405-gd.gif (4053 bytes)
posted: 2.4.2005
        Lê Trương

NÓI VỀ CÁC PHONG TRÀO VĂN NGHỆ TRANH ĐẤU TẠI MIỀN NAM TỪ 1964 ĐẾN 1969 

PHONG TRÀO TÂM CA (1965)

Vào năm 1965, cuộc diện chiến tranh Việt Nam thay đổi đột ngột. Lính ngoại quốc bắt đầu đổ bộ lên Việt Nam, không lực Hoa kỳ khởi sự trút bom xuống miền Bắc. Giữa lúc đó tại các đô thị miền Nam, một phong trào văn nghệ xuất hiện, lôi cuốn các giới trí thức, già trẻ một cách mãnh liệt. Đâu đâu cũng nghe người ta hát TÂM CA; hết đoàn thể này đến đoàn thể khác liên tục tổ chức những chương trình Tâm Ca.

Mọi người say mê thở không khí Tâm Ca, dù là người Phật giáo, người Công giáo, dù là người chống hay không chống chế độ Bắc Việt. Rồi qua những cuộc tranh đấu, Tâm Ca trở thành một phong trào bao trùm nhiều giới quần chúng. Chúng tôi gọi đó là phong trào TÂM CA PHẢN CHIẾN, chữ phản chiến hiểu theo nghĩa không muốn chiến tranh, cho dù là loại chiến tranh nào. Dựa vào hoàn cảnh lịch sử, dựa vào thái độ của người nghe, người hát cũng như dựa vào âm nhạc và lời ca, chúng ta thử tìm hiểu ý nghĩa của phong trào văn nghệ này như thế nào.

1.       Ý nghĩa thứ nhất của phong trào này là thể hiện khát vọng Hoà Bình:

Kể từ năm 1965, nhạc Hoà Bình đã bắt đầu xuất hiện. Có điều đặc biệt là dường như hai tiếng Hòa Bình không được nhắc tới trong lời ca tiếng hát. Bởi vì trong giai đoạn này, giữa lúc Đồng minh đang tăng cường khả năng chiến tranh thì hai chữ Hoà Bình trở thành hai chữ tối kỵ. Người ta có thể bị vào tù nếu nói đến Hoà Bình, không phải là thứ Hòa Bình dựa trên chiến tranh của chính phủ Mỹ-Việt. Nhưng chúng ta có thể tìm thấy hai chữ Hoà Bình nấp một cách kín đáo, khéo léo trong những bài Tâm Ca: Tôi ước mơ, Giọt mưa trên lá.

Tôi ước mơ là bài ca được nhiều người ưa thích:

   Sáng nay vừa thức dậy,

 Nghe tin em ngục ngã nơi chiến trường!

 Nhưng trong vườn tôi

 Vô tình, khóm tường vi vẫn nở thêm một đóa.

Tôi vẫn sống, vẫn ăn và vẫn thở!

Nhưng biết bao giờ

Tôi mới được nói thẳng

Những điều tôi ước mơ?

(Tâm Ca 1)

Khát vọng Hoà Bình được thể hiện rõ ràng trong câu cuối của bài ca. Người ta đã hát như hô một khẩu hiệu, như gào lên một yêu sách: “Biết bao giờ, biết bao giờ tôi mới được, tôi mới được nói những điều tôi ước mơ”. Thật ra, nói như vậy là nói thẳng, nhưng nói thẳng một cách an toàn. Do đó, ai cũng mạnh nói và bài ca trở thành thịnh hành.

Giọt mưa trên lá cũng thể hiện nguyện vọng Hoà Bình, nhưng điều đáng chú ý là chính nhạc mưa và tình yêu đã nói lên những điều ước mơ đó. Đọc bài ca không đủ, chúng ta còn phải nghe, nghe nhiều lần mới có thể thông cảm một cách trọn vẹn:

Giọt mưa trên lá, nước mắt mẹ già

Lã chã đầm đìa trên xác con lạnh giá.

Giọt mưa trên lá, nước mắt mặn mà

Thiếu nữ mừng vì tan chiến tranh chồng về. (Tâm Ca 4)

http://dactrung.net/nhac/noidung.aspx?BaiID=0e1d5oJGec8dpdmo5ImlnQ%3d%3d

 Nhạc của bài ca này buồn như giáo đường, gợi lên một điều gì rất tha thiết nhưng gần như tuyệt vọng. Giọt mưa trên lá trở thành một bài thánh ca, một lời kinh cầu của những người khao khát Hoà Bình, nhưng những gì họ đang ước mơ thì còn xa quá.

2.       Tính chất thứ hai của phong trào văn nghệ là thể hiện khát vọng thống nhất dân tộc:

Chiến tranh xuất hiện trên thế gian này kể từ khi con người sống trong sự mâu thuẫn giữa trắng đen, phải trái, xấu tốt, yêu ghét v.v…Nếu phá được sự mâu thuẫn đối chọi đó, con người có thể ngồi gần nhau, sum họp nhau, đất nước không còn chia lìa, lòng người không còn phân tán. Đó là một thứ triết lý phản ảnh tâm trạng muốn thống nhất dân tộc mà không cần bất cứ điều kiện nào. Chúng ta có thể tìm thấy tâm trạng đó của quần chúng đô thị một cách rõ ràng trong những bài Tâm Ca: Ngồi gần nhau, Một cành củi khô, Để lại cho em.

Ngồi gần nhau là một bài ca đượm triết lý Phật giáo. Nhạc của nó cũng âm hưởng nhạc kinh Phật:

    Ngồi gần, ngồi gần nhau,

   Xin nói cho nhau một điều,

  Ngồi gần ngồi gần nhau cho nhiều.

  Ngồi vào một thế giới không xấu tốt buồn vui,

  Ngồi vào niềm chơi vơi không có sắc màu phai.

  Ngồi vào đời không mới,

 Không rách nát tả tơi,

 Một mình ngồi trong cái TA.

 (Tâm Ca 3)

Giữa lúc người ta đang nhân danh chính nghĩa này, chính nghĩa nọ để gây nên một cảnh bom đạn tơi bời, với một lò sát sinh chưa từng thấy, một hận thù tưởng chừng không bao giờ dứt được, thì cũng có những người phủ nhận mọi lý do đó và kêu gọi con người hãy ngồi gần nhau, vai kề vai, đầu tựa đầu :

   Ngồi vào niềm yêu dấu

  Hay giữa mối thù sâu

 Mình vào ngồi đây với nhau.

Bài ca Để lại cho em cũng phản ảnh sự vô điều kiện trên một cách nồng nhiệt hơn nữa : Các anh để lại cho em cuộc sống mệt nhoài, hồn nước tả tơi, cuộc đời quanh co lạc lối, hèn kém, tội lỗi. Để lại cho em một nước phân lìa, một giống nòi chia. Hận thù nhân danh chủ nghĩa, bạo tàn vênh vang bề thế. Để lại cho em giọt máu dân lành, để lại cho em từng nắm mồ xanh, để lại cho em một bãi chiến trường.

Gia tài các anh để lại cho em là như thế đó. Để lại cho em một nỗi oán hờn, lẻ ra là như vậy. Nhưng không, trái lại đâu đâu chúng ta cũng có thể nghe những người trẻ cất cao lời ca :

   Nhưng em thương anh thương anh,

   Cho súng phải giật mình,

   Nhưng em thương anh thương anh

   Cho tàu bay khóc với

   Nhưng em thương anh thương anh

   Cho lựu đạn im tiếng

   Nhưng em thương anh thương anh

   Cho đường vũ khí qua tim.

(Tâm Ca 5)

 Thái độ của họ là như vậy thì cuộc chiến tranh này có ý nghĩa gì nữa. Sự phân chia đất nước, sự chống đối anh em đâu còn lý do để tồn tại. Sao cũng được: Miễn là chúng ta ngồi được gần nhau, thương nhau; khi thương trái ấu cũng tròn, miễn là chúng ta đừng giết nhau nữa mà thống nhất, sum họp một nhà.

3.       Đặc tính thứ ba của phong trào là thể hiện khát vọng chấm dứt chém giết, tôn trọng con người:

Giữa lúc người ta đang dốc toàn khả năng chiến tranh cơ khí để tiêu diệt “Việt cọng, Việt bắc’’ để “giành” lại tự do cho nhân dân miền Nam (!), thì chính tại miền Nam lại nổi lên một phong trào chống đối, tố cáo cái hành động mà họ gọi là một cuộc “chiến tranh bẩn thỉu”. “Kẻ thù của chúng ta không phải là con người, dù con người Việt cọng. Giết người đi rồi, chúng ta ở với ai?”. Đó là hai câu thơ của Thầy Nhất Hạnh, một tu sĩ Phật giáo. Hai câu thơ này là đề tài của một bài Tâm Ca rất thịnh hành:

   Kẻ thù ta đâu có phải là người

   Giết ngườI đi thì ta ở với ai?

   Người người ơi! Yêu mến người mãi mãi!

   Người người ơi! Yêu mến người không nguôi.

(Tâm Ca 7)

http://dactrung.net/nhac/noidung.aspx?BaiID=KVfXcjcPezXP3UXqPmZu%2bg%3d%3d

  Như vậy, Tâm Ca đã trở thành tiếng nói của người dân các đô thị, tạo nên một phong trào văn nghệ phản chiến rất mạnh.

4.       Nói về Nguyên nhân hình thành của phong trào:

Một câu hỏi rất quan trọng được đặt ra là: Tại sao mọi người không kể khuynh hướng chính trị, tôn giáo đều hưởng ứng phong trào ca hát này? Điển hình là chính Phạm Duy, người của chế độ, có lý tưởng phục vụ chế độ này, lại cũng là người sáng tác, phổ nhạc và ca hát say sưa Tâm Ca phản chiến.

Nói đến phong trào là nói đến những hiện tượng lịch sử, cho nên muốn giải thích phong trào Tâm Ca, chúng ta không thể không dựa trên những yếu tố lịch sử cũng như dựa trên thực trạng chiến tranh Việt Nam trong những ngày xảy ra phong trào. Lịch sử Việt Nam là lịch sử của một nước bị xâm lăng rất nhiều lần, với một nghìn năm nô lệ giặc Tàu, một trăm năm nô lệ giặc Tây, người Việt không thể không nghi ngờ ngoại bang. Sự nghi ngờ này đã trở thành một mặc cảm, tưởng chừng như ngoại bang sẵn sàng xâm lăng nước mình. Do đó, việc lính ngoại quốc đổ bộ lên đất nước Việt Nam là một tin sét đánh vào tâm hồn người Việt. Việc không lực Hoa kỳ trút bom xuống giải đất Việt Nam này cũng là một tin sét đánh vào tâm hồn người Việt.

Giải pháp nào có sự nhúng tay của ngoại bang đều là một mối lo ngại trong thâm sâu của tâm hồn người Việt, cho dù là những người đang chống đối người Việt Cộng sản. Mọi người đều cảm thấy bây giờ lập trường chính trị không thể giải tỏa được cái mặc cảm bị xăm lăng của họ và hoàn cảnh xã hội cũng không cho phép họ nói những điều mà họ mơ hồ cảm thấy. Do đó, con đường tôn giáo trở thành một lối thoát, giúp họ thể hiện cái khát vọng chấm dứt những tình trạng trái với tâm hồn họ:

‘‘Kẻ thù ta đâu có phải là người,     

Giết người đi thì ta ở với ai ? ’’

‘‘Giọt mưa trên lá, tiếng nói thì thầm

Bóng dáng Phật về xóa vết thương trần thế.

Giọt mưa trên lá, tiếng nói tinh khôi

Lúc Chúa vào đời xin đóng đinh vì người ’’.

Họ không tin ngoại bang có thể mang lại Hòa Bình cho dân tộc Việt, họ thấy cái cảnh ‘‘tránh vỏ dưa, đạp vỏ dừa’’ lần lần hiện ra trước mắt. Không biết bao giờ cuộc tàn sát này chấm dứt ? Chấm dứt rồi bao giờ ngoại bang mới chịu rút lui ? Tình trạng chiến tranh như thế này liệu có ngăn nổi Trung cọng đổ quân vào không ? Tất cả những câu hỏi đó đè nặng tâm hồn người Việt :

‘‘Biết bao giờ tôi mới được nói thẳng những điều tôi ước mơ’’ : bao nhiêu lo âu, thất vọng đều nằm trong câu nói đó.

- ‘‘Biết bao giờ’’ tức là cái thời gian không nằm trong dự tính.

- ‘‘Nói những điều ước mơ’’ vẫn chưa phải là đạt được những điều ước mơ.

‘‘Biết bao giờ tôi mới được nói thẳng những điều tôi ước mơ ?

Biết bao giờ em tôi không còn ngã gục nơi chiến trường’’.

Trước những ưu tư, dằn vặt đó, người dân đô thị đã tiến tới một giải pháp : Thôi hãy xóa bỏ mọi ý nghĩ của một cuộc nội chiến để ngoại bang mất lý do tràn ngập đất nước. Họ muốn quên đi tất cả những mâu thuẫn, dị biệt để mọi người có thể ngồi gần nhau, ngồi vượt lên những gì hạn hẹp, tầm thường của con người :

   Ngồi vào niềm yêu dấu hay giữa mối thù sâu,

   Mình vào ngồi đây với nhau…

   Nhưng em thương anh, thương anh,

   Cho súng phải giật mình,

   Nhưng em thương anh, thương anh,

   Cho tàu bay khóc với…

Chúng ta có thể kết luận: Phong trào Tâm Ca là phản ứng đầu tiên của quần chúng đô thị trước sự hiện diện của quân đội ngoại quốc và sự chủ động chiến tranh của họ trên đất nước Việt Nam này. Dù Tâm Ca đượm tính chất tôn giáo, nhưng phong trào Tâm Ca không thể hiện một sự chạy trốn hèn nhát của quần chúng đô thị vì không dám đối diện với chiến tranh.

Trái lại, khi tiếng hát đã kết thành phong trào thì phong trào Tâm Ca mang một ý nghĩa chính trị hoàn toàn bất lợi cho chính sách leo thang chiến tranh của ngoại bang, trong đó có Hoa kỳ. Do đó, những chính khách Hoa kỳ phản công lại bằng cách cướp lời ca, tiếng hát đó, mua chuộc tác giả những bài Tâm Ca đứng về phía họ, cùng với họ hát nhạc phản chiến. Chúng tôi gọi đó là ‘‘chiếc đủa phù thủy chính trị’’.

4.  Âm mưu tiêu diệt phong trào:

Thật vậy, phong trào Tâm Ca càng ngày càng lên cao, tiếng nói hòa bình phản chiến càng ngày càng mạnh mẽ không những tại Việt Nam mà còn tại nhiều nơi trên thế giới, nhất là tại Hoa kỳ với một bài Tâm Ca vĩ đại hơn tất cả các bài Tâm Ca nhân loại: đó là lửa tự thiêu của Morrison. Phong trào này mang một ý nghĩa chính trị hoàn toàn bất lợi cho chính sách chiến tranh của Hoa kỳ tại Việt Nam. Do đó những nhà chính trị Hoa kỳ vội khua chiếc đủa phù thủy tiêu diệt những lời ca tiếng hát đó.

Họ mời Phạm Duy qua Mỹ để hát Tâm Ca, Kháng Chiến Ca. Phạm Duy đã rơi vào cái cạm bẩy chính trị đó. Phạm Duy ra đi không phải mang tâm trạng một chiến sĩ với một sứ mạng quan trọng là vào đất người dùng Kháng Chiến Ca thể hiện sức mạnh vô địch của dân tộc Việt Nam làm cho mọi người phải kính sợ, dùng Tâm Ca đánh vào lương tâm nhân loại làm cho họ bừng tỉnh đứng lên cùng chúng ta tranh đấu cho tự do, hòa bình. Trái lại, Phạm Duy ra đi với tâm trạng của một người bạn, một đồng minh của Hoa kỳ và cũng được coi như một người bạn quý, một người có những rung cảm như những rung cảm của người Hoa kỳ trước cuộc chiến tranh Việt Nam.

Phân tích khía cạnh những âm mưu chính trị, sự kiện trên bao hàm ba ý nghĩa quan trọng:

a.                         Ý nghĩa thứ nhất là chính phủ Mỹ muốn chứng minh cho nhân dân Việt Nam và nhân dân Mỹ là chính sách của họ trong cuộc chiến tranh Việt Nam không ngoài ước vọng tự do, hòa bình của dân tộc Việt Nam. Chính sách này cũng không phải là chính sách thực dân xâm lược, nhằm tạo chiến tranh để trục lợi, vì vậy họ tán đồng Kháng Chiến Ca của nhân dân Việt Nam trong cuộc chống đối thực dân Pháp cũng như họ rất yêu thích Tâm Ca phản chiến. Vì vậy mà họ quý Phạm Duy, mời Phạm Duy. Ngược lại, Phạm Duy, một nhạc sĩ vĩ đại của nhân dân Việt Nam cũng thấy thiện chí đó nên nhận lời mời của họ, đứng về phía họ.

b.                        Ý nghĩa thứ hai của âm mưu chính trị trên là: Dĩ nhiên những người Việt trong phong trào Tâm Ca không bao giờ đồng quan điểm chiến tranh của người Mỹ tại Việt Nam. Do đó hể Mỹ thích Tâm Ca, thì họ không thích nữa, hể Mỹ hát thì họ không hát, hể Mỹ vổ tay tán thưởng thì họ vội vàng im lặng, và khi họ im lặng, tức là khi phong trào Tâm Ca chìm xuống, tiêu tan.

c.                        Ý nghĩa thứ ba của âm mưu chính trị trên nhằm giết chết Phạm Duy. Phạm Duy là một nhạc sĩ tài ba của Việt Nam. Trong giai đoạn nào của lịch sử cũng có mặt Phạm Duy với những tác phẩm có khả năng tạo nên những phong trào văn nghệ dân tộc. Phạm Duy đã đóng góp một vai trò vô cùng quan trọng trong ba phong trào văn nghệ lớn nhất: Đó là phong trào Kháng Chiến Ca, phong trào Dân Ca, và phong trào Tâm Ca phản chiến. Cái nhược điểm của Phạm Duy là ở chỗ yếu đuối, hay dao động. Cái đặc tính của người Việt là hay ‘‘khinh tài trọng nghĩa’’, cho nên nếu khai thác được hai khía cạnh đó bằng cách mời Phạm Duy viếng Hoa kỳ là đủ giết chết Phạm Duy, trừ được tác dụng của những bài Kháng Chiến Ca, Tâm Ca phản chiến và cũng trừ được những hậu quả sau này.

Phạm Duy đã ra đi. Cái đêm đánh dấu sự tiễn đưa Phạm Duy, tiễn đưa Tâm Ca ra đi có lẽ là đêm văn nghệ Tưởng niệm Nhất Chi Mai tại Tổng vụ Sinh viên Phật tử. Đêm ấy, buổi lễ diễn ra trong một bầu không khí trang nghiêm đứng đắn. Thực ra, đó chỉ là một hình thức tranh đấu cho Hoà bình của quần chúng đô thị. Cái chết của Nhất Chi Mai là một loại Tâm Ca mới, một sức mạnh mới cho cuộc đấu tranh:

   Chị ngã xuống rồi, triệu người u uất

   Và rùng rùng dân tộc đứng lên theo

               (thơ Trần Quang Long)

Đêm hôm đó, Phạm Duy cũng có tới tham dự. Phạm Duy lên sân khấu trong chiếc áo pu-lô-vơ màu vàng nhạt, chiếc quần xám may sát và cây đàn ngoại quốc sang trọng. Phạm Duy hát bài ‘‘Tôi ước mơ’’ : ‘‘Biết bao giờ, biết bao giờ tôi mới được nói thẳng những điều tôi ước mơ’’ và Phạm Duy kết thúc bài hát bằng một tiếng hét to : ‘Hết’ và bằng nụ cười tươi vui như ngày nào.

Và, cái giây phút đó đã đến. Khán giả không nhiệt tình vỗ tay tán thưởng như mọi khi nữa. Nhiều tiếng phản đối xì xào nổi lên. Phạm Duy đã làm mất cái vẻ trang nghiêm, căng thẳng, đầy chiến đấu tính của buổi lễ tưởng niệm Nhất Chi Mai. Lần đó, Phạm Duy chỉ hát một bài và không được yêu cầu hát nữa. Chúng ta có thể nói giai đoạn Tâm Ca kết thúc từ đây, với tất cả cay đắng mà mỗi người trong chúng ta cần suy ngẫm lại.

LÊ TRƯƠNG

(Hội Sinh viên sáng tác Sài Gòn /1970)

Ghi thêm : Link Phạm Duy

http://www.phamduy.com/   (site này đã ngưng họat động)

http://kicon.com/phamduy/

PHONG TRÀO DA VÀNG CA

Vào năm 1966, cuộc chiến Việt Nam trở nên dữ dội hơn. Bom đạn trút xuống quê hương càng ngày càng nhiều, lính ngoại quốc đổ bộ lên đất nước càng ngày càng đông. Những phong trào tranh đấu ở các đô thị bị đàn áp tơi bời. Biến cố miền Trung được mang tên là “một cuộc nội chiến trong một cuộc nội chiến”: Máy bay, xe thiết giáp, lính thiện chiến của chính quyền trung ương Sàigòn tấn công các thành phố Huế, Đà nẵng.

Giữa lúc đó, cũng chính từ miền Trung, có một chàng lãng tử gầy ốm với vầng trán rộng và nụ cười héo hắt đã mang vào Nam hai bài ca nghe rất buồn thảm: bài Người già em bé và bài Ca dao mẹ. Một đám người tới với chàng, họ ngồi dưới đất, trong bóng tối và hát tuyệt vọng như những người nô lệ da đen đêm đêm ngồi than khóc phận mình. Từ đó, tiếng hát lan ra khắp các đô thị, tới đâu nó cũng đi sâu vào lòng người, làm rung lên như một dây đàn từ lâu chờ người gảy. Phong trào càng ngày càng dâng lên cao, nhất là sau biến cố Mậu Thân để rồi không có một sức mạnh nào ngăn cản nổi nữa. Chúng tôi gọi đó là phong trào DA VÀNG CA.

Năm 1966, cuộc chiến Việt Nam lại được mang thêm một tên mới: Chiến tranh diệt chủng. Tất cả khả năng cơ khí của nền văn minh Tây phương đều được tận dụng vào cuộc giết người rất khủng khiếp này. Nông dân Việt Nam đã chịu đựng cảnh bom đạn trong nhiều năm nay, càng ngày sức tàn phá của chiến tranh lại càng gia tăng.

Trịnh Công Sơn đã mô tả sự bi đát hãi hùng của thân phận da vàng Việt Nam trong những lời ca sau:

  Từng chuyến bay đêm, con thơ giật mình,

  Hầm trú tan hoang, ôi da thịt vàng…

  Hàng vạn tấn bom trút xuống đầu làng,

  Cửa nhà Việt Nam cháy đỏ cuối thôn.

                           (Đại bác ru đêm)

Đó là thân phận của nông dân Việt Nam. Nay các đô thị cũng nhiều phen chìm trong khói lửa. Người dân thành phố không những đêm đêm nghe tiếng bom dội về làm rung chuyển cả thành phố mà còn sống trong cảnh tàn phá hủy hoại của bom đạn. Chết chóc đã xuất hiện đầy rẫy trong những đường phố:

  Xác người nằm trôi sông, phơi trên ruộng đồng,

Trên nóc nhà thành phố, trên những đường quanh co.

Xác người nằm bên nhau, treo trên gầm cầu,

Trong góc nhà đổ nát, dưới những hàng thông sâu.

Xác người còn xương khô, trong khắp bụi mờ,

Sau những đường phố vắng, trên góc đường mấp mô.

                           (Bài ca dành cho những xác người) http://dactrung.net/nhac/noidung.aspx?BaiID=xTZ66XmY4hPYZlNm5p6qNQ%3d%3d

Trước những biến cố mới đó, quần chúng đô thị bắt đầu hiểu một cách thấm thía cuộc chiến tranh đã kéo dài từ bao lâu nay. Nông thôn cũng như thành thị giờ đây không có một tất đất nào trên quê hương thân yêu này được coi là an toàn. Chiến tranh toàn diện, chiến tranh giành thắng lợi, cho dù thắng lợi là làng mạc hay thành phố biến thành đống tro tàn gạch vụn, trên đó những người được nhân danh cho cuộc chiến này nằm chết ngổn ngang. Cái hình ảnh:

   Người già co ro, em bé lõa lồ,

   Từng hạt cơm khô, trong miếng hững hờ,

   Từng bàn tay khô lấp kín môi cười,

   Từng cuộn dây gai xé nát da người,

   Cửa nhà Việt Nam, cháy đỏ cuối thôn…

                           (Người già, em bé)  http://dactrung.net/nhac/noidung.aspx?BaiID=bu1OYMF7hkQxsP7rf97pyQ%3d%3d

giờ đây cũng chính là hình ảnh của quần chúng đô thị. Nó không còn là một câu chuyện của một chàng lãng tử ngang qua thành phố kể cho họ nghe trong những cảm giác đau nhức, thú vị. Đó là sự thật. Giờ đây họ thật sự sống trong chiến tranh, cho nên những lời ca đó chính là những lời ca nói về họ. Họ bắt đầu tham dự cuộc chiến tranh. Do đó, sinh hoạt văn nghệ cũng thể hiện rõ ràng cái tâm trạng của họ.

Quần chúng trí thức đô thị càng ngày càng thích nghe Ca khúc da vàng, Tình ca Trịnh Công Sơn. Và chỉ trong một thời gian ngắn, loại nhạc này đã trở thành những rung cảm chung của quần chúng đô thị, tạo nên một phong trào văn nghệ rất đặc biệt :

1.            Đặc tính thứ nhất của phong trào này là phủ nhận cảnh nồi da xáo thịt.

Giữa lúc những người Việt đang tham dự một cuộc chém giết nhau, gán cho nhau là tay sai của đế quốc này hay đế quốc nọ, thì chính trong thâm tâm họ, họ luôn luôn muốn phủ nhận cái cảnh nồi da xáo thịt đó. Họ đã từ bỏ con người của họ để mang những nhản hiệu cho mình, cho người anh em của mình để đánh nhau trên khắp các chiến trường. Thế nhưng, khi họ quên hết những nhản hiệu đó, khi họ xóa bỏ những chiếc mặt nạ mang cho nhau thì họ lại thấy gần gũi nhau, yêu thương nhau :

   Tôi có người yêu chết trận Plei-me,

   Tôi có người yêu ở chiến khu D,

   Chết trận Đồng Xoài, chết ngoài Hà nội,

   Chết vội vàng dọc theo biên giới…

              (Tình ca người mất trí)

Họ thấy những người chết trong cuộc chiến tranh khủng khiếp này là những người yêu, những người anh em của họ, cho dù những người này ở Plei-me, ở chiến khu D, ở ngoài Hà nội, ở Chu Prong, A Shau, hay bất cứ nơi nào trên giải đất Việt Nam thân yêu này. Tất cả là anh em cùng một màu da, đã cùng nhau trong hành trình vĩ đại của giống nòi từ miền Triết Giang đổ về để hình thành dân tộc Việt Nam. Tất cả là người yêu của họ. Yêu nhau là chấp nhận những đắng cay, ngọt bùi của nhau như câu ca dao : ‘‘Gừng cay muối mặn, xin đừng bỏ nhau’’. Không những tôi nhìn nhận anh là người anh em, mà tôi còn coi anh là người yêu, là gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau, là ‘‘gần nhau trong tiếng nói da vàng’’.

Vậy thì tại sao lại có cảnh nội chiến ? Đây là lời tố cáo :

   Hai mươi năm nội chiến từng giờ,

   Gia tài của mẹ, một bọn lai căng,

   Gia tài của mẹ, một lũ bội tình…

                   (Gia tài của mẹ)  http://dactrung.net/nhac/noidung.aspx?BaiID=bhtqotBhOZlbeRshiMsS5Q%3d%3d

  Sự xuất hiện của hai chữ lai căng trong văn nghệ mang nhiều ý nghĩa quan trọng. Lai căng tức là từ bỏ con ngườI văn hóa dân tộc của mình để biến thành một người khác. Đó là trường hợp của những người nô lệ muốn thoát khỏi cảnh tình nô lệ của mình bằng cách chối bỏ khinh rẻ con người của chính mình và muốn trở thành như chủ nhân ông ngoại bang, cùng với nó cai trị những người nô lệ khác. Bọn lai căng đó trở thành một lũ bội tình dân tộc, vì luôn luôn đứng sát với ngoại bang để bóc lột, giết hại đồng bào của họ. Dĩ nhiên, bọn người này không còn là người Việt nữa, nhưng họ vẫn còn da vàng, mũi tẹt. Do đó ngoại bang mới tạo được cái ảo tưởng nội chiến, một ảo tưởng nằm trong chiêu bài của họ để che mất chế độ thực dân, nô lệ. Người Việt đã cảm thấy điều đó, cho nên dù đang ở trong cái thế chống đối nhau, tự trong thâm tâm của họ, họ vẫn thấy yêu nhau, gần nhau:

   Tôi muốn yêu anh, yêu Việt Nam,

   Ngày gió lớn, tôi đi môi gọi thầm,

   Gọi tên anh, tên Việt Nam,

   Gần nhau trong tiếng nói da vàng.

                 (Tình ca người mất trí)

2.            Đặc tính thứ hai của phong trào là nói lên tâm trạng nạn nhân của một cuộc chiến.

Cái bi thảm nhất là ở chỗ : tay của người Việt ít nhiều đều vấy máu anh em mình, người yêu của mình. Tự trong thâm tâm họ là anh em, là người yêu của nhau, nhưng trên thực tế họ chém giết nhau, nhìn nhau xa lạ. Rồi khi kẻ xa lạ đó nằm xuống, bổng nhiên nó không còn xa lạ nữa, mà chính là những người yêu. Những người yêu đó đã:

Bỏ xác trôi sông,

 Chết ngoài ruộng đồng,

 Chết rừng mịt mùng,

 Chết lạnh lùng,

 Mình cháy như than.

Chết cong keo,

Chết vào lòng đèo,

Chết cạnh gầm cầu,

Chết nghẹn ngào,

Mình không manh áo.

   (Tình ca người mất trí)

Trong cuộc chiến tranh này, không ai ca khúc khải hoàn, không ai nằm chết trong vinh quang. Những người yêu đó đã:

   Chết thật tình cờ,

   Chết chẳng hẹn hò,

  Chết không hận thù,

   Nằm chết như mơ.

Vậy thì đây là cái chết do một trận địa chấn, một cơn hồng thủy. Một cái chết không nằm trong dự tính của họ. Họ bị một thứ gông cùm xiềng xích vô hình xô đẩy họ vào mâu thuẫn, hận thù, nhưng tận trong thâm sâu của tâm hồn họ, họ không thấy sự mâu thuẫn, hận thù mà chỉ thấy một màu da thơm mùa lúa chín, thấy yêu nhau, thấy gần nhau trong tiếng nói Việt Nam. Như vậy thì quả dân tộc ta đang gặp một cơn đại nạn. Và triệu người đã chết bất đắt kỳ tử, chỉ là nạn nhân của một cuộc chiến tranh phát xuất từ đâu tới, chớ không phải từ trong lòng anh em Việt Nam.

3.            Đặc tính thứ ba của phong trào là nói lên tâm trạng nô lệ da vàng.

Quê hương bây giờ không còn là quê hương thần thoại nữa mà chỉ là một ngục tù trong đó người Việt da vàng sống như những kẻ bị lưu đày. Họ không còn chủ quyền trong tay, sinh mạng hoàn toàn không được bảo đảm, giá trị làm người bị phủ nhận. Thân phận của họ không khác gì thân phận của những người nô lệ, sống không ra người, mà chết cũng không ra cái chết của một con người. Từ hoàn cảnh bi đát này xuất hiện những tiếng hát mang âm điệu nô lệ da đen, khóc than, kể lể niềm thống khổ, tủi nhục của những người da vàng trong cuộc chiến tranh tàn bạo này.

Những bài ca nổi tiếng như Tình ca người mất trí, Ca dao mẹ, Đi tìm quê hương là những bài ca rất buồn thảm, âm hưởng nhạc da đen. Bài ca bắt đầu bằng điệu Blues dìu dặt, rỉ rít, thở than, kể lể như tiếng khóc của một người đàn bà trong góc phòng tối, rồi bỗng dưng nhạc vút lên cao, nức nở, gào thét thảm thiết. Những gì trong tâm hồn họ bị nổ ra vì quá đau khổ, u uất, vì không thể đè nén lại được nữa. Những ước mơ từ lâu họ không được quyền nói tới, phải được chôn sâu vào trong lòng, nay bỗng nổ tung trong tiếng hát của người mất trí.

Tất cả những Ca khúc Da Vàng được người ta nghe trong bóng tối, như những lời kinh, những lời vô cùng thảm thiết của những linh hồn bị đày đọa không nơi yên nghỉ, bị một thứ gôm cùm xiềng xích vô hình không cho phép họ sống như những con người. Bây giờ quê hương không còn là quê hương thần thoại nữa mà chỉ là một chốn lưu đày, một ngục tù trong đó người Việt chỉ là loài ma phải chịu cảnh lang thang, đói rét và sự hủy hoại của chiến tranh:

  Người già co ro, em bé lõa lồ,

  Từng hạt cơm khô trong miếng hững hờ,

  Ruộng đồng quê hương dấu vết bom qua.

  Từng bàn tay khô lấp kín môi cười,

  Từng cuộn dây gai xé nát da người,

  Đạn về đêm đêm đốt cháy tương lai…

                           (Người già, em bé)

Họ sống trong quê hương nhưng luôn mang tâm trạng của kẻ bị lưu đày, ray rức nhớ quê hương:

   Một ngục tù nuôi da vàng

   Người Việt nằm nhớ nước non.

Người nô lệ da vàng cũng khổ hơn người nô lệ da đen ở chỗ họ mất quê hương chứ không xa quê hương. Người nô lệ da đen nhớ quê hương vì xa quê hương, một quê hương còn nguyên vẹn trong tâm tư với những cánh rừng thiêng liêng huyền diệu. Trong khi đó, người nô lệ da vàng không những nhớ quê hương mà còn thấy quê hương mình trong hình ảnh: Ruộng đồng trơ đất đỏ, Đàn bò không luống cỏ.

Người Việt thấy mình không phải là nô lệ nhưng lại phải sống như những cuộc sống của người nô lệ, bị đánh giá như một người nô lệ. Họ có cả ruộng vườn để tự nuôi sống, nhưng bom đạn, chất độc hóa học làm cho: ruộng đồng trơ đất đỏ. Họ có một mái nhà, cho dù là một mái nhà tranh, nhưng: hàng vạn tấn bom trút xuống đầu làng, cửa nhà Việt Nam cháy đỏ cuối thôn. Họ có bàn tay khối óc để dệt nên tấm vải nâu đen, trồng nên cây lúa cho dù phải thêm sắn thêm khoai, nhưng nay đành bó tay : ngồi xin áo xin cơm. Họ có bốn nghìn năm lập quốc, hình thành dân tộc bất khả phân ly, nhưng nay tưởng chừng như là: ôi đất nước u mê ngàn năm. Anh em lại rơi vào cảnh nồi da xáo thịt. Một thứ gông cùm xiềng xích nào đây đã trói buộc đôi chân họ lại. Họ không còn tự do, không còn độc lập, bắt họ thành nô lệ da vàng.

Tới đây một câu hỏi được đặt ra, là tại sao họ dùng những tiếng nô lệ da vàng và tại sao họ lại hát bằng âm thanh nô lệ da đen? Phải chăng họ cảm thấy thân phận của họ giống như thân phận người da đen trong thế kỷ này? Người da đen bị đày xa quê hương, bị mua bán như những đồ vật, bị bắt làm nô lệ, bị bóc lột tận xương tủy, bị coi như không phải là người nữa, bị tất cả mọi tai họa do ngườI da trắng gây nên kể từ khi có những chiếc thuyền vượt biển. Sản phẩm của nền văn minh da trắng là chế độ nô lệ, chế độ thực dân, chế độ thực dân mớI, chế độ đế quốc, là ba mươi triệu người da đen hiện diện trên nước Mỹ, là máu, nước mắt trong rừng núi Phi châu, là chiến tranh Việt Nam trong suốt trăm năm nay. Chữ nô lệ da vàng khiến ta liên tưởng đến chữ nô lệ da đen, rồi chữ nô lệ da đen lại đeo đẳng vào chữ da trắng và sự tàn bạo, vô nhân đạo của nền văn minh vật chất Tây phương. Phải chăng hoàn cảnh da vàng Việt Nam hôm nay cũng là hoàn cảnh da đen Mỹ-Phi? Cho nên đã có nhiều người quá buồn cho phận nước và bật khóc bằng điệu Blues đen vô cùng ảo não qua những “Ca khúc Da Vàng”.

4.            Đặc tính thứ tư của phong trào là tâm trạng tuyệt vọng trên con đường giải thoát.

Không thể chịu đựng được cảnh tình nô lệ, những người nô lệ da vàng đã tìm cách giải thoát thân phận tù đày của mình: “Phải đập tan gông cùm, xiềng xích vô hình trói buộc dân ta”, phải giành lấy tự do, độc lập, phải xóa bỏ thảm trạng người Việt nhìn nhau xa lạ, căm hờn. Họ đã giải quyết bằng cách: “người nô lệ bước đi, đi về ruộng vườn”.

Giải pháp này cũng được thể hiện rõ ràng qua những phong trào Du Ca, CPS, Chương trình Hè, chủ trương cách mạng xã hội của nhóm Hành Trình, Thái Độ. Họ quan niệm đất nước đã đổ vỡ quá nhiều rồi, phân hóa, chia rẽ đến cùng cực rồi, nên bây giờ phải nghĩ tới việc xây dựng lại, làm cách mạng xã hội hướng về nông thôn v.v…“Bây giờ không phải là lúc ngồi đặt vấn đề nữa”, họ hát như vậy và hăng say cuốc đất, làm nhà, đào ao, bắt cầu. Nhưng khi họ bắt tay vào việc, khi họ va chạm với thực tế thì cũng là khi họ thấy cái giải pháp đó không đưa tới những kết quả như ý muốn, không giải quyết được vấn đề xiềng xích, gông cùm. Những người hăng say nhiệt tình đó trở nên thất vọng, chán nản, không tiếp tục công tác nữa. Giai đoạn công tác xã hội chấm dứt để lại cho chúng ta một bài học quí báu.

Cái lỗi lầm của chúng ta là ở chỗ không chịu ngồi đặt vấn đề để rồi bị sa lầy trong chiêu bài cách mạng xã hội do ngoại bang tung ra để đánh lạc hướng hành động của những người yêu nước. Sự thật não lòng là chúng ta còn quê hương đâu, tự do độc lập đâu để mà cày cuốc, mà làm cách mạng xã hội. Chủ quyền quốc gia đã mất, chân tay ta đã bị gông cùm, ruộng đồng trơ đất đỏ không thể lên được ngọn mạ, nhà cửa trong nháy mắt trở thành đống tro tàn.

“Ca khúc Da Vàng” đã mô tả hết tất cả những tình cảnh đó. Những người nô lệ da vàng này không đặt vấn đề ai đã đặt gông cùm xiềng xích lên đầu cổ họ mà chỉ thấy hậu quả của gông cùm xiềng xích vô hình đó mà thôi. Do đó họ không thể giải quyết đúng để giải thoát cảnh ngục tù nô lệ được. Không giải thoát, họ trở nên tuyệt vọng, hoàn toàn tuyệt vọng. Thôi, thế là trọn đời lưu vong, không còn hy vọng có ngày trở về quê hương thần thoại:

   Mẹ ngồi ru con,

   Đong đưa võng buồn,

   Đong đưa phận mình.

   Mẹ ngồi ru con,

   Nghe đất gọi thầm,

   Trọn đời lưu vong.

   Giọt lệ ăn năn,

   Đưa con về trần,

   Tủi nhục chung thân,

   Một dòng sông trôi,

   Cuốn mãi về trời,

   Bấp bênh phận người.

               (Mẹ ru con ngủ)

Họ bị cô lập với quá khứ vinh quang và tương lai tươi sáng của dân tộc. Họ chỉ có một thực tại là “nhà cháy từng hàng, một rừng xương khô, một núi đầy mồ”. Họ tìm thấy gia tài của mẹ chỉ có từng ấy, còn bao nhiêu trân châu khác như những anh hùng liệt nữ, những địa danh ghi dấu những chiến thắng vinh quang họ không hề nhắc tới. Những trân châu này bây giờ không sáng bằng “hỏa châu rực sáng”, không thể kết dài được một nhúm lửa đỏ đủ sưởi ấm hy vọng của họ. Họ tuyệt vọng nên nghĩ rằng mình thành nô lệ thực sự. Vì mình là nô lệ, là u mê ngàn năm, là trọn đời lưu vong, tuyệt vọng trên con đường về quê hương thần thoại, cho nên người da vàng đã có ý nghĩ:

   Xin cho tôi quên phận tù đày,

   Xin cho tôi là thoáng rượu cay,

   Xin cho tôi ra khỏi cuộc đờI,

   Để khi nào trời đất yên vui,

   Xin cho tôi xin lại cuộc đời.

                           (Xin cho tôi)

Người nô lệ tìm cách giải thoát thân phận tù đày của mình bằng cách sống trong tù đày nhưng quên phận tù đày, tưởng chừng như mình không sống trong cảnh tù đày. Nhưng làm sao có thể quên được? Chính rượu cay là phương tiện giải thoát. Đó là lý do tại sao phòng trà trở nên tấp nập và tình ca bộc phát thành phong trào. Vậy thì hậu quả của sự tuyệt vọng trên con đường giải thoát ấy chính là Tình ca.

Bây giờ phòng trà trở thành chỗ nghỉ ngơi giải khuây của những người nô lệ da vàng sau những giờ phút sống trong ngục tù của ngày dài trên quê hương. Ở đây có đủ chất cay để giúp họ quên phận tù đày: rượu cay, khói thuốc cay, nhạc cay…Trong cái cảnh đèn thắp thì mờ, những người da vàng ngồi quanh những chiếc bàn nhỏ, có khi họ ngồi dưới đất, họ hút thuốc, uống cà phê đậm, uống rượu mạnh và nghe Da Vàng Ca, Tình Ca. Đó là trường hợp của những quán Văn, Thơ, quán Trăng, Tre, Gió, Bão

Lại có những phòng trà khác dành cho người ngoại quốc và những người nô lệ không còn thấy mình là nô lệ nữa. Ở đây không khí nhẹ nhàng, thư thả hơn, lộng lẫy, sang trọng hơn, có vẻ tây phương hơn. Điều đáng chú ý là người nô lệ da vàng ở đây khiến ta suy nghĩ: phải chăng mình cứ đeo đẳng vào cái màu da của mình, với quê hương chiến tranh ngục tù, với cái xã hội nhược tiểu, chậm tiến, cho nên tự chuốc lấy khổ đau? Vậy thì phải quên đi, không nhớ thương nữa, phải xóa bỏ ám ảnh trở về quê hương thần thoại. Chúng tôi gọi đó là những người nô lệ không còn thấy mình là nô lệ nữa. Đó là trường hợp các phòng trà Monaco, Queen Bee, International, Tự Do, v.v…

Nhưng người nô lệ nào rồi cũng thích Tình ca bởi vì không có thứ rượu cay nào cay đắng bằng những khúc Tình ca, bởi vì nói như Trịnh Công Sơn: “Tình yêu cũng mở ngỏ cho những lần hóa kiếp, hãy thử bước vào thế giới đó để bắt đầu một cái chết thật vô cùng yêu dấu”.

Tình khúc Trịnh Công Sơn, giọng ca Khánh Ly: đó là một thế giới trong những ngày hoang sơ thời tiền sử, khi tư tưởng chưa xuất hiện để tàn phá con người. Chúng ta không thể khám phá thế giới đó bằng sự suy tưởng được mà chỉ bằng một sự rung động hồn nhiên của tâm hồn. Ở đây tiếng nói không được xếp thành câu, câu này không xếp với câu kia cho có nghĩa này nghĩa nọ, trái lại tiếng nói chỉ là những âm thanh như tiếng chim kêu trong rừng, như tiếng thoảng qua thung lủng. Âm thanh bật ra là con tim rung chuyển, là tình yêu tràn ngập con người. Thế giới Tình ca của Trịnh Công Sơn là như thế. Khi đi vào, ta không được mang theo gì ngoài bộ óc trống rỗng, hồn nhiên với năm giác quan thật nhạy cảm. Người ca sĩ duy nhất của thế giới đó là Khánh Ly. Khánh Ly đứng trước cổng vườn địa đàng và mời gọi những kẻ bị lưu đày di cư vào thế giới tình yêu:

Tình yêu như trái phá,

Con tim mù lòa,

Một mai thức dậy,

Truyện trò với cỏ cây.

   (Tình sầu)

Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ

Dài tay em mấy thuở mắt xanh xao

Nghe lá thu mưa reo mòn gót nhỏ

Đường dài hun hút cho mắt thêm sâu…

Xin hãy cho mưa qua miền đất rộng

Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau.

   (Diễm Xưa)

Nói như Trịnh Công Sơn,họ rủ nhau đi vào cơn mộng du nào đấy để tìm về những cánh san hô cũ kỹ, đọc trên những dòng sông, tức chính là chứng nhân già nua nhất của địa cầu đã ghi những gì về tình yêu. Phải là Khánh Ly mới có thể thực hiện cơn mộng du được, vì Khánh Ly chính là con người của thời hoang sơ tiền sử đó. Trong cơn mộng du, những người nô lệ khám phá lại được con người đích thật của mình. Đó là một thế giới mới khác hẳn với cảnh ngục tù nô lệ trong cuộc đời.

Tình Ca trở thành một giải pháp thoát ly cuộc đời. Nhưng tình ca không phải là nhạc giải thoát cuộc đời, bởi vì nó chỉ là một thứ rượu cay, bởi vì khi con người nô lệ vừa tỉnh cơn say cũng là khi cuộc đời ngục tù nô lệ vây phủ lấy phận nó. Nó lại phải chạy trốn, phải uống thật nhiều rượu cay nữa. Càng ngày nó càng uống thêm, uống thêm. Nhưng dù có chạy trốn, con người vẫn không thể xóa bỏ được cuộc đời trong tâm hồn nó, cho nên nó lại khát khao trở lại cuộc đời :

   Xin cho tôi ra khỏi cuộc đời,

   Để khi