405-gd.gif (4053 bytes)
posted: 01.4.2005

Nguyễn Mạnh Quang

LỘ ĐỒ HÀNH ĐỘNG NHỮNG KẾ SÁCH HỦY DIỆT TÌNH YÊU TỔ QUỐC VÀ TINH THẦN DÂN TỘC TRONG LÒNG TÍN ĐỒ GIA-TÔ LA MÃ

Bất kỳ đế quốc thực dân xâm lược hay chế độ độc tài chuyên chính nào cũng thi hành chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ để kìm hãm nhân dân trong vòng ngu dốt. Là một đế quốc thực dân xâm lược với chủ trường thiết lập chế độ đạo phiệt Gia-tô để thực thi chủ thuyết "thần quyền chỉ đạo thế quyền", và dùng bạo lực của nhà nước để cưỡng bách nhân dân dưới quyền phải theo đạo Gia-tô, tất nhiên là Giáo Hội La Mã cũng phải thi hành chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ với mục đích kìm hãm nhân dân dưới quyền mãi mãi ở trong tình trạng ngu dốt giống như người dân Do Thái trong thời ông Moses cách đây hơn ba ngàn năm và thời ông Jesus cách đây hơn hai ngàn năm. Có như vậy thì Giáo Hội La Mã mới có thể tránh được những tình trạng mà chúng tôi đã nêu lên trong một đoạn văn ở trên.

Chính sách ngu dân do Giáo Hội La Mã chủ trương hết sức tinh vi và vô cùng nguy hiểm, tinh vi và nguy hiểm hơn các đế quốc thực dân xâm lược khác gấp ngàn lần. Nguy hiểm vì nó có dã tâm hủy diệt lòng yêu nước trong lòng tín đồ, và tinh vi vì nó tiến hành từng bước và từng bước theo một lộ đồ đã hoạch định sẵn từ trước. Bước đầu tiên của lộ đồ này là tìm cách móc nối với những thành phần hám lợi, tham danh và thèm khát quyền lực trong xã hội rồi sử dụng cả lợi lộc (vật chất) và danh vọng (chức vụ trong chính quyền) để lôi cuốn họ vào cái “tròng Gia-tô” (Catholic loop). Sau khi đã câu nhử và dụ khị được những con mồi vào tròng rồi, Giáo Hội mới tiến hành chính sách ngu dân để hủy diệt tình yêu tổ quốc và tinh dân tộc trong lòng tín đồ. Tới tới khi tiến chiếm chính quyền rồi, Giáo Hội lại cho bồi thêm bằng chính sách chia để trị.

Muốn thực hiện được kế sách này, các nhà truyền giáo phải điều nghiên những phương cách tìm kiếm những thành phần dân chúng nào dễ mua chuộc nhất và dễ  dụ khị nhất trong vùng mục tiêu để tiến hành. Một khi những con mồi đã hết lòng khâm phục, say mê và nhắm mắt tin theo, thì họ sẽ được dùng làm đầu cầu chuẩn bị cho những bước kế tiếp của Giáo Hội.

I. TÌNH YÊU TỔ QUỐC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

Trước khi nói đến tội ác hủy diệt tình yêu tổ quốc trong lòng tín đồ của Giáo Hội La Mã, thiết tưởng cần phải nói đến truyền thống tình yêu tổ quốc của các dân tộc Đông Phương nói chung và của người Việt Nam nói riêng.

Nói về hai chữ "tổ quốc", cả hai nhà làm tự điển Đào Duy Anh và Lê Văn Đức đều có chung một định nghĩa "tổ quốc là nước của tổ tiên".

Thiết tưởng đây chỉ là một cách nói vắn tắt cho gọn để giảm bớt số lượng chữ trong tác phẩm của tác giả. Nói cho đầy đủ hơn thì tổ quốc là một danh từ trừu tượng được hiểu là một vùng lãnh thổ trên đó có một khối dân chung sống với nhau, cùng trải qua những bước thăng trầm của lịch sử, cùng có một chính quyền, cùng bị chi phối bởi một hệ thống luật pháp, cùng có chung những truyền thống văn hóa, và phần lớn nói cùng một thứ tiếng (spoken language). Tổ quốc có cùng một nghĩa với đất nước, quốc gia và giang sơn hay non sông. Nói đến tổ quốc thì phải nghĩ đến dân tộc sống ở trong đó vì tổ quốc và dân tộc là hai thực thể gắn liền với nhau như thể xác và linh hồn, không thể có tổ quốc mà không có dân tộc, và ngược lại cũng không thể có dân tộc mà không có tổ quốc. Có dân tộc mà không có tổ quốc là một dân tộc bị ngọai bang thống trị. Đây là tình trạng nướcta trong thời “một ngàn năm nô lệ giặc Tầu” và “trăm năm nô lệ giặc Tây”.

Bất kỳ dân tộc nào cũng đều quan niệm rằng, ai cũng phải có tổ quốc và thiết tha yêu thương tổ quốc của mình. Tình yêu tổ quốc gồm có hai phần:

1. Tình yêu của người dân đối với mảnh đất quê hương mà tổ tiên của họ đã liên tục sống qua nhiều thế hệ hay nhiều đời;

2.- Lòng kính mến và tôn thờ những vị anh hùng đã hy sinh trong các cuộc chiến dựng nước, mở nước và giữ nước.

Tình yêu đối với tổ quốc hay quốc gia chỉ có thể nẩy sinh và phát triển đến cao độ khi mà dân tộc đó đã vượt qua các thời kỳ thị tộc, bộ lạc và lãnh chúa phong kiến địa phương để tiến đến sự hình thành quốc gia. Tình yêu tổ quốc nẩy sinh và phát triển sau hơn cả nếu so với các thứ tình yêu đối với cha mẹ, anh em, bà con thân thuộc, láng giềng, làng thôn, và bạn bè. Tình yêu tổ quốc có thể có trước hay đồng thời hoặc sau tình yêu lứa đôi trai gái.

Tuy là nẩy sinh sau nhất, nhưng nó lại là một thứ tình yêu mãnh liệt nhất. Mãnh liệt đến độ khi gặp phải quốc gia lâm nguy thì những người còn có lương tâm không thể nào ngôi yên khoanh tay nhìn cảnh quân thù xâm lược tràn vào giày xéo giang sơn. Cũng vì thế mà người dân Đông Phương lúc nào cũng ghi tâm khắc cốt câu nói “Quốc gia nhưng vong, thất phu hữu trách”, và nếu chẳng may nếu gặp phải khi tổ quốc lâm nguy thì tất cả mọi người đều có trách nhiệm phải coi "việc nước trước việc nhà" và đều phải có bổn phận lên đường đi chống giặc bảo vệ tổ quốc. Những lời nói lịch sử như:

"Đầu tôi chưa rơi xuống đất, thì xin Bệ Hạ đừng lo" của Trần Thủ Độ,

"Ta thà rằng làm quỉ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc" của Trần Bình Trọng,

"Nếu Bệ Hạ muốn hàng, xin trước hết chém đầu tôi đã, rồi sau sẽ hàng", "Trận này không phá xong giặc Nguyên, thì không về đến sông này nữa" của Trần Hưng Đạo, và những tiếng hô "quyết chiến" đáp lời sông núi tại Hội Nghi Diên Hông vào cuối năm Giáp Thân 1284 là những bằng chứng nói lên tinh thần yêu nước mãnh liệt của nguời dân Việt Nam chúng ta.

Cũng vì sức mạnh của tình yêu tổ quốc vượt lên tất cả mà Mạc Ngọc Liễn trước khi nhắm lìa đời đã quyết định để lại di ngôn dặn dò Mạc Kính Cung rằng:

"Nay họ Lê lại dấy lên được, ấy là số trời đã định; còn dân ta thì có tội gì, mà ta nỡ để khổ sở mãi về việc chiến tranh? Vậy ta nên đành phận lánh mình ở nước ngoài, chứ đừng có đem lòng cạnh tranh mà lại mời người Tàu sang làm hại dân nước mình." [i]

Chính vì sức mạnh của tình yêu tổ quốc mà khi bước lên đoạn đầu đài, Nguyễn Thái Học vẫn ung dung tự tại ngâm vang lời thơ hùng tráng:

Chết vì tổ quốc
Cái chết vinh quang,
Lòng ta sung sướng,
Trí ta nhẹ nhàng.

Sức mãnh liệt của lòng yêu nước của các quốc gia Đông Phương đã trở thành một truyền thống mà bất kỳ người dân thuộc bất kỳ thành phần nào ở trong xã hội cũng biết rõ và ghi lòng tạc dạ với câu nói "quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách". Câu nói này đã thấm nhiễm vào từng tế bào trong não bộ và trong đường gân, thớ thịt trong cơ thể mọi người Việt Nam nói riêng, và người dân Đông Phương nói chung. Cũng vì thực tế này, cho nên vào mùa thu năm 1945, khi hay tin Liên Quân Xâm Lăng Pháp - Vatican đổ bộ vào Sàigòn tái chiếm Việt Nam, nhà thơ Bảo Vân ghi lại ý chí quyết chiến của ông và cũng là của toàn thể nhân dân ta trong bài thơ "Không Thể Được" với nguyên văn như sau:

Súng đã nổ vang rền trên đất nước,
Máu đã trào lênh láng khắp non sông,
Giờ vinh quang hay là phút bại vong
Của Tổ Quốc đang chờ ta quyết định.
Cơn ác mộng tám mươi năm sực tỉnh,
Có lẽ nào còn trở lại mê man!
Sống nhục nhằn trong nô lệ lầm than
Như trâu ngựa tôi đòi cho giặc Pháp!
Không thể được! Giống nòi từng sát Đát
Từng bình Nguyên, phá Tống, diệt xâm lăng.
Gò Đóng Đa hay ngọn sóng Bặch Đằng
Luôn nhắc nhở lại những thời oanh liệt...
Không thể được! Việt Nam mình bất diệt
Có bao giờ chịu khuất trước sài lang?
Giờ phút đây sông núi nhuốm màu tang,
Thì con cháu anh hùng mau đứng dậy.
Thiếu súng đạn thì gươm, đao, giáo gậy
Cùng kéo nhau ra chặn lối ngăn đường.
Chống tham tàn đâu có tiếc máu xương,
Gìn giữ vẻ huy hòang cho tổ quốc.

Lớn lên trong thời Kháng Chiến 1945-1954 và là chứng nhân trong cuộc chiến này, chính mắt người viết nhìn thấy và cảm được lòng hăng say chiến đấu của dân ta lúc đó với những lớp lớp người tự nguyện lên đuờng đi tòng quân theo tiếng gọi của non sông. Sự kiện này đã được nhà thơ Nguyễn Tố Chi ghi lại trong bài thơ Lên Đường với nguyên văn như sau:

Trong mắt tôi đã thấy,
Dân tôi:
Người trước nối người sau,
Tay trong tay kết chặt một vòng,
Đi đòi lại núi sông trong tay giặc
"Thế giặc mạnh lấy gì mà chống đỡ?"
Lời Diên Hồng vạn tiếng quyết tâm.
Phải trải xương,
Phải đổ máu với quân thù
Phải đoàn kết triệu bước chân dấn bước,
Từ sông Hồng xuôi về sông Cửu,
Từ đồng bằng nối mãi tới Trường Sơn.
Khắp non sông vang dội bước quân hành
Tay giáo mác và con tim sôi máu.
Trong ánh mắt triệu niềm tin rực sáng
Buổi quân về giải phóng Việt Nam.
Quê hương tôi hôm nay đã thấy
Những mẹ già, chị gái
Làm hậu cần nuôi quân,
Những thanh niên hôm nay
Đã làm anh kháng chiến,
Những em bé mười lăm
Gánh vai trò liên lạc.
Cả nước đồng một lòng
Đứng lên tiêu diệt giặc.
Lời réo gọi của non sông đất nước:
Các anh
Xin đứng dậy
Lên đường!

Bài thơ trên đây là bằng chứng cho chúng ta thấy rõ tinh thần yêu nước của dân tộc Việt Nam ta mãnh liệt như thế nào! Những cái chết của các vị anh hùng liệt nữ trong lịch sử như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Bình Trọng, Nguyễn Biểu, Lê Lai, Nguyễn Trung Trực, Mai Xuân Thưởng, Phan Đình Phùng, Nguyễn Thiện Thuật, Hoàng Hoa Thám, Lương Ngọc Quyến, Trịnh Văn Cấn, Trần Cao Vân, Trần Quý Cáp, Phạm Hồng Thái, Nguyễn Thái Học, Cô Giang, Cô Bắc, em bé Kim Đồng, học sinh Nguyễn Văn Ơn cùng hàng triệu chiến sĩ hy sinh trong thời Kháng Chiến 1945-1954, Hòa Thượng Quảng Đức, cô nữ sinh Quách Thị Trang, v.v...là những bằng chứng hùng hồn nói lên sức mạnh của lòng yêu nước hay tình yêu tổ quốc của người Việt Nam chúng ta.

Tình yêu tổ quốc của người dân Việt quả thật là mãnh liệt, mãnh liệt đến độ tất cả các đoàn quân xâm lăng như quân Tống, quân Nguyên, quân Xiêm, quân Thanh, liên quân Pháp -Thập Ác Vatican và các đạo quân thập ác Việt Nam tại hai giáo khu Phát Diệm và Bùi Chu, tại Bến Tre dưới quyền chỉ huy của tên Thiếu Úy Leroy và tại các làng đạo nằm rải rác trong vùng đồng bằng Sông Hồng đều phải xất bất xang bang cuốn cờ bỏ chạy.

Tất cả những điều trình bầy trên đây là những sự thật hiển nhiên trong lịch sử không ai có thể chối cãi được. Ngay cả sách Quân Sử 4 do Phòng 5 của Bộ Tổng Tham Mưu của miền Nam, vốn thù nghịch với Việt Minh cũng phải xác nhận:"Tuy nhiên, cũng phải nói rằng quân đội Việt Minh dưới chiêu bài "quân đội giải phóng" đã quy tụ hầu hết những người yêu nước nên đánh rẩt hăng.".[ii]

Những hình ảnh của những thanh thiếu niên lớp lớp lên đường "đi đòi lại núi sông cho dân tộc" quả thật là hào hùng, quả thật là hiên ngang với tất cả những gì vừa hùng tráng, vừa cao đẹp, vừa thơ mông. Buổi liên hoan tiễn đưa những chàng trai lên đường làm nghĩa vụ đối với non sông ở sân đình diễn ra trong cả một rừng cờ và biểu ngữ khiến cho người đi cảm thấy chính mình đang có cái dáng dấp hào hùng giống như tráng sĩ Kinh Kha của ngày nào, dù cho lòng còn bịn rịn ngoái cổ nhìn lại người yêu trông theo với tất cả những gì tha thiết mà chân vẫn mạnh bước lên đường đi làm nghĩa vụ. Rồi từ đấy, cái hình ảnh yêu thương thơ mộng tuyệt vời này lúc nào cũng như sống động trong lòng người bộ đội để rồi thăng hoa thành những vần bài thơ diễm tuyệt đi vào lịch sử thời Kháng Chiến 1945-1954 của dân tộc và lịch sử thi ca văn học:

Tôi đứng bên này sông,
Bên kia vùng địch đóng.
Làng tôi đó, đen xạm mầu huyết đọng,
Tre cau buồn ủ rũ ướt mờ sương,
Mầu trắng vôi lồm lộp mấy khung tường
Của mái đình xưa yêu dấu.
Tôi là anh lính chiến,
Rời quê hương thuở máu khơi dòng,
Buông tay gầu, vui với thuở bình Mông,
Chắc tay súng tôi mơ về chiến thắng.
Chân chưa vẹt trên nẻo đường vạn dặm,
Áo nào không phai nhạt chút mầu xưa.
Tôi có người vợ trẻ đẹp như thơ,
Tuổi đôi mươi, cưới buổi mới dâng cờ
Má thắm mịn thơm thơm mùi lúa chín.
Ai ra đi mà chẳng hề bị rịn,
Rồi yêu đương nào đã mấy ai vui.
Nàng lặng buồn nhìn vói lúc chia phôi,
Tôi mạnh bước mà thấy hồn nhỏ lệ.
Tôi còn người mẹ
Tóc đã ngả mầu bông,
Tuổi già non thế kỷ.
Lưng gầy uốn nặng kiếp long đong.
Nắng mưa từ buổi tang chồng,
Tơ tằm rút mãi cho lòng héo hon.
Ôi xa xôi,
Mẹ tôi lệ nhòa mí mắt,
Trông con phương trời.
Từng cơn chợt tỉnh chơi vơi,
Nghe ròn tiếng súng nhớ người phân ly.
Mẹ ơi! Con mẹ tìm đi,
Bao giờ hết giặc, con về mẹ vui.
Đêm nay lành lạnh,
Sồng sâu buồn lấp lánh ánh sao thưa.
Mảnh quần nâu đã vá mụn giang hồ,
Chắc tay súng tôi mơ về Nguyễn Huệ.
Làng tôi đó, bên trại thù quạnh quẽ,
Trông im lìm như một nấm mồ ma.
Còn hay chăng! Em hỡi, mẹ tôi già,
Những người thân khóc buổi tôi xa.
Tôi là anh lính chiến,
Theo quân về giải phóng quê hương,
Mái đầu xanh bụi viễn phương,
Chân đi đạp đất xiêu đồn lũy địch.
Này anh đồng chí!
Người bạn pháo binh!
Đã đến giờ chưa nhỉ?
Mà tôi nghe trại giặc đã tan tành.
Anh bắn cho khéo nhé!
Kẻo nhầm vào nhà tôi.
Nhà tôi ở dưới chân đồi,
Có giàn hoa lý, có người tôi yêu. (Yên Thao)

Nhờ có sức mạnh của lòng yêu tổ quốc, dân tộc ta mới tạo nên chiến thắng lẫy lừng với Bạch Đằng Giang khiến cho cả nửa triệu quân Nguyên tranh nhau chạy trốn không còn dám bén nghĩ tới việc đem quân trở lại báo thù. Nhờ tình yêu tổ quốc, dân ta mới có những chiến công oanh liệt đá như Chi Lăng khiến cho Tướng Vương Thông của nhà Minh phải bó giáo quy hàng dù cho đã có tới trên 150 ngàn quân và hơn 30 ngàn ngựa tiếp viện. Nhờ có tình yêu tổ quốc, dân ta mới có như Đông Đa khiến cho gần 300 ngàn quân Thanh tranh nhau chạy trốn. Và cũng do đâu nếu không phải tình yêu tổ quốc mà như chiến công Điện Biên Phủ vang lừng khiến cho hơn hai trăm ngàn quân Pháp - Thập Ác Vatican cùng tất cả các đạo quân thâp tự trong các giáo khu Phát Diệm, Bùi Chu, trong các làng đạo gần bên các đồn giặc rải rác khắp nơi vùng giặc chiếm phải đầu hàng cuốn gói ra đi.

Sức mạnh của lòng yêu tổ quốc của dân tộc ta mãnh liệt như vậy.

II. TÌM KIẾM THÀNH PHẦN DÂN CHÚNG DỄ MUA CHUỘC ĐỂ MÓC NỐI

Đây là kế sách mà các nhà truyền giáo tiền phong khi mới nhập cảnh vào Việt Nam. Lộ đồ của kế sách này là:

1.- Lân la tiếp xúc với những người dân cùng khổ hay những người đang ở trong hoàn cảnh khó khăn rồi tùy theo hoàn cảnh để mua chuộc họ bằng cách giúp đỡ thuốc men, vật chất trong lúc ngặt nghèo khốn khó. Trong khi tiếp xúc với họ, các ông truyền giáo luôn luôn nhắc nhở họ phải cầu xin Chúa ban ơn cứu giúp thì mới có hy vọng được Chúa giúp cho tai qua nạn khỏi. Dĩ nhiên, những người cùng khổ đã được giúp đỡ về vật chất thì chắc chắn là thoát khỏi cảnh khốn cùng, và họ dễ dàng tin rằng vì họ đã theo đạo cho nên mới được Chúa giúp đỡ. Ta gọi những tín đồ Gia-tô thuộc loại này là những người “đi đạo lấy gạo mà ăn”. Hầu hết những người này là những ít học và dốt nát. Được giúp đỡ thóat khỏi cảnh khó khăn, họ dễ dàng tin tưởng, và dễ dàng bị mê hoặc và biến thành những tín đồ Gia-tô cuồng tín.

Trước năm 1945, phần lớn những tín đồ Gia-tô người Việt Nam thuộc loại này. Sự kiện này được ông Hà Giang nói rõ trong bài viết "Cứu Trợ Nhân Đạo" đăng trên www.giaodiem.com tháng 7/2003, với nguyên văn như sau:

"Tình trạng xáo trộn chính trị và nạn đói vào đầu thế kỷ 20 ở Việt Nam, nhất là ở các tỉnh như Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, v.v... được giới truyền giáo Tây Phương xem như là một cơ hội lý tưởng để bành trướng đạo Kitô.

Nhiều văn thư trao đổi giữa các giáo sĩ và các quan chức Pháp thời đó cho thấy rõ ràng chiến lược lợi dụng sự nghèo khổ của người Việt Nam để truyền đạo. Chẳng hạn như một lá thư của Đức Cha Marcou, giám mục một địa phận miền biển Đàng Ngoài gửi cho "Bề Trên" (đề ngày 14/ 9/1902) [trích đoạn]: "Hiện tại phương pháp họat động tông đồ tốt nhất có lẽ là tăng gấp bội họat động từ thiện và giúp đỡ về vật chất càng nhiều càng tốt." Một thư khác đề ngày 8/ 4/ 1889 của một nhóm 17 người xin phép bỏ đạo Công Giáo để trở lại với Phật Giáo viết [trích đoạn]: "Chúng tôi trước đây là tín đồ Phật Giáo. Vào đạo năm 1886, người ta nói chúng tôi được tự do làm người Phật Giáo hoặc Công Giáo. Hơn nữa, vị cha xứ địa phương bảo chúng tôi rằng nếu chúng tôi đón nhận Công Giáo, chúng tôi sẽ được miễn sưu thuế mà người Phật Giáo phải đóng. Đó là lý do chúng tôi rửa tội theo Công Giáo."[iii]

Ở miền Nam Việt Nam, từ năm 1954 trở về sau, đặc biệt là trong những năm 1954-1963, ở các tỉnh Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Qui Nhơn, Khánh Hòa và Phú Yên, có hàng trăm ngàn người “theo đạo lấy gạo mà ăn” như vậy. Sự kiện này được Linh mục Trần Tam Tỉnh ghi lại trong cuốn Thập Giá Và Lưỡi Gươm với nguyên văn như sau:

Bên cạnh chủ nghĩa hiếu thắng bề ngoài đó, phải nói thêm một thứ hiếu thắng khác về "mục vụ" như là đặc điểm của Giáo Hội trong thời kỳ này, đó là việc đưa dân ngọai vào đạo. Giám-mục Ancel phụ tá địa phận Lyon (Pháp), đã nhắc lại lời Giám-mục Thục: "Có những làng nguyên vẹn xin chịu phép rửa. Người ta không làm sao dạy giáo lý kịp cho họ...! Và ông kết luận: "Đây là nước duy nhất tại Viễn Đông (không kể Philippines) đang trên đà trở lại đạo cả nước". Những con số người lớn chịu rửa tội, nhất là tại địa phận Qui Nhơn xem ra phù hợp với cảm tưởng của vị giám mục Pháp: 16.323 năm 1956-1957, 27.385 năm 1958-1959, 37.429 năm 1960-1961. Năm 1959, tại Qui Nhơn, chỉ trong một tháng, 61.000 người xin chịu phép rửa. Ơn Chúa hình như đùng một phát tuôn xuống như mưa trên địa phận của Giám-mục Chi, giám mục phụ trách di cư những năm 1954-1955, ông đã nhận được từ cơ quan Viện Trợ Công Giáo Hoa Kỳ 38 triệu đô la, và của tổ chức viện trợ Pháp cũng như Caritas quốc tế còn nhiều triệu khác nữa.

Phong trào trở lại đạo hàng loạt như thế vừa là kỳ diệu vừa gây khó chịu, bởi vì dân chúng các vùng đó đã sống dưới quyền kiểm soát của Việt Minh trong thời chiến tranh Pháp - Việt. Giám-mục Chi đã cho chúng tôi biết rằng phép lạ đó, một phần đã nhờ có việc tuyên truyền "thuyết nhân vị" của chính phủ, dọn đường cho quần chúng tới đây tìm gặp được đạo công giáo và đàng khác nhờ các việc từ thiện công giáo, các trường học, cô nhi viện, nhà thương, điểm phát quần áo, bánh mì và lương thực. Có người cho rằng việc theo đạo hàng lọat đó chỉ lặp lại theo ngạn ngôn đã có từ thời Pháp, "đi đạo lấy gạo mà ăn" thôi. Quả thế, viện trợ Công Giáo từ ngoài vào đều do các linh mục tự tiện thao túng và thường chỉ để phân phát cho người Công Giáo. Dân chúng miền Trung này là vùng nghèo nhất miền Nam, chẳng qua đã tìm nơi việc theo đạo Công Giáo là một phương thế kiếm ăn. Có người cho rằng họ vào đạo để khỏi bị sách nhiễu về chính trị. Quần chúng ở đây, vì đã từng sống lâu năm dưới chế độ Việt Minh, nên bị tình nghi có liên hệ với "kẻ địch", bây giờ vào đạo là gặp được con đường để tỏ lòng trung thành với chế độ (Diệm), hoặc ít ra cũng tránh được những quấy nhiễu của cảnh sát. Đó là ơn Chúa hay chỉ do động cơ khác của con người?...

Điều chắc chắn là phong trào trở lại đạo này đã chấm dứt vào cuối năm 1963, ngay khi Tổng Thống Công Giáo Diệm bị lật đổ." [iv]

2.- Tìm kiếm các gia đình đang ở trong hoàn cảnh cùng cực nghèo khổ, lân la làm thân với họ, rồi thuyết phục để mua con em của họ đem về nuôi dưỡng, và hứa hẹn với họ rằng những em bé này sẽ được đào tạo thành những người có tương lai xán lạn. Sự kiện các ông truyền giáo bỏ tiền ra mua các trẻ em con nhà nghèo khổ như vậy được Tiến-sĩ Vũ Ngự Chiêu ghi lại trong cuốn Ngàn Năm Soi Mặt như sau:

"Vào giữa thế kỷ XIX, "bán con" là một hủ tục quen thuộc tại Đại Nam (cũng như Trung Hoa). Cho đến thập niên 1940, tức khoảng 100 năm sau ngày Petrus Key làm con nuôi các cố đạo, vẫn còn tục lệ bán con nói trên.

Trong khi đó, vì chính sách bài đạo của nhà Nguyễn, các giáo sĩ Kitô tìm đủ mọi cách để gia tăng số tín đồ. Trong kế họach gia tăng giáo dân trên có việc dùng tài lợi mua chuộc, nuôi dưỡng trẻ mồ côi, và mua con nít của những gia đình Lương nghèo khổ (như ăn mày) để huấn luyện làm thày kẻ giảng, và nếu đứa trẻ thông minh, có thể huấn luyện làm giáo mục bản xứ. Tại Cao Miên, số tiền các giáo sĩ bỏ ra để rửa tội cho mỗi người ngoại đạo lên tới 100 quan vào năm 1858..... Số trẻ em mồ côi hoặc con nhà nghèo bán cho các nhà tu hàng năm cũng khá quan trọng. Đa số "các chú" trong các "nhà Chúa Blời" đều là cô nhi hay con nhà nghèo được giáo sĩ bỏ tiền ra mua về." [v]

3.- Tìm kiếm những đứa trẻ mồ côi, không cha, không mẹ lượm đem về nuôi ở trong các viện mồ côi rồi đem chúng ra nhà thờ rửa tội.

4.- Móc nối với những thành phần chống đối chính quyền đương thời và hứa hẹn sẽ thỏa mãn những khát vọng chính trị của họ. Trong những năm 1780 cho đến thập niên 1880, Giáo Hội cho người đì tìm kiếm những hạng người sinh vô gia cư, tử vô địa táng và những thành phần bất mãn với chính quyền đương thời rồi móc nối và hứa hẹn giúp đỡ cho họ thỏa mãn khát vọng mà họ đang theo đuổi. Đến đây, chúng ta nhớ lại, ngay sau khi “hai vạn quân và 300 chiến thuyền của viện quân Xiêm sang giúp Nguyễn Vương” bị Nguyễn Huệ đánh tan ở Rạch Gầm và Xoài Mút (gần Mỹ Tho) vào năm 1784, Giám-mục Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc) liền chụp lấy cơ hội ngàn năm một thuở này, lân la đến làm quen với Nguyễn Ánh và hứa hẹn sẽ thân hành sang Pháp cầu cứu viện binh đem về giúp Nguyễn Vương đánh bại nhà Tây Sơn. Nhờ vậy mà Bá Đa Lộc đã lùa được Hoàng Tử Cảnh vào cái tròng Gia-tô. Sau khi Hòang Tử Cảnh đã trở thành tín đồ Gia-tô, các đời con, đời cháu của ông hoàng này tiếp nối nhau đến đời Cường Để và đàn con của Cường Để là Tráng Liệt cũng vẫn tiếp nối nhau là tín đồ Gia-tô. Đây cũng là trường hợp khi Lê Văn Khôi nổi loạn chống lại triều đình Huế vào năm 1833, thì Linh-mục Joseph Marchand (cố Du) đã có mặt ở trong thành Phiên An làm cố vấn cho Lê Văn Khôi để lôi cuốn đám lính nổi lọan và thân nhân họ theo đạo. Đoạn văn sử dưới đây cho chúng ta thấy rõ vai trò của ông cố Du trong vụ loạn Lê Văn Khôi:

Vụ Lê Văn Khôi và nhiều vụ khác đã trình bày rõ rệt cho vua quan thấy rằng các người truyền giáo, thay vì đứng nguyên trong vai trò thiêng liêng của mình lại xen vào chính trị, tìm cách thúc đẩy các người đổi đạo chống lại chính quyền hợp pháp để chuẩn bị cho một chính phủ thân Thiên Chúa giáo lên cầm quyền. Khôi là con nuôi của Tổng Trấn Lê Văn Duyệt. Ông này là bạn và chiến hữu của Gia Long. Viên Tổng Trấn chống đối việc chọn Minh Mạng làm Đông Cung Thái Tử, cho nên khi lên ngôi, nhà vua đã thi hành những biện pháp cực kỳ nghiêm ngặt đối với Lê Văn Duyệt, người đã sống và chết cùng với dòng họ ông ta. Do đó, Khôi nổi dậy chống Minh Mạng từ 1833 đến 1835, chiếm toàn thể Nam Kỳ và bổ nhiệm quan lại. Các người truyền giáo và các con chiên rất tích cực vào cuộc nổi dậy này. Một bức thư bắt được trên chiếc tàu bị chặn ngoài khơi Phú Quốc, trong thư Lê Văn Khôi yêu cầu Giám Mục Taberd lúc đó đang trốn tránh tại Xiêm La trở lại Saigon. Những người đi Xiêm cầu viện là những tín đồ Gia Tô. Khi chiếm Saigon, triều đình thấy trong thành có Linh Mục Marchand, người đã được một linh mục Việt Nam dẫn từ Trà Vinh lên và chắc muốn đóng vai trò của Pigneau de Béhaine bên cạnh các người nổi loạn, với hy vọng biến Nam Kỳ thành một vương quốc ly khai đặt dưới quyền lãnh đạo của Gia Tô giáo. Linh Mục Marchand cùng năm người cầm đầu khác bị đưa về Huế và bị xử lăng trì”. [vi]

"Bắc Kỳ phải tách khỏi các vùng đất khác của nước Việt Nam để trở thành một nước độc lập. Đó là đề nghị của Giám-mục Retord, vị đại diện Tòa Thánh ở Tây Bắc Kỳ, đã nhờ quận Công Kleczkowski trình bày cho Bộ Ngọai Giao.

Cần phải trục xuất triều vua này và đặt một người thuộc dòng dõi nhà Lê lên thay thế; hiện nay ở Bắc Kỳ có một số con cháu họ này mà người Bắc Kỳ rất thương tiếc. Các người này theo đạo, đây là cơ hội tốt để đạo Thiên Chúa lên ngôi ở xứ An Nam qua ông vua mới này. Nước Pháp trở thành người bảo vệ cho Vương Quốc và sẽ tạo ra những hiệp ước tự do buôn bán, dân sự, tôn giáo nào mà nó muốn. Nếu nước Pháp làm được tất cả những điều đó và nếu nước Pháp tách rời Bắc Kỳ ra khỏi Nam Kỳ bằng cách lập một ông vua cai trị thủ đô cũ của Bắc Kỳ, chúng ta sẽ thực hiện hạnh phúc lớn lao của người Bắc Kỳ mơ tưởng. Nếu nước Pháp chinh phục cả nước (việc này chắc không khó và theo tôi có đủ lý do để làm việc đó) và cai trị trực tiếp người Bắc Kỳ cũng sẽ bằng lòng, nhưng học thích chịu sự bảo hộ và ảnh hưởng của người Pháp với một ông vua riêng của họ hơn." [vii]

"Trước hết là những cuộc nổi loạn liên miên của các cộng đồng giáo dân Kitô, tiêu biểu bằng tổ chức hải tặc Tạ Văn Phụng (Lê Duy Minh), với khẩu hiệu thiết lập một vương quốc Kitô, và thổ phỉ Lê Duy Huân, tức khôi phục nhà Lê." [viii]

Đọc các sách sử nói về thời kỳ từ cuối thập niên 1810 cho đến giữa thập niên 1880, quý vị sẽ thấy các nhà truyền giáo Gia-tô đã sử dụng trăm phương ngàn kế để thi hành sách lược này (gọi là sách lược "quậy cho nước đục để thả câu"). Xúi giục những thành phần bất mãn với nhà Nguyễn nổi lên đánh phá, Giáo Hội thừa cơ hội nhẩy vào khai thác để ăn có. Đặc biệt là tiếp sức cho những nhóm nổi loạn do bọn giáo sĩ giật dây đánh bại nhà Nguyễn, rồi đưa nhóm tín đồ Gia-tô lên nắm chính quyền và sau đó sẽ tiến hành kế họach Kitô hóa nhân dân bằng những phương tiện của chính quyền.

Trong thời kỳ tiến quân đánh chiếm và thống trị Việt Nam vào giữa thế kỷ 19, Giáo Hội La Mã cũng đã đưa ra chính sách "Chia Để Tri" và chủ trương thi hành Kế Hoạch Kitô Hóa như trên, nhưng bị các nhà cầm quyền người Pháp bác bỏ. Lý do là vì hầu hết những người Pháp có thế lực trong chính quyền ở Pháp cũng như ở Đông Dương là những người thuộc Phe Cấp Tiến hay là thành viên của Hội Tam Điểm ở Pháp vốn không ưa Giáo Hội La Mã. Vì thế mà Kế Hoạch Kitô Hóa Việt Nam của Giáo Hội La Mã do Giám-mục Puginier biên soạn không được triệt để thi hành, mà chỉ được áp dụng trong một phạm vi giới hạn và ngấm ngầm, chứ không công khai và lộ liễu như ở miền Nam Việt Nam vào những năm 1954-1975.

5.- Chèn ép hay cưỡng bách những người muốn thành hôn với người yêu là tín đồ Gia-tô. Đây là hành động bắt cóc hạnh phúc gia đình của những cặp uyên ương yêu nhau muốn sống đời đời kiếp kiếp với nhau dưới cùng một mái nhà. Sách lược này giống y hệt như bọn ăn cướp bắt cóc con cái thân nhân các gia đình nhà giầu có làm con tin để đòi tiền chuộc mạng. Ở đây hạnh phúc của người khác tôn giáo muốn thành hôn với người yêu là tín đồ Gia-tô bị Giáo Hội La Mã bắt cóc rồi đòi hỏi nạn nhân phải chuộc lại bằng cách phải chấp nhận theo đạo Gia-tô. Như vậy Giáo Hội là một nhà tù giam giữ hạnh phúc của nạn nhân và viên quản ngục chính là người phối ngẫu của nạn nhân. Hành động bỉ ổi, đê tiện, và khốn nạn này của Giáo Hội La Mã đã trở thành nguồn cảm hứng cho dân ta có những vần thơ châm biếm như:

Lạy Chúa Ba Ngôi,

Tôi lấy được vợ tôi thôi đi nhà thờ.

Nhà thờ, các ông linh mục và giáo dân cuồng tín đều biết thực trạng này là như vậy. Nhưng Giáo Hội La Mã là đã có người phối ngẫu làm quản ngục cầm giữ nạn nhân và sẽ bắt những đứa con của nạn nhân phải rửa tội ngay khi còn bế ngửa. Qua những quy luật phải đi nhà thờ mỗi ngày, Giáo Hội nhồi nhét vào đầu óc ngây thơ trong trắng của những đứa bé này những tín lý Ki-tô hoang đường phi lí, nhảm nhí và những giáo luật độc đoán nặng tính cách áp bức, bóc lột và bốc hốt. Như đã nói trên, lòng trẻ em như tờ giấy trắng, Giáo Hội có dã tâm đem màu đen nhuộm vào để rồi sau đó không còn có cách gì tẩy xóa được nữa.

6.- Tìm cách dụ khị và mê hoặc những thành phần ngu dốt. Một số trẻ em vì theo học trường đạo từ tuổi còn nhỏ rồi bị mê hoặc và vui với bạn học cùng lớp là tín đồ Gia-tô rồi theo đạo. Đây là lọai những người theo đạo hoặc vì mê tín hoặc vì thiếu thông minh. Sau năm 1975, có một số thuyền nhân ở vào trường hợp này. Khi còn đang lênh đênh trên mặt biển, mọi người đều lo sợ những rủi ro có thể xẩy đến bất cứ lúc nào. Giữa lúc đó, có người đến hiến kế, nói rằng, "Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp linh thiêng lắm, nếu cầu xin Mẹ, thì Mẹ sẽ giúp cho đến bờ đến bến.” Thế rồi, trong suốt hải trình, may mắn là không có gì xẩy ra và họ đã đến được trại tỵ nạn, rồi sau đó lại được vào định cư ở Hoa Kỳ. Người bạn đi cùng tầu vượt biển đã từng đưa ra lời đề nghi cầu xin Đức Mẹ Hăng Cứu Giúp (để được cứu giúp) vẫn bám sát, liên lạc thường xuyên với họ và luôn luôn nhắc nhở họ phải (nên) theo đạo để tỏ lòng tạ ơn Đức Me. Dĩ nhiên là chỉ những người ngu dốt hay không có lý trí mới tin như vậy và làm như vậy. Người viết được biết một ông bác sĩ ở Federal Way (Washington) có chủ tâm "theo đạo để làm ăn được dễ dàng làm ăn với khách hàng là tín đồ Gia-tô" đã viện cái "cớ" này khi theo đạo Gia-tô để cho nó có vẻ "danh chính ngôn thuận" và cũng là để tỏ ra là người biết giữ "chữ tín". Đúng ra, ông bác-sĩ này phải được xếp vào loại số 9 ở dưới (mượn đạo để tạo danh đời) vì rằng chủ tâm của ông ta theo đạo Gia-tô để câu nhử hay lôi cuốn tín đồ Gia-tô người Việt đến phòng mạch của ông ta. Cũng nhờ đã theo đạo Gia-tô, mà sau đó ông ta trở thành chủ tịch cộng đồng tại thành phố lớn đứng hàng thứ nhì ở miền Tây tiểu bang Washington vào những năm 1999-2001. Và cũng vì phải theo thói quen chụp mụp mũ củac các ông chủ tịch cộng đồng các địa phương ở Bắc Mỹ, ông bác sĩ này trở thành một trong mấy người chủ động việc chụp “mũ Cộng Sản” cho bà Minh Anh Hodge, Giám Đốc Chương trình Ngọai Ngữ và Tiểu Học tại Nha Học Chánh Tacoma, một phụ nữ hiền thục và mẫn tiệp, được nhiều người Việt trong vùng quý mến vì bà luôn luôn giúp đỡ tận tình cho những người gặp phải hòan cảnh khó khăn. 

7.- Khủng bố và hù dọa khiến cho nạn nhân sợ quá mà phải theo đạo để khỏi bị chụp mũ là “Cộng Sản” hay “Cộng Sản nằm vùng”.- Trong những năm 1954-1963, tại miền Nam Việt Nam, đặc biệt là ở các tỉnh Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Qui Nhơn và Khánh Hòa, có tới khỏang 300 ngàn người bị chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm thủ tiêu hay sát hại theo tinh thần Sắc Luật 47 được ban hành vào ngày 21/8/1956 và Luật Số 10 được ban hành vào ngày 6/5/1959. Tình trạng này gây nên một tâm lý kinh hoàng trong nhân dân và đã khiến cho một số nhiều người khiếp sợ và tìm cách theo đạo để được an thân, nếu không, thì sẽ bị chụp mũ là “Cộng Sản” hay “Cộng Sản nằm vùng” và sẽ bị thủ tiêu hay bị sát hại giống như số phận của 300 ngàn nạn nhân như đã nói trên. Sự kiện này được Linh-mục Trần Tam Tỉnh ghị lại như sau:

Có những người cho rằng theo đạo khỏi bị sách nhiễu về chính trị. Quần chúng ở đây, vì đã từng sống lâu năm dưới chế độ Việt Minh, nên bị tình nghi là có liên hệ với “kẻ địch” bây giờ vào đạo là con đường để tỏ lòng trung thành với chế độ, hoặc ít ra cũng tránh được những quấy nhiễu của cảnh sát "[ix] .

8.- Gạ gẫm bảo lãnh những người muốn sang Hoa Kỳ định cư. Sau năm 1975, khi biết rõ đời sống khá giả của người Việt hải ngoại ở Mỹ, những người truyền đạo Thiên Chúa Giáo phao tin rằng nếu theo đạo, thì sẽ dễ dàng được Giáo Hội bảo đảm và giúp đỡ lo cho di cư sang Hoa Kỳ mưu sinh. Vì lý do này, kể từ đó, ở Việt Nam có nhiều người theo đạo để nuôi hy vọng. Một cặp vợ chồng bạn của người viết ở ở miền Nam đã theo đạo vì lý do này. Con số những người Thượng ở vùng cao Nguyên Trung Việt mới theo đạo Tin Lành từ 1985 trở đi cũng là những người trong số này.

9.- Liên kết với các thế lực đế quốc thực dân xâm lực hay chính quyền chuyên chế địa phương rồi dựa vào thế lực của nhà nước thi hành kế họach Ki-tô hóa nhân dân bằng những phương tiện của chính quyền. Xin gọi đây là sách lược “cáo đội lốt hùm”. Nhờ có thể dựa vào thế lực chính quyền, các ông truyền giáo liền cho người đi tìm kiếm những người thèm khát quyền lực và chức vụ trong chính quyền để móc nối và hứa hẹn sẽ giúp đỡ cho họ được toại nguyện. Sau đó, Giáo Hội lại tìm cách móc nối với những người có thế lực trong chính quyền để giúp đỡ cho con mồi mà Giáo Hội đã hứa hẹn. Nếu công việc thành công thì coi như là cá đã cắn câu. Nói cho rõ hơn, con mồi đã lọt vào trong cái tròng Gia-tô (the Catholic loop). Người Việt Nam ta gọi những người này lànhững người mượn danh đạo tạo danh đời”. Loại người này theo đạo chỉ có một mục đích duy nhất là dựa vào thế lực của đạo để leo lên bước thang danh vọng hay quyền lực. Đây là trường hợp của những người như Lâm Văn Phát, Lâm Lễ Trinh, Tôn Thất Thiện, Huỳnh Hữu Nghĩa, Đặng Văn Quang, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Văn Y, Nguyễn Đình Thuần, v…v. Nói về những hạng người này, Giao Sư Vũ Văn Mãu nêu đích danh một số những nhân vật có chủ tâm theo đạo Gia-tô để được thăng quan tiến chức trong chính quyền đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm. Giáo Sư Vũ Văn Mẫu kể lại tình trạng này như sau:

"Trong Tiết 1, tôi đã nói đến trường hợp Bộ Trưởng Phủ Tổng Thống là Nguyễn Đình Thuần đã quỳ trong Dinh Độc Lập để hôn nhẫn Hồng Y Giáo Chủ Agagianian. Người ta cho rằng nhờ rửa tội theo Thiên Chúa Giáo, Nguyễn Đình Thuần đã được bổ nhiệm (thăng) từ Đổng Lý Văn Phòng lên Chức Bộ Trưởng Phủ Tổng Thống.

Đại Tá Nguyễn Văn Y cũng nhờ chịu rửa tội theo Thiên Chúa Giáo mà được bổ nhậm làm Tổng Giám Đốc Nha Cảnh Sát Công An, một chức vụ mà ai cũng rõ phải được sự tin cẩn tột bực của Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Cố Vấn Ngô Đình Nhu. Nguyễn Văn Thiệu cũng rửa tội theo đạo khi mới đóng cấp tá dưới nền Đệ Nhất Cộng Hòa. Ngòai ra, các chức vụ quan trọng đều giao phó cho người Thiên Chúa Giáo. Các người tân tòng bị chế là "đạo đứng" vì các người đạo gốc được rửa tội ngay khi mới sinh, còn ẵm ngửa.

Trả lời phái đòan Liên Hiệp Quốc sang điều tra vụ đàn áp Phật Giáo, nhân chứng số 43 đã đề cập đến trường hợp ông Trần Văn Lắm: " Ông Trần Văn Lắm trước kia là Đại Biểu Chính Phủ tại Nam Phần, bây giờ là Đại Sứ Việt Nam ở nước nào tôi cũng không rõ. Người ta muốn loại trừ ông vì ông là một Phật tử. Ông tỏ vẻ lo sợ, thật hèn nhát. Một lần tắm ở Vũng Tầu, ông la lớn: "Đức Mẹ đã cứu tôi sắp chết đuối." Sau đó, ông theo Công Giáo và được giữ lại chức Đại Biểu Chính Phủ Nam Phần." [x]

Lời thú nhận của cựu Tướng Lâm Văn Phát nói lên sự kiện về những người theo đạo Gia-tô vì bị lôi cuốn bởi miếng mồi quyền lực (chức vụ và địa vị quyền cao chức trọng trong chính quyền). Lời thú nhận này được sách Chân Dung Tướng Ngụy Sàigon ghi lại với nguyên văn như sau:

"Từ năm 1948- đến 1954, tôi vẫn loanh quanh dẫm chân với cái lon trung tá giả định vì cái "án" có cha và chị đi kháng chiến làm cán bộ Việt Minh. Sang thời Ngô Đình Diệm lại cái bảng đen ngầm "gia đình Việt Cộng", trong lúc đó thì bọn sĩ quan đàn em như Nguyễn Văn Thiệu, Đặng Văn Quang, Nguyễn Hữu Có... có thời cơ leo lên vùn vụt. Lúc này, tôi nẩy ra cách thóat thân để được lòng tin cậy của triều đình họ Ngô. Cuối năm 1957, tôi xin vô đạo Thiên Chúa, xin "cậu út" Ngô Đình Cẩn nhận làm bố đỡ đầu (parrain) mặc dầu Cẩn chỉ hơn tôi dăm bẩy tuổi..." [xi]

Trong cuốn Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng, tách giả cũng ghi nhận tình trạng của ông Hùynh Hữu Nghĩa cũng tương tự như vậy với nguyên văn như sau:

"Thư đề ngày 17/2/1962, Fishel gửi Hamah; FRUS, 1961-1963 II: 149. The Fishel, một bộ trưởng (Huỳnh Hữu Nghĩa) đã cải đạo; (Ibid, II: 46) và nhiều sĩ quan cải đạo để mong được thăng cấp. (Ibid., II: 56, 45") [xii]

Sách Sáu Tháng Pháp Nạn viết:

"... số người a dua chạy theo chính quyền để trục lợi vẫn còn là đại đa số. Vào đầu năm 1963, tất cả tỉnh trưởng được bổ nhiệm tại miền Nam đều là đệ tử của Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục hay của cố vấn chính trị Ngô Đình Nhu. Tại miền Trung, các tỉnh trưởng đều là các thủ túc của Ngô Đình Cẩn, em út của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Tuy không giữ chức vụ gì chính thức, Ngô Đình Cẩn tự ban cho mình chức Cố Vấn chỉ đạo các đoàn thể chính trị tại Trung Việt, Cao Nguyên và Hải Ngọai.

"Ngoài ta, các dân biểu trong Quốc Hội cũng đều là tay sai trung thành của chế độ. Hơn nữa, các phong trào chính trị toàn quốc đều do họ Ngô thành lập để tạo hậu thuẫn trong dân chúng. Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia của Ngô Đình Diệm, Đảng Cần Lao và Phong Trào Thanh Niên Cộng Hòa của Ngô Đình Nhu, Phong Trào Liên Đới Phụ Nữ của vợ Nhu là Trần Lệ Xuân, và không kể biết bao nhiêu đòan thể chầu rìa khác chạy theo voi để hít bã mía!" [xiii]

Theo sự hiểu biết của người viết, ngòai ra, còn có rất nhiều người trong giới tướng lãnh, sĩ quan cấp tá và cấp úy cũng như có rất nhiều viên chức trong chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm và quân phiệt Nguyễn Văn Thiệu cũng "vô đạo" vì "động lực" giống y như "động lực theo đạo" của cựu Tướng Lâm Văn Phát, Đại Tá Nguyễn Văn Y và các ông Nguyễn Đình Thuần, Trần Văn Lắm. Trong cuốn Xóm Đạo, nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn kể lại một ông quận trưởng (có lẽ là trong tỉnh Hậu Nghĩa) theo đạo cũng chỉ vì muốn duy trì cái ghế quận trưởng và ông ta muốn leo lên những chức vụ lớn hơn trong chính quyền. Tác giả viết:

Cũng giống như nhiều vị công chức cao cấp khác, ông quận trưởng tự cảm thấy rằng, thời này là thời của đạo Thiên Chúa, bởi vì gia đình Ngô Tổng Thống rất sùng đạo! Cái ghế của ông có vững hay không, tương lai của ông ta có leo lên được nũa hay không, đều tùy thuộc cách xử sự khéo léo của ông, chứ không phải nhờ tài năng hay đức độ. Nhà ông đời đời theo Phật giáo. Nhưng người khôn ngoan lúc này phải biết thức thời, bỏ đạo Phật để rửa tội theo Công Giáo thì mới được Ngô Tổng Thống tín nhiệm! Ông tin như thế, cho nên ông hay tìm đến làm thân với các vị linh mục, những người mà ông cho là cửa ngõ thênh thang nhất để giắt ông trên đường danh vọng. Một tiếng nói, một đề nghị của một linh mục, sẽ có sức mạnh lần ý kiến của quan! Tương tự như thế, một lời dèm pha của một linh mục, có thể làm ông bay chức trong nháy mắt! Cái thành kiến ấy nằm sâu trong đầu ông, cho nên ông đã từng trợ giúp vật liệu cho cha Xuân lúc xây nhà thờ, từng xuống dự lễ Noel, quì mỏi gối chung với giáo dân ở trại, và hai năm liên tiếp ngồi ghế quận trưởng, cứ mỗi độ xuân về, ông đều không quên sai lính chở xuống tặng nhà xứ một cành mai thật lớn!…”[xiv]

Chuyện ông Nguyễn Văn Thiệu theo đạo Gia-tô được ông Phạm Liễu kể lại trong cuốn Trả Ta Sông Núi 2 với nguyên văn như sau:

"Sau năm 1954, ông Thiệu đã được lên tới cấp Thiếu Tá, phục vụ tại Bộ Tư Lệnh Đệ Nhị Quân Khu ở Huế, dưới quyền Đại Tá Trương Văn Xương. Mùa Thu năm 1954, khi cuộc tranh chấp giữa Tướng Nguyễn Văn Hinh và Thủ Tướng Diệm bùng nổ, Thiếu Tá Thiệu gia nhập Đảng Con Ó, cùng với Trung Tá Trần Thiệm Khiêm, Thiếu Tá Hoàng Xuân Lãm, Đại Úy Trần Văn Trung, Nguyễn Văn Mạnh, v.v... để yểm trợ Nguyễn Văn Hinh. Sau khi Tướng Hinh phải rời nước, nhóm Thiếu Tá Thiệu bị đưa về Sàigòn điều tra. Để thoát khỏi sự nghi kỵ của chế độ Diệm, Thiếu Tá Thiệu xoay qua đường giây Thiên Chúa Giáo của nhà vợ.

Nguyên ông Thiệu lấy bà Kim Anh, người Mỹ Tho, có đạo Thiên Chúa, đã lâu nhưng không chịu rửa tội.... Nhưng sau ngày ông Diệm cầm quyền, đạo Thiên Chúa biến thành một thứ chìa khóa danh vọng và quyền lực cho những ai tham vọng. Bởi thế ông Thiệu quyết tâm "trở lại với đạo". Trung Tá Thiệu cẩn thận năn nỉ Linh-mục Bửu Dưỡng, lý thuyết gia bản xứ của Đảng Cần Lao, đích thân rửa tội cho ông ta ở Đà Lạt. Nhờ vậy, ông Thiệu được thăng cấp Đại Tá và được giao cho nắm Sư Đoàn 1 rồi Sư Đoàn 5 ở Biên Hòa. Đại Tá Thiệu còn được vào Quân Ủy của Đảng Cần Lao." [xv]

Trong bài viết Sự Hèn Hạ Và Xảo Trá Của Ông Lâm Lễ Trinh, Cựu Bộ Trưởng Nội Vụ Đệ Nhất Cộng Hòa, đăng trên trang nhà www.chuyenluan.com tháng 5 năm 2004, tác giả viết về chuyện ông Lâm Lễ Trinh theo đạo Gia-tô như sau:

"Trước hết là suy nghĩ về hai chi tiết rất sâu sắc của ông Trần Vĩnh Long về cấu trúc văn hóa và căn cước chính trị của ông Lâm Lễ Trinh. Ông theo đạo Công giáo La Mã vào năm 1958, thời điểm cực thịnh của hiện tượng “theo đạo có gạo mà ăn” dưới nền Đệ nhất Cộng hòa. Đó cũng là thời điểm khi chính quyền Ngô Đình Diệm bắt đầu tiến hành ý đồ Công giáo hóa miền Nam qua hai chính sách đàn áp trù dập Phật giáo, lực lượng văn hóa nền móng và đa số của xã hội Việt Nam, và phân phát đặc quyền đặc lợi cho những người đồng đạo Công giáo cả ở trong lẫn ngoài chính quyền. Các kế sách Dinh Điền, Khu Trù Mật, (và sau nầy là Ấp Chiến Lược); các tiêu chuẩn kỳ thị về tôn giáo trong chính sách nhân dụng của bộ máy hành chánh và quân đội, trong các lãnh vực kinh tế, giáo dục, xã hội, và quốc phòng, ... đã làm cho không thiếu người từ bỏ truyền thống tâm linh của dân tộc, đổi đạo để tìm bổng lộc và/hoặc để bảo toàn mạng sống. Ông Lâm Lễ Trinh đổi đạo đúng vào thời gian đó! Và ông đã làm đến chức Bộ trưởng bộ Nội vu, một chức vụ cực kỳ quan trọng trong một chế độ độc tài với mạng lưới công an mật vụ dày đặc của miền Nam." [xvi]

Thực ra, con số những người theo đạo thuộc lọai này (theo đạo vì danh lợi, theo đạo để dựa hơi, dựa thế) nhiều lắm. Mục đích theo đạo của những người háo danh hay thèm khát quyền lực là khi theo đạo rồi thì họ sẽ dựa hơi hay nhờ vả vị linh mục rửa tội hay gia đình của nhân vật đỡ đầu (Godfather) chạy chọt giúp đỡ cho họ được thăng quan tiến chức hay dễ dàng chạy "affaires" hoặc làm ăn trong cộng đồng của những người Gia-tô. Sự kiện này được ông Phạm Văn Liễu ghi nhận trong cuốn Trả ta Sông Núi (tập 2) nhu sau:

"Thực ra, đa số các sĩ quan hay công chức của nền Đệ Nhất Cộng Hòa đã theo Cần Lao hay "rửa tội" chỉ vì muốn được an thân, nhất là tiến thân. Cái thói phù thịnh là lẽ thường tình của người đời. Với những cá nhân tham vọng, bất cứ phương tiện nào cũng tốt, miễn hồ giúp họ đạt được mục đích. Hai tiếng "trung thành" hay "nhân nghĩa" là những tiếng cười dài mỉa mai." [xvii]

Con số người theo đạo thuộc lọai này có thể lên đến hàng mấy chục ngàn người trở lên.

10.- Dân đạo gốc. Giáo Hội sử dụng quyền lực để làm áp lực khiến cho các tín đồ (9 loại người theo đạo Gia-ô trên đây) khi sinh con thì phải đem đến nhà thở rừa tội ngay khi nó còn bế ngửa. Giáo Hội La Mã gọi những tín đồ Gia-tô thuộc lọai thứ 9 này là tín đồ Gia-tô “đạo gốc” hay “đạo dòng”. Trong cuốn Trả Ta Sông Núi, ông Phạm Văn Liễu gọi họ là lọai đạo “bế ngửavì họ được đem đến nhà thờ rửa tội khi còn bế ngửa. Còn những tín đồ Gia-tô khác (9 loại trên) thì được gọi là dân “đạo đứngvì khi làm lế rửa tội ở nhà thờ thì họ đứng, chứ không phải ở trong tình trạng còn bế ngửa.

Tính chung, con số những người tân tòng (thuật ngữ của Giáo Hội La Mã gọi là “những người mới trở lại đạo”) trong thời kỳ này phải lên đến hàng triệu. Vì thế mà vào năm 1975, con số tín đồ Gia-tô lên đến hơn 5 triệu.


[i] Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược, Quy?n II (Sàigòn: Bộ Giáo Dục: 1973), tr 25

[ii] Phòng 5 Bộ Tổng Tham Muu, Quân Sử 4: Quân Lực Vi?t Nam Cộng Hòa Trong Giai Ðọan Hình Thành 1946-1955 (Glendale, CA: Đại Nam (in lại, không đề năm), tr 101 va 103-104

[iii] Hà Giang."Cứu Trợ Nhân Đạo." tháng 7 năm 2003 www.giaodiem.com Ngày 16/7/2003.

[iv] Nguyễn Xuân Thọ, Bước Mở Đầu Của ự? Thiết Lập Hệ Thống Thuộc Đạa Pháp ? Việt?t Nam 1858-1897 (Saint Raphael, France, TXB, 1995), tr 17

[v] Nguyên Vũ, Ngàn Nam Soi Mặt (Houston, Texas: Văn Hóa, 2002), tr 196-197.

[vi] Cao Huy Thuần, Đạo Thiên Chúa Và Chủ Nghĩa Thực Dân Tại Việt Nam (Los Angeles, CA: Hương Quê, 1989), tr 53-54.

[vii] Cao Huy Thuần, Sđd., tr 224.

[viii] Vũ Ngự Chiêu, Các Vua Cuối Nhà Nguyễn 1883-1945 -Tập 1 (Houston, TX: Văn Hóa, 1999), tr 191

[ix] Trần Tam Tỉnh, Thập Giá Và Lưỡi Gươm (Paris: Sudestasie, 1978), tr 130.

[x] Văn Mẫu, Sáu Tháng Pháp Nạn (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2003), tr 53-54

[xi] Nguyễn Đinh Tiên, Chân Dung Tướng Ngụy Sàigòn (Hà Nội: Nhà Xuất Bản Quân Ðội Nhân Dân, 2002), tr 344

[xii] Chính Đạo, Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng (Houston, Texas: Văn Hóa, 2004), tr 45

[xiii] Vũ Văn Mẫu, Sđd., tr 8

[xiv] Nguyễn Ngọc Ngạn, Xóm Đạo (Đông Kinh, Nhật Bản: Tân Văn,1998), tr 152-53.

[xv] Phạm Văn Liễu, Trả Ta Sông Núi 2 (Houston, Texas: Văn Hóa, 2003), tr 307-308

[xvi] Phạm Phú Bổn. "Sự Hèn Hạ Và Xảo Trá Của Ông Lâm Lễ Trinh Cựu Bộ Trưởng Nội Vụ Ðệ Nhất Cộng Hòa" www.chuyenluan.com tháng 5 năm 2004

[xvii] Phạm Văn Liễu, Sđd., tr 56

 

     

    


04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com