405-gd.gif (4053 bytes)

posted:4.4.2005

Vài lời của người viết:  Nhân đọc thấy vài bài viết về tác giả Trịnh Xuân Thuận, và về các cuốn sách nổi tiếng của ông; trong số đó có bài của ông Trương Văn Tân, đăng trên báo  Giao Điểm số 54, trang 35, tôi thấy ý tứ xem chừng có phần chưa được rõ ràng.  Nhất là vài đoạn ở trang 38  “. . . câu trả lời có lẽ giao phần thắng về cho phe "Sáng Thế" . . .”" hình như không phải là ý của tác giả (!) Vì vậy, tôi  xin được “phóng dịch” lại những đoạn có liên quan đến bài viết nầy, để làm sáng tỏ thêm vấn đề.  Nếu có điều gì cần bổ túc, xin được nhận lời chỉ giáo của các bậc cao kiến. PND.

Phan Như Diệp

Chúa Trời và Sự Nỗ Vũ Trụ: từ Stephen Hawking đến Trịnh Xuân Thuận

I. Trong  “A Brief History of Time”,   đọan, Stephen Hawking viết :

 “Trong thập niên 1970’s, ông Hawking đã chuyên nghiên cứu về các lỗ đen, nhưng trong năm 1981 sự quan tâm của ông Hawking về những câu hỏi về nguồn gốc và số phận của vũ trụ lại được thức tỉnh khi ông tham dự một buổi hội thảo về vũ trụ học được tổ chức bởi Dòng Chúa Cứu Thế ở Vatican. Ky-tô Giáo đã phạm một lỗi lầm tệ hại với ông Galileo khi họ đã cố áp đặt luật lệ trên một vấn đề khoa học, tuyên bố rằng mặt trời quay chung quanh trái đất. Bây giờ, sau nhiều thế kỷ, họ đã quyết định mời một số chuyên gia cố vấn cho họ về vũ trụ học. Cuối buổi hội thảo, tham dự viên được dịp tiếp kiến Giáo hoàng. Ông ta đã nói với tham dự viên rằng, nghiên cứu về sự tiến hóa của vũ trụ sau vụ nổ lớn thì được, nhưng chúng ta không nên lạm bàn về chính cái vụ nổ lớn đó vì đó là thời điểm của sự sáng tạo (sáng thế - PND), và như vậy đó là công việc của Chúa. Lúc đó ông Hawking rất hân hạnh là ông ta đã không biết gì về câu chuyện mà ông đã thuyết trình trong buổi hội thảo – cái khả năng rằng không - thời gian có thể có giới hạn, nhưng đã không có ranh giới, nó có nghĩa là đã không hề có một khởi đầu, không có một thời điểm nào cho sự sáng tạo.  Ông Hawking không hề có chút mong muốn nào phải chia xẻ số phận của Galileo, mà với ông ta, ông có cái cảm giác sâu đậm về một sự trùng hợp, ông được sinh ra đúng 300 năm sau cái chết của ông Galileo.”

“Một vũ trụ trương nở không hàm chứa sự cần thiết có một hoá công, nhưng nó quả đã đặt ra những giới hạn về thời gian cho hoá công nếu có để triển khai công việc của ông ta.

“Cái ý tưởng rằng không - thời gian có hình dạng như một bề mặt khíp kín mà không có ranh giới cũng có một hàm ý sâu đậm về vai trò của Chúa trong các sự kiện vũ trụ. Với những thành tựu của các lý thuyết khoa học trong việc diễn tả những hiện tượng, hầu hết chúng ta đã tin rằng Chúa cho phép vũ trụ quay cuồng theo một mớ luật lệ, và không hề xen vào hành trình của vũ trụ để vi phạm các luật lệ nầy. Tuy nhiên, luật không cho chúng ta biết vũ trụ đã như thế nào khi nó mới bắt đầu – nó hầu như vẫn tuỳ thuộc vào việc Chúa lên dây cót cái đồng hồ và chọn lựa phải bắt đầu nó như thế nào. Chừng nào mà vũ trụ có một bắt đầu, chúng ta có thể giả thiếc rằng có một tạo hoá. Nhưng nếu vũ trụ thật sự hoàn toàn khép kín trong chính nó, không có ranh giới hay cạnh biên, nó sẽ không có bắt đầu cũng không có kết thúc. Vậy thì có chỗ nào để dành cho một tạo hóa?”

“Luật bảo Toàn Năng Lượng: Định luật khoa học nói rằng năng lượng (hay vật chất tương đương của nó) không thể được sinh ra hoặc bị huỷ diệt.”

II.  Và trong  “The SECRET MELODY – AND MAN CREATED THE UNIVERSE”  (translation by Storm Dunlop – Oxford University Press, 1995) chương 8:  Chúa Trời và sự Nổ Vũ Trụ  Nguyên nhân đầu tiên có cần thiết không? , nhà khoa học Trịnh Xuân Thuận viết (phỏng dịch):

Một trong những luận thuyết để chứng minh sự hiện hữu của Chúa Trời, một đề tài đã được các triết gia và các nhà thần học quan tâm suốt nhiều kỹ nguyên, từ Plato và Aristotle đến Saint Thomas Aquinas, cho đến Immanual Kant, là lý thuyết về dây chuyền nguyên nhân (chain of causes): Mọi sự việc đều có một nguyên nhân. Cái dây chuyền đó không thể vô tận. Trước sau gì chúng ta cũng phải chứng diện một nguyên nhân đầu tiên, trách nhiệm cho sự hiện hữu của mọi sự vật trong vũ trụ. Cái Nguyên nhân đầu tiên ấy là Chúa.

Luận thuyết nầy đã dựa vào nguyên tắc về thời gian tuyến tính của Tây phương. Một hiện tượng A xảy ra, nó tạo ra B, rồi B tạo ra C, và cứ tiếp tục như vậy. Trong vài ngành tiết học và tôn giáo Đông phương, thời gian thật ra không có tính thẳng, mà hoàn chuyển. Hiện tượng A phát sinh hiện tượng B, B sinh ra C, . . rồi đến lượt . . lại sinh ra A. Cái vòng khép kín, và không cần đến một nguyên nhân đầu tiên nào cả. Một lần nữa, những đặc tính tuyệt vời của thuyết cơ học lượng tử không loại bỏ sự khả dĩ của quan niệm nầy. Thực vậy, vào thập niên 1960’s, một lý thuyết về vật lý học đã công bố rằng không hề có hạt vật chất căn bản, và rằng mỗi hạt đều tương liên với mọi hạt khác, rằng mọi hạt đều có ít nhiều đặc tính của những hạt kia. Dưới hình thức nầy, A dung chứa B và C; B dung chứa A và C; và C dung chứa A và B. Lý thuyết nầy hiện nay đã giảm cường điệu, vì nguyên tắc về sự phân cấp của hạt càng ngày càng trở nên tế vi, để giải thích các đặc tính của thiên nhiên một cách thỏa đáng hơn. Vật chất được cấu tạo bới các phân tử, phân tử chứa đựng nguyên tử, và nguyên tử lại được tạo thành bởi các điện tử và hạt nhân, hạt nhân lại được cấu tạo bởi những dương địên tử và trung hòa tử, rồi đến lược dương điện tử và trung hòa tử thì cấu tạo bởi các hạt quác (quarks). Hiện nay cái dây chuyền nầy đang dừng lại ở đây (!?)

Tính không biết chắc chắn đã làm đổ vỡ luận thuyết về một nguyên do đầu tiên. Trong thế giới hạ nguyên tử của các hạt căn bản, sự liên hệ về nguyên nhân và tính khẳn định kông còn đứng vững nữa. Các hạt ảo xuất hiện trong thế giới thực tại, như chúng ta đã thấy, một cách rất bất ngờ, không thể nào tiên đoán được, bằng cách hấp thụ năng lượng tích trử trong thiên nhiên. Chúng ta không thể nói chắc chắn chúng sẽ xuất hiện ở đâu và vào lúc nào; nhiều nhất là chúng ta chỉ có thể đưa ra một xác xuất rằng chúng có thể hiện ra ở chổ nọ hoặc chổ kia. Chúng có vẽ như tìm ẩn trong cái không gian cong, tràn đầy năng lương trọng trường. gần vùng bán kính giới hạn (không trở về) của một lỗ đen ở đâu đó trong giải Ngân Hà, hơn là trong một không gian phẳng của căn phòng mà bạn đang ngồi đọc những dòng nầy. Dù sao chăng nữa, nhờ sự ảo diệu của ngành cơ học lượng tử, xác xuất để một hạt ảo có thể xuất hiện bất ngờ bên cạnh bàn tay của bạn có thể nhỏ vô cùng, nhưng nó không phải là không. Những hạt ảo như vậy không có một nguyên nhân riêng biệt nào cả, và sự thể hiện của chúng không thể nào đoán trước được.

Chúng ta cũng đã từng thấy các nhà vật lý tin rằng, cái gì đúng cho hạt căn bản thì cũng đúng cho toàn thể vũ trụ lúc nó bắt đầu. Tính không xác định lương tử cho phép thời gian và không gian, và rồi cả vũ trụ, xuất hiện một cách tức thời từ cái trống không. Ở thời điểm Plank, (10)-43 giây), vũ trụ chỉ có đường kính (10)-33 cm, 10 triệu tỉ tỉ lần nhỏ hơn một nguyên tử, và cơ học lương tử, ngự trị trong thế giới hạ nguyên tử, vẫn tiếp tục dụng hành. Vũ trụ không đòi hỏi một nguyên nhân đầu tiên. Vũ trụ xuất hiện nhờ vào sự chuyển biến lượng tử. Một khi đã thành lập, sức nén bên trong làm nó trương nở theo dạng lũy thừa trong vài phân của giây đầu tiên, sau khi nó xuất hiện, những quạc và đối-quạc tham gia vào diển trình, và rồi thì toàn thể sự tiến hóa của vũ trụ bắt đầu, ngự trị bởi các định luật vật lý và sinh vật học, cuối cùng dẫn đến thời đại chúng ta. Cách mô tả nầy của sự hình thành của vũ trụ tương đồng một cách kỳ lạ với quan điểm sáng tạo từ hư vô chủ trương bởi nhiều tôn giáo. Cái khác biết lớn nhất là hình thái của vũ trụ, nhờ vào sự ảo diệu của cơ học lương tử, nó không còn đòi hỏi một nguyên nhân đầu tiên hay sự hiện hữu của Chúa. Sự xuất hịện của nó có thể được giải thích đơn thuần bằng các quy trình vật lý.

Chúa và thời gian:

Cơ học lượng tử đã thật sự lọai bỏ quan niệm về một nguyên nhân đầu tiên. Nhưng đó chưa phải là tất cả. Ngay cả cái nguyên lý về “nhân và quả” cũng mất đi ý nghĩa thông thường ở nơi nào có ý niệm vũ trụ. Cái nguyên lý đó đặt nền tảng trên sự hiện hữu của thời gian: Nguyên nhân đến trước hậu quả. Mẹ và cha có trước đứa con, không thể có thứ tự ngược lại được. Thời gian trôi từ nguyên nhân đến hậu quả. Vật lý hiện đại, mặt khác, cho rằng thời gian và không gian xuất hiện cùng một lúc với chính vũ trụ. Đây không phải là một ý niệm mới mẽ gì: St. Augustine đã viết, ngay từ thế kỷ thứ IV, rằng vũ trụ không phải xuất hiện trong thời gian, nhưng là xuât hiện với thời gian. Ông ta xem là lố bịch cái ý tưởng cho rằng Chúa đã chờ đợi một thời gian vô tận và rồi bổng dưng đã quyết định tạo ra vũ trụ. Vậy thì ý nhĩa gì mà chúng ta có thể nói câu, “Và Chúa đã tạo dựng vũ trụ,” nếu thời gian đã chưa thật sự hiện hữu, và nó đã được tạo ra cùng một lúc với vũ trụ? Hành động sáng tạo chỉ có ý nghĩa khi nó xảy ra trong thời gian. Cũng thật là vô lý mà nghĩ rằng Chúa đã có trước vũ trụ, cũng như hỏi rằng cái gì đã xảy ra trước sự nổ vũ trụ. “Trước” không có nghĩa gì cả, bởi vì thời gian đã chưa xuất hiện.

Để tránh những mâu thuẩn nầy, vài nhà vật lý đề nghị những lý thuyết còn kỳ dị hơn bao giờ hết. Nhà vật lý người Mỹ, John Wheeler (người đã đưa ra thuyết vũ trụ hoàn chuyển) đề nghị đảo ngược thứ tự thời gian nhân quả: Nhân không đến trước, mà đến sau sự việc; và vũ trụ không còn cần đến một tạo hóa nữa, bởi vì chính Con người trách nhiệm về hình tướng của vũ trụ (trách nhiệm về sự hiện hữu của vũ trụ). Bằng một liên hệ nhân quả nào đó giữa Người và vũ trụ, tác động theo một cảm quan ngược lại với chiều thông thường của thời gian, sự hiện hữu của chính chúng ta đã hồi tạo sự xuất hiện của vũ trụ. Đây là một sự diễn giải quá độ của nguyên tắc vũ trụ chuẩn xác. Sự đảo ngược thứ tự thời gian nhân quả có thể dẫn đến những mâu thuẩn luận lý nghiêm trọng hơn nhiều – tỉ dụ như bạn có thể ngăn ngừa sự gặp gở của cha mẹ bạn, cũng như chính sự sinh ra bạn – và đa số các nhà vật lý khước từ. Nhưng cũng có vài luận thuyết vật lý không loại bỏ lý nguyên nhân hồi tố. Những hạt đựoc gọi là “tachyons,” luôn luôn di chuyển nhanh hơn tốc độ ánh sáng, có thể ảnh hưởng được quá khứ. Rất may mắn cho trí tuệ chúng ta là những hạt nầy còn chỉ xuất hiện trong trí tưởng tượng không kiểm chứng được của các nhà vật lý. Trong vài trường hợp, cơ học lượng tử (lại cơ học lượng tử!) hình như ngầm ý rằng hành động quan sát có thể làm thay đổi, có tính hồi tố, một trạng thái quá khứ. Tuy nhiên, sự kiện nầy xảy ra ở mức độ hạ nguyên tử, và không chắc rằng cả vũ trụ cũng có thể là đối tượng của thuyết đảo ngược nhân quả nầy.

Có nhiều khó khăn trên nguyên tắc cho ý niệm rằng Chúa xuất hiện trong thời gian [1]. Diển tiến thời gian được nhận định bằng các thay đổi. Nhưng có thể nào chúng ta nói đến một Chúa đang thay đổi, nếu Ông ta là cái nguyên nhân đầu tiên của mọi đổi thay trong vũ trụ? Ai có thể thay đổi Chúa? Mặt khác, thời gian, như Einstein đã chứng minh rất rõ ràng, không có tính phổ quát. Nó có thể thay đổi từ nơi nầy đến nơi khác trong vũ trụ. Thời gian ở gần một lỗ đen không giống như ở trên mặt địa cầu. Nó có tính đàn hồi, và quyết định của con người có thể thay đổi nó được. Nhấn mạnh xuống bàn đạp tăng tốc, và thời gian chậm lại. Thời gian ngay cả còn có thể đổi chiều hay là dừng lại nếu vũ trụ co rút vào chính nó. Một Chúa hiện hữu trong thời gian thì không thể nào toàn năng. Ông có thể bị chi phối bởi những bất thường của thời gian tạo ra bởi các lỗ đen, các sao hạt trung tính, những trọng trường khác, hay những hành động của con người. Sự kiện nầy kết liễu tính quyền năng tuyệt đối của Ông ta.

Giải pháp cho những tình trạng lưỡng nan nầy phải là một Chúa ở ngoài thời gian, một Chúa vượt thời gian. Nhưng như vậy thì cũng lại đặt ra những khó khăn. Sự cách bịệt như vậy, Chúa không có tính người không còn có thể nào giúp đỡ chúng ta được nữa. Chúa mà ta thường cầu nguyện là một Chúa có khả năng cảm giác, người biết vừa lòng hay không vừa lòng với những diễn tiến đạo đức của người ta. người quyết định nhấp nhận những lời cầu khẩn của chúng ta hay trách phạt chúng ta, và người có thể xếp đặt và làm thay đổi tương lai của chúng ta. Một cách ngắn gọn, một Chúa hành động trong thời gian. Một Chúa ngoài thời gian không còn giúp gì chúng ta được rồi. Hơn thế nữa, nếu Chúa vượt thời gian, Ông tất nhiên đã biết trước tương lai. Vậy thì, tại sao Ông còn phải bận tâm với tiến trình đấu tranh của con người chống lại điều ác? Ông biết trước kết quả. Một Chúa ngoài thời gian không còn có tư tưởng, bởi vì suy nghĩ cũng là một hành động triển khai theo thời gian. Tri kiến của Chúa không còn thay đổi với thời gian. Ông ta đã quan tâm từ trườc mọi sự thay đổi với thời gian, xuống tận cho đến từng nguyện tử nhỏ bé nhất.

Vật lý hiện đại, như vậy đã cho chúng ta một sự chọn lựa giữa một Chúa cá thể, nhưng không toàn năng, hay một Chúa toàn năng, nhưng không cá thể. Thời gian, vì trở nên có tính co giản, không còn cho phép một Chúa vừa là cá thể mà vừa là toàn năng, cùng một lúc.

Chúa và sự phức hợp:

Ai trong chúng ta đã không từng kinh nghiệm một cảm giác khoái lạc tuyệt vời khi chợt nghe một bản nhạc chơi vơi diệu vợi, khi thưởng thức một tác phẩm nghệ thuật sáng ngời, khi chim ngưỡng cái sắc đẹp mỹ miều của một giai nhân, hay khi thưởng ngoạn một phong cảnh tráng lệ? Vào những lúc vinh hạnh đó, chúng ta cảm thấy thực là khó khăn mà phải chấp nhận rằng vũ trụ nầy không hề có một ý nhĩa gì và cảm nhận với một mục đích nào. Chúng ta cảm thấy bao nhiêu vẻ đẹp và sự phức tạp không thể chỉ là những kết quả của cơ hội thuần tuý, rằng phải có một nguyên tắc sáng tạo nào đó đang vận hành. Làm như vậy, chúng ta tự đặt mình vào một trong những luận thuyết ưa chuộng của các nhà thần học để chứng minh sự hiện hữu của Chúa Trời: Chỉ có “Đấng Tạo Hóa” mới có thể trách nhiệm cho một thiên nhiên đầy tính phức tạp và được xếp đặt khéo léo như vậy. Một Tổng Giám Mục người Anh, ông William Paley, viết năm 1802: “Khi đi qua một đoạn đường gồ ghề, tỉ dụ tôi vấp chân vào một tảng đá, và được hỏi làm sao mà tảng đã lại xuất hiện ở đó, tôi có lẽ sẽ trả lời, rằng . . . nó vẫn bị đặt ở đó mãi mãi  . . . Nhưng gỉa thử tôi đã tìm thấy một chiếc đồng hồ đeo tay trên mặt đất . . (tôi bi bắt buộc phải kết luận) rằng cái đồng hồ đó phải có một người thợ làm đồng hồ (làm ra) [2].” Cách xếp đặt và sự phức tạp của cái đồng hồ là dấu chỉ sự hiện hữu của người thợ làm đồng hồ. Tương tự, cách tổ chức và sự phức tạp của vũ trụ chứng minh sự hiện hữu của Chúa.

Biện chứng nầy quả có tính rất thuyết phục. Nhưng tiếc rằng, nó không mấy được thích hợp với nền khoa học hiện đại. Khoa học cho ta biết rằng những hệ thống tuyệt đối phức tạp vẫn có thể là kết quả hoàn hảo của những quy trình chuyển hóa tự nhiên, thích hợp với những định luật vật lý và sinh vật chúng ta đã từng hiểu biết, và không hề có một nhu cầu phải có sự can thiệp của Chúa, như là người thợ làm đồng hồ. Sự phức tạp không nhất thiết phải gỉa thiết một tạo hóa và một đại thiết kế nào cả. Chúng ta đã thấy trong quá trình lịch sử vũ trụ của chúng ta, dựa theo những định luật vật lý và sinh học đã được lập thành một cách hoàn hảo, vũ trụ làm thế nào đã có thể, kinh qua 15 tỉ năm và bắt đầu từ một thể tiên thiên rất đơn giản (một mớ cháo các hạt đơn giản), tạo ra được bầu trời tuyệt diệu đầy những thiên hà, và, ở một trong những thiên hà đó, lại có một giống (người) thông minh khả dĩ ngắm nhìn nó. Một khi được đặt vào quy trình của nó, vũ trụ không cần có một người “thợ làm đồng hồ” để phát huy trọn vẹn dạng tính phức tạp. Thoạt nhìn, hình như có sự mâu thuẩn ngoạn mục với định luật thứ hai của nhiệt động học (môn vật lý của năng lượng và nhiệt), diễn rằng tổng cọng sự rối loạn trong vũ trụ luôn luôn tăng lên: Những ngôi nhà thờ Majestic tự chúng sẽ đỗ nát ra, những cánh hoa hồng sẽ héo tàn, người và vật đều sẽ rủa nát với thời gian, cái đẹp diễm lệ nhất cũng sẽ phai tàn, và mọi trật tự đều sẽ trở nên hổn độn. Sự tham gia của sự sống, cái tuyệt đỉnh của tính có tổ chức và tính phức tạp, từ một thể không chút phức tạp nào trong một chân không bị tràn đầy bởi năng lương trọng trường, có vẽ như tương khắc với vật lý học.

Tuy nhiên, như chúng ta đã thấy, cái có vẽ như là một mâu thuẩn nghiêm trọng không có trong thực tế. Nếu bạn lập ra một bản cân bằng của trật tự và sự hổn độn trong vũ trụ (sự hổn độn được đo bằng một đơn vị mà các nhà vật lý gọi là “đơn vị thoái hóa” (“entropy”), vô trật tự luôn luôn lớn hơn và, không có ngoại lệ nào cả, luôn luôn tăng gia theo thời gian. Nhiệt động học không ép buộc trật tự không được thắng thế ở vài trường hợp đặt biệt, riêng lẽ, sự kiến tạo và sự phức tạp không được xuất hiện, hoặc ngay cả tinh thần không được can dự vào, miễn là ở nhiều nơi khác, sự hổn độn xuất hiện bổ sung, và rằng bản cân bằng luôn luôn chỉ sự tăng trưởng của hổn độn. Trật tự thể hiện bằng sự sống trên địa cầu, chỉ có thể là nhờ vào sự vô trật tự lớn hơn mà mặt trời đã tạo ra trong qui trình biến đổi nguyên tử hydrô thành năng lượng, ánh sáng, và nhiệt. Mọi kiến tạo trong vũ trụ, dưới hình thức những ngân hà hay tinh cầu, xuất hiện nhờ vào hai yếu tố sau: sự trương nở của vũ trụ và sự tạo tác hổn độn của các tinh tú. Sự trương nở của vũ trụ cần thiết để bảo đảm làm nguội phóng xạ căn bản, do đó tạo ra sự mất cân bằng giữa nhiệt độ của các vì sao và không gian chung quanh chúng. Sự bất cân xứng nầy, đến lược nó, cho phép các vì sao trở thành những hệ thống tạo ra sự vô trật tự. Những tinh tú nầy phóng ra bức xạ vô trật tự, ở nhiệt độ cao, vào những vùng nguội lạnh hơn, có trật tự hơn ở chung quanh. Sự hổn độn được trao đổi từ bức xạ nóng đến bức xạ nguội hơn, mà tổng cọng sự vô trật tự tăng lên, và những cái túi trật tự có thể xuất hiện mà không vi phạm định luật thứ 2 của nhiệt động học. Hơn thế nữa, sự trương nở của vũ trụ cần thiết cho chính sự hiện hữu của mọi tinh tú. Nhờ loảng ra mà vũ trụ giới hạn vật chất dạng nguyên tử đơn thuần thuở ban đầu ở dạng những phần tử nhẹ nhất, tách rời vũ trụ với ba phần tư trọng khối nhân “baryonic” (dương điện tử và điện tử trung tính) của nó dưới hình thức hydrô, hay phần còn lại là helium, ở cuối thời kỳ 3 phút đầu tiên. Nếu không có sự trương nở, vũ trụ có lẽ đã biến toàn bộ vật chất thành sắt, có nghĩa là một sự gỉa biệt đối với những kho dự trử khí hydrô, làm nhiên liệu đốt cháy của các vì sao và gây ra sự hổn độn của chúng. Nếu không có những vô trật tự đó, thì cũng gỉa từ trật tự, sự sống, và tinh thần!

Chúa và sự sống:

Bạn còn nghi ngờ. “Được”, bạn nói, “Chúng ta sẽ nhìn nhận rằng những tạo tác trong vũ trụ có những lý do tự nhiên và không cần đến sự xếp đặt của Chúa. Nhưng với sự sống thì sao? Chẳng lẽ sự sống không đòi hỏi một lý do siêu nhiên, đó là Chúa? Sau cùng một con người chỉ là sự hội tụ của 30 tỉ tỉ tỉ phần tử vô tri. Tổng hợp của bội phần các phần tử vô tri thì cũng chỉ là vô tri ngay trong chính nó. Nếu người, súc vật, cây cỏ mà sống, ấy là vì Chúa đã thêm vào một yếu tố cần thiếc, sự sống, vào trong cái tập hợp của những nguyên tử.”

Biện luận nầy không lưu ý đến sự kiện là một tổng hợp có thể lớn hơn tổng cọng của tất cả các phần tử, có thể tạo ra những đặc tính ở tỉ lệ vô cùng bé, đã không xuất hiện ở mức độ tế vi. Hãy tưởng tượng bạn đang khảo sát một họa phẩm của danh họa tranh điểm Georges Seurat. Vô số những mảng sơn lóng lánh màu sắc sẽ không có ý nghĩa gì cả nếu bạn nhìn vào từng mảng riêng rẽ. Chỉ khi nào bạn bước lùi lại phía sau, lặng ngắm bức tranh trong cái toàn thể của nó, thì hình ảnh và cảnh vật mới bắt đầu hiện ra, và bức tranh mới có ý nghĩa. Tương tự, từng nốt nhạc sẽ làm chúng ta tẻ ngắc. Chỉ khi nào cái thiên tài của một Beethoven hay một Mozart phối hợp chúng lại với nhau thành những bản hoà tấu hay hợp âm thì nhạc mới ru được lòng người. Từ ngữ trong tự điển tẻ nhạt và vô tình, nhưng trong những bài thơ của Rimbaud hay Baudelaire, chúng gợi cho chúng ta cảm giác sâu đậm. Cái toàn thể có những đặc tính mà từng phần tử cá thể của nó không thể có được. Tương tự như thế, chúng ta cũng có thể mường tượng được một cách hoàn hảo, những nguyên tử vô thần phối hợp với nhau hoàn toàn theo những định luật tự nhiên của vật lý, và như vậy, khi một mức độ tổ chức và phức hợp nào đó đã được vượt qua, nó sẽ tạo sinh sự sống, mà không cần đến sự xếp đặt thần thánh nào cả. Sự sống là kết quả của hiên tượng tập hợp (hay tổng thể). Nó không thể bị thu nhỏ lại như một tập hợp của những tế bào, những vòng xoắn DNA, hay những chuổi nguyên tử.

Chúng ta vẫn còn vô ý bỏ qua những quy trình sản sinh ra sự sống từ những nguyên tử vô tri. Đâu là cái mức độ giới hạn tối thiểu của sự phức tạp và tính tổ chức mà một tập hợp phải vượt qua để sự sống có thể bắt đầu xen vào? Làm thế nào vật lý và hóa học có thể đưa đến mức độ phức tạp đó? Sự sống có thể bắt đầu phát triển, như ta đã thấy, trong bầu khí quyển sơ khai của địa cầu. Năm 1953, hai nhà hóa học Mỹ, Stanley Miller và Harold Urey, trong một thí nhiệm nỗi tiếng, đã tái tạo một bầu khí quyển sơ khai của địa cầu trong ống nghiệm. Một hổn hợp của a-mô-ni-a, mê-tin, hydrô, và nước được đặt trong những tia phóng điện, tái tạo ảnh hưởng của sấm sét đã từng giăng bủa trên trái đất 4,6 tỉ năm trước đây. Sau nhiều ngày, những khối thể nguyên sơ của sự sống được lập thành, a-xit-a-ni-mô (animo acids), đã xuất hiện. Miller và Urey đã có một hướng đi thành công trong sự giải tỏa nan đề thần thoại của sự sống. Tuy nhiên lập lại diễn tiến từ những a-ni-mô a-xit cho đến những vòng xoắn kép DNA có khả năng tự tái tạo vẫn còn là một con đường dài. Nguồn gốc sự sống vẫn tìm tàng là một trong những bí hiểm khoa học lớn lao. Tất cả những gì chúng ta có thể nói, chỉ là cái nguồn gốc như vậy không phải không so sánh được với các định luật tự nhiện đã đươc biết, và nó không cần đòi hỏi một sự can thiệp thần thánh.

Chúa và tinh thần:

Một khi thành lập, sự sống khởi động một sự tiến hóa gia tốc cho đến khi có trí thông minh và tinh thần, khả năng biện biệt và suy tư. Những hình thức sự sống đầu tiên, những tế bào sống đầu tiên, xuất hiện trên địa cầu 3,5 tỉ năm về trước. Trong 3 tỉ năm (tức khoảng ba phần tư thời gian từ khi có sự sống đầu tiên đến nay), sự tiến hóa diễn ra rất chậm chạp, và đã không vượt qua được những hình thức đơn bào. Rồi thì trong dưới một tỉ năm sau cùng, sự tiến hóa đã chuyển sang giai đoạn quá tốc: Những thể đa bào (như động vật thân mềm, cá, loài bò sát, và động vật có vú) xâm lăng mặt địa cầu. Kết quả là, trong khoảng dưới 100 triệu năm (tức là dưới 3% thời kỳ có sinh vật), ba chủng loại với tính thông minh sơ khởi đã xuất hiện: động vật linh trưởng (người, vượn, . . ), cá heo, và chuột. Rồi thì, khoảng 2 triệu năm trước đây, loài người khôn ngoan bắt đầu xuất hiện trên sân khấu, được ân huệ với ý thức và một “linh hồn.”

Khó mà nói môt cách chính xác ý thức đã bắt đầu thị hiện ở giai đoạn nào. Đười ươi, vượn, và tinh tinh hình như cũng có khả năng cảm giác về những xúc động yêu thương, buồn, và vui của con người. Chúng còn có vẻ như có cả những nguyên tắc sơ đăng về ngôn ngữ nữa. Nhưng chúng có khả năng có tư tưởng trừu tượng hay không? Dầu là lý do gì, chúng ta vẫn không thấy chúng kích động sáng tác ra những bản hòa tấu, viết kịch, hay tiểu thuyết, hay kiến tạo những họa phẩm và điêu khắc. Lại một lần nữa, câu hỏi được nêu lên: Có phải ý thức cần có sự xếp đặt có tính thần thánh? Linh hồn có cần phải được gắn vào trong một cơ thể gồm hàng tỉ nguyên tử? Tâm trí có phải được ghép vào trong nảo bộ gồm cả tỉ tế bào thần kinh?

Lại một lần nữa, câu trả lời cho những câu hỏi nầy là chúng không có ý nghĩa gì. Đặt ra những câu hỏi dưới những hình thức thuật ngữ nầy làm cho những nguyên tắc diễn tả bị nhầm lẩn trên những bình diện hoàn toàn khác biệt   [3]. Nói đến những nguyên tử trong một cơ thể, hay những tế bào thần kinh trong nảo bộ, cũng giống như là nói đến những nốt trong một bản nhạc, hay những chữ trong một cuốn từ điển. Khi chúng ta nói đến sự sống và tinh thần, chũng ta đang chuyển hướng qua một bình diện khác, chúng ta đang rời bỏ sự diển tả giản lược để chọn một hình thức mô tả có tính tập hợp hay tổng thể; chúng ta đang dựa vào giai điệu của một bản hòa tấu, hay vào cốt chuyện của một cuốn tiểu thuyết. Cơ thể và linh hồn không phải là những nguyên lý có thể diễn tả bằng những ngôn từ giống nhau. Đặt chúng vào một cơ sở như nhau (như Descartes đã làm khi ông ta luận về sự lưỡng tính của cơ thể và linh hồn) là tự đặt mình vào những câu hỏi vô lý, như: Linh hồn ở đâu trong không thời gian? (Descartes đã cho rằng những tuyến tùng - tuyến có hình nón trong nảo bộ - là trú sở của linh hồn; Teilhard de Chardin thì nghĩ rằng tinh thần đã trải rộng trong từng nguyên tử của cơ thể. Cả hai quan điểm trên đều không hề có một thí nghiệm căn bản nào để biện minh.) Linh hồn ở đâu trước khi cơ thể xuất hiện trên thế gian? Nó đi đâu sau khi cơ thể bị hũy diệt? Có phải Chúa đang có một kho dự trủ linh hồn, mà từ đó ông sẽ trích ra để đem gắn vào những tổ hợp các nguyên tử? Những câu hỏi nầy thật là vô nghĩa, bởi vì tinh thần và cơ thể không phải là hai thực thể chất liệu khác nhau, cái nầy ở trong cái kia. Chúng không thể được diển luận trên một bình diện như nhau.

Khi linh hồn và cơ thể được mô tả trên hai bình diện khác nhau, không có gì có thể ngăn cản tính tuyệt đối tự nhiên, xuất hiện một cách tức thời của ý thức, nếu sự tiến hóa phát triển quá độ qua một giới hạn tổ chức và độ phức hợp nào đó. Sự kích phát có tính thần thánh là không cần thiết. Kết luận nầy có vẻ không thích hợp với lòng tự ái của chúng ta. Nảo bộ không khác gì hơn là một cáy máy suy nghĩ, không gì hơn là một tập hợp của những bộ phận cấu tạo nên một loại xã hội. Và chính sự tương quan bên trong “xã hội” đã làm thành cái mà ta gọi là “trí tuệ. [4]” Điều nầy có nghĩa là những cái máy, nếu chúng trở nên phức hợp đúng mức, có lẽ sẽ có thể suy nghĩ và cảm giác. Những cái máy sẽ có trái tim. Dĩ nhiên, mặc dầu khả năng trí tuệ của những máy móc thông minh, tân tiến vượt quá trí tuệ của chúng ta trong nhiều phương diện – chúng có thể tính toán cực kỳ nhanh hơn và không hề sai sót, và có thể thắng chúng ta dễ dàng trên bàn cờ chess, chẳng hạn - khả năng cảm giác của chúng vẫn còn rất giới hạn. Chúng không thể nhìn một cách hoàn hảo, khó khăn khi phải nhận diện ra ai là người đang nói chuyện với chúng, chỉ hiểu được khoảng 10 ngàn từ (nếu người ta nói chuyện thật chậm rải và rõ ràng), và chúng nói với một giọng khá khàn khàn. Còn nữa, những máy móc thông minh nầy chỉ mới xuất hiện trong khoảng 15 năm nay thôi – và chúng đã đạt được một mức độ phức tạp khả dĩ có thể so sánh với các loại côn trùng – trong khi con người là sản phẩm của hàng nhiều triệu năm trong quá trình tiến hóa! Hình ảnh nầy của những máy thông minh có lẽ không mấy thuyết phục, nhưng nó không phải bị giới hạn bởi những nghiên cứu hiện thời chỉ trong khuôn khổ sự thông minh nhân tạo.

Chúa và sự sống trong không gian:

Nếu chúng ta chấp nhận giả thiết sự sống và ý thức đã phát sinh một cách tự nhiên trên địa cầu, mà không có sự can dự của thần thánh, chúng ta cũng phải thấy được khả năng hiện hữu của những hình thức thông minh khác ở đâu đó trong vũ trụ. Sau cùng, vũ trụ mà ta quan sát được chứa đựng hàng 100 tỉ thiên hà, mỗi thiên hà lại gồm hàng 100 tỉ ngôi sao. Nếu mỗi ngôi sao, như mặt trời của chúng ta, có khoảng 10 hành tinh, thì tổng cọng số hành tinh trong vũ trụ sẽ lên tới một con số khủng khiếp, 100 ngàn tỉ tỉ (10)*23. Tại sao chỉ có một mình hành tinh của chúng ta mới hàm dưỡng được sự sống? (Tuy nhiên, điều nầy tỏ ra có lý, chừng nào chúng ta chỉ khảo sát những hành tinh trong Thái Dương Hệ. Sự phát hiện ra Thổ Tinh (Mars) – là một hành tinh, sau địa cầu, thích hợp nhất cho sự sống như chúng ta đã biết - nhờ vào việc những con tàu thăm dò vũ trụ Viking của Mỹ đã không tìm thấy người Hỏa Tinh, hay đương nhiên là bất cứ một sinh bào nào.) Tại sao những bật than tiến hóa phức tạp như vậy đã chỉ phát triển trên một mình trái đất? Sự thể càng trở nên không chắc chắn, và cái bóng ma của Copernicus càng làm cho cái ý tưởng nầy đáng được quan tâm hơn. Đã có sự tranh luận sôi nỗi về đề tài nầy. Một số người nghĩ rằng chúng ta hiện diện cô đơn trong vũ trụ vì chúng ta không hề bắt được một lời nhắn nào từ vũ trụ. Những ngừoi khác có thể cải lại rằng tại vì chúng ta chưa có đủ kỷ thuật hay sự hiểu biết để ghi nhận và giải mã được những lời nhắn từ các tinh tú ngoài không gian, hay có thể những hình thức sống trong không gian không có mong ước liên lạc với chúng ta, họ đang quan sát chúng ta từ xa, như người trên cao đang nhìn xuống đàn súc vật trong các chuồng ở một sở thú. Sự thiếu vắng dẫn chứng không phải là dẫn chứng cho sự thiếu vắng.

Sự hiện hữu của những nền văn minh trrong vũ trụ, trong mọi trường hợp, sẽ đưa ra nhiều câu hỏi về thần học tuyệt vời hấp dẫn, đặc biệt là với tôn giáo Ky-tô[5]. Tôn giáo Ky-tô đoan chắc rằng chúng ta thừa kế “tội tổ tông” từ đời Adam và Eve. Một chủng loại nào đó trong không gian, đã phát triển trên một tinh cầu khác, tất không phải chịu sự thừa kế nầy. Có phải mọi thành viên của chủng loại nầy đều vô tội? Mặt khác, Chúa đã gởi Con trai, Jesus Christ, xuống địa cầu để chuộc tội cho con người. Vậy phải có cả mớ Jesus Christs vũ trụ thăm viếng từng hành tinh phì nhiêu để mang sự cứu rỗi đến tất cả chủng loại đã phát triển ở trên đó? Những câu hỏi nầy có thể trở nên rất ngây ngô khi mới được nghe thấy, nhưng lại là những câu hỏi mà các nhà thần học sẽ phải đối diện nếu mai nầy chúng ta liên lạc được với những nền văn minh khác trong vũ trụ.

Giordano bruno đã đưa ra những câu hỏi nầy từ lâu, hồi 1600 sau Kỹ nguyên, khi ông ta triển khai cái ý tưởng về một vũ trụ không giới hạn, chứa đựng vô số thế giới, cư ngụ bởi vô số hình thức sự sống khác nhau, mà tất cả đều tuyên dương về sự sáng lạn của Chúa! Tuy nhiên, Nhà Thờ, thay vì cố gắng giải quyết vấn nạn, thì đã chọn con đường làm cho ông Bruno phải câm nín bằng cách cáo giác ông phải bị đốt chết trên đống củi.

Đánh cuộc cuối cùng:

Khoa học không gian hiện đại đã thay đổi sâu xa ý nghĩ của chúng ta về đặc tính của không gian và thời gian, về nguồn gốc vật chất, về sự tiến hóa của sự sống và ý thức, về trật tự và vô trật tự, và nhân quả và sự khẳn quyết. Nó đã tấn công tới các vấn đề mà trong nhiều năm đã dành riêng cho tôn giáo, và đã ném một luồng ánh sáng hoàn toàn mới lạ lên những vấn đề nầy. Khi tấn công vào bức tường bao bọc sự thật lý thể với những dụng cụ dũng mảnh của những định luật vật lý và toán học, những nhà thiên văn và những nhà vũ trụ học đã tự minh định lập trường trực diện đối kháng với các nhà thần học.

Trong cái nhìn đầu tiên, vật lý học hiện đại hình như đã xóa bỏ sự cần thiết của Chúa Trời. Cả hai lý luận biện dẫn cho sự hiện hữu của Chúa không còn giá trị nữa. Biện minh về một nguyên do đầu tiên đã mất đi sức mạnh, vì thuyết về sự bất định lượng tử đã xóa bỏ tính xác định trong thế giới hạ nguyên tử. Biện minh về Chúa như là một thợ làm đồng hồ, hóa công của sắc đẹp, tính có tổ chức, và tính phức hợp trong vũ trụ, không còn “không thể sai lầm” được nữa. Trật tự có thể hiện hữu ở những ốc đảo trong sự bao la của vũ trụ vắng bóng bàn tay thần thánh, nếu sự vô trật tự hiển hiện ở nơi khác. Các vì sao, nhờ tỏa ra phóng xạ ở nhiệt độ cao, vào vũ trụ, nguội dần qua sự trương nở của nó, là những căn nguyên của những vô trật tự. Sự sống và ý thức có thể xâm nhập vào vật chất mà không cần có một khai sáng có tính thánh thần nào, vì chưng chúng chỉ là những hiện tượng có tính tập hợp hay tổng thể.

Đúng là vẫn còn một nghi ngờ. Như chúng ta đã từng thấy, sự tiến hóa của vũ trụ đã phải được hiệu chỉnh một cách thật là chuẩn xác để dẫn đến sự hiện hữu của chúng ta ngày nay. Nếu những hằng số căn bản, những điều kiện ban đầu, hay những định luật vật lý đã thay đổi, cho dù bởi một phần nhỏ nhất, chúng ta có thể đã không có ở đây để mà bàn đến nó. Sự thai nghén của toàn thể vũ trụ có thể được giải thích bằng những định luật tự nhiên - những định lụât riêng rẻ mà các vật lý gia hy vọng bằng cách nào đó sẽ gọp chung lại thành một siêu định luật duy nhất, một nguyên tắc tổng hợp toàn thể - nhưng vẫn còn tồn tại những vấn đề quan trọng về việc điều chỉnh các trị số những hằng số vật lý, và tìm ra cho bằng đựoc những định luật (hay những nguyên tắc) tổng thể. Đối diện với hoàn cảnh nầy, có thể chỉ có hai thái độ. Chúng ta có thể đưa vào một thể siêu nhiên, làm tác gỉa cho những định luật nầy, và ông ta đã họach định và điều tiết mọi sự vật một cách chuẩn xác; bằng không chúng ta có thể kết luận chắc chắn về phần may rủi (hay cơ hội – chance), bằng cách đưa vào nguyên lý về nhiều vũ trụ song hành. Theo thuyết nầy, có thể có hằng hà sa số vũ trụ, thể hiện từng tổ hợp của những hằng số và định luật vật lý. Đa số những vũ trụ nầy sẽ gồm những tổ hợp tan rả dần và cũng có lẽ cằn cổi. Vũ trụ của chúng ta, may mắn, có môt tổ hợp thắng lợi, và chúng ta đã trúng số độc đắc. Cái có vẻ được hiệu chỉnh chuẩn xác không gì hơn là một sự trùng hợp đơn thuần.

Chúng ta nên chọn thái độ nào? Trực diện với sự mâu thuẩn nầy, khoa học gia, bất kể tất cả kiến thức của họ, tự tìm thấy chính mình hết sức ngở ngàn và cũng thiếu sót như những người hàng xóm của họ vậy. Khoa học không giúp được gì khi nó là một câu hỏi về “đức tin”. Khoa học gia phải cân nhắc về những sự rủi ro và quyết định sự dấn thân của họ. Họ phải đánh cuộc, cũng như Pascal đã làm. Riêng ông Thuận, ông sẳn sàng để đánh cá cho một đấng thiêng liêng (!? – Riêng trong đoạn nầy, tác giả đề cập đến cái suy tư rất thường xuyên của một triết gia, khoa học gia, hay ngay cả một hành giả, cái ước mơ về một nguyên tắc đơn sơ cho mọi vấn đề, để con người và cả tác giả, tránh được cái vòng lẩn quẩn của khổ lụy tư duy. Hoàn toàn không có nghĩa là tác giả đã thực sự có một lựa chọn, vì sự chọn lựa như vậy sẽ làm cho tác giả mâu thuẩn với chính mình trong toàn bộ đề tài. Một lý do đơn giản khác là, một chọn lựa dứt khoác sẽ chấm dứt mọi suy tư, tìm hiểu, đó là cái nghịch lý lớn nhất của một triết gia hay một nhà khoa học, và nhất là một hành giả - PND). Giả thiết về vô số vũ trụ trong tưởng tượng, không kiểm chứng được, vi phạm vào cái cảm tính của ông Thuận về sự đơn giản và tiếc kiệm. Không cần đi quá xa như một triết gia Hoa kỳ, Karl Popper, mà theo ông, “cái gì không thể quan sát được hay không thể phủ nhận được đều ở vào lãnh vực của ảo thuật và phép lạ, nhưng không thuộc vào phạm trù của khoa học   [6].” Ông nhận thấy gỉa thiết về vô số vũ trụ, tất cả đều không sẳn sàng cho mọi sự khảo sát, hơi thiếu bảo chứng. Và, bên cạnh đó, ông muốn có một ý chí tự do. Trong một thế giới của những vũ trụ song hành, mọi sự có thể xảy ra thì xảy ra. Gỉa dụ vào một buổi tối thứ Sáu, ông có sự chọn lựa giữa việc đi xem ci-nê và ở nhà xem TV. Thuyết đa vũ trụ nói rằng ông làm cả hai. Vũ trụ và ông tốt hơn nên được phân cách. Trong một vũ trụ, ông sẽ đi xem ci-nê, và trong một vũ trụ khác ông sẽ ở nhà. Bởi vì khi mọi tình huống đều xảy ra, thì không còn có sự chọn lựa nữa. Trong một thế giới có nhiều vũ trụ song hành, tội nhân sẽ có cơ hội khẩn cầu lòng nhân từ của bồi thẩm.   [7] Các định luật nhiệt động học bắt buộc hắn phải thú nhận tội ác. Nếu hắn không thú nhận sự phạm tội trong vũ trụ nầy, hắn chắc chắn phải thú nhận tội gấp đôi trong một vũ trụ song hành. Cuối cùng, đánh cá trên sự may rủi ngầm chứa sự vô nghĩa và tuyệt vọng, như là chứng kiến những tiếng khóc của sự khốn cùng bởi Monod và Weinberg. Tại sao không, và vậy thì, nên đánh cá trên ý nghĩa và hy vọng thì hơn.

 3- Phỏng dịch theo:  The Quantum and The Lotus

Mathieu Ricard & Trinh Xuan Thuan – Crown Publishers, New york, 2001

Quang tử và Hoa Sen

Kết luận của các tu sĩ Phật Giáo – từ trang 267:

Nhiều người nghĩ rằng mọi cố gắng đem khoa học và sự duy linh (tinh thần) lại với nhau là chuốc lấy thất bại. Một số người cho rằng duy linh là mánh khóe đánh lạc hướng, người khác quan niệm rằng khoa học thì quá vật chất, vài người lại thấy rằng hai phạm trù không hề có thể so sánh được. Sự khước từ nầy trong việc tìm ra những tương đồng giữa chúng dẫn đến chỗ cho rằng có những hàng rào ngăn cách không thể vượt qua được giữa kiến thức và kinh nghiệm, chủ thể và đối tượng, hay vật chất và ý thức. Sự biện biệt nhị nguyên nầy thật dai dẳng ương ngạnh và tạo ra những biên giới không cần thiết. Vì rằng công phu thiền định không mâu thuẩn với dòng chính của khoa học thực nghiệm, mà ngược lại còn có ý nghĩa bổ sung những ưu tiên cho những phạm trù kiến thức và những phương pháp được dùng để đạt đến những hiểu biết nầy.

Những sự kiện quan trọng trong đời sống không phải là khối lượng tin tức chúng ta có thể góp nhặc, mà là những câu trả lời cho các câu hỏi như, tại sao chúng ta sống? tại sao chúng ta chết? tại sao chúng ta phải chịu khổ? tại sao chúng ta vui sướng? tại sao chúng ta yêu thương? tại sao chúng ta oán ghét? Điều nầy làm cho ta băng khoăn rằng đối tượng nghiên cứu của chúng ta có đưa đến những giải đáp nào chăng, và có thực sự xứng đáng với cái ân huệ về thời giờ mà chúng ta đã cống hiến cho nó.

Trong khoa học, những câu hởi đó liên quan đến hai lảnh vực: Sự nghiên cứu căn bản và những ứng dụng của nó. Mục tiêu của việc nghiên cứu căn bản là để diễn tả và giải thích thiên nhiên một cách khách quan. Đây có thể là một phương án tuyệt diệu, nhưng sự tò mò của chúng ta về cách cấu tạo hóa học của các vì sao, hay các chủng loại côn trùng, chắc chắn phải được xếp hạn thứ yếu sau những câu hỏi về sự hiện hữu của chúng ta. Nếu nghĩ đến những lúc sống có nhiều ý nghĩa nhất trong cuộc đời, thường chúng ta nói đến tình yêu đôi lứa, tình bạn, sự diệu ngọt, sự vui thú, cái đẹp của một phong cảnh thiên nhiên, sự an hòa trong nội tâm, hay lòng từ thiện. Khoa học chỉ đơn thuần quan tâm đến các hiện tượng bên ngoài, không mấy liên quan gì với những sự kiện nầy.

Còn với những ứng dụng khoa học, thường chúng liên hệ đến vấn đề sức khỏe, ước vọng, sự tự do trong hành động và tìm sự thỏa mái. Giờ đây chúng ta sống khá lâu hơn. Chất lượng tổng quát của đời sống được liên tục phát huy, bất kể đến những dị biệt ($2,765 mỗi năm cho mỗi người Mỹ trong các chương trình bảo vệ sức khỏe công cọng cũng như tư nhân, những chỉ có 3 đô la cho mõi người Việt Nam). Nếu sự tự do về của cải của chúng ta, tiện nghi vật chất của chúng ta, khả năng tác động trên thế giới của chúng ta đã liên tục phát triển, thì rất nhiều môi thái khác của sự sinh tồn của chúng ta đã bị hao mòn đi. Chúng ta đã làm ô nhiểm hầu như tất cả những gì mà chúng ta có thể, và những đại nạn mới đang chờ đợi hành tinh của chúng ta, cũng như mọi sinh vật trên đó. Có phải cái tín điều về sự phát triển liên tục của kỷ thuật và kinh tế thật sự đã xứng đáng với sự dấn thân của chúng ta? Chúng ta cần tập trung suy nghĩ về việc tín điều nầy đã tạo ra nhầm lẩn giữa cái gì có thể làm và cái gi chúng ta mong muốn.

Chỉ khi nào khoa học chịu rủ bỏ hoàn toàn mọi kỳ vọng về khả năng hiểu biết được hết mọi sự bằng mọi cách, thì nó mới thực sự có thể làm được những bước tiến ngoạn mụ về phía trước. Bằng cách tập trung vào những hiện tượng thiên nhiên, khoa học đã tìm ra những phương thức hữu hiệu để phát kiến, đo đạt, và mô tả chúng, và rồi thì tác động lên chúng. Giờ đây chúng ta đã có biết bao nhiêu kiến thức thuộc loại nầy, và đôi khi với cái bao la đó, nó làm cho chúng ta quên mất rằng khoa học thực sự vẫn chưa có khả năng trả lời những câu hỏi căn bản về sự hiện hữu. Nhưng đó không được coi như dấu chỉ của sự thất bại, vì rằng khoa học đã lại vạch rõ phạm trù nghiên cứu và những gì nó có thể làm. Làm cho chúng ta hạnh phúc hay đem lại hòa bình chung quanh chúng ta chưa bao giờ là mục tiệu của nó.

Khoa học nghiên cứu những mục tiêu quan sát được, và những lý thuyết vật lý giải thích ít nhiều chính xác những hiện tượng qua sự quan sát. Niels Bohr viết, “Trách vụ của khoa học là cả hai, vừa mỡ rộng kinh nghiệm của chúng ta, vừa thu hẹp nó lại theo một trật tự nào đó,” [8] “Trong cách diển tả của chúng ta về thiên nhiên, mục địch không phải là để phô diễn cái ý nghĩa thực của các hiện tượng, mà chỉ là để tìm ra, nhiều chừng nào có thể được, sự liện quan giữa những thể loại đa dạng trong kinh nghiệm của chúng ta.” [9] Vậy thì không có cách nào mà khoa học có thể hiểu được hết toàn bộ thiên nhiên, như người ta đã từng có lúc hy vọng. Phương pháp khoa học chỉ đưa đến một cách khái quát một hệ thống diển dịch, cho phép chúng ta mô tả hiện tượng và tiên đoán những đặc tính thực nghiệm của chúng.  Khoa học cuối cùng đã vượt qua được vài cảng ngại, đã chứng tỏ rằng đặc tính của sự thật không giống như có khi người ta đã suy nghĩ. Những chướng ngại quá quắc nầy, đã được giải tỏa bởi khoa cơ học lượng tử và thuyết tương đối, đã đưa khoa học đến chỗ bắt đầu đối thoại với Phật Giáo. Trong sự khảo sát các đặc tính siêu việt của các hiện tượng thiên nhiên và của tâm linh, như là một bước tiến gần đến sự sáng suốt (giác ngộ), Phật Giáo có thể cung ứng vài đáp án cho tình trạng lưỡng nan của các nhà khoa học, cố gắng hóa giải sự thật biểu kiến của thế giới vi thể, với sự biến mất của các loại hạt vật chất cứng, vừa khi chúng ta đi vào trong thế giới hạt. Nhưng Phật Giáo còn đi xa hơn nữa, vì nó diễn dịch những kết luận của nó trong một thái độ rất thực tiển về sự sống.

Về phương diện kỷ thuật, Phật Giáo xem khoa học như một phương cách để xử dụng thế giới và để hoàn thành giắc mơ một ngày kia có thể thống trị nó. Khoa học căn bản là cái hiểu biết lý thuyết, trong khi kỷ thuật là kiến thức tận dụng, và khoa học thiền định là tri kiến giải thoát. Như vậy chúng có thể bổ túc cho nhau mà không hề có một mâu thuẩn nào.

Trong tâm ý của ông, phần tuyệt vời nhất trong sự đối đầu giữa khoa học và Phật Giáo là ở trong sự phân tích các đặc tính siêu nhiên của sự vật. Ông đã học được rất nhiều qua những cuộc thảo luận nầy.Chúng đã bắt buộc ông phải đối diện với những câu hỏi mới, liên hệ đến cả hai phạm trù: đặc biệt là khi đề cập đến đặc tính của tâm linh và sự tương tùy của các hiện tượng, nằm ngay ở trọng tâm của cả hai. khoa học hiện đại và kinh điển Phật Giáo. Đặc tính của tâm linh vẫn là một đề tài hấp dẫn. Có thể nào thu nhỏ nó lại trong bộ óc? Có phải nó là một hiện tượng nãy sinh từ vật chất? Có thể nó – như Phật Gáo nghĩ - chỉ phát sinh ra từ những tiền kiếp của tâm thức và tồn tại mà không cần đến một cái khung thể lý nào cả? Những thiền sư Phật Giáo nói về nhiều thứ bậc tâm thức, mà họ xác định tuỳ theo những thí nghiệm nội tâm chân thực. Phương pháp của họ xứng đáng cho những nhà khảo cứu chuyên đặt trọng tâm công trinhf của họ vào những thành tựu thực nghiệm của khoa học. Cho đến gần đây, sự thiếu vắng kinh nghiệm thiền định của nhiều nhà khoa học chuyên môn nghiên cứu sự vận hành của trí tuệ đã lạc dẫn họ trong vịec tìm hiểu đặc tính của tinh thần. Theo quan điểm của Phật Giáo, luyện tập cho trí tuệ tự tìm hiểu chính nó có vẻ như dễ tin cậy và có nhiều dữ kiện phong phú hơn, vì lẽ nó là cửa ngỏ trực tiếp dẫn đến những diển biến của tinh thần, và tính siêu việt của nó, hơn là khảo sát từ bên ngoài những hoạt động liên hệ của nảo bộ. Người ta nên tránh phải rơi vào cái lập trường cằn cổi của “những lý thuyết gia có quan điểm vật chất cực đoan” mà theo họ những trạng thái tinh thần được kinh nghiệm một cách chủ quan phải được coi như không thực có, trên căn bản là những diển tả của những trạng thái đó không hề có liên hệ gì đến ngôn ngữ của khoa học thần kinh. Mặt khác, người ta nên thúc đẩy một phương án nghiên cứu tìm cách đem hai ngành sinh vật học về tinh thần và các phép thiền định lại với nhau.

Vậy phải nói thế nào về việc đánh cuộc về sự hiện hữu của một nguyên lý tổ chức trong vũ trụ? Mọi quyết tâm để trả lời câu hỏi nguồn gốc đều bắt buộc ta phải chấp nhận một quan điểm siêu hình. Như Francois Jacob đã nói, “Một vấn đề phải hoàn toàn bị loại bỏ khỏi phạm trù khoa học: Nguồn gốc của vũ trụ.   [10] Nhưng quan niệm siêu hình không phải luôn luôn cố định như là một sự đánh cuộc, và Phật Giáo không có nhu cầu chơi trò may rủi. Trong quan niệm của Đạo Phật, chỉ có một thành tựu siêu hình cho câu hỏi về ngồn gốc, hứng khởi của nhiều nghiên cứu, là sự vắng bóng của một khởi đầu. Mọi khả năng khác đều không tránh khỏi dẫn đến một nguyên nhân không có nguyên nhân, cái gì đó vĩnh hằng, tự thay đổi chính nó, hay là từ không gì cả đã sinh ra hữu hình. Nếu chúng ta chấp nhận sự đánh cá tối hậu nầy, thì tiếp theo là phải tìm ra những đáp án cho cái hình thức mâu thuẩn đó.

Về câu hỏi của Leibniz – “Tại sao phải có cái gì đó, hơn là không có gì cả?” – ông trở lại vấn đề nầy, nó chỉ có ý nghĩa trong quan niệm của những triết gia thuần hiện thể vật chất . Nó tiền đề rằng mọi hiện tượng có một sự thật thuần chất. Xác định một nguyên tắc tổ chức sẽ không đưa ta đến đâu cả. Câu hỏi bấy giờ trở thành, “Tại sao phải có một nguyên tắc tổ chức ở đó, hơn là không có gì cả?” Trong ngôn ngữ Phật Giáo, câu hỏi nên được đặt lại thế nầy, “Tại sao phải có sự hiện hữu của bao nhiêu hiện tượng, hơn là không có gì cả?” Câu trả lời: “Vì mọi sự là trống không, mọi sự có thể xuất hiện.” Theo Phật Giáo, không hề có một sự thật vật chất rắn với một sự hiện hữu vĩnh hằng. Giác ngộ đơn thuần là một sự thức tỉnh từ một giấc mơ vô minh đã gỉa tạo một sự thật vĩnh cửu của đối tượng.

Ông ghi nhận rằng, “Theo những quan sát cuối cùng của ngành thiên văn, vũ trụ hình như không có đủ chất liệu để làm dừng lại sự chuyển động trương nở của nó. Kiến thức hiện nay của chúng ta vậy là hình như phải loại bỏ cái khái niệm về một vũ trụ luân chuyển.” Nhưng mà câu hỏi nầy vẫn còn lâu mới được giải đáp. Khoa học gia liên tục đưa ra những khái niệm mới. Một tờ báo phổ biến ở Pháp, tờ Science et Vie,  đề xướng trong số tháng Một năm 2000, thuyết “Tiền-Nổ Lớn” (Pre-Big Bang). Trong đó, các khoa học gia đưa ra quan điểm cách mạng về vũ trụ và thiên văn. Abdrei Linde nói về một vũ trụ chồng chất, trong đó những Vụ-Nổ-Lớn thỉnh thoảng xảy ra. Martin Rees khởi xướng một “Đa Vũ Trụ”, lập thành bởi nhiều vũ trụ liên tục và không ngừng tái sinh. Còn với Gabriele Vaneziano, sự nổ lớn không phải là một khơi nguyên của vũ trụ, nhưng chỉ là một sự kiện lớn trong lịch sử của nó mà thôi. Sự khác biệt nhau, mâu thuẩn nhau, và xung khắc nhau (và chắc chắn còn nhiều nữa sẽ xuất hiện) giữa những suy diển nầy chỉ chứng tỏ một tâm cảnh phòng xa một lý thuyêt thiên văn một khi nào đó có thể biện minh cho một sự khởi đầu của vũ trụ.

Trong nhận định Phật giáo, chướng quan của phương Tây – trong tôn giáo, triết lý, cũng như khoa học - đến từ một đức tin cứng ngắc về chân lý của các hiện tượng: Đối tượng thật sự “hiện hữu” như ta nhìn thấy chúng. Và vì vậy phải có một sự bắt đầu. Quan niệm nầy buộc các nhà khoa học phải dấn thân vào những hành động quyết liệt và phức tạp trong quyết tâm cải biến những kết quả của cơ học lượng tử với sự tái bảo đảm một cái nhìn về thế giới, tránh cho họ khỏi để cho cái nguyên lý truyền thống của họ phải bị đặt trong câu hỏi. Những cố gắng của các nhà vật lý để giữ vững những phương thức diển giải cổ điển nào đó (ví như sự hiện hữu trường cửu của thiên thể với những đặc tính vĩnh hằng) trở nên mâu thuẩn không tránh được với những hiện tượng mà chính họ đã phát hiện. Những khó khăn nầy không chỉ xảy ra từ sự trì trệ quán tính luôn luôn là kết quả từ sự thống thuộc vào một trường phái khoa học chuyên biệt; mà chúng còn đến từ trong sự đối khán sâu xa, bộc phát mỗi khi có sự nghi ngờ về chân lý của những hiện tượng và của phương thức quan sát chúng. Michel Bibol đã nhận xét rằng tranh luận triết lý về ngành vật lý hiện đại có vẽ như bị khống chế bởi cái chân lý tổng quát sau đây: “Một khi một diển giải hiện thực nào xuất hiện trong vật lý lý thuyết – không cần biết ra sao, chấp nhận liền.”   [11] Đã vậy, nếu các vật lý gia đưa ra những kết luận biện chứng về cơ học lượng tử, thì họ vẫn không dễ dàng thay đổi cái nhìn của họ về thế giới.

Khi nhà vật lý có giải Nobel Laureate Steven Weinberg lưu ý rằng “Tôn giáo làm cho người tốt làm điều xấu”, một đáp ứng có tính cách tín điều là, “Chỉ có tâm linh mới có thể làm cho kẻ xấu làm điều tốt.” Ngược lại với những tiêu cực mà đôi khi được lồng dưới hình thức khoa học (vài tỉ dụ về loại nầy đã được đưa ra ở chương 1), ta cũng có thể nói rằng chỉ có khoa học mới hổ trợ những con người bình thường làm ra tội lỗi dưới cái áo khoác trang trọng. Nhưng mà vậy là hình như đã chấp nhận một thái độ cực đoan của Weinberg. Có lẽ nên nói chính xác hơn là gía trị của mọi hành vi, ngay cả một hành vi đáng kính ngưỡng như khoa học và tôn giáo, hoàn toàn tùy thuộc vào mục tiiêu của chúng ta.

Ông không tin cái ông gọi là “khoa học thiền định” chỉ đơn thuần là một vấn đề của trực giác. Cái từ đó khá mơ hồ để diển tả kinh nghiệm trực tiếp về công phu thiền định, sẽ trở thành vô gía trị nếu nó không đặt trên cơ sở một nhận thức có giá trị. Ở một giai đoạn nào đó của công phu thiền, phải vượt lên trên lý lẽ, nhưng điều nầy không có nghĩa là thiền định sẽ qua mặt lý lẽ một khi đạt tới một trình độ nào đó. Nó chỉ đơn giản là vượt lên trên sự giới hạn của lý lẽ.  Ông so sánh quy trình nầy với gỉa thiết của Godel về tính không hoàn tất. Triết lý và thiền định Phật Giáo không có ý xây dựng một kiến trúc lý thuyêt lộng lẩy. Nhưng những gì họ quyết tâm làm là những thành quả có thể cảm nhận đưổc trong ý nghĩa của một sự chuyển biến nội tâm. Khyentse Rinpoche cho ta lời khuyên sau đây về đề tài nầy:

Dấu hiệu của sự thông suốt là sự tự kiểm, và dấu chỉ mà chúng ta phát huy được trong kinh nghiệm tâm linh là sự thiếu vắng của những cảm giác mâu thuẩn. Nghĩa là khi chúng ta trở nên khôn ngoan và trí tuệ hơn, chúng ta có thể đã trở thành minh mẫn, hòa diệu, và tự kiểm ở cùng một mức độ - và không ích kỹ, khoe khoan, hay kiêu căng. Liên tục kiểm thảo rằng mình luôn ulôn dùng công phu hành trì để trấn áp những cảm giác tiêu cực. Nhưng nếu sự hành trì nào dẫn đến hiệu quả ngược lại và làm tăng trưởng tinh ích kỹ, sự nhầm lẩn, và những ý nghĩ tiêu cực, bạn phải quyết tâm hơn nữa để diệt trừ nó ngay, bởi vì nó không có ý nghĩa gì cho bạn.

Nếu chúng ta phải tin vào sư chỉ dẫn của những bậc thầy đã trưởng thành, người đã từng công phu nhiều hơn chúng ta – cũng như chúng ta lắng nghe chỉ dẫn của một lái thuyền đã sành sỏi trong nghành du lịch – chúng ta phải không được chấp nhận những lẽ thật chỉ vì chúng đã được phát ngôn bởi người nào đó mà ta kính trọng. Gía trị của những lời nói của Đức Phật nằm trong sự kiện mà chúng ta có thể tự kiểm chứng. Francois Jacob đã viết, “Cái nguy hiểm cho khoa học gia (và, ông thêm vào, cho hành gỉa) là không chịu đo lường những sự hạn hữu của khoa học của họ, và cũng như của kiến thức của họ. Điều nầy đưa họ tới một tình trạng xáo trộn giữa những gì họ tin tưởng và những gì họ biết. Trên hết cả, nó sẽ tạo ra một sự tự mãn răng mình bao giờ cũng đúng.”   [12]

Trong khoa học tự nhiên, những cuộc cách mạng liên tục đã chứng tỏ rằng chúng ta không bao giờ có thể chắc chắn vào sự “đúng tuyệt đối.” Bởi vậy ông dám nói rằng sự giác ngộ nội tâm cho ta một loại cảm nhận khác biệt về tính chất siêu việt của tâm thức (mind), một sự hài hòa giữa hạnh phúc và đau khổ, và chân lý của mọi hiện tượng chăng? Cảm nhận nầy đến từ một sự khai phóng nội tâm được xác định từng giây phút hiện hữu của chúng ta. Nó thể hiện như là một cảm thông bất di dịch cho thực tính của sự vật, và hiện diện trong phẩm gía con người mà tất cả chúng ta đều mong muốn.

Vì lẽ, cuối cùng, nếu chúng ta không có những phẩm gía đó, thì có nghĩa gì mà phải lo bồi đắp những hình thái trí tuệ cho đến vô tận, như những lâu đài trên hồ nước đá? Chỉ bởi vì chúng sẽ tan vào trong nước một khi mùa xuân trở lại, sự thiền định thuần tuý khái niệm, không tạo ra những thay đổi sâu đậm trong cuộc sống, và sẽ không đối diện nỗi với những phán xét về sự hiện hữu.

Theo Phật Giáo, sự cảm thông với cái trống không cho chúng ta lòng từ bi vô bờ bến. Shabkar, một nhà tu kín Tây Tạng, đã viết:

Với lòng trắc ẩn, con người có tất cả kinh điển,

 Không có lòng trắc ẩn, người ta sẽ không có được một lời nào.

Ngay cả những người thiền định trong cái trống không

Cũng cần có lòng trắc ẩn trong cái nghĩa sâu xa của nó. [13]

Để áp dụng được ý nghĩa tìm trong kinh điển Phật Giáo, chỉ có sức nóng của lòng trắc ẩn hòa hợp với trí tuệ mới có thể làm tan biến được chất quặn trong tâm hồn, cũng như giải phóng được chất vàng khỏi thiên nhiên.

 Kết luận của các nhà khoa học – từ trang 275:

Trước khi kết thúc, ông nói rằng sự ngưỡng mộ của ông về cách phân tích thế giới hiện tượng của Phật Giáo đã tăng gia rõ rệt. Lúc bắt đầu công trình nghiên cứu nầy, ông đã vô tình hơn. Ông đã từng quen thuộc với, và rất biết ơn, phần thực hành của Phật Giáo, đã dẫn dắt ông đến sự tự hiểu biết mình, sự tiến bộ tâm linh, và trở thành một con người tốt hơn. Trong chừng mực mà ông đã biết, Phật Giáo trước hết đã là con đường đưa đến sự sáng suốt (giác ngộ), bằng công phu thiền định với ý chí hướng nội quyết liệt.

Ông cho biết rằng khoa học và Phật Giáo có những khác biệt trên căn bản và trên phương pháp tìm ra sự thật. Trong khoa học, trí tuệ và sự biện biệt giữ vai trò then chốt. Bằng cách chia chẻ, xếp loại, phân tích, so sánh, và đo đạt, khoa học diễn tả các định luật thiên nhiên trong một ngôn ngữ rất ư trừu tượng của toán học. Trực giác không bị tách rời khỏi khoa học, nhưng nó chỉ có thể cang dự một phần nếu nó có thể được lập thành công thức hài hòa trong cái nguyên tắc kết cấu toán học. Ngược lại, chính trực giác - trong kinh nghiệm bản thân - giữ một vai trò chủ định trong công phu thiền định, không chấp nhận xé nát sự thật, nhưng lại cố gắng tìm hiểu nó trong cái toàn thể. Phật Giáo không giúp gì được trong các dụng cụ đo lường, và không dựa vào những hình thức quan sát tinh vi, đã lập thành cơ sở của khoa học thực nghiệm. Những phát biểu của nó nghiêng về phần phẩm chất hơn là số lượng. Vì vậy ông cảm thấy khó mà chắc chắn rằng có mâu thuẩn nào giữa khoa học và Phật giáo. Ông e rằng Phật Giáo có quá ít vấn đề để nói về tính chất của những hiệt tượng trong thê giới. Vì đây không phải là đối tượng của nó. Trong khi đây lại là những vấn đề tiên quyết trong trọng tâm của khoa học. Nếu đây là sự thật, có lẽ chúng ta nên kết luận rằng hai luận giải không bao giờ có chung một căn bản nào.

Nhưng qua diễn tiến của những thảo luận của chúng ta, ông sớm thấy ra rằng sự e ngại của ông đã không có cơ sở. Phật Giáo không những t ư duy về đặc tính của thế giới, mà nó còn làm điều nầy bằng một phương cách sâu xa và có căn nguyên. Mục đích của nó không phải là để tìm hiểu những hiện tương trong thế giới để tự mãn, nhưng chính nhờ vào sự quán thông các lẽ thật của thế giới vật lý - sự trống không và sự tương dung – mà chúng ta quét sạch được bức màn u minh, mỡ ra con đường dẫn đến sáng suốt (giải thoát). Những thảo luận của chúng ta bấy giờ được phong phú hơn trên cả hai bình diện. Chúng dẫn đến những vấn đề mới, những cái nhìn sơ khai, những tổng hợp bất ngờ, đòi hỏi phải được nghiên cứu và phân loại thêm, và nhu cầu nầy vẫn còn tiếp tục.

Những thảo luận nầy là một phần của cuộc đối thoại đang diễn ra giữa khoa học và Phật Giáo. Vấn đề quan trọng nhất mà ông đã học được là có một sự hội tụ và cọng hưởng xác định giữa quan điểm về sự thật của Phật Giáo và khoa học. Vài cái nhìn của Phật giáo về thế giới hiện tượng đã tương đồng một cách kinh ngạc với những quan điểm căn bản của nền vật lý hiện đại - đặc biệt là, hai lý thuyết chính của khoa học: khoa học lượng tử, là vật lý của thế giới vi thể; và thuyết tương đối, vật lý của những thể cực lớn. Mặc dù Phật Giáo và khoa học có những cách nghiên cứu khác nhau trên căn bản về tự tính của lẽ thật, nhưng điiều nầy không những đã không đưa đến một tương khắc nhỏ nhoi nào, mà lại là một sự bổ sung nhịp nhàn. Đó là bởi vì cả hai đều quyết tâm chinh phục sự thật, cả hai đều dùng những phàm trù chung về giá trị, sự thành khẩn, và tính luận lý.

Tỉ dụ như, thử bàn về một trong các nguyên lý chính của Phật Giáo, nguyên lý tương tùy của các hiện tượng. Không có gì hiện hữu riêng rẽ, hay là nhân của chính nó. Một vật chỉ được xác định bằng (qua sự tương tùy của) các vật khác. Sự tương tùy là cần thiết cho sự hiện hữu của mọi hiện tượng. Thế giới không thể hoạt động được nếu không có sự tương tùy, Vậy hiện tượng chỉ có thể xuất hiện khi nó liên hệ với các hiện tượng khác. Sự thật không thể được định vị khi bị chia cắt riêng rẻ, mà phải được quan tâm như một tổ hợp hay một toàn thể.

Nhiều thí nghiệm trong vật lý nay đã hình thành dưới cái nhìn tổng thể của chúng ta. Trong thế giới nguyên tử hay hạ nguyên tử, những thí nghiệm loại EPR chứng minh cho chúng ta rằng sự thật không thể bị “phân cách.” Hai hạt ánh sáng tương tác tiếp tục hoạt động như những thành phần của một thực tại duy nhất. Mặc dầu cách xa nhau, chúng vẫn thị hiện một cách tương tác tức thời, mà không hề có sự trao đổi tin tức xảy ra. Trong thế giới tế vi cũng vậy, tính tổng thể của nó được dẫn chứng bằng quả lắc Foucault, mà đặc tính không những chỉ tuỳ thuộc vào môi trường địa phương, mà còn vào cả toàn thể vũ trụ. Những gì xảy ra trên hành tinh của chúng ta được xác định bởi toàn thể vũ trụ bao la.

Nguyên lý tương tác phô diễn rằng một sự vật không thể được xác định một cách riêng rẽ, nhưng chỉ bằng sự liên hệ với những sự vật khác. Điều nầy, thực tế, giống như quan niệm về nguyên lý tương đối của sự chuyển động trong vật lý, đã được Galileo phát biểu và rồi đựơc Einstein phát huy đến mức độ hoàn hảo. Ông Galileo nói, “Chuyển động không là gì cả.” Điều ông muốn nói là chuyển động của một vật thể không thể được xác định một cách tuyệt đối, nhưng chỉ bằng sự tương quan với chuyển động của một vật thể thứ hai. Không cách gì mà một hành khách trên tàu lửa, đang di chuyển với một tốc độ nhất định, với tất cả của sổ đóng kín, biết được bằng cách đo đạc hay thí nghiệm, rằng con tàu đang di động hay đang đứng yên. Chỉ khi nào mỡ ra một của sổ, và nhìn ra ngoài cách đồng đang lao ngược về phía sau, thì hành khách mới nhận biết.  Chừng nào mà không có cái khung hay chuẩn nào bên ngoài, thì chuyển động tương đồng với bất động. Phật Giáo nói rằng vật thể không hiện hữu riêng rẽ, nhưng chỉ hiện hữu tương liên với những vật thể khác. Thuyết tương đối nói rằng chuyển động của con tàu chỉ có, khi liên hệ với cánh đồng đang lướt về phái sau.

Thời gian và không gian đã mất tính tuyệt đối mà Newton đã gán cho chúng. Eisntein đã cho chúng ta thấy chúng chỉ có thể định nghĩa bằng sự tương thông, tuỳ thuộc vào chuyển động của quan sát viên và cường độ của trọng trường chung quanh. Ở vùng biên của một “điểm đen”, một giây (đồng hồ) có thể kéo dài vô tận. Cũng như trong Đạo Phật, thuyết tương đối dạy cho chúng ta rằng, quan niệm một quá khứ đã trôi qua và một tương lai sắp đến hoàn toàn chỉ là ảo tưởng, cho rằng tương lai của ông có thể là quá khứ của một người nào khác, và là hiện tại của một người thứ ba - tất cả tuỳ thuộc vào sự chuyển động tương đối của chúng ta. Thời gian không qua đi, nó đơn sơ thị hiện ở đó.

Quan niệm về sự dung thông trực tiếp dẫn đến ý nghĩa của sự trống không, không có nghĩa là không có gì cả, nhưng là thiếu vắng sự tồn tại đơn lẽ. Vì mọi sự việc đều tương liên, không có gì được xác định và tồn tại một cách độc lập. Khái niệm về tự tính của sự vật đã bị loại bỏ. Một lần nữa, môn vật lý hạt cũng có vài phát biểu tương đồng rất đáng kinh ngạc. Theo Bohr và Heisenberg, chúng ta không còn có thể coi nguyên tử và âm điện tử là những thực thể với những tự tính xác định, như tốc độ và vị trí; giờ đây chúng ta phải xem chúng như là những thành phần của cả thế giới được lập thành bởi những diễn tiến, và không phải là vật chất và thực thể. Đặc tính cùng tột của vật chất và ánh sáng trở thành đối tượng của những sự liên hệ tương dung. Không còn có tự tính, mà có thể thay đổi qua sự tương tác của quan sát viên và vật được quan sát. Đặc tính nầy không còn riêng biệt nữa, mà là tương dung và có tính bổ sung cho nhau (cộng nghiệp). Sự kiện mà chúng ta gọi là “vi vật thể” (particle) trở thành song, khi chũng ta không quan sát. Nhưng ngay khi chúng ta đo đạt hay quan sát, nó lại bắt đầu trông giống như vật thể. Nói về thực tại riêng biệt của vi vật thể, hay thực tại của nó khi không được quan sát, hình như không có ý nghĩa gì, vì chúng ta không bao giờ có thể kết hợp nó được. Giống như trong quan niệm Phật Giáo samskara, hay “hiện tượng”, cơ học lượng tử đã triệt để tương đối hóa quan niệm của chúng ta về một vật, bằng cách biến nó thành phụ thuộc vào sự đo lường hay, nói cách khác, nó là một hiện tượng. Hơn thế nữa, thuyết bất định lượng tử đưa ra một giới hạn khắc khe về tính chính xác khi chúng ta đo lường sự thực. Luôn luôn có một bất định về hoặc là vị trí hay là tốc độ của một hạt (hay vi vật thể). Vật thể đã mất tính vật chất.

Khái niệm về sự tương tuỳ trong Phật Giáo đồng nghĩa với sự trống không, mà chính nó lại đồng nghĩa với sự vô thường (impermanentce). Thế giới giống như là một giòng chảy rộng lớn của hiện tượng và những giòng vận động với sự tương thông và tương tác thường trực. Khái niệm về sự thay đổi thường xuyên và không ngừng hài hòa với khoa học không gian hiện đại. Thiên đàng vĩnh cửu của Aristotle và vũ trụ tỉnh của Newton không còn tồn tại nữa. Mọi sự vật đều chuyển động, biến đổi, bất thường, từ những nguyên tử tí hon cho đến toàn thể vũ trụ, bao gồm những thiên hà, tinh tú, và cả con người.

Vũ trụ trương nở vì lực tác động tiên khởi của sự nổ lớn đầu tiên. Động tính được thể hiện qua các phương trình của Thuyết Tương Đối. Với thuyết Sự Nổ đầu Tiên, vũ trụ khởi đầu một lịch sử. Nó có sự khởi đầu, hiện tại, và tương lai. Một ngày nào đó, nó sẽ chết đi trong một đám lửa hũy diệt, hay có thể trong một sự giá lạnh băng tuyết. Toàn bộ kiến trúc của vũ trụ - hành tinh, tinh tứ, thiên hà, và những đám mây thiên hà - đều chuyển động mãi mãi và chia phần trong trong cuộc khiêu vũ chung của vũ trụ bao la: Chúng quay chung quanh trục của chính mình, chạy vòng quanh, rơi vào nhau, hay tách rời nhau ra. Đến lược chính chúng cũng có lịch sử riêng. Chúng sinh ra, trưởng thành, rồi chết. Tinh tú có chu kỳ sống hàng triệu, hay cả hàng tỉ, năm.

Sự việc cũng xảy ra y như vậy cho thế giới nguyên tử và hạ nguyên tử. Ở đó cũng vậy, mọi sự đều vô thường. Vi vật thể, hay hạt, có thể biến đổi thể tính: một hạt quạc (quark) có thể biến dạng trong gia đình, hay “nhóm”, của nó, một quang tử (Proton) có thể biến thành một trung hòa tử và phóng ra một dương điện tử và một neutrino. Vật chất và đối vật chất hũy diệt lẫn nhau, để trở thành năng lượng hoàn toàn. Năng lượng chuyển động của một hạt có thể biến đổi thành một hạt khác, và ngược lại. Nói cách khác, tính thể của một vật có thể biến thành một vật. Nhờ tính bất định lượng tử của năng lượng, không gian chung quanh ta được tràn đầy một khối lượng lớn không tưởng tượng nỗi những hạt “ảo”, với những sự hiển hiện chớp nhoáng, như ma trơi. Liên tục hiện ra và biến mất, chúng là hình ảnh rất hoàn hảo của sự vô thường, với những chu kỳ sống cực kỳ ngắn ngủi.

Vậy thì sự thật có thể được ý niệm bằng nhiều cách, và nhiều phương pháp khác nhau - người hướng nội, kẻ thì hướng ngoại - vẫn có thể đi đến chung một chân lý. Phật Giáo chắc chắn nhất quán với quan điểm nầy một cách tự nhiên. Vì rằng thế giới hiện tượng chỉ có thể quan sát qua lăng kính ý thức, và biết rằng chính ý thức lại tương tuỳ với thế giới bên ngoài, đặc tính căn bản của hiện tượng không thể xa lạ với tâm thức sáng suốt của Đức Phật.

Tuy nhiên, ông vẫn còn vài dè dặt trong cách Phật Giáo với “nguyên tắc thoái hóa”, theo đó những hằng số và điều kiện đầu tiên của vật lý vũ trụ đã phải được định hướng một cách chính xác, để cho phép sự tham gia của sự sống và ý thức.

Lưu ý đến mức độ chuẫn xác nầy, ông đã đánh cá theo nguyên tắc Pascal về sự hiện hữu của một nguyên tắc tạo tác. Nguyên tắc nầy - tự thị hiện trong các định luật thiên nhiên và là lý do tại sao thế giới (vật chất) lại có được cái lý và sự thông minh (lý và khí). Lập trường nầy ngược với hành trình Phật Giáo, phủ nhận một nguyên tắc tạo tác (hay một Chúa, người thợ làm đồng hồ). Hành trình nầy quan niệm vũ trụ không cần phải được điều chỉnh để cho tinh thần hiện hữu. Vì rằng cả hai cùng hiện hữu trên căn bản, chúng không có tính đào thải lẫn nhau. Một lần nữa, tính tương tuỳ đã cho thấy một giải đáp. Trong khi ông đồng ý rằng điều nầy có thể cắt nghĩa được sự hiệu chỉnh chuẩn xác của vũ trụ, vẫn còn có vẻ quá mơ hồ đối với ông rằng nó đã đáp ứng được câu hỏi rất thực tiển của Leibniz: “Tại sao phải có cái gì ở đó, mà không là không có gì cả?” Ông muốn thêm vào, “Tại sao những định luật thiên nhiên lại là như vậy mà không là khác đi?” Tỉ dụ, có lẽ sẽ dễ hiểu hơn nhiều nếu tưởng tượng rằng chúng ta chỉ sống trong cái vũ trụ chỉ bị chi phối bởi các định luật của Newton mà thôi. Nhưng thực tế không được như vậy. Bởi vì các định luật cơ học lượng tử và thuyết tương đối đã mô tả vũ trụ mà ta đã biết.

Cái nhìn của Phật Giáo cũng tạo nên những câu hỏi khác. Nếu không có một Tạo Hóa, vũ trụ đã không thể được tạo ra. Vậy thì sẽ không có một sự bắt đầu cũng như kết thúc. Một loại vũ trụ như vậy chỉ có thể tương tự như quan niệm của một vũ trụ luân chuyển, với một dãy vô tận các vụ nổ lớn và các vụ co rút lớn. Những thảm trạng một ngày kia vũ trụ co rúm lại trong chính nó vãn còn là một hình ảnh xa vời để khoa học có thể chứng minh. Sự kiện nầy hoàn toàn lệ thuộc vào tổng cọng số lượng vật tối trong vũ trụ, vẫn còn chưa được biết tới. Theo những khảo sát thiên văn mới nhất, vũ trụ hầu như không có đủ lượng vật chất tối để có thể làm ngưng, và rồi diễn biến ngược lại với, sự trương nở. Kiến thức hiện nay của chúng ta hình như loại bỏ cái quan niệm về một vũ trụ luân hồi. Khoa học vẫn còn lâu lắm mới có khả năng khảo sắt được sự kiện cho rằng tâm linh cùng hiện hữu song hành với vũ trụ vật chất ngay từ những phần nhỏ của giây đầu tiên sau vụ nổ lớn. Vài nhà thần kinh học nghĩ rằng hoàn toàn không có nhu cầu tinh thần phải hiện diện song hành với vật chất, và chủ trương rằng tinh thần có thể tham gia vào vật chất, một khi mức độ phức hợp vượt qua một giới hạn nào đó.

Cùng được kiến tạo bằng cát bụi không gian, chúng ta chia xẻ chung một lịch sử với những con sư tử trên sa mạc và những cây li la cằn cổi trong các cánh đồng. Tất cả chúng ta đều liên hệ với nhau qua không gian và thời gian, và tương tuỳ. Chỉ một hơi thở thôi cũng đang nối kết chúng ta với tất cả những người còn lại – hàng tỉ phân tử ô-xy mà chúng ta hít vào trong mỗi hơi thở, đã từng, trong lúc nầy hay lúc khác, ở trong buồn phổi của mỗi người của hàng 50 tỉ cá nhân đã từng sinh sống trên trái đất. Hình thái vũ trụ và hành tinh nầy không những chỉ nhấn mạnh về sự tương tuỳ, mà còn cho thấy sự mỏng manh của hành tinh của chúng ta, và sự cách biệt của chúng ta trong tinh hà. Những vấn đề môi trường làm nguy hiểm cho thiên đàng của chúng ta trong cái bao la của vũ trụ đã vượt qua những biên giới chủng tộc, văn ho