù có phải làm ngơ trưóc những hành động phi nhân của
họ, là một quyết định chính trị cần thiết mà cố Tổng Giám Mục đã
không hiểu. Một nhà trí thức Công Giáo có nhiệt
tâm muốn phát triển tôn giáo mình cho tốt đẹp hơn, ông Phan Đình Diệm,
đã có một nhận định rất sâu sắc khi ông viết: “Giáo hội Công
Giáo Rôma là một tổ chức tôn giáo đế quốc, có chính quyền trung ương
tập quyền và độc tài giáo phiệt. Giáo hội Công Giáo Rôma tại Việt
Nam chỉ là một chư hầu, một giáo phái ngoại nhập đặt dưới quyền chỉ
huy trói buộc nghiêm nhặt của giáo hoàng tại Rôma.”(4) Việt Xem như vậy, sự
ra đi của Ngài John Paul II, nều có đem lại nhựng hòa hoãn chính trị giữa
Toà Thánh với các chính quyền mà đã nhìn thấy giáo quyền siêu quốc gia
của Toà Thánh đối với những tín đồ công dân trong nước có thể có
phương hại đến quyền lợi của Tổ Quốc qua những bài học lịch sử,
thì không chắc điều này đã đạt được, về phương diện tâm linh, đối
với các tôn giáo khác. Những người lãnh đạo tâm linh các tôn giáo
không phải là Công Giáo đã nhìn thấy cái bản lai diện mục của Nhà Thờ
La Mã qua thái độ tự tôn(5), thiếu bao dung, đầy kỳ thị và
coi các tôn giáo khác như vô bổ. Không những thế, với chủ trương cải
đạo tín đồ các tôn giáo khác, tranh dành giáo dân một cách ráo riết
cùa Nhà Thờ TCGLM, thì rất ít hy vọng mà những nhà lảnh đạo tâm linh
ấy lại có thể tin đưọc những lời tốt đẹp của vị Giáo Hoàng mới
nằm xuống đối với tôn giáo của họ. Hòa giải chính trị
thì dễ đạt khi quyền lợi đôi bên được thỏa mãn. Nhưng hòa đồng tôn
giáo sẽ vô vàn khó khăn khi vẫn còn khinh mạn, kỳ thị, và bất bao dung. (1) Ở thời điểm đó sự phá sản của
nền kinh tế Nga Sô đã chỉ rõ sự tất nhiên của điều này. (2) Giáo Hoàng Pius XII (1876-1958) đã bị
người Do Thái tố cáo là trong thời kỳ
đảng Quốc Xã cầm quyền tại Đức, Ngài có nhiều giao hảo tốt đẹp với
Quốc Trưởng Hitler. Vì thế mà người Công Giáo
được để yên, trong khi đó, Ngài đã không chịu làm gì để
can thiệp cho người Do Thái khỏi bị Hitler sát hại. (3) Hồng Y Giáo Chủ Ratzinger, với cương
vị là người phụ trách Congregation for the Doctrine of the Faith của Toà
Thánh, được coi là lý thuyết gia bảo vệ tín lý của Công Giáo La Mã,
cánh tay phải của John Paul II. Khác với vị chủ chăn khả kính, Hồng Y
Ratzinger là một người bạo mồm, mạnh miệng, do đó đã được báo chí
tặng cho cái hỗn danh là “the God’s Rottweiler” (Rottweiler là một giống
chó giữ nhà rất hung tợn). Được nhà báo phỏng vấn về phản ứng đối
nghịch của Phật giáo trước cuốn Bước qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng, mà
ông là người viết chính, ông đã nói: Theo ông “Buddhism is a kind of
spiritual auto-eroticism”. Câu trả lời khiếm nhã này đã nói lên tác phong
thấp kém, đầy ác ý đối Phật giáo, của một ứng viên rất có thể
được bầu làm Giáo Hoàng kế vị. (4) “Thư góp ý ngày 5-8-2003 về Pháp Lệnh
Tôn Giáo, Quốc Hội Việt (5) Trong một đọan văn cuốn Crossing the
Threshold of Hope, Ngài có viết : “Christ is absolutely original and absolutely
unique… He is the one mediator between God and humanity”. Đọc câu này, Thiền Sư
Thích Nhất Hạnh đã viết trong tác phẩm Living Buddha, Living Christ xuất bản
năm 1995 của người: “The idea behind
the statement, however, is the notion that Christianity provides the only way of salvation
and all other religious traditions are of no use. This attitude excludes dialogue and
foster religious intolerance and discrimination. It does not help”. Tháng
4, 2005 |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com