405-gd.gif (4053 bytes)

posted: 20.4.2005

Phóng viên Mỹ Hà (báo Viet Nam News, Hà Nội) phỏng vấn qua điện thư Gs Thái Kim Lan (Đức quốc) / ngày 03/4/2005  (*)

vietnam news interviews thai kim lanNguyễn Mỹ Hà
c/o Viet Nam News
Feature Desk
11 Trần Hưng Đạo
Hànội, Viet Nam
Tel. 84-4-933-2315
Fax. 84-4-933-2311
e-mail: vnnews@vnagency.com.vn
website: http://vietnamnews.vnanet.vn

 

 

 

 

 

* * *

--Mỹ Hà (MH) :   Thưa chị Kim Lan,

Em là phóng viên báo Viet Nam News tại Hànội. Em muốn xin phỏng vấn chị qua email cho bài viết về người Việt Nam sống và làm việc ở nước ngoài.

Thưa chị, em muốn hỏi khi mới sang Đức học tiếp, chị ở thành phố nào? Tại sao chị lại xin học bổng học triết tại LMU? Sau đó chị học giáo sư nào? Ai là người chị ấn tượng nhất? Tại sao?

--Gs Thái Kim Lan (TKL) : Khi mới sang Ðức tôi đã đến thành phố Munich, vì viện Goethe có trụ sở chính tại thành phố này. Ðây cũng là thành phố tôi trở về sau một năm học tiếng Ðức tại các thành phố khác trên nước Ðức để tiếp tục học xong bằng cử nhân về giáo sư dạy tiếng Ðức. Sau đó tôi xin được học bổng tại Ðại học Munich để có thể tiếp tục học môn Triết học tây phương, nhất là triết học Ðức (Kant, Hegel, Fichte, Schiller, Heidegger…) mà từ lâu tôi đã ngưỡng mộ và ao ước được nghiên cứu tận gốc. Tôi được giáo sư W. Roed hướng dẫn luân án tiến sĩ về triết học của I. Kant. Hồi ấy Heidegger còn sống và các buổi giảng của ông rất đông. Ban đầu tôi bị ấn tượng bởi triết học hiện sinh của ông, nhưng về sau ấn tượng này được điều chỉnh bởi những bộ môn triết học khác như triết học siêu nghiệm của Kant và triết học phân tích, triết học ngôn ngữ.  Tôi thọ ơn cố giáo sư W. Stegmüller, người đã nâng đỡ tôi trong việc thực tập giảng dạy tại Ðại học LMU trong viện nghiên cứu triết học phân tích của ông. Có thể nói tôi đã đi nghe hầu hết các giáo sư của những trường phái khác nhau thời ấy, trước khi quyết định chọn một lý thuyết triết học để làm luận án.

--MH: Trong một phỏng vấn với báo Thể thao Văn hóa, chị có nói là cái khó của chị là làm sao thể hiện được tư duy của người lớn trong cách nói tiếng Đức của trẻ con. Vậy chị đã làm thế nào để giải quyết mâu thuẫn này, và sau bao lâu thì chị đã thoải mái sử dụng tiếng Đức trong việc giảng dạy?

--TKL:  Buổi ban đầu ở nước người, sự khập khiểng trong tương quan giữa ngôn ngữ mới nhập môn và tư duy đã trưởng thành là một hiện tượng tự nhiên. Phải trãi qua một thời gian nhất định, sự khập khiểng ấy mới được san bằng qua kinh nghiệm học và đọc. Trong môn triết, ít nhất cũng phải hơn năm năm sau, ngôn ngữ mới bắt kịp được tư duy. Dù thế một chút „trẻ con“ trong ngôn ngữ vẫn còn tồn đọng. Và hình như điều ấy làm cho người ta có ấn tượng „trẻ“ mãi đối nghịch với thời gian tuổi tác của ngôn ngữ bản địa. Có lẽ vì thế mà tôi cần nhiều năm hơn những người khác.

--MH:  Chị có nhớ buổi lên lớp đầu tiên của chị trong phòng học khoảng bao nhiêu sinh viên không? Cảm giác của chị lúc đó thế nào? Chị có hồi hộp không? Chị có phải là người Việt Nam/nước ngoài đầu tiên giảng dạy ở khoa triết không? Khi chị quyết định ở lại LMU làm tiến sỹ, rồi giảng dạy, chị có bao giờ cảm thấy bị kỳ thị về chủng tộc, văn hóa, hay là về giới tính (phụ nữ) không?

--TKL:  Buổi giảng đầu tiên của tôi đã có sự bất ngờ với số non một trăm sinh viên đến tham dự, trong lúc phòng giảng chỉ có 70 mươi ghế. Thật là một điều đáng ngạc nhiên ngoài sự tưởng tượng.  Dĩ nhiên buổi ban đầu đứng trên bục giảng trước hàng trăm con mắt đổ dồn về phía mình đã gây những nôn nao hồi hộp cũng như e ngại khó quên. Nhưng sinh viên Ðức rất kỹ luật và lịch sự, có tinh thần học hỏi rất cao. Chính sự nghiêm túc tìm hiểu của họ đã gây tin tưởng không ít cho chính người hướng dẫn họ. Phải nhấn mạnh những giờ hướng dẫn thảo luận với sinh viên là những giờ hạnh phúc nhất của tôi. Có thể tôi là người phụ nữ VN đầu tiên „mang chuông đi đánh“ ở xứ Ðức, nhưng không biết điều ấy có chính xác không, tôi chưa xem lại. Trong khoảng thời gian ở Ðức tôi có được may mắn nhận nhiều sự giúp đỡ của người Ðức và không có cảm giác bị kỳ thị, ngược lại thì có, người Ðức rất muốn tìm hiểu những nền văn hóa khác biệt, do đấy họ qúi trọng mỗi tin tức đến từ nguồn trực tiếp là người mà họ gặp gỡ. Chính tra vấn của họ về VN đã làm cho tôi ý thức rõ hơn về nền văn hóa của đất nước. Chính ở Ðức tôi đã trãi qua phong trào giải phóng phụ nữ sôi nỗi nhất trong các thập niên 60, 70, ỡ đó vấn đề giới tính được thảo luận sôi nỗi, và đàn ông Ðức là một trong những kẻ bị thuyết phục nhất.

--MH:  Thưa chị, chị có nói là chị học ở người Đức cách suy nghĩ duy lý, nhưng trong tim chị vẫn là người Việt Nam. Vậy chị có cảm thấy chị người Đức hơn Việt Nam một chút, và Việt Nam hơn Đức một chút không? Tức là khi ở Đức, trong môi trường khác hẳn, thì chị mới cảm nhận rõ chất Việt Nam của mình?

 Và khi về Việt Nam, chị có thấy là chị có còn mắt nhìn hơi Đức không?

--TKL:  Giữa hai luồng nước Việt Ðức, tôi đã học bơi trong ấy với một kỹ thuật„chọn lựa“ được huân tập do kinh nghiệm - mặc dù đôi lúc cũng bị chìm lĩm trong vũng nước xoáy – tìm cho mình một thế chuyển động „vượt“ trong phản tĩnh về hiện trạng „Việt“  trong „Ðức“ và „Ðức“ trong „Việt“, từ đó cơ hội so sánh luôn luôn chực sẵn. Chính ở nước ngoài người đi xa mới có cơ hội thấy được bản lai Việt nam của mình với cường độ cao nhất, điều ấy chẳng có chi mới lạ. Khi trở về VN sau nhiều năm, khả năng nhìn VN với con mắt của một người ngoại cuộc gọi là người “Ðức“ lại còn rõ hơn, có thể nói khách quan hơn và nhạy bén hơn người trong cuộc, cũng không có chi đáng ngạc nhiên.

--MH:  Chị có nói cũng trong phỏng vấn với Mai Trang (báo Thể thao Văn hóa), chị có nói là “mỗi khi về Việt Nam, nhìn thấy thanh niên đông chật trong các quán càfê ở cả ba miền, chị thấy rất buồn, ... vì họ tự biến mình thành người nhàn rỗi... Đây là vấn đề lớn của xã hội do chưa tạo ra một nền tảng xã hội thích ứng cho việc giáo dục con người một cách toàn diện.” Ý của chị là thế nào, xin chị giải thích thêm? Theo chị, một thanh niên được giáo dục toàn diện phải là người như thế nào? Xã hội cần tạo cho họ những điều kiện gì, và đòi hỏi ở họ những phẩm chất gì?

--TKL:  Có thể nói Việt nam so với nước Ðức là một xã hội „trẻ“ với tất cả sức lực dồi dào „đang lớn“ của thế hệ thanh thiếu niên, trong lúc xã hội Ðức đang ở trong hiện trạng lão hóa vì thiếu người trẻ tiếp nối, đây là một trong những khủng hoảng „thiếu người kế thừa“ khá nguy kịch tại Âu châu. Ðiều đó càng làm nỗi bật ấn tượng gặp lại một VN tràn đầy sức sống với tầng lớp thanh niên đầy sức lực và nhiệt năng ham sống. Mỗi lần trở về VN, tôi không tránh được câu hỏi băn khoăn tự đặt ra cho mình, khi thấy trên đường phố ào ạt người trẻ lượn xe Honda và các quán nhậu đầy nghẹt thanh niên, làm thế nào để sức sống này chỗi mạnh một cách có ý nghĩa cho chính tầng lớp ấy, để họ có thể bổ ích cho chính mình và cho xã hội ? Nếu không có một viễn tượng tương lai lạc quan và bảo đảm, sức mạnh của giòng sông sẽ trở nên cuồng lũ cuốn phăng hết mầu mở bồi đắp xã hội. Tôi có cảm tưởng thế hệ trẻ tại VN đang chờ đợi và cần có một nội dung đào tạo không sáo mòn trong tư duy của một nền giáo dục thức tỉnh, đi sát với nhu cầu xã hội con người đồng thời tạo được cảm hứng đạo đức tâm linh. Cảm tưởng này trước hết đến như một thúc bách đòi phải suy nghĩ thêm, cần đào sâu hơn về một đường hướng giáo dục mà tôi mong sẽ có dịp đề cập đến rốt ráo hơn là trả lời trong khuôn khổ này. Nếu nói nhanh thì tôi sẽ nói, tôi ước ao thế hệ trẻ VN được hướng dẫn trong tinh thần độc lập, không giáo điều, nhồi sọ, sáng tạo và tự chủ, như tôi đã từng làm việc với sinh viên Ðức, nhất là trong tinh thần công minh, bình đẳng và tương trợ lẫn nhau, trong tương thân tương ái, kính trọng lẫn nhau và có kỹ luật tự nguyện. Về kiến thức, ngày hôm nay với kỹ thuật truyền thông hiện đại, thế hệ trẻ có khả năng huân tập và trau dồi thêm, nhưng phải có định hướng và được thảo luận. Nói chung tôi ước ao thế hệ trẻ VN được hưởng một đời sống hài hòa về vật chất và phong phú nội tâm, không hời hợt chạy theo trào lưu hào nhoáng tây phương để tránh những thất vọng chua cay.

--MH: Thưa chị, em có đọc bài viết của chị về  “Khai sáng và Tiến bộ”, em xin hỏi chị có cho mình trong thành phần những trí thức tự coi là  “tiến bộ”  đấu tranh cho hòa bình ở Việt Nam những năm 1960-70? Xin chị giải thích tại sao?

--TKL:  Phong trào trí thức tiến bộ khoảng thập niên 60 – 70 tranh đấu cho hòa bình tại VN là một hệ luận đến từ cuộc chiến: thế hệ trẻ thời ấy ao ước xây dựng một VN hoà bình cho con người VN được sống trong hoà bình và nhân ái. Tôi đã ủng hộ cho hòa bình tại VN trong nghĩa gấp đôi: hoà bình đất nước và hoà bình nội tâm.   Hình như điều ấy vẫn còn là một lý tưởng… dù lãng mạng.

--MH:  Em đọc phần 1.2.3 -Biện chứng Khai sáng, và em muốn hỏi chị, quan điểm của chị về vấn đề này thế nào? Nếu coi tự do và nhân quyền cho mọi người trong xã hội là do “khai sáng” đem lại, vậy trong hoàn cảnh Việt Nam hiện nay, có nhất thiết phải đặt điều kiện tự do và nhân quyền là trước hết nếu muốn có một xã hội tiến bộ? Xin chị giải thích rõ giúp em? 

--TKL:  Ý niệm „tiến bộ“ trong thời khai sáng không chỉ nằm trong viễn tượng tiến bộ kỹ thuật mà còn nằm trong ý hướng thực hiện tự do và tự chủ của con người bằng sự sử dụng trí tuệ của chính con người, vượt lên trên giới hạn của mọi điều kiện tự nhiên, để nói theo I. Kant. Trong thời khai sáng cả hai khía cạnh không thể thiếu trong định nghĩa của khai sáng. Trong khuôn khổ thời bấy giờ, nhà khoa học cần được tự do tư duy để phát hiện những tri thức đúng đắn gần với chân lý cần thiết cho sự tiến bộ của con người. Ðồng thời khái niệm tiến bộ sẽ không còn đứng vững nếu trong đó con người không được xem là cứu cánh cuối cùng, là mục đích mà tiến bộ kỹ thuật nhằm phục vụ, do đó nhân quyền và tự do đi song đôi với tiến bộ, chúng vừa là điều kiện đồng thời vừa là cứu cánh của ý niệm tiến bộ, mà tôi sẽ triển khai trong bài viết phần hai sắp tới.

--MH:  Xin chị cho em biết những sách mà chị đã viết (bằng tiếng Việt/ Đức) và xin chị một địa chỉ/ tên sinh viên của chị? 

--TKL:  I. Kant, Die restriktive Funktion der Sinnlichkeit in der Kritik der reinen Vernunft, luận án triết học Ðại học Munich, Buddismus und Frieden trong tuyển tập „các tôn giáo lớn“ Ðại học Nurnberg thực hiện, tuyển tập văn học Ðức Việt về H. Hesse và B. Brecht, các tiểu luận về Thiền học Việt nam…

      Ðịa chỉ sinh viên Ðức: Markus Altmann
                                           Bauerstr. 28
                                           80796 Muenchen
      m.altmann@mnet-online.de

 

Câu hỏi bổ túc:

--MH:  Cảm ơn chị về bài trả lời phỏng vấn. Em không biết chị có xem lại không, vì em có gửi một số câu hỏi thêm trong email thứ hai, về một số tiểu tiết, như hàng rào nhà chị ở Munich có phải bằng tre không? Bài trí trong nhà có bàn thờ (ancestor’s altar) ?

Chị bắt đầu trở về VN tham dự hội thảo từ năm nào? Và phần tiếp theo của bài viết Khai sáng và Tiến bộ bao giờ sẽ ra? Chị có dự định sắp tới về VN? Nếu có thì là bao giờ và chị sẽ làm gì?

Em cảm ơn chị nhiều vì phiền chị lại phải làm việc vào ngày nghĩ cuối tuần.

--TKL:  Hàng rào chung quanh vườn bằng tre. Từ khi đi du học, dù ở phòng trọ chỉ đủ kê một cái giường và một bàn viết hay ở nhà riêng rộng rãi như bây giờ, luôn luôn tôi dành một chỗ trang trọng tôn kính tượng Phật và ảnh của ông bà và phụ thân đã quá cố.  Ðiều tôi nhớ mãi là tượng Phật đầu tiên tôi có được, nhỏ bằng nắm tay, là của một người bạn Ðức đem đến tặng khi biết tôi là một Phật tử, tượng Phật ấy theo tôi từ đó đến bây giờ, tôi trao lại cho con mang theo khi con đi du học ở Trung quốc.  Bàn thờ tổ tiên hiện nay nằm chính giữa phòng khách, và mọi người đều có thể chiêm ngưỡng và bà con trong gia đình đến tưởng niệm.

Từ năm 1989/90 tôi đã về VN cùng tổ chức các buổi hội thảo về vấn đề môi sinh (với Học viện Phật giáo tại Tp HCM) và trung tâm Giao lưu Việt Ðức tại Hà nội do giáo sư Vũ Kim Bảng và Bà Ts Lê thị Nga điều hành về triết học, đạo đức học và lịch sử, cũng như hỗ trợ tổ chức các lớp Ðức ngữ khi chưa có viện Goethe. Bài Tiến bộ phần hai đáng lẽ được đăng đúng thời hạn trong Thời Ðại Mới số 4, nhưng vì có sự cố bất ngờ về phía tác giả trong chuyến đi vừa qua nên bị chậm trễ, nên sẽ được đăng tải nay mai. Hi vọng ban biên tập Thời Ðại Mới thông cảm.              

(*) Do sự sắp xếp lại bài phỏng vấn qua điện thư với hình thức bài phỏng vấn báo chí thông thường, do đó có thể có sự khác biệt hình thức với bài báo trên tờ VietNam News, nhưng nội dung vẫn giữ nguyên. Web GĐ

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com