405-gd.gif (4053 bytes)

updated: 10.4.2005

Phần webpage layout của bài viết này, chúng tôi đã lược bỏ những phụ chú ngoại ngữ vì hai lý do: 1) để làm giảm bớt độ dày của machine code, bạn đọc sẽ truy cập mau hơn; 2) bạn đọc sẽ bớt mệt mắt khi đọc online, và theo dõi xuyên suốt nội dung một cách hấp dẫn hơn. Bạn đọc nào muốn nghiên cứu, chúng tôi sẽ cung cấp nguyên bản nếu có sự yêu cầu, hoặc chờ đợi order sách tác giả sắp xuất bản nay mai. Giao điểm.

GIÁO HOÀNG JOHN PAUL II

Nguyễn Mạnh Quang

Khác hẳn với các vị nguyên thủ quốc gia khác trên thế giới,  Giáo Hoàng của Giáo Hội La Mã vừa là gíao chủ của đạo Kitô La Mã vừa là ông Hòang Đế của Đế Quốc Vatican. Đế quốc này có thuộc địa là những giáo phận nằm dưới quyền cái quản của các ông phó vương (prelates) và tín đồ ở rải rác trên các lục địa Âu, Phi, Mỹ và Á Châu. Khác với các quốc gia khác trên thế giới, Giáo Hội La Mã theo chế độ chính trị tăng lữ quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền. Cũng vì thế mà khi một vị giáo hòang qua đời là một biến cố vô cùng quan trọng đối với các giáo dân “cuồng tín” và đặc biệt là  sẽ xẩy ra một màn đấm đá và thanh tóan lẫn nhau giữa các  ông hồng y đang nhòm ngó, mon men leo ngồi vào chiếc ngai vàng vừa mới bỏ trống này. Cái chết của Giáo Hoàng John Paul II cũng ở trong tình trạng như vậy.

Như đã nói trên, giáo hòang của Giáo Hội La Mã không phải là một nhà lãnh đạo tôn giáo thuần túy mà còn là một nhân vật lãnh đạo chính trị của một thế lực có tham vọng theo đuổi chủ nghĩa bá quyền, mưu đồ thống trị toàn cầu và nô lệ hóa nhân loại, còn ghê gớm hơn các ông hoàng đế  của các đế quốc thực dân xâm lược như Anh, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Pháp, Đức, Nga,   Nhật và Trung Hoa.  Thế nhưng, khác với  sự xuất hiện và sụp đổ của các đế quốc trên đây, Giáo Hội La Mã xuất hiện vào đầu thế kỷ 4 và cho đến ngày nay. Trong suốt thời gian này Giáo Hội đã cấu kết với các đế quốc thực dân xâm lược Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Pháp, Đức Quốc Xã, Phát Xít Ý và siêu cường Hoa Kỳ can thiệp trắng trợn vào các công việc nội bộ của các dân tộc tại các thuộc địa của các quốc gian nạn nhân của Giáo Hội. Quyền hành càng lớn và   thời gian nắm quyền càng lâu  thì tội ác đối với nhân dân dưới quyền càng nhiều. Cũng vì thế mà tội ác chống lại nhân loại do Giáo Hội đã gây ra có thể nói là cao chất ngất như đỉnh núi Thái Sơn và trùng trùng như hàng chục rặng núi Hy Ma Lạp Sơn. Vì thế mà, đối với các dân tộc nạn nhân của Giáo Hội La Mã, khi một giáo hoàng của Giáo Hội  qua đời thì cũng giống một ông hoàng đế hay bạo chúa của các đế quốc trên đây qua đời.

Thương tiếc, khóc lóc thảm thương,  hay reo mừng sung sướng hoặc có thái độ thản nhiên khi hay tin một tên bạo chúa của một đế quốc thực dân xâm lược là  tùy theo thế đứng của mỗi người đối với tên bạo chúa đó. Thường thường, khi một tên bạo chúa của một đế quốc thực dân xâm lược qua đời, bọn gia nô  tay sai đắc lực, bọn  năn nô và bọn phản quốc bản địa tại các thuộc địa thương tiếc khóc lóc thảm thương, trong khi đó thì  các dân tộc   nạn nhân của cái đế quốc đó chắc chắn là có thái độ giống như thái độ của đại khối nhân dân bị trị Trung Hoa đứng trước cái chết của Tần Thủy Hoàng vào năm 210 trước công nguyên và của Tùy Dạng Đế vào năm 617,  của đại khối nhân dân bị trị trong Đế Quốc La Mã đứng trước cái chết của bạo chúa Nero (La Mã) vào năm 68, của đại khối nhân nhân bị tri ở nước Pháp đứng trước  cái chết của Vua Louis XIV vào năm 1715 và của Louis XVI vào năm 1793,   của nhân dân thế giới đứng trước cái chết của Benito Mussolini và Adolf Hitler vào năm 1945, và giống như đại khối nhân dân miền Nam đứng trước cái chết của tên đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm vào sáng ngày 2/11/1963, và tên lãnh chúa Ngô Đình Cẩn vào tháng 5 năm 1964 v.v... Câu nói dưới đây của một tín đồ Ki-tô người Hoa Kỳ nói lên sự kiện này:

  Mary Bradford, giám đốc phòng mục vụ xã hội tại nhà thờ St. Leo, tin rằng chủ nghĩa bảo thủ của Giáo Hoàng John Paul II đã đẩy nhiều tín hữu Kitô ra ngoài Giáo Hội và “nhiếu người trong giáo hội phải gánh chịu đau khổ trong những năm  Ngài tại vị.”  [1]

Thế nên, đứng truớc cái chết của Giáo Hoàng John  Paul   II, xin đừng đòi hỏi người dân các quốc gia nạn nhân của Giáo Hội La Mã như nước Việt Nam phải có tâm cảm xót xa thương tiếc như những tín đồ Ki-tô “cuông tín” hay như bọn người Việt vong bản “thà mất nước, chứ không thà mất Chúa”, chỉ biết có “Nhất Chúa, nhì cha, thứ ba Ngô Tổng Thống[2].

*

*    *

Giáo Hoàng John Paul II có tên thật là Karol Wojtyla, sinh ngày 18/5/1920 tại Wadowice, gần thành phố Cracow ở nước Ba Lan. Tháng 9 năm 1939, Đức Quốc Xã tiến chiếm Ba Lan, Wojtyla được tuyển chọn làm công nhân tại công trường khai thác đá vôi rồi chuyển sang làm ở nhà máy lọc nước. Có tài liệu nói rằng ông làm trong một nhà máy hóa học có liên hệ đến cơ quan mật vụ Đức Quốc Xã đặc trách việc tàn sát dân gốc Do Thái. Mãi tới năm 1942, ông mới bước vào nghề đi tu. Ngày 1/11/1946 ông được gửi đi La Mã học môn thần học và được cấp bằng tiến sĩ thần học vào tháng 6 năm 1948. Trong thời gian này, Wojtyla trở thành linh mục và được gửi trở về Ba Lan hành nghề cúng lễ, năm 1958 được thăng lên chức giám mục cai quản giáo phận Cracow, ngày 26/6/1967 được thăng chức hồng y, ngày 16/10/1978 được Hồng Y Đoàn đưa lên làm Giáo Hoàng, lấy đế hiệu là John Paul II và ở ngôi vị này từ ngày đó cho đến ngày 1/4/2005. Tính ra, ông ở ngôi được 26 năm 5 tháng 15 ngày. Ông là vị Giáo Hoàng thư 265 theo danh sách công bố của Giáo Hội La Mã. Nhưng nếu tính từ khi Hòang Đế Constantine (280-337)  chiêu hồi Giáo Chủ Silvester I (314-335) và Giáo Hội Kitô Do Thái (Jewish Christianity) về phục vụ cho chính quyền Đế Quốc La Mã vào giữa thập niên 310 và triệu tập Hội Nghi Niceae khởi nhóm vào ngày 20/5/325 để thông qua tín lý Chúa Ba Ngôi, thi ông là Giáo Hoàng thứ 233.  

So với tất cả các giáo hoàng tiền nhiệm, Giáo Hòang John Paul có khá nhiều điểm đặc biệt. Dưới đây là một số những điểm đặc biệt này:

Thứ I: Giáo Hòang John Paul II là người ở ngôi vị này lâu hạng thứ nhì trong lịch sử Giáo Hội Lã Mã.  Dưới đây 7 giáo hoàng ở ngôi vị này lâu nhất theo thứ tự sau đây:

1.- Pius IX (16/6/1846 – 7/2/1878) = 31 năm 6 tháng và 9 ngày. Ngày ngày 19 tháng 9, 1870, quân đội quốc gia Ý Đại Lợi tiến vào kinh thành La Mã và đóng quân ở ngay chung quanh cổ thành Leonine. Ngày hôm sau (20/9), vào lúc 9:30 sáng, ông ra lệnh kéo cờ trắng ở trên nóc nhà thờ  St. Peter. Sau đó, Quân đội Cách Mạng Ý Đại Lợi tiến vào trong kinh thành và chiếm đoạt hết tất cả của cải trong đó, chỉ có Ngọn Đồi Vatican là họ không rớ tới. Quốc Gia của Giáo Hòang không còn tồn tại nữa. Diện tích của quốc gia này từ 16 ngàn dặm vuông bị cắt xén,  còn lại chỉ có 480 ngàn mét vuông kể cả ngọn Đồi Vatican và xung quanh ngọn đồi này trong đó có nhà thờ St. Peter, các tòa nhà phụ cận và các khu vườn Vatican ở gần đó.

      2.- John Paul II (16/10/1978 – 1/4/2005) = 26 năm 5 tháng và 15 ngày.

3.- Leo XIII (20/2/1978 - 20/7/1903) = 24 năm 7 tháng tròn.

4.- Pius VII (14/3/1800 - 20/8/1823) = 23 năm  5 tháng và 6 ngày.

5.- Pius VI (22/2/1775 - 15/2/1798 = 22 năm 11 tháng và 23 ngày.  Ông bị Cách Mạng Pháp  truất ngôi vào ngày 15/2/1798,  sống lưu vong ở   Florence từ đó cho đến ngày  28/3/1799 thi di chuyển đến Turin và chết ở đây vào ngày 29/8/1799. Như vậy, trong thực tế, ông chỉ ở  ngôi có 22 năm 11 tháng và 23 ngày. Nhưng Giáo Hội La Mã vẫn coi như ông ở ngôi đến ngày ông qua đời là ngày 29/8/1799.

6.- Urban VIII (6/8/1623 – 29/7/1644) = 20 năm 11 tháng và 22 ngày.

7.- Clement XI (30/11/1700 – 19/3/1721) =  20 năm 3 tháng và 19 ngày.

Đối với một quốc gia theo thể chế chính trị quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền như Giáo Hội La Mã, việc ở ngôi tới 26 năm 5 tháng và 15 ngày là tương đối ngắn ngủi nếu so với các ông vua của các nước khác cũng theo chế độ quân chủ chuyên chế như Giáo Hội La Mã. Thí dụ như Vua Louis XIV cai trị nước Pháp lâu tới 72 năm (1643-1715), Vua Louis XV tại vị tới 59 năm (1715-1774), Vua Khang Hi nhà Thanh ở Trung Hoa tại vị tới 60 năm (1662-1722).  Nhưng đối với Giáo Hội La Mã, sự việc Giáo Hoàng John Paul II ở ngôi được tới 26 năm 5 tháng 15 ngày là chiếm kỷ lục lâu hàng thứ nhì trong số 265 ông giáo hoàng. Lý do là chức vị Giáo Hoàng của Giáo Hội La Mã là miếng mồi quyền lực vô cùng béo bổ khiến cho các vị chức sắc trong giáo triều Vatican  đều ham muốn, thèm khát, và tìm cả trăm phương ngàn kế, lập bè, lập đảng, tạo vây cánh, tự xưng là “danh môn chính phái”, và gọi đối phương là “tà phái”, là “ngụy giáo hoàng” (antipope) rồi tàn sát và thanh tóan lẫn nhau để tranh thắng chiếm lấy ngôi vị này, y hệt như các môn phái võ lâm ở Trung Hoa trong các thời Tống, Nguyên, Minh, Thanh. Trong bản danh sách các giáo hòang của Giáo Hội La Mã được ghi trong cuốn Vicars of Christ, tác giả Peter de Rosa ghi rõ có tới 37 ông ngụy giáo hòang (antipopes). Như vậy có nghĩa là trong lịch sử Giáo Hội đã có  ít nhất là 37 lần các ngài mang chức thánh trong Giáo Hội tại giáo triều Vatican và ở các vùng lân cận kinh thành Rome chia bè lập đảng chống đối, tàn sát, thanh tóan lẫn nhau để giành chiếm ngôi vị giáo hoàng và gọi các phe đối nghịch là “ngụy giáo” và “ngụy giáo hòang”. Tình trạng này chẳng khác gì các môn phái võ lâm ở Trung Hoa trong các thời Tống, Nguyên, Minh và Thanh đều xưng là “danh môn chính phái” và gọi các môn phái khác là “tà phái”, “ma đạo” và “ma giáo”. Sự kiện này được sách sử ghi lại rõ ràng. Sách Babylon Mystery Religion viết:

"Giáo Hoàng Sergius III (904-911) đã sát hại vị tiền nhiệm để nhẩy lên ngôi vị giáo hoàng. Sách sử Giáo Hội La Mã cho biết cuộc đời mang đầy tội ác của ông về chuỵện ông sống công khai với bà Marozia và có  nhiều con ngoại hôn với người đàn bà này. Sử gia Baronius gọi ông là “con qủy râu xanh” và sử gia Gregorovius thì gọi ông là “tên tội đồ khủng bố”... Những năm Giáo Hoàng Sergius III tại vì là những năm  khởi đầu cho thời kỳ “bọn gái điếm lộng hành và tháo túng Tòa Thánh Vatican” (904-963). [3]

"Giáo Hoàng John X (914-928)  nguyên thủy được đưa tới nhận chức Tổng Giám Mục ở Ravanna, nhưng bà Theodora ra lệnh đưa ông trở về kinh thành Rome để rồi đưa lên làm giáo hoàng. Theo Giám-mục Liutprand địa phận Cremona, người viết lịch sử về thời 50 năm sau đó thì “Bà Theodora ủng hộ việc đưa John lên làm giáo Hoàng là để dễ dàng sống công khai với ông.” Sau đó, ông bị bà Marozia ám sát chết để đưa Leo VI (928-929)  thay thế.  Leo VI cũng chỉ ở ngôi mấy tháng (From May to December 928) rồi cũng bị bà Marozia ám sát chết  sau khi bà ta khám phá ra ông giáo hoàng này yêu một người đàn bà khác."  [4]

"Mấy năm sau, bà Marozia đưa con trai của bà mới hơn mười tuổi lên ngôi tức là Giáo Hoàng John XI (931-935)). Nhiều sử gia trong đó có sử gia Liutprand quả quyết rằng John XI là con ruột của bà và Giáo Hoàng Sergius III (904-911). Nhờ những âm mưu của mẹ (tức bà Marozia) lúc đó đang cầm quyền ở Rome mà cậu nhỏ này được đưa lên làm Giáo Hoàng. Nhưng rồi trong các cuộc thanh toán lẫn nhau giữa bà Marozia và các phe địch, Giáo Hoàng John XI bị hạ bệ và bị tống giam vào trong ngục thất, rồi bị đầu độc chết ở trong tù."  [5]

Sách Lives of the Popes  ghi lại như sau:

“Sau khi khi Giáo Hoàng Benedict VI (973-974) bị ngụy Giáo Hoàng Boniface sát hại, giám mục địa phận Sutri, ở gần Viterbo, được bầu lên ngôi tức là Giáo Hoàng Benedict VII (974-983) với sự ủng hộ của Hoàng Đế Otto II của nước Đức, của phe đảng ủng hộ đế quốc Đức và  của các gia đình quý tộc tại Ý Đại Lợi. Benedict VII, lúc đó là  Giám mục địa phận Sutri được tôn phong lên ngôi Giám-mục tại kinh thành Rome (tức là Giáo Hoàng) vào tháng 10 năm 974. Tân Giáo Hoàng liền triệu tập hội nghị để rút phép thông công ngụy Giáo Hoàng Boniface VII (974 và 985). Nhưng rồi, vào mùa hè năm 980,  Boniface VII  khởi loạn chống  lại Benedict VII, buộc Giáo Hoàng Benedict VII phải chạy khỏi kinh thành Rome và cầu cứu Hoàng Đế Otto, nhưng mãi đến tháng Ba năm sau mới ổn định.”  [6] .

Chuyện này còn dài dài. Xin quý vị đọc bài nói về “sự sa đọa, phóng đãng, lọan luân, dâm loàn và tàn sát lẫn nhau để tranh giành quyền lực” sẽ được phổ biến trong một ngày gần đây. 

Thứ II: Chuyện Hồng Y Wojtyla được chọn làm Giáo Hoàng cũng là một trường hợp đặc biệt. Ngọai trừ trong thời Đại Ly Giáo (1378-1417) có một vài ông giáo hoàng người Pháp và trong thế kỷ 15 có mấy ông người Tây Ban Nha, hầu hết các giáo hoàng là người Ý vì chỉ có những hồng y người Ý Đại Lợi mới được đưa lên ngôi vị giáo hoàng. Theo Giáo-sư thần học Terry Eagleton, giáo sư dạy môn lý thuyết văn hóa (professor of culltural theory) tại Đại Học Manchester ở London, Anh quốc, việc Hồng Y Wojtyla đựơc đưa lên ngôi vị giáo hòang là do phe  bảo thủ trong giáo triều Vatican muốn phá bỏ công trình của Vatican II trong thời Giáo Hoàng John XXIII (1958-1963), đã được Giáo Hoàng Paul VI (1963-1978) và Giáo Hoàng John  Paul I (1978) triệt để xiển dương:

“Cánh bảo thủ của Vatican đã từng ghê tởm Công đồng Vatican kể từ lúc nó sinh nở và họ đã hành động tối đa để làm cho nó phải trật đường rầy, và vì vậy họ đã nhìn tới người Ba Lan này như một kẻ cứu rỗi. Trong lúc chiếc ngai của Phê-rô đang trống rỗng, phe bảo thủ đã tìm kế nuốt chửng phe thù nghịch bằng cách bầu một ông giáo hoàng không-phải-người-Ý lần đầu tiên, kể từ năm 1522.

Một khi đã ngồi gọn lỏn trong chiếc ghế quyền lực, John Paul II bắt đầu kéo ngược những thành quả tự do hóa của Vatican 2 (Công đồng –người dịch). Những nhà thần học tự do lỗi lạc được triệu đến bên ngai vàng để được nghe những lời nhiếc mắng. Một trong những mục tiêu chính của ông ta là tìm cách tái tạo quyền lực vào trong bàn tay của “thánh cha” đã bị phân quyền hóa xuống giáo hội cấp địa phương. Dưới thời sơ khai của giáo hội, phụ nữ và các thầy giảng được đi bầu những giám mục của chính họ. (Công đồng) Vatican 2 chẳng phải tiến xa đến như vậy, chỉ cố kèo nài với học thuyết giáo phẩm đoàn – rằng Giáo hoàng không nên được coi như một Bố Già của tổ chức tội phạm Mafia (Capo Di Tutti Capi) , nhưng chỉ là người đứng đầu trong giáo đoàn bình đẳng thôi.”[7]

 Rồi bỗng nhiên Giáo Hoàng John Paul l đột ngột từ trần sau vỏn vẹn 33 ngày ở ngôi. Tòa Thánh Vatican chính thức công bố Giáo Hoàng John Paul chết vào đêm ngày 28/9/1978. Có điều mờ ám trong cái chết của Giáo Hoàng John Paul I và đã có yêu cầu khám nghiệm tử thi để làm sáng tỏ vấn đề này, nhưng Tòa Thánh Vatican vẫn khăng khăng từ chối, không cho khám nghiệm. Nói về cái chết mờ ám của Giáo Hoàng John Paul I tại vị chỉ có 33 ngày và tính cách đặc biệt trong việc Hồng Y Wojtyla người Ba Lan được đưa lên ngôi vị giáo hoàng, học giả Charlie Nguyễn ghi lại trong cuốn Công Giáo Huyền Thoại Và Tội Ác như sau:

"... Giáo Hòang John Paul I được bầu làm Giáo Hòang vào tháng 8 năm 1978 lúc Ngài 65 tuổi. Ngài là vị Gíao Hoàng đầu tiên lấy danh hiệu bằng hai tên thánh John Paul. Ngài luôn luôn cười vui vẻ nên được giới ký giả suốc tế tặng danh hiệu là Đức Giáo Hoàng Di Lặc Công Giáo (Smiling Buddha Pope). Ngài bị đầu độc chết sau khi uống một ly cà phê vào lúc 11 giờ tối 28/9/1978. Người mưu sát là Hồng Y Jean Villot, quản nhiệm địa phận Lyon (Pháp), lúc đó đương làm Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh (tương đương với thủ tướng…." [8]

 Sách Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm viết:

Hệ thống tu sĩ Công Giáo thế giới là hệ thống tu sĩ thiếu lương thiện, đứng đầu là giáo hòang. Chức vị giáo hoàng chẳng phải do Chúa trao cho mà thường do cướp đoạt bằng đủ mọi thủ đoạn: hối lộ, mua chuộc, vận động chính trị và rất nhiều trường hợp mưu sát lẫn nhau. Chỉ trong vòng 12 năm (891-903) có 10 giáo hoàng liên tục giết lẫn nhau để đoạt ngôi giáo hoàng. Chức vị giáo hoàng là mục tiêu quyền lực mà kẻ lãnh đạo cao cấp trong giáo hội luôn luôn nhắm tới để tranh đoạt. Chẳng cần đâu xa, đương kim Giáo Hoàng Jean Paul II lên ngôi vào năm 1978 là do y đã can dự vào việc mưu sát giáo hoàng tiền nhiệm là Jean Paul I bằng chất độc vào đêm 5/9/1978 (đúng hơn là đêm 28/9/1978 - NMQ). Việc sản xuất chất độc giết người là nghề của Jean Paul II. Trong thời Đệ Nhị Thế Chiến, Jean Paul II lúc đó là thanh niên Ba Lan mang tên Karol Wojtyla, giữ chức vụ Saleman cho công ty Đức Farben Chemical chuyên sản xuất độc khí thủy ngân (Cyanic gas) cung cấp cho Đức Quốc Xã dùng chế tạo hơi ngạt giết 6 triệu người Do Thái trong các trại tập trung. Việc sử dụng chất độc được gọi là “Lentudo”, một thứ bột trắng chết người (the lethal white powder), là một truyền thống lâu đời của triều đình Vatican. Có lẽ khởi đầu từ thế kỷ 11. Sử sách Giáo Hội La Mã ghi nhận con gái Giáo Hoàng Alexander VI là Lucrezia là một chuyên viên sử dụng chất độc giết hại nhiều người. Chính Giáo Hoàng Alexander VI cũng chết vì bị đầu độc vào năm 1503. Sách “The Pope Encyclopedia” liệt kê danh sách nhiều giáo hoàng bị mưu sát bằng chất độc bột trắng. Giáo Hòang duy nhất tại Vatican có gốc Đức là Utrech bị mưu sát bằng thuốc độc vào năm 1073. Từ đó, người Ý dành độc quyền làm giáo hoàng cho đến ngày Jean Paul II lên ngôi vào năm 1978 không phải là người Ý. Các giáo hoàng sau đây đều đã bị người kế nhiệm đầu độc để cướp ngôi: Piô XIII (1830), Leo XIII (1903), Pio X (1914) và Pio XI (1939).” [9]

Trong bài viết “Thế là Thế Nào?”, đăng trên tờ Người Dân số 122, phát hành vào tháng 10/2000, ông Nguyễn Trần Ai ghi lại chuyện Giáo Hoàng Adrian VI (1459-1523) và Giáo Hoàng Paul VI (1963-1978) bị đầu độc chết với nguyên văn như sau:

“Giáo Hoàng Adrian VI (1459-1523) làm giáo hoàng được hơn một năm, từ tháng 8, 1522 đến ngày 14/9/1523 thì chết, không biết chết tự nhiên hay bị bức tử. Ngài muốn cải tổ Giáo Hội và Tòa Thánh, nhất là nội các La Mã (Curia) của vị tiền nhiệm là Giáo Hoàng Leo X (1513-1521). Ngài công khai tố cáonhững điều khả ố, lạm dụng, dối trá từ trên nóc xuống đến các thành viên của triều đình La Mã”. Tuy vậy, ngài không xin lỗi.

Giáo Hoàng Paul VI (1963-1978) được Giáo Hoàng John XXIII (1958-1963) chỉ định nối ngôi từ ngày 28/6/1963; đến ngày 6 tháng 8 năm 1978 ngài được Chúa gọi về. Đối với Việt Nam, ngài được biết qua thánh chỉ Christi Matri ngày 19/9/1966, kêu gọi hòa bình. Qua Công Đồng Vatican II, ngài thực hiện nhiều cải cách... Sau khi Giáo Hoàng Paul VI băng hà, ngày 26/8/1978, Hồng Y Albino Luciani (sinh năm 1912) được bầu lên làm Giáo Hoàng thứ 263 tức là Giáo Hoàng John Paul I. Có tiếng đồn rằng thân phụ của ngài là Giovanni Luciani đã đốt những cây thánh giá trong bếp. Hồi 4 giờ 30 ngày Thứ Sáu 30/9/1978 (đúng hơn là ngày 28/9/1978 --NMQ), dì phước quản gia Vincenza đem cà phê vào thì ngài đã chết. Nhiều người Ý tin rằng Giáo Hoàng John Paul I bị giết, nhất là khi Vatican từ chối không chịu cho mổ tử thi của ngài (MP 179).[10]

Tình trạng các ông chức sắc trong Giáo Hội La Mã chia phe lập phái thanh toán lẫn nhau không phải chỉ xẩy ra trong triều đình Vatican. Tình trạng này cũng thường xẩy ra giữa các ông linh mục ở cùng một giáo xứ và giữa các ông giám mục trong cùng một quốc gia địa phương. Bài viết có tựa đề là “Một Số Tình Hình Đặc Biệt Của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam” của nhà trí thức Gia-tô Nguyễn Văn Trung đăng trong trong Tuyển Tập Tại Sao Không Theo Đạo Chúa (Spring, TX: Ban Nghiên Cứu Đạo Giáo, 1998, 115-125) nói lên tình trạng này của các  giám mục và linh mục ở Việt Nam. Trong cuốn Vicars Of Christ, giáo sĩ Peter de Rosa ghi nhận tình trạng này ở Âu Châu bằng một đọan văn sử dưới đây:

Khi có cuộc họp của một số đông các tu sĩ của Giáo Hội La Mã thì địa điểm nhóm họp phải là nơi gần sông hay hồ lớn để liệng xác người (bị thanh toán) xuống đó. Hồ Constance đã tiếp nhận tới hơn năm trăm xác người (bị thanh toán); Con sông Rhine cũng là nơi tàng chứa rất nhiều bí mật."  [11]

Trở lại chuyện Giáo Hoàng John Paul II, bỏ ra ngòai chuyện có liên hệ đến cái chết mờ ám của Hoàng John Paul I vào đêm khuya ngày 28/9/1978 để rồi được đưa lên kế vị, điểm đáng nói ở đây là đặc tính tham quyền cố vị của Giáo Hoàng John Paul II đã trở thành một chứng bệnh nan y bất khả trị. Tính đến ngày 1/4/2005, khi Ngài qua đời, Ngài đã ở ngôi vị giáo hòang gần 27 năm và đã xấp xỉ 85 tuổi trời. Đặc biệt là tình trạng sức khỏe của Ngài phải nói là hết sức tồi tệ: chân tay run rẩy, viết không được, bước đi không nổi, nói không ra lời, thở không ra hơi, bộ máy hô hấp ở trong tình suy sụp đến độ mấy ngày cuối tháng 3/2005, triều đình Vatican phải cấp tốc đưa Ngài đi nhà thương cứu cấp. Với tuổi già suy nhược và tình trạng sức khỏe ốm yếu như vậy mà Ngài vẫn cứ khư khư bám chặt lấy cái ngôi vị giáo hoàng, không chịu nhường ngôi cho một người nào khác trẻ hơn và có sức khỏe bình thường. Hành động tham quyền cố vị của Ngài quả thật là chiếm kỷ lục trong lịch sử nhân loại. Thực ra, như đã trình bày ở trên, lịch sử Giáo Hội là lịch sử của những người tham lợi, háo danh và thèm khát quyền lực, đã tìm đường leo lên bước thang danh vọng bằng cách dấn thân vào học nghề làm linh mục. Sư kiện này được nhà văn Gia-tô J Ngọc nói trong trong cuốn Cõi Phúc và Giây Oan với nguyên văn như sau:

"Những người  con trai thơ dại mong được đào tạo trở thành linh mục sau này.  Tôi mồn một nhớ  về tâm trạng thơ dại qua những ngô nghê tuổi khờ. Mẹ tôi dắt tôi, bàn tay người không rời, nắm chặt như một quả quyết toàn vẹn. Tôi biết, và ngay lúc đó tôi hiểu rằng bố mẹ tôi đã nắm một phần rất quan trọng trong lần chuyển đời này của tôi, vì với tôi , ý nghĩ đi tu chỉ  vấn vương qua những hình ảnh vật chất và uy quyền hàng ngày. Tôi đã so sánh và nhìn sự cả nể của các linh mục, sự tôn kính từ giáo dân, nhất là với tôi, các linh mục, tu sĩ  đã như những tuyệt đối nhất của bất kỳ phương diện nào. Giáo dân tùng phục, giáo dân khiếp sợ, giáo dân cầu lụy và muôn ngàn hình ảnh khác." [12] 

Giáo-sư Nguyễn Văn Trung cũng ghi nhận sự kiện này giống như nhà văn Gia-tô J. Ngọc trên đây. Dưới đây là nguyên văn lời Giáo-sư Nguyễn Văn Trung:

"Các Ngài được đào tạo để làm quan đạo, làm vua đạo, và chưa bao giờ được đào tạo để phục vụ anh em đồng đạo, đồng bào, mà chỉ được đào tạo để cai trị và để được hầu hạ, ăn trên ngồi trước, kể từ khi bước chân vào chủng viện. Việc đào tạo này được xuất phát từ yêu cầu của một tầng lớp xã hội và để phục vụ tầng lớp xã hội ấy. [13]

Vì vậy mà hầu hết các ông tu sĩ Giá-tô đều mắc phải căn bệnh tham lợi, háo danh và tham quyền cố vị. Chính vì thế mà ta có thể nói rằng lịch sử của giáo triều Vatican là lịch sử của những sự tranh chấp quyền lực và tàn sát lẫn nhau giữa những người  tham lợi, háo danh và thèm khát quyền lực.  Xin xem thêm bài nói về “Đời sống phóng đãng của các giáo hòang và những cuộc tàn sát lẫn nhau trong giáo triều Vatican”.

Thứ III: Ngay khi  được phe bảo thủ đưa lên kế nghiệp Giáo Hoàng John Paul I, vào ngày 15/10/1978, Giáo Hoàng John Paul II nhìn thấy ngay rằng “Con đường trước mặt của Giáo Hội đã trở nên khó khăn và rất căng thẳng đối với cả những tín đồ ngoan đạo và giới tu sĩ Gia-tô.”

The times in which we live are unutterably difficult and disturbed,” he wrote in 1980, according to the official Vatican translation from Polish. “The path of the church has also become difficult and tense… both for the faithful and for pastors.” [14]

Điều này cũng dễ hiểu, bởi vì, tường tự như chiếc thuyền đi ngược dòng nước chẩy xiết, những kẻ muốn bơi ngược dòng lịch sử tất nhiên là sẽ bị bánh xe tiến hóa của nhân loại đẩy ngược trở lại, và sớm  muộn cũng bị nghiền nát, nói chi là chuyện gặp những khó khăn.

Thứ IV: Giáo Hòang John Paul II là vị giáo hoàng chính thức đi thăm viếng các nước ngoài nhiều nhất. Tổng số lần xuất ngoại của Ngài lên đến 104 lần. Lần đầu tiên Ngài đến thăm các nước Dominican, Bahamas vả  Mexico (Trung và Bắc Mỹ) từ ngày 25/1 đến ngày 1/2/1979, và lần cuối cùng, Ngài đến thăm viếng nước Pháp vào hai ngày 14-15/8/2004. Trong thập niên từ 1994, văn phong Tòa Thánh Vatican cũng đã tiếp xúc với chính quyền Việt Nam để xin phép cho Ngài đuợc viếng thăm Việt Nam. Nhưng vì Giáo Hội La Mã không những đã không chính thức xin lỗi  và nhận lãnh trách nhiệm đã gây ra tội ác chống lại dân tộc và đất nước Việt Nam trong mấy thế kỷ vừa qua, mà còn tiếp tục sử dụng khối tín đồ Gia-tô người Việt  ở trong nước và ở hải ngọai để chống phá Việt Nam theo sách lược “quậy cho nước đục để thả câu” và “không được ăn thì đạp đổ”, cho nên chính quyền Việt Nam từ chối, không cho phép Ngài đến thăm viếng Việt Nam. Dưới đây là vài trường hợp tín hữu Gia-tô người Việt chống phá Việt Nam: 

1.- Năm 2001, một tên tín đồ  bồi bút của Giáo Hội cho phát hành một cuốn sách có tựa đề là "Tổ Quốc Ăn Năn" trong đó tác giả đặt ra một vấn đề ngược ngạo rất Gia-tô như sau:

"Việc bách hại người Công Giáo là một vết nhơ khó tẩy xóa trong lịch sử Việt Nam. Đó là sự kiện chính nhà nước Việt Nam, chứ không phải một đòan quân xâm lược nào, đã tàn sát một số lớn người Việt Nam hoàn toàn vô tội. Thảm kịch còn lớn hơn nữa vì nhà nước đó biết họ vô tội nhưng vẫn giết họ. Điều đáng ngạc nhiên là  cho tới nay chưa có một chính quyền nào, nhân danh sự liên tục của quốc gia, tổ chức một ngày để xin lỗi những người Công Giáo về sự sai lầm kinh khủng đó." [15].

Rõ ràng là một giọng điệu ngược ngạo y hệt như giọng điệu của Giáo Hội La Mã đã hành xử từ thời Trung Cổ cho đến ngày nay.

2.- Cũng vào năm 2001, Lịnh-mục Nguyễn Văn Lý đòi lại tài sản của Giáo Hội  đã bị chính quyên Việt Nam tịch thu sau ngày 30/4/1975. Vì dốt lịch sử, Linh-mục Lý mới làm cái chuyện xấc xược ngược ngạo như vậy. Ai cũng biết rằng khối tài sản khổng lồ này của Giáo Hội tại Việt Nam là những tài sản mà Giáo Hội đã ăn cướp được của nhân dân Việt Nam trong suốt thời kỳ từ năm 1862 cho đến ngày 30/4/1975 nhờ dựa và chính quyền liên minh giặc Vatican-Pháp trong những năm 1862-1954 cùng với hai chính quyền đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm và quân phiệt Gia-tô Nguyễn Văn Thiệu ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1963. Sự kiện này đã được người viết trình bày khá đầy đủ trong cuốn Nói Chuyện Với Việt Nam Cộng Hòa Foundation (Houston, TX: Đa Nguyên, 2004) [16]. Trong lịch sử, các chính quyền Cách Mạng Pháp 1789, chính quyền Cách Mạng Ý Đại Lợi 1870, chính quyền Cạch Mạng Mễ Tây Cơ 1857 v.v... cũng đã tịch thu toàn bộ tài sản của Giáo Hội và tước bỏ hết tất cả những đặc quyền đặc lợi mà Giáo Hội đã tiếm đọat   hay tự  dành cho Giáo Hội và giai cấp giáo sĩ, chứ không riêng gì chỉ có Việt Nam mới làm như vậy.

3.- Lại cũng trong năm 2001, một cán bộ cao cấp của Giáo Hội là Hồng Y Nguyễn Văn Thuận đến California đưa ra lời tuyên bố nhằm khích động giáo dân người Việt chống lại tổ quốc Việt Nam. Nguyên văn lời tuyên bố vừa ngu xuẩn vừa xấc xược này được tờ tuần báo Việt Báo Miền Nam ghi lại như sau:

"Còn Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận, tại Giáo Phận Orange County ngày 15/3/2001, nói theo kiểu rất Việt Nam "Vatican không nói, mà làm. Làm ra sao thì cứ nhớ lại biến cố Đông Âu thì rõ."  [17].

Thứ V: Trong lịch sử Giáo Hội La Mã, Giáo Hoàng John Paul II chiếm kỷ lục về việc phong thánh cho các giáo dân quá cố. Tính đến tháng 5/2003, Ngài “đã phong thánh cho 470 người và phong chân phước cho 1,314 người, nhiều hơn tổng số thánh và chân phước do tất cả giáo hoàng tiền nhiệm đã tuyên phong trước đó.”

 Riêng ngày 19/6/1988, Ngài đã phong cho 117 tên tội đồ chống lại đất nước và dân tộc Việt Nam và ngày 1/10/2000, Ngài đã phong cho 120 tên tội đồ chống lại đất nước và dân tộc Trung Hoa. Trong số những tín hữu Kitô quá cố được Ngài phong thánh vào hai ngày nói trên, có nhiều người là những tên tội đồ vong bản phản quốc mà người Việt nam thường gọi là hạng người “rước voi về giầy mả tổ” hay “cõng rắn cắn gà nhà”. Hạng người này bị người Việt Nam xếp vào lọai người đáng khinh bỉ nhất trong xã hội. Ấy thế mà những hạng người đê tiện khốn nạn này lại được Tòa Thánh Vatican phong thánh cho họ. Cũng vì thế mà ông Giuse Phạm Hữu Tạo đã công khai và lớn tiếng nói cho Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Vatican và tín đồ Gia-tô “ngoan đạo” người Việt biết rằng ông ta  "… thà làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm thánh của Tòa Thánh Vatican". Đồng thời, ông Lương Nhân tỏ lòng khinh bỉ của ông đối với những hạng người cặn bã này qua bài thơ dưới đây:         

    Người thì xưng cố, kẻ xưng cha,
    Gián điệp tay sai hại nước nhà,
    Mãi quốc cầu vinh, phường quốc tặc,
    Thương luân bại lý, bọn gian tà.
    Tội đồ dân tộc tôn vinh "thánh".
    Ác   bá dâm tà lãnh chức "cha".
    Tà đạo thực dân chung một Chúa.
    Nhân nào quả ấy chẳng còn xa. [18]

Nhận xét về chuyện phong thánh cho cả những hạng người hạ lưu đê tiện  như trên, Giáo-sư Trần Chung Ngọc ghi  nhận trong cuốn Công Giáo Chính Sử  như sau:

Có lẽ chúng ta cũng nên biết rằng việc phong thánh bừa bãi của Giáo Hoàng John Paul II đã gây nên nhiều phản ứng bất lợi cho chính Giáo Hội, đến nỗi Hồng Y Silvio Oddi cũng phải than phiền là “Vatican đã trở thành một xưởng chế tạo Thánh” (The Vatican has become a saint factory.) Điều hiển nhiên là 117  vị được phong thánh ở Việt Nam cũng không nằm ngoài kế hoạch chế tạo thánh cho những mục đích chính trị của Vatican.”  [19]

Thực ra, việc phong thánh cho những tín hữa quá cố của Giáo Hội là nằm trong sách lược “nhất thạch nhị điểu” của Đế Quốc Vatican, nghĩa là một việc làm  vừa phục vụ cho mưu đồ bất chính về  chính trị vừa phục vụ cho mục đích kinh tài, móc túi tín đồ.

1.- Về phương diện chính trị, việc phong thánh của Giáo Hội là một sự tưởng thưởng và khích lệ nhằm phỉnh nịnh tín đồ Gia-tô bản địa để họ thích thú liều chết với  Giáo Hội, hăng say lao vào hoạt động do thám cho Giáo Hội, tình nguyện ghi danh vào các   đạo quân thâp tự hay lực lượng xung kích chống lại chính quyền địa phương không phải la tay sai của Giáo Hội và bảo vệ chính quyền đạo phiệt Gia-tô tại địa phương. Như vậy, việc phong thánh của Giáo Hội La Mã giống như việc chính quyền hay đòan quân viễn chinh của Đế Quốc Pháp ban thưởng mế đay kim khánh và bảo quốc huân chương cho bọn lính đánh thuê đi cướp của, giết người, đốt nhà và hiếp dâm phụ nữ trong những chiến dịch hành quân đánh chiếm thuộc địa như chúng ta đã thấy ờ Việt Nam trong suốt thời kỳ từ năm 1858 cho đến ngày 30/4/1975. Linh mục Trần Lục và Giám-mục Nguyền Bá Tòng là hai tu sĩ Kitô người Việt đã được giặc Pháp ban thưởng cho loại mề đay kim khánh này.

2.- Về phương dỉện tài chánh, việc phong thánh cũng là một sách lược nằm trong chính sách kinh tài của Giáo Hội. Một giáo dân quá cố được phong thánh thì sẽ có một nơi thờ phượng được thiết lập để vinh danh ông “thánh” này, và nơi đó dần dần sẽ biến thành nơi hành hương cho tín đồ “ngoan đạo” tại địa phương và ở các vùng lân cận. Như vậy, nơi đó sẽ thành một trung tâm tiêu thụ những thánh tích do những chuyên viên kinh tài của Giáo Hội sản xuất (ngụy tạo) và những món hàng khác của Giáo Hội. Đây là một trong những mánh mung kinh tài của Giáo Hội hay đúng ra là một phương cách móc túi của tín đồ. Bản văn sử dưới đây giúp cho chúng ta thấy nhỉn ra sự thực của vấn đề này:

"Bốn năm trước, Giáo Hoàng Leo X  (1513-1521) thương thuyết với ông Hoàng Albert và đạt được thỏa hiệp rất tinh vi và phức tạp, nhưng cả hai bên đều có lợi. Theo thỏa hiệp này,  Ông Hoàng Albert được kiêm nhiệm ba chức giám mục cai quản ba giáo khu Mainze, Magdeburg và Halberstag. Thực ra, đây là một việc làm bất chính và bất hợp pháp, vì một người cai quản cả ba giáo khu là vi phạm giáo luật và là một trọng tội. Nhưng Giáo Hoàng Leo X cho phép làm như vậy để ông nhận được một khoản tiền 21 ngàn ducats về việc ban cấp cho ông Hoàng Albert được cai quản cả ba giáo khu này, và một khoản tiền khác nữa là 20 ngàn  ducats về việc để cho ông Hoàng Albert được tiếp tục cai quản ba giáo khu này một cách bất hợp pháp. Dĩ nhiên là ông Hoàng Albert đã cho Giáo Hoàng Leo X biết   là ông ta không có tiền, nhưng có thể vay số tiền này của nhà ngân hàng Jacob Fugger. Giáo Hoàng Leo phải cho phép ông Hoàng Albert bán một món hàng đặc biệt là giấy xá tội trong cả ba giáo khu để ông lấy tiền trả nợ cho nhà ngân hành Fuggers. Giá bán  giấy xá tội từ một nửa tiền vàng florin (cho người rất nghèo) tới 3 (ba) tiền vàng florins (cho các ông thày tu khất thực), 5 (năm) tiền vàng florins (cho các ông tiến sĩ hay bác sĩ) và cao hơn nữa  tới 25 tiền vàng florins cho những người trong giới quý tộc và hoàng gia.

Để làm cho tư thế của ông có thêm uy tín như là một nguồn tình thương yêu đối với linh hồn tín đồ đang chịu đau khổ trong Nơi Luyện Tội, ông Hoàng Albert phải có một cái gì đặc biệt. Đó là công trình sưu tầm các thánh tích của ông. (Dĩ nhiên, tất cả là đồ giả): một nạm cỏ khô (nói là) lấy từ máng cỏ đêm Giáng Sinh đầu tiên khi Chúa hài đồng mới chào đời, bốn (4) sợi tóc14 miếng vải quần áo của Đức Bà Đồng Trinh, một (1) sợi râu của ông Jesus, một cái đinh lấy từ cây thánh giá đóng ghim ông Jesus lúc bị hành hình, và khoảng 19,093 mảnh xương các thánh và những người tử đạo. Bất kỳ người nào - từ ông hoàng cho đến những người bần cùng, nếu trả tiền vào cửa đề sùng kính những thánh tích này thì có thể làm giảm thời gian bị giam cầm ở trong Nơi Luyện Ngục của những linh hồn những người thân thương từ  1,902,202 năm và 270 ngày...." [20]

Thứ VI: Giáo Hoàng John Paul II  có can đảm dám công khai thú nhận Giáo Hội đã gây ra tội ác, gây nên thống khổ cho các dân tộc nạn nhân trong gần hai ngàn năm qua.

Trước hết, vào cuối năm 1992, chính thức nhìn nhận Giáo Hội đã hành động sai lầm trong vụ án Galileo Galilei [21].

Khoảng hai năm sau, tháng 11 năm 1994, Ngài kêu gọi giáo dân phải thống hối trước khi bước sang thiên kỷ thứ 3 về những tội ác của Giáo Hội chống lại nhân loại   trong gần hai ngàn năm qua. Lời kêu gọi này  được tờ Seattle Time phát hành ngày Thứ Ba 15 tháng 11 năm 1994 loan tải với tựa đề:

"TO ENTER NEW MILLENNIUM, POPE SAYS, CHURCH MUST CONFESS”
(Los Angeles Times) [22]

Bài báo trên đây được tờ Việt Nam Thời Báo lược dịch như sau:

ĐỨC GIÁO HOÀNG TUYÊN BỐ:ĐỂ BƯỚC VÀO THIÊN NIÊN KỶ MỚI - NĂM 2000, GIÁO HỘI CÔNG GIÁO PHẢI BIẾT DỌN MÌNH SÁM HỐI

Vatican City, La Mã (DL/VNT): Hướng nhìn về thiên kỷ mới, năm 2000, Đức Giáo Hoàng Phao Lồ II tuyên bố vào hôm Thứ Hai rằng Giáo Hội phải công khai ăn năn thống hối về những lỗi lầm đã phạm phải trong quá trình lịch sử hoặc vì do sai lầm hay do quá tích cực trong việc bảo vệ đức tin.

"Giáo Hội La Mã không thể bước vào ngưỡng cửa của một thiên kỷ mới mà không khuyến khích đàn con cái Chúa dọn mình sám hối, tự mình thanh khiết chính mình để vượt qua những lỗi lầm quá khứ, sự thiếu đức tin, sự mâu thuẫn cũng như đôi lúc đã hành động quá chậm chạp", Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh như vậy.

Trong một bức thư dài 16 ngàn chữ, Đức Giáo Hoàng đã vạch ra một chương trình làm việc cho con chiên gồm những buổi tĩnh tâm, hội thảo và nghi lễ từ nay cho đến năm 2000, năm mà Giáo Hội sẽ làm lễ kỷ niệm trọng thể như là "một ngày đại xá xẩy ra khắp nơi từ Tòa Thánh La Mã cho đến các giáo xứ địa phương ở khắp mọi nơi trên thế giới."

Chiêm nghiệm quá khứ là một yếu tố vô cùng quan trọng để sửa soạn cho thiên kỷ mới. Và điều quan trọng hơn là mỗi người phải tự chiêm nghiệm lấy mình, cho nên Đức Giáo Hoàng muốn thủ tục xưng tội của công giáo phải được chuẩn bị chu đáo và đặc biệt đối với các tu sĩ ban phép giải tội. Ngài nói: "Một chương đau buồn của lịch sử mà những người con cái Chúa không thể nào không nhìn lại với niềm ăn năn thống hối, đặc biệt là trong một vài (nhiều) thế kỷ (Giáo Hội) đã tỏ ra thiếu khoan dung và đôi lúc đã dùng cả bạo lực để phụng sự chân lý."

Giáo Hội cũng đã có một cái nhìn tổng quát về lịch sử và đưa ra một số sai lầm tiêu biểu: Trong thiên kỷ này, với những cuộc chiến Thập Tự Quân, với những vị giáo hoàng chơi bời phóng đãng và ham mê quyền lực đã tạo nên sự nổi dậy của Tin Lành, việc thành lập các tòa án dị giáo… là những trang sử đen tối của Giáo Hội. Và gần đây, sự truyền bá phúc âm bằng sức mạnh tại Tân Thế Giới cùng sự thiếu khoan dung với các tôn giáo khác và sự thất bại trong việc tỏ thái độ cứng rắn và kịp thời để chống lại chế độ nô lệ tại Mỹ Châu cũng như vấn đề diệt chủng người Do Thái trong thế kỷ này."    

Sau khi đọc lời kêu gọi giáo dân phải ăn năn thống hối về những tội ác của Giáo Hội và người Gia-tô đã gieo tai giáng họa cho nhân loại trong quá khứ, một độc giả gửi cho người viết mấy lời nhận xét của CTN như sau:

"The pope himself should confess and repent for having written a lousy book "Crossing the Threshold of Hope" in which he made malicious remarks on other religions. The the Roman Catholic Church should publicly confess, repent and apologize to the people of Vietnam for its involvement in the invasion and domination of Vietnam by the French as well as its failure to oppose the Catholic totalitarian regime of Ngo Dinh Diem." [23]

Rồi từ đó, mỗi lần thánh du đến bất kỳ quốc gia nạn nhân nào của Giáo Hội, Ngài cũng xin lỗi lia lịa. Tính ra cho đến những ngày cuối cùng bị bệnh không thể di chuyển được nữa,  Ngài đã xin lỗi các quốc gia nạn nhân của Giáo Hội có đến hơn 100 lần, trong đó có cả việc Ngài xin lỗi nước Trung Hoa.

 Việc Ngài xin lỗi các quốc gia nạn nhân của Giáo Hội là một hành động có thiện chí, rất tốt, nhưng tiếc rằng Ngài chỉ xin lỗi suông cho xong chuyện,  chứ không có một hành động gì để lãnh trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho các dân tộc nạn nhân của Giáo Hội. Tệ hơn nữa, Ngài lại là người cực kỳ bảo thủ,  triệt để  tuân hành những chính sách cố cựu của Giáo Hội từ ngàn xưa, nghĩa là Ngài không cần  biết đến bánh xe tiến hóa của nhân loại. Dù rằng Ngài đã công nhận rằng “không có thiên đường” và “cũng không có địa ngục”, dù rằng Ngài đã  công nhận thuyết tiến hóa của nhà bác học Charles Robert Darwin (1809-1882)”, nhưng Ngài vẫn theo đuổi chính sách bảo thủ của Giáo Hội và vẫn hành xử như là các vị tiền nhiệm từ Giáo Hoàng Pius XII  (1939-1958) trở về trước. Vì thế mà bà Mary Bradford, một giáo dân Hoa Kỳ, mới phiền trách  rằng “Chủ nghĩa bảo thủ của Giáo Hoàng John Paul II đã đẩy nhiều tín hữu Kitô ra ngoài Giáo Hội và “nhiếu người trong giáo hội phải gánh chịu đau khổ trong những năm Ngài tại vị ”.

Tín đồ của Giáo Hội mà còn phiền trách Ngài như vậy! Trách sao được những người thuộc các tôn giáo khác, nhất là những người thuộc các dân tộc nạn nhân của Giáo Hội!  Sự kiện “lời nói không đi đôi với việc làm” của Ngài như đã trình bày ở trên đã làm cho người ta không thể nào trọng Ngài được, và coi Ngài như một anh bán thuốc mãi võ Sơn Đông mà thôi.

Thứ VII: Năm 1996,  Ngài công nhận thuyết tiến hóa của nhà bác học Charles Robert Darwin (1809-1882). Sự kiện này được ông Nguyễn Trần Ai ghi lại trong bài viết “Thế Là Thế Nào?” đăng trong tờ Người Dân số 122 tháng 10 năm 2000 với nguyên văn như sau:

"Cũng lạ là trong 2000 năm lịch sử Ki tô giáo, ngài là giáo hoàng đầu tiên đã nhân lỗi và xin lỗi một cách không hạn chế và không điều kiện.

Năm 1992, Giáo Hoàng John Paul II đã xin lỗi việc Giáo Hội Công Giáo La Mã lên án Galileo và bốn năm sau ngài công nhận tiến hóa thuyết như là một phần của kế hoạch chủ yếu của Thượng Đế (Newsweek, July 20, 1998).

Ngài đã xưng tội và xin  Chúa tha tội về những lời nói và thái độ do tính kiêu ngạo, thù hận và khát vọng thống trị kẻ khác gây ra bằng ác cảm đối với tín đồ các tôn giáo khác và những nhóm yếu kém trong xã hội." [24]

Thứ VIII:  Cuối tháng 7-1999, Ngài đưa ra lời tuyên bố khẳng định rằng:

"Thiên đường không phải là một nơi chốn trừu tượng hay hữu hình cụ thể chiếm một khoảng không gian trên chín từng mây, mà thiên đường chỉ là mối liên hệ riêng tư và sống động giữa cá nhân của chính con người với Chúa Ba Ngôi. [25]

Và,

"Địa Ngục không phải là một nơi có những hình phạt do thượng đế đặt ra, nhưng chỉ là do kết quả của những thái độ và hành động con người tạo ra trong đời sống của họ."   [26]  

Thứ IX: Ngày 12/3/2000, Ngài và một số các vị chức sắc cao cấp trong giáo triều Vatican chinh thức đứng ra cáo thú với Chúa về những rặng núi tội ác của Giáo Hội trong một buổi lễ vô cùng long trọng được tổ chức tại Quảng Trường Peter trong kinh thành Rome. Có một điều hết sức tiếu lâm cần phải nói ra đây để mọi người nhìn thấy rõ tính chất lươn lẹo và lưu manh trong việc cáo thú tội ác của buổi lễ được tổ chức vô cùng long trọng này. Không tiếu lâm làm sao được! Từ cuối năm 1994, Giáo Hòang John Paul II đã kêu gọi giáo dân phải thống hối ăn năn về những rặng núi tội ác Giáo Hội và tín đồ của Giáo Hội trong gần hai ngàn năm qua để chuẩn bị bước sang thiên kỷ thứ 3. Ấy thế mà đến ngày Ngài và các vị chức sắc cao cấp trong giáo triều Vatican chính thức đại diện cho toàn thể giáo dân làm cái công việc ăn năn thống hối này thì các Ngài lại chỉ cáo thú (suông) tội ác của Giáo Hội với Chúa thôi, chứ không thèm nói một lời xin lỗi với các dân tộc nạn nhân và cũng không đả động gì đến trách nhiệm của Giáo Hội phải bồi thường thiệt hại cả về tinh thần lẫn vật chất cho các dân tộc nạn nhân.

Người viết xin đặt vấn đề với Ngài và các  ông hồng y nắm giữ những chức vụ quan trọng trong giáo triều Vatican như thế này: Những rặng núi tội ác của Giáo Hội La Mã trong gần hai ngàn năm qua có làm cho Chúa Cha Jehovah và Chúa Con Jesus mất một sợi tóc nào đâu mà các Ngài lại  cáo thú tội ác với Chúa, chứ  không thèm xin lỗi nạn nhân và cũng không nói gì tới việc nhận lãnh trách nhiệm bồi thường cho nạn nhân. Các Ngài hành động như vậy có phải là lươn lẹo và lưu manh không?

Khôi hài hơn nữa, sau đó, ngày 1 tháng 10 năm 2000, Ngài xin lỗi Trung Hoa mà không thèm xin lỗi Việt Nam. Việc này làm cho  nhân dân thế giới nhìn thấy rõ cái tâm địa bất chính của Ngài. Nếu đem cái khối lượng tội ác của Giáo Hội chống lại quốc gia và dân tộc Trung Hoa so sánh với khối lượng tội ác của Giáo Hội chống lại quốc gia và dân tộc Việt Nam từ khi Giám-mục Pigneau de Béhaine vận động ngọai viện giúp cho Nguyễn Ánh đánh bại nhà Tây Sơn vào thập niên 1790 cho đến ngày nay, thì chẳng khác gì đem ngọn đồi Tăng Nhân Phú ở Thủ Đức hay ngọn núi Bà Đen ở Tây Ninh so sánh với rặng núi Hoàng Liên Sơn ở Bắc Việt. 

Người Việt Nam thường   nói "ma bắt nạt tùy mặt" và "mền nắn rắn buông" để nói lên những hành động của những quân du côn, những phường ăn cướp đối với những người lép vế thế cô hay những hành động ăn cướp của các đế quốc thực dân xâm lược đối với các tiểu nhược quốc. Việc Giáo Hội xin lỗi Trung Hoa mà không xin lỗi Việt Nam cũng tương tự như vậy.  Tự phong là "Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo tông truyền" và là "Hỉền Thê của Thiên Chúa Làm Người" mà Giáo Hội lại hành động chẳng khác gì những “quân du côn", những “phường ăn cướp",  "bọn ma xó"! "Hỉền Thê của Thiên Chúa Làm Người" gì mà lại khốn nạn như vậy? Thật là tội nghiệp cho Chúa Kitô lại có một người "Hiền Thê" khốn nạn như vậy! Chả trách nào, "nhân dân Âu Châu phải tránh xa Giáo Hội như tránh hủi" [27].  Chả trách nào học giả Henri Guillemen đã phải gọi Giáo Hội là cái "Giáo Hội Khốn Nạn" [28] và văn hào Voltaire thì gọi là "cái tôn giác ác ôn." [29].

Khôi hài hơn nữa, ngay sau vừa mới cáo thú tội với Chúa trong một buổi lễ vô cùng long trọng với hàng trăm triệu người trên thế giới nhìn thấy rõ mồn một qua các màn ảnh truyền hình, thì ngày 5/ 9/2000, Ngài lại cho công bố bản tuyên ngôn “Nulla Salus Extra Ecclesiam” hay còn gọi là “Dominus Jesus” dài 25 trang trong đó Giáo Hội khẳng định rõ ràng rằng “Không có ơn cứu độ ở ngoài Giáo Hội”.   Khi đưa ra câu nói trên đây, Ngài và Giáo Hội có ý muốn nói rằng, "chỉ có Giáo Hội mới có thể mang lại "ơn cứu độ" cho người đời" [30] Ai cũng biết rằng chính vì theo đuổi cái niềm tin “chỉ có Giáo Hội mới có thể mang lại "ơn cứu độ" cho người đời" mà Giáo Hội đã gây nên những rặng núi tội ác chống lại nhân lọai trùng trùng như hàng chục rặng núi Hy Mã Lạp Sơn. Chính vì những rặng núi tội ác này mà trong hơn mười năm qua, đi đến quốc gia nạn nhân nào, Ngài cũng xin lỗi lia lịa, và cũng chính vì những rặng núi tội ác này, Ngài và các vị chức sắc cao cấp trong Giáo triều Vatican mới phải đứng ra cáo thú tội ác với Chúa  trong một buổi lễ vô cùng long trọng được tổ chức vào ngày 12/3/2000 tại Quảng Trường Peter.

Nhận xét về hành động công bố bản tuyên ngôn quái đản “Dominus Jesus” này, ông Phan Đình Diệm viết trong bản Tuyên Ngôn 5  Về Nước Thiên Chúa được công bố vào ngày 10 tháng 11 năm 2000, trong đó có mấy đọan  nguyên văn như sau:

Thứ Mười Hai:… Giáo Hội Công Giáo Roma Latinh, theo truyền thống lập quốc của các Caesar, đã hàng ngàn năm liên tiếp  công bố rất nhiều lần “TUYÊN NGÔN LẬP QUỐC”, nước Thiên Chúa, Nước Chúa Kitô và Nước Giáo Hội, là lộng ngôn, sai lầm và tội lỗi trải dài hàng ngàn năm, “lập quốc” là con đường phản Kitô , ngược Giao Ước Mới chạy dài hàng ngàn năm trong Giáo Hội Roma. Từ khoa “Kitô học về Giao Ước Mới và Nước Thiên Chúa”, Giáo Hội Công Giáo Roma Latinh đã phế bỏ Giao Ước Mới để biến đổi Kitô học thành khoa “thần học lập quốc và kinh bang tế thế” của “Giáo Hội Triều Đình Roma Vatican”. Bản chất của một tổ chức triêu đình quyền lực với hoàng đế, vua, quan, phẩm trật… là phản Kitô,…

Thứ Mười Ba: Tuyên Ngôn “Dominus Jesus” của Hồng Y Joseph Ratzinger công bố ngày 5 tháng 9 năm 2000   là “Tuyên Ngôn Tái Lập Quốc” của Giáo Hội Công Giáo Roma. “Tiêu Hướng Lập Quốc” trong bản tuyên ngôn này là đi ngược về thời Trung Cổ tại Âu Châu, là lập lại các bản văn của các Giáo Hoàng Gregory VII (1073-1085), Boniface VIII (1294-1303) với lời tuyên bố lừng danh: “Ego Sum Caesar Imperator” (chuyển sang Việt ngữ là “Ta là Caesar, ta là Hoàng Đế”. Trên toàn cõi Âu Châu thời ấy, Thánh Giáo Hoàng Gregory VII  công bố trong Dictatus Papae rằng “Chỉ có một mình Giáo Hoàng được dùng danh hiệu hoàng đế”.   Giáo Hội Roma, không những nhập cuộc chạy đua lập quốc, nhưng còn dành độc quyền làm Hoàng Đế “Vua trên hết các vua”, Giáo Hoàng đội vương miện cho các vua, và các vua phải hôn chân Giáo Hoàng. Giáo Hội Công Giáo Roma tổ chức rập khuôn theo khung của Đế Quốc Roma của các Caesar, đã luôn luôn theo đuổi ý đồ tóm thâu thiên hạ về một mối dưới quyền thống tri của triều đình Roma, “NẤP DƯỚI CHIÊU BÀI GIÁO HỘI HỢP NHẤT, CÂY NHO VÀ CÀNH NHO”. [31]

Hành động trên đây chỉ là một trong những lời nói, hành động và thái độ do truyền thống xấc xược, ngược ngạo,  háo sát, khát máu, quay quắt, lắt léo, lươn lẹo, lật lọng cùng với tham vọng thống trị   toàn cầu và nô lệ hóa nhân loại" của Giáo Hội và nó đã trở thành bản chất của mọi người mang chức thánh trong Giáo Hội. Chính cái bản chất man rợ này đã khiến cho Giáo Hội gây nên những rặng núi tội ác trong gần hai ngàn năm qua.

Thứ X: Ngài là vị giáo hoàng đầu tiên sử dụng chiếc xe chống đạn popemobile khi di chuyển trong những khi thăm viếng nước ngoài. Việc Ngài sử dụng chiếc xe chống đạn Popemobile như vậy giúp cho chúng ta rút ra một ý nghĩa hết sức quan trọng là chính Ngài không có một chút mảy may tin tưởng vào niềm tin mà chính Ngài và cán bộ truyền giáo Gia-tô thường dạy dỗ tín đồ rằng:

"Ai  tin ông Jesus là Chúa Con sẽ không bị kết tội (được lên thiên đường); và ai không tin ông ta là Chúa Con, đã bị kết tội, rồi sẽ bị đày đọa vĩnh viễn nơi hỏa ngục."  (John 3: 18) . 

Và:

Quả thật, ta nói cùng các ngươi, nếu các ngươi có đức tin, và không nghi ngờ chi hết thì chẳng những các ngươi làm được điều đã làm cho cây vả mà thôi, song dầu các ngươi biểu hòn núi này rằng: Hãy cất mình lên và quăng xuống biển, điều đó cũng sẽ làm được. 22.- Trong khi cầu nguyện các người hãy lấy đức tin xin việc gì bất kỳ, thẳy đều được." (Matthiew 21: 21-22)

Những tín lý này ghi rõ ràng trong Tân Ước như trên, và trong gần hai ngàn năm qua, Giáo Hội đã dạy dỗ tín đồ phải tuyệt đối tin tưởng vào tất cả những tín lý trong Cựu Uớc (đã được Giáo Hội chọn làm tín lý của Giáo Hội)  cũng như trong Tân ước và những tín lý do chính Giáo Hội đặt ra từ ngày 20/5/325. Ấy thế mà, là một nhà lãnh đạo số 1 của Giáo Hội, trong suốt thời gian gần 27 năm tại vị, chính Ngài lại không có một chút mảy may tin tưởng vào lời Chúa Ki-tô đã dạy: “các người hãy lấy đức tin xin việc gì bất kỳ, thẳy đều được .” (Matthiew 21: 22).

Hành động như vậy có khác nào Ngài đã dạy tín đồ rằng, “Hãy làm theo lời giảng dạy của ta, đừng làm theo những gì ta làm.”

 Nếu quả thật Ngài thực sự tin tưởng vào lời  dạy trên đây của Chúa Ki-tô, thì trước khi khởi hành thăm viếng một nước ngoài nào đó, Ngài chì quỳ xuống trườc bàn thờ Chúa và cầu rằng, “Ngày mai, con sẽ khởi hành đến nước… thăm viếng trong mấy ngày, con cầu xin  Chúa hết lòng che chở cho con, xin Chúa nhận lời – Amen”. Người viết tin rằng nếu thực sự có Thiên Chúa Toàn Năng, Toàn Thiện và thực sự có  Chúa Kitô như lời Giáo Hội đã dạy dỗ tín đồ trong gần hai ngàn năm qua, thì sau khi đã cầu như vậy rồi,  dù Ngài có đi bộ ở ngay giữa các thành phố trong các quốc gia theo Hồi Giáo, Ngài cũng được an toàn, không hề hấn gì cả vì rằng Ngài đã được Chúa che chở hơn bất kỳ một tín đồ Kitô nào khác. Ái oăm thay! Ngài đã không làm như vậy. Và thay vì làm như vậy, Ngài lại sử dụng chiếc xe chống đạn Popemobile. Như vậy là chiếc xe Popemobile của Ngài đã che chở cho Ngài, chứ Ngài không tin là có ông Chúa nào che chở cho Ngài cả. Rõ ràng là chiếc xe chống đạn Popemobile mới là  ông Chúa che chở và bảo vệ mạng sống  của Ngài.

Người viết nhớ lại, trong chuyến viếng thăm Hoa Kỳ và Canada trong những ngày  10– 21/9/1987, đi đâu Ngài cũng sử dụng chiếc xe chống đạn Popemomile. Rồi cách đó không bao lâu, ông Gobachev, bí thư Cộng đảng kiêm chủ tịch nhà nước Liên Sô, một quốc gia kẻ thù số 1 của Hoa Kỳ và của Giáo Hội, cũng đến viếng thăm Hoa Kỳ. Khi lưu trú tại Thành phố New York, ông Gobachev không những không dùng xe chống đạn, mà ông còn tự động đi bộ hết đường phố này đến đường phố khác. Trong khi di chuyển như vậy,  không có một người cận vệ nào đi theo để bảo vệ an ninh cho ông. Việc này làm cho cơ quan an ninh bảo vệ chính khách ngoại quốc đến tham quan ở Hoa Kỳ hết sức bấn lọan và bối rối. Tuy nhiên, trong mấy tiếng đồng hồ đi bộ trên các đường phố như vậy ở trong thành phố lớn hỗn tạp như New York mà nhân vật vô thần số một này vừa là kẻ thù của nước Mỹ và của thế giới tự do, vừa là kẻ thù của Giáo Hội, vẫn an toàn, không có gi xẩy ra làm nguy hại đến sinh mạng của ông ta. Trái lại, ông đi đến đâu cũng được người  dân tại đó hân hoan chào mừng.

Ấy thế mà Giáo Hoàng John Paul II, nhân vật số 1 của “Hội Thánh duy nhất thánh thiện, công giáo và tông truyền”, hết lòng tin tưởng vào Thiên Chúa Tòan Năng Tòan Thiện … lại tự nhốt mình trong chiếc xe chống đạn Popemobile trong khi di chuyển ở ngay trong các quốc gia bạn thân thiết đồng minh với Tòa Thánh Vatican. Sự kiện này có thể giúp cho các giáo viên dùng làm những chuyện tiếu lâm kể lại cho học sinh nghe cho vui vào những khi xả hơi ở trong lớp hay giúp cho những người trong bàn nhậu kể lại với nhau vào những khi trà dư tửu hậu.

Thứ XI: Thái độ và hành động tráo trở  lật lọng của Giáo Hoàng John Paul II: Hầu như toàn thể nhân dân thế giới đều biết rằng từ cuối thập niên 1980, Giáo Hoàng John Paul II đã kêu gọi hòa hợp và hòa giải với các tôn giáo khác trên thế giới. Để biểu lộ thành ý của Giáo Hội trong việc này, Ngài đã đích thân tham dự và chủ tọa buổi cầu nguyện chung trong đó có một số khá nhiều các nhà lãnh đạo các tôn giáo khác nhau được tổ chức tại Assise (Ý Đại Lợi) vào ngày 27/10/1986. Sự kiện này được nhà trí thức Gia-tô Trương Tiến Đạt ghi lại trong cuốn Trước Cơn Giông Tố  như sau:

Về phần Giáo Hoàng đương kim Gio-an Phao-lô Đệ Nhị,  hiện nay hầu như ai cũng phải công nhận rằng ngài là một người thánh thiện, nhưng nhiều hành vi của ngài trong quá khứ hoặc trong thời gian gần đây chứng tỏ ngài mất đức tin hoặc đức tin rất lạng quạng. Thí dụ ngày 27/10/1986, ngài đã tổ chức buổi cầu nguyện tại Assise  (Ý), trong đó ngài mời các lãnh tụ của mọi tôn giáo tới để “cùng cầu nguyện với ngài”. Chủ đề của buổi cầu nguyện chung này là “Thiên Chúa và mầu nhiệm của Người được thể hiện nơi mỗi tôn giáo. Đức Giáo Hoàng có ý nói rằng đạo nào cũng có Thiên Chúa trong đó, dưới hình thức này hay hình thức khác."[32]<