posted: 8.4.2005
Trần Chung Ngọc Ngày thứ Bảy, 2 tháng
4, 2005, khoảng 4 giờ chiều, tôi đang ngồi ở phi trường IAD (International
Airport Dulles), Washington D.C., chờ lên máy bay trở về Chicago, coi trên TV thấy
tin Đức Giáo Hoàng John Paul II đã về chầu Chúa sau một thời gian ốm
đau bệnh tật. Trước chân lý sinh,
lão, bệnh, tử, các bác sĩ giỏi nhất của Giáo Hoàng cũng đành bó tay, sự
cầu nguyện của cả tỷ tín đồ Công Giáo cũng vô hiệu trước sự yên
lặng khó hiểu của Thiên Chúa, và chính Giáo Hoàng, vị đại diện của
Chúa Ki-tô trên trần (Vicar of Christ), cũng không có phép lạ để Đã sinh ra ở đời thì ai cũng phải
chết, không hề có biệt lệ. Từ khi
loài người bắt đầu xuất hiện trên trái đất cách đây vài trăm ngàn
năm hay vài triệu năm, tùy theo định nghĩa thế nào là loài người, không
có ai được miễn trừ cái chết, kể cả Chúa Giê-su và 264 vị đại diện
Chúa kế tiếp nhau cho đến GH John Paul II. Khi
xưa, Lazarus được Chúa Giê-su cứu sống sau khi đã chết, nhưng rồi cũng
lại chết, và chính Chúa Giê-su cũng đã chết và táng xác [Câu duy nhất
trong Kinh Tin Kính được coi là đúng, theo Giám Mục John Shelby Spong], tuy rằng
sau đó có nhiều người tin là Ngài đã sống lại, bay lên trời dù thời
đó chưa có hỏa tiễn để đeo trên lưng, và hiện đang ngồi trên tay phải
[on the right hand] của Chúa Cha ở trên Thiên Đường, tuy những quan niệm về
Thiên Đường thường rất mù mờ, rất khác nhau, và chẳng có ai biết nó
ở đâu. Ở trên đời có nhiều cái chết
khác nhau. Cái chết của Giáo Hoàng
John Paul II là cái chết của một vĩ nhân, theo báo chí và các phương tiện
truyền thông khác trên Mỹ quốc. Giáo Hoàng John Paul II đích thực là một
vĩ nhân, tùy theo quan niệm thế nào là một vĩ nhân của con người. Đặc biệt, đối với một số tín đồ Công
Giáo trí thức Việt Nam, Ngài tất nhiên là một vĩ nhân vì... đạn không
bắn được thủng ngực Ngài, và thuốc độc cũng không có có tác dụng
gì đối với Ngài. Thật vậy, chúng ta hãy đọc ông Nguyễn
Văn Chức, nguyên Tổng Thư Ký Liên Đoàn Công Giáo Hải Ngoại tại Hoa Kỳ,
viết trong bài Một Khuôn Mặt Siêu Việt
Trong Một Thế Giới Hữu Hạn..., đăng trong Thế Giới Ngày Nay, số 139, trang 34-50, như
sau: "Sau khi Đông Âu sụp đổ, có kẻ đã
kêu lên, bởi đâu, tại công trường Thánh Phê-rô ngày 13-5-1981 khẩu súng của Mehmet Ali Agca
đã không bắn thủng ngực được "tên
Giáo Hoàng Gioan PhaoLồ II"". Và rồi, Linh Mục Hồng Phúc cũng đã
viết trong “Lời Giới Thiệu” cuốn Bước
Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng, bản dịch sang tiếng Việt cuốn “Crossing The
Threshold of Hope” của Giáo Hoàng John Paul II, trg. 17: "Trong dịp đi thăm nhà tù Ý nơi hung thủ
(Agca) bị giam giữ, anh rất ngạc nhiên và nói: "Ông hãy còn sống ư? Viên đạn mà tôi dùng để ám sát là loại
đặc chế với thuốc độc, chỉ cần trầy da một chút cũng vong mạng, nói
gì khi xuyên thẳng vào thân thể." Thật tội nghiệp cho các tín đồ Công
Giáo Việt Đối với tôi, Giáo Hoàng John Paul II
quả thực là một vĩ nhân, không phải vì Ngài có một đức tin tuyệt đối
vào Đức Mẹ Maria [tin rằng chính bàn tay của Đức Mẹ đã dẫn viên đạn
của Mehmet Ali Agca lệch ra ngoài trái tim của Ngài]; không phải vì Ngài là
một khuôn mặt đạo đức tôn giáo siêu việt, không phải vì Ngài là vị
Giáo Hoàng có nhiều thành tích trong 26 năm trị vì giáo hội Công Giáo
toàn cầu: công du nhiều nhất, phong thánh nhiều nhất [trong số này có cả
thánh Việt Gian, Hán Gian v..v..]; cũng không phải vì Ngài có bằng tiến sĩ
Thần Học và đóng kịch giỏi [Avro Manhattan, "Murder in the Trước cái chết của vị đại diện
Chúa thứ 264 hay 265 trên trần, báo chí Mỹ và các đài truyền thông Mỹ
đua nhau loan tin là cả thế giới đang than khóc với những đầu đề: “John Paul II chết:
Dân Công Giáo và Thế Giới than khóc.” [John Paul II Dies:
Catholics and World mourn]; “Cả thế giới than khóc” [The mourning
World]; “Người Công Giáo Á Châu than
khóc cái chết của Giáo Hoàng” [Asian Catholics mourn Pope’s death]; “Người Mỹ than khóc Giáo Hoàng”
[American Mourn Pope]; “Người Mỹ La-Tinh
than khóc cái chết của Giáo Hoàng” [Latin American laments the death of the
Pope]; “Ba Lan than khóc sự mất mát của đấng
cứu tinh linh hồn quốc gia của họ” [Poland Mourns the loss of the Savior
of its national soul]; “Nhiều triệu người
ở Anh than khóc Giáo Hoàng” [Millions in Britain mourn Pope]; “Nhiều triệu người Công Giáo Gia Nã Đại
than khóc Giáo Hoàng” [Millions of Canadian Catholics mourn Pope]; “Người Do Thái và người Ả Rập than khóc
Giáo Hoàng” [Israelis and Arabs mourn Pope]; và ngay cả Mehmet Ali Agca, kẻ
sát nhân bắn “không thủng ngực Giáo Hoàng, theo Nguyễn Văn Chức” cũng
than khóc cái chết của Giáo Hoàng [Would-be assassin mourning Pope’s death]. Cả thế giới than khóc chuyến đi mà Giáo
Hoàng thường mong ước: lên thiên đường. Không thấy có một tin nào về 1 tỷ
4 dân Trung Quốc, hơn 1 tỷ dân Ấn Độ, hơn 1 tỷ tín đồ Hồi Giáo, hơn
140 triệu dân Nga, hơn 93% của 82 triệu người dân Việt Nam, và tuyệt đại
đa số dân chúng trong các nước ở Á Đông như Nhật Bản, Đại Hàn,
Thái Lan, Tân Gia Ba, Tích Lan, Miến Điện v..v.. than khóc trước cái chết của
vị chủ chăn Công Giáo La mã. Số dân chúng đông đảo này, chiếm trên
5/6 tổng số hơn 6 tỷ dân trên thế giới. Trong những xã hội Ki-tô, đặc biệt
là Công Giáo, người ta đã hết lời ca tụng Giáo Hoàng John Paul II như là
một bậc Thánh. Tất cả đều nhằm vào
mục đích trình diễn cái mặt phải của một chiếc mề-đay và cố tình
quên đi một sự kiện: chiếc mề-đay nào cũng còn có mặt trái. Thật vậy, người ta ca tụng Ngài là
“Đức Thánh Cha” lo lắng phục vụ dân nghèo và quên rằng Ngài sống
trong nhung lụa, thường ăn bít-tết, uống sâm banh, ngồi trên đống tài sản
ước định trên 1000 tỷ đô-la, trong khi mỗi năm trên thế giới có khoảng
10 triệu trẻ em dưới 5 tuổi chết vì thiếu dinh dưỡng và những bệnh tật
có thể phòng ngừa, và hàng ngày ở Phi Châu con chiên của Ngài chết đói
dài dài; là một Giáo Hoàng thánh thiện, có sức quyến rũ, và hòa ái
(holy, charismatic, and gentle) và quên rằng Ngài đã gọi các Mục Sư Tin Lành
truyền đạo ở Nam Mỹ là “Những con
chó sói đói mồi” (ravenous wolves) đến cướp đi tín đồ của Ngài;
là người đã từng khuyên các con chiên một câu có nhiều tính cách xách
động hơn là đạo đức: “đừng có sợ”
(be not afraid), và quên rằng đi đến đâu Ngài cũng luôn luôn ngồi trong
cái Popemobile có lồng kính chắn đạn; là người có công làm sụp đổ chế
độ độc tài Cộng Sản ở Ba Lan và quên rằng cấu trúc quyền lực
Vatican là một cấu trúc độc tài bậc nhất; là người rất quan tâm đến
giới trẻ và có nhiều ảnh hưởng trên giới trẻ, đi đến đâu cũng thấy
ông ta ôm trẻ con, hôn trẻ con, ban phép lành cho trẻ con, và quên rằng
Ngài đã bưng bít, bao che cho hàng ngàn linh mục can tội cưỡng dâm nữ tu,
trẻ phụ tế và nữ tín đồ; là người
giữ chức quán quân về chủ trương hòa hợp tôn giáo (champion of ecumenism)
và quên rằng Ngài là tác giả cuốn “Crossing
The Threshold of Hope” trong đó Ngài đã xuyên tạc và hạ thấp Phật
Giáo cũng như các tôn giáo khác, và quên rằng Ngài đã chấp thuận để
cho Vatican, ngày 5 tháng 9, 2000, tung
ra tuyên ngôn “Dominus Jesus” dài 36 trang, trong đó
có hai điểm trịch thượng, gây sự bất mãn trong các tôn giáo khác như
sau: 1. “.. như là một phương tiện đưa đến sự
cứu rỗi, những tôn giáo phi-KiTô thiếu sót một cách trầm trọng”
(..non-Christian religions are gravely deficient as a means of salvation) 2. “Giáo hội Công Giáo La Mã là phương tiện
duy nhất đem đến sự cứu rỗi cho toàn thể nhân loại” (The Roman
Catholic Church is the only instrument for the salvation of all humanity). Phê bình bản tuyên ngôn trịch thượng
này, Giáo sư Thần học Công Giáo nổi tiếng trên hoàn cầu, Hans Kung, đã
đưa ra một nhận định vô cùng chính xác: bản tuyên ngôn là “một sự pha trộn của tính chất lạc hậu
thời Trung Cổ và Tâm Lý Bệnh Hoạn về Những Ảo Tưởng Hão Huyền về
Quyền Lực hay Toàn Năng của Vatican” (A mixture of medieval backwardness and
Vatican megalomania). [Megalomania = A psycho-pathological condition in which fantasies
of wealth, power or omnipotence predominate] Và Mac Kher trong www.nycny.com cũng đã đưa ra nhận xét: “Trong khi tham gia một cuộc họp của các
tôn giáo khác nhau, Giáo Hoàng nói về đối thoại, sự hiểu biết, và sự
đoàn kết giữa các tôn giáo. Ngày
hôm sau, ông ta nói ngược lại, nhấn mạnh Ki-tô Giáo là tôn giáo chân thật
duy nhất, và kêu gọi tín đồ đi cải đạo Á Châu. Đây là thái độ đạo đức giả và cố
ý lừa dối một cách tệ mạt nhất”
(While attending an inter-faith meeting, the Pope talked about dialogue,
understanding, and solidarity between religions. The next day he reverted back to his
insistence on Christianity as the only true
religion, and gave a call to convert Trước sự tràn ngập những thông tin
một chiều về Giáo Hoàng John Paul II, một số người Mỹ cũng đã cất
lên tiếng nói của mình về những mặt tiêu cực của Giáo Hoàng. Sau đây là vài tiếng nói điển hình: Bob Schwartz ở “Truyền
thông đại chúng có đầy sự tôn sùng bợ đỡ một người mà, qua các
hành động, thực ra là một kẻ thù kiên quyết của nhân quyền. Tuy
được ca tụng về vai trò của ông ta trong việc “lật nhào cộng sản”,
giáo hoàng chỉ nói suông về nhân quyền
và gãi sơ ngoài mặt về sự quá độ của tư bản, trong khi dẹp bỏ nền
thần học giải phóng ở Châu Mỹ
La-tinh – tư bản là phương tiện mà giáo hội dấn thân vào những cấu
trúc để bóc lột dân nghèo khổ và không quyền hành. Karol
Wojtyla tuyên chiến không những với đồng giống luyến ái nhưng trong những
năm cuối của triều đại ông, ông ta đã chống những người đồng giống
luyến ái bằng những lời nói ác nghiệt nhất, lên án sự nuôi con nuôi của
những cặp cùng giống là sự bạo hành đối với trẻ con. Có
vẻ như (đối với John Paul II), những người đồng giống luyến ái chứ
không phải là những linh mục cưỡng dâm trẻ con chính là kẻ thù của trẻ
con.” (The media have been filled with fawning
reverence for a man who was in actions a committed foe of human rights. While praised for his role in “toppling
communism” the pope paid only lip service to human rights and scratched at the surface
of capitalist excess, while destroying the theology of liberation in Latin America – the
means by which the church engaged the structures of exploitation and its attendant
powerlessness and poverty. Karol Wojtyla declared war not only on
homosexuality but in the last years of his rule railed against civil quality for gays in
the harshest terms, calling same-sex adoptions violence against children. Gays, it seems, not predatory priests, are
the enemies of children.) Gerald Mulderig ở “Từng
đợt những ca tụng giáo hoàng khi ông ta qua đời có khuynh hướng che dấu
sự kiện là dưới triều đại của ông ta, Giáo Hội Công Giáo đã đi vào
một thời kỳ suy thoái rõ rệt làm cho nhiều
người Công Giáo như tôi rất khó chịu. Càng
ngày càng có nhiều giáo xứ và trường học Công Giáo bị dẹp tiệm. Nhiều tu viện đã bị đóng cửa, và sự
thiếu hụt các linh mục đang trở thành khủng khoảng. John
Paul II không quan tâm gì đến vụ xì-căng-đan tệ mạt nhất trong thời
gian gần đây (vụ nhiều linh mục cưỡng dâm nữ tu, trẻ phụ tế và nữ
tín đồ) cho đến khi ông ta không thể lờ đi được nữa, và rồi thay
vì trừng phạt các giám mục trong nhiều năm đã bao che các linh mục can tội
cưỡng dâm trong các giáo khu của họ, ông ta đã bỏ qua hoặc ban thưởng
cho họ (Hồng Y Bernard Law ở Boston, từ chức trong ô nhục và rồi được
trao cho một chức vụ thoải mái ở Rô-ma trong khi những giáo khu của ông
ta phải trả nhiều triệu đô la để dàn xếp các vụ kiện các linh mục
loạn dâm ở dưới quyền ông ta). Những
nhà viết sử trong tương lai viết về triều đại của giáo hoàng John Paul
II chắc chắn sẽ phải lắc đầu trước những lời ca tụng mù quáng
đang thốt lên để tưởng niệm giáo hoàng.” (The flurry of praise for the pope at his
passing has tended to obscure the fact that under his papacy the Catholic Church has
entered a period of apparent decline that is troubling to many Catholics like me. Catholic parishes and schools are closing at
an accelerating rate. Convents have long been
shuttered, and the shortage of priests is becoming dire. John Paul II ignored the worst scandal in the
church in recent times until it could no longer be ignored, and then rather sanction the
bishops who for years covered up clergy abuse in their dioceses, he excused or rewarded
them (Cardinal Bernard Law of Boston, for example, resigned in disgrace and then was given
a confortable appointment in Rome while his former dioceses was left to pay out millions
to settle lawsuits stemming from abuse charges during his tenure). Future historians who write the story of his
papacy will likely shake their heads in wonder at the blind praise now being offered to
his memory.) Và E. Alfred Johnson Jr. ở “Tình
cảm buồn khổ và thương yêu đã bắt đầu đổ ra dạt dào cho giáo
hoàng vừa qua đời, và biến mất trong đó là những thất bại của ông
ta. Chúng
ta, những người toan tính tôn ông như một vị thánh, không nên quên những
thất bại của giáo hoàng. Chúng
ta không được quên là giáo hoàng đã thất bại trong vấn đề không cho
phép đàn chiên của ông ta dùng các phương pháp ngừa thai để ngăn chặn
sự tăng gia quá độ dân số trên thế giới hoặc chỉ đơn giản là dùng
để phòng ngừa trước cơn khủng khoảng của bệnh AIDS. Chúng
ta không được quên là trong thời trị vì của Giáo hoàng, ông ta đã từ
chối không cho phép phái nữ được làm linh mục, nghĩa là không chấp nhận
quyền bình đẳng của phụ nữ trong giáo hội. Chúng
ta không được quên là dưới triều đại của Giáo Hoàng John Paul II, vấn
đề linh mục cưỡng bách tình dục trẻ con trên khắp thế giới vẫn xảy
ra mạnh mẽ và hầu như không bị trừng phạt. Chúng
ta không được quên là ông ta không phải là một thiên chúa, không phải
là một ông thánh và những việc làm tốt của ông ta, dù lớn lao, cũng phải
coi nhẹ đi vì sự mù quáng của ông ta trước những vấn đề nghiêm trọng
trên và những vấn đề khác. Di
sản của ông ta thì bị ô uế bởi những thất bại trong vấn đề bảo vệ
và cải tiến đàn chiên của ông ta.” (The outpouring of grief and love has begun
for the late pontiff and lost in it will be his failings.
We should not forget those failings as people attempt to canonize him. We must not forget the pope’s failings on
the issue of refusing to give his flock the OK to use contraception to prevent either
population boom or simply to be used in the face of the then new and massive long-term
AIDS crisis. We must not forget that during his reign he
refused to give women equal rights within the Church in terms of allowing them to be
priests. We must not forget that it was during pope
JPII’s tenure that child molestation went on unabated and practically unpunished all
over the world. We must not forget that he was not a god, not
a saint and that all of his good, great though it is, must be tempered by the blind eye he
turned toward these critical issues and others. His legacy is tainted by all of these
failures to protect or improve his flock.) Những điều nhận định điển hình
về Giáo Hoàng John Paul II như trên không sai, nhưng hầu như quảng đại quần
chúng, nhất là tuyệt đại đa số các tín đồ Công Giáo không biết đến
những sự thật này. Và do đó, trên
diễn đàn thế giới Tây phương, Giáo Hoàng John Paul II luôn luôn chiếm
được một vị thế cao cả. Tuy nhiên, không phải là ngày nay người
ta mới biết đến con người thực của John Paul II. Cách đây nhiều năm, khi được hỏi ý kiến
về vị thế cao cả của Giáo Hoàng trong lãnh vực chính trị quốc tế và
ảnh hưởng những ý kiến của Ngài đối với các tín đồ (What is your
opinion of Pope John Paul II's high standing in the world's political affairs, and effect
his opinions make on his followers?), Tiến Sĩ Madalyn O'hair đã trả lời như
sau: "Những phương tiện truyền thông
trong các xứ Công Giáo đều phụ thuộc Giáo Hoàng và dựng ông lên như là
một lãnh tụ danh tiếng của thế giới. Ông ta là một con người Trung Cổ, chống lại
tiến bộ và tự do, một con người nguy hiểm.
Nên lên án ông trước tòa án thế giới về những tội ác chống
lại nhân loại vì những thái độ độc đoán đối với giới phụ nữ
trong mọi quốc gia. Ông ta đã tái áp
đặt chế độ kiểm duyệt, tái lập văn phòng có tính chất xử dị
giáo, kêu gọi phụ nữ sinh sản nhiều và lệ thuộc phái nam, tố cáo khoa học và giáo dục, và không có nỗ lực nào ngăn chặn sự phát triển vũ khí hạt nhân.. Đây là một
con người hoàn toàn đáng khinh bỉ và lịch sử sẽ phán xét ông ta như vậy. Ảnh hưởng những ý kiến của ông
trên tín đồ có thể thấy rõ trong nước Mỹ, nơi đây giới phụ nữ
CaTô dùng thuốc ngừa thai nhiều hơn là những phụ nữ Tin Lành. Giới phụ nữ trong giáo hội của ông ta
coi thường ông ta trên những vấn đề như kiểm soát sinh sản và mang
thai. Trong triều đại của ông số người chọn nghề linh mục ít hơn bao giờ
hết, và số phụ nữ vào nghề nữ tu cũng ít hơn. Giáo hội Công Giáo Rô Ma cho rằng có nhiều tín đồ đông thứ nhì
trên thế giới... Vì số tín đồ đông đảo như vậy nên thế giới biết
tới ông ta chứ không phải là vì trình độ trí thức hay nhân cách của
ông ta." (The
media in the Catholic nations is subservient to the Pope and builds him as a world leader
of renown. He is a medievalist, a reactionary
and dangerous man. He should be charged in the
world court for crimes against humanity for his attitude towards and dictates to women of
all nations. He has reimposed censorship,
reinstated the inquisitional office, called women to the bearing of more children while
subjecting her to the domination of men, denounced science and education, and made no
effort to halt the spread of nuclear buildups...This is a thoroughly despicable man and
history will judge him as that. The
effect that his opinions have on his followers is amply demonstrated in the The
Roman Catholic Church alleges that it has the second largest religious group in the
world... It is the power of this many figures which gives the Pope the attention of the
media, not his intellectuality or his personality.) Thống kê cho biết, dưới triều đại
của John Paul II, hơn 100000 linh mục bỏ áo chùng thâm, trên 250000 nữ tu (sơ)
bỏ tu viện, và ở Nam Mỹ, mỗi ngày có tới 8000 tín đồ Công Giáo bỏ
Chúa Công Giáo để đi theo Chúa Tin Lành, đến độ Giáo Hoàng không tự chế
được, nên đã lên tiếng gọi các mục sư Tin Lành truyền đạo ở Nam Mỹ
là “Những con chó sói đói mồi”
(ravenous wolves) đến cướp đi tín đồ của Ngài. Và trong những chương trình phát thanh
đặc sắc nhất ở Columbus, Ohio, đài CBN và TV, (Greatest Hits from Ohio, AA
Press, Austin, Texas, 1991, p. 182), Frank R. Zindler bình luận về John Paul II như
sau: "100 năm sau, ai là người mà thế
giới cho là ác nhất trong thế kỷ 20? Chắc
các bạn cho rằng đó là Adolf Hitler. Có
thể, nhưng không hẳn vậy. Tôi nghi rằng
nếu nền văn minh này còn tồn tại 100 năm nữa thì các sử gia khi đó sẽ
đưa ra những bằng chứng bất khả phủ bác
là John Paul II là con người
ác nhất trong thời đại của chúng ta. Điều chắc là, hình ảnh của
Hitler sẽ không sáng sủa hơn chút nào qua dòng thời gian. Người ta sẽ nhớ tới y như là một người
đã giết chết nhiều triệu người vô tội.
Nhưng những tội ác của y sẽ
trở thành mờ nhạt bên cạnh danh sách những tội lỗi của John Paul II. Trong khi Hitler phạm tội dự tính diệt
chủng đối với một nhóm người đặc biệt (Do Thái. TCN), John Paul II sẽ bị kết tội dự tính diệt
chủng đối với toàn thể nhân loại. 100 năm sau, ít nhất là một tỷ nguời
sẽ sống trong những cơn hấp hối kéo dài và chết chóc vì John Paul II chống
đối sự kiểm soát sinh đẻ, phương pháp diệt trùng để khỏi sinh sản,
và phá thai. Người ta sẽ nhớ rằng John Paul II đã
đi tới những vùng đang chết đói ở Phi Châu và Nam Mỹ và khuyến khích
dân chúng ở đây gia tăng sinh sản những đứa trẻ vô tội xấu số
không tránh khỏi chết đói về sau. Người ta sẽ nhớ rằng John Paul II là
người làm tăng sự nghèo khổ của con người hơn bất cứ ai khác trong lịch
sử văn minh.. Giáo hội Ca-Tô Rô Ma đã giết trên
11 triệu người trong thời đại của những tòa án xử dị giáo, nhưng
John Paul II sẽ giết hại nhiều hơn thế trong cuộc sống của Ngài. Cái chủ thuyết diệt chủng mà Ngài phát
động sẽ còn tiếp tục giết những người vô tội trên trái đất này
dài dài trong tương lai." (A
hundred years from now, who will be remembered as the most evil man of the twentieth
century? Adolf Hitler, you say? Perhaps, but not likely. I suspect that if there is any civilization
surviving on this plundered planet a century hence, its historians will point with
irrefutable evidence to Pope John Paul II as the most evil man of our times. To be sure, Hitler's image is not likely to improve
any with age. He will always be remembered as
a man who brought about the deaths of several millions of innocent people. But his crimes will pale beside the list of sins
ascribed to John Paul II. Whereas
Hitler was guilty of premeditated genocide against particular groups of humans, John Paul
II will be charged with premeditatation of genocide against the human race itself. By
a hundred years from now, at least a billion people will have suffered extended agony and
death because of John Paul II's opposition to birth control, sterilization, and abortion. It
will be remembered that the pope went to the starving in Africa and John
Paul II will be remembered as the man who increased human misery more than anyone in the
history of civilization. The
Roman Catholic church killed over 11 million people in the course of the Inquisition, but
John Paul II will murder more than that in his own lifetime.
The juggernaut of genocide which he has set in motion will continue to crush
and kill the innocent of this earth far into the future.) Lẽ dĩ nhiên, Giáo Hoàng có quyền tin
bất cứ điều gì mà ông ta muốn tin. Nhưng
với cương vị của một vị chủ chăn, áp đặt những niềm tin cá nhân
trên đám tín đồ thấp kém bất kể đến những hậu quả có hại cho cả
cộng đồng nhân loại, thì đó là điều không thể chấp nhận. Cũng vì vậy mà không chỉ người ngoại
đạo, mà ngay cả trong đám tín đồ của ông ta cũng có nhiều người không
coi những huấn lệnh của ông ta vào đâu. Nạn
nhân của ông ta tập trung vào số giáo dân nghèo đói, kém hiểu biết ở
trên thế giới, đặc biệt là ở Phi Châu và Nam Mỹ. Với nhiều khuôn mặt khác nhau và
trái ngược nhau, với tài diễn xuất của một kịch sĩ giỏi, Giáo Hoàng
John Paul II đã tạo nên nhiều hình ảnh khác nhau trên thế giới. Nhưng không phải là Giáo Hoàng không
có những hành động can đảm thực sự đáng khen và kính phục. Và chính vì những hành động này mà tôi
coi ông là một vĩ nhân. Sau đây tôi
xin liệt kê vài hành động của Giáo Hoàng John Paul II mà tôi cho là thế
giới, nhất là những tín đồ Công Giáo Việt Nam, cần phải học tập để
mà biết rõ về cái đạo của mình. 1. Năm
1981, tòa thánh 2. Năm 1992, giáo hoàng đã công khai
nhìn nhận là giáo hội đã sai lầm trong vụ án Galileo Galilei. 359 năm về trước, Giáo hội bắt Galilei
phải sửa lại kết quả nghiên cứu khoa học của ông ta (rằng trái đất
quay xung quanh mặt trời) cho đúng với những lời “mạc khải không thể
sai lầm trong Thánh Kinh” (nghĩa là trái đất đứng yên và mặt trời quay
xung quanh trái đất), rồi giam ông ta tại gia cho đến khi chết. Sự nhìn nhận sai lầm của Tòa Thánh trong
vụ Galilei cho thấy thánh kinh sai và kéo theo vấn đề: nếu thánh kinh đã
sai về vũ trụ học thì có gì bảo đảm là thánh kinh không sai về nhiều
điều khác nữa. Ngày nay, các chuyên
gia nghiên cứu thánh kinh đều đồng thuận ở điểm là thánh kinh có rất
nhiều sai lầm cả về thần học lẫn khoa học. Điểm chính chúng ta có thể
rút tỉa từ sự kiện này là: Thánh
kinh không phải là những lời “mạc khải” không thể sai lầm của một
Thượng đế toàn năng toàn trí, như lời giáo hội vẫn thường dạy cho
những tín đồ bảo sao nghe vậy. Thực
tế cũng cho thấy rằng, trí tuệ của con người ngày nay đã vượt xa trí
tuệ của bậc “toàn năng, toàn trí” trong Thánh Kinh Ki-Tô Giáo rất nhiều.
3. Năm
1996, giáo hoàng John Paul II đã đặt chắc thẩm quyền giáo dục của Giáo
Hội Công Giáo La Mã với quan điểm là “thân
xác con người có thể không phải là một sự sáng tạo tức thời của Thượng
đế, mà là kết quả của một quá trình tiến hóa dần dần”. Ngài nói: “những
kiến thức mới nhất dẫn đến việc phải chấp nhận thuyết tiến hóa hơn
là một giả thuyết”. (Pope John Paul II has put the teaching authority of the
Roman Catholic Church firmly behind the view that “the human body may not have been the
immediate creation of God, but is the product of a gradual process of evolution.. The pope
said that “fresh knowledge leads to recognition of the theory of evolution as more than
just a hypothesis”). 4. Tháng
7 năm 1999, trước những khám phá xác tín nhất của khoa vũ trụ học, và
trước những hiểu biết của con người ngày nay về cấu trúc của trái
đất, Giáo Hoàng đã bắt buộc phải tuyên bố: "thiên đường không phải là một nơi trừu
tượng mà cũng chẳng phải là một nơi cụ thể ở trên các tầng mây”
(Heaven is neither an abstraction nor a physical place in the clouds), và “Hỏa ngục không phải là sự trừng phạt
áp đặt từ bên ngoài bởi Thượng đế, mà là trạng thái hậu quả của
những thái độ và hành động mà con người đã làm trong đời này”
(Hell is not a punishment imposed externally by God, but the condition resulting from
attitudes and actions which people adopt in this life).
Như vậy là Giáo Hoàng đã bác bỏ đức tin quan trọng nhất
trong Ki-tô giáo: Quyền năng “cứu
rỗi” của Chúa Giê-su, và hi vọng của các tín đồ Ki-tô về một cuộc
sống đời đời trên thiên đường cùng Chúa, và quyền luận phạt của
Chúa đối với nhân loại, tất cả chẳng qua chỉ là những luận điệu
thần học đã không còn mấy giá trị trong thời đại ngày nay. 5. Ngày
chủ nhật, 12 tháng 3 năm 2000, Giáo hội Công giáo La Mã đã công khai xin
tha thứ “Bảy Núi Tội Lỗi” mà
giáo hội đã tác hại trên nhân loại suốt hai ngàn năm qua. Bảy Núi Tội
của Giáo Hội Công Giáo là: Tội lỗi chung – Tội lỗi trong khi phục vụ
“ chân lý ” – Tội lỗi đưa đến sự chia rẽ giữa các tín đồ Kitô
– Tội lỗi trong sách lược bách hại dân Do Thái – Tội lỗi trong những
hành động với ý muốn thống trị kẻ khác, với thái độ thù nghịch đối
với các tôn giáo khác, không tôn trọng truyền thống văn hóa và tôn giáo
của các dân tộc nhỏ, kém phát triển – Tội lỗi trong sự kỳ thị
phái nữ, coi thường phẩm giá phụ nữ - Tội lỗi trong việc vi phạm những
quyền căn bản của con người . Từ những hành động của Giáo Hoàng
John Paul II trước thế giới như trên chúng ta có thể rút tỉa những gì? a). Chấp
nhận thuyết Big Bang, thuyết tiến hóa, chấp nhận con người không phải
là do Thượng đế tạo ra tức thời mà chính là kết quả của một quá
trình tiến hóa dần dần và lâu dài, giáo hoàng đã phá tan huyền thoại về
Adam và Eve là tổ tông loài người do Thượng đế tạo dựng từ đất sét,
và kéo theo không làm gì có chuyện Adam và Eve sa ngã tạo thành tội tổ
tông. Do đó, vai trò “chuộc tội”
và “cứu rỗi” của Chúa Giê-su Ki-tô (Jesus Christ) chỉ là những luận
điệu thần học của giới giáo sĩ Ki Tô Giáo khi xưa, được tiếp tục
đưa ra không ngoài mục đích khai thác lòng mê tín của một số người,
huyễn hoặc và khuyến dụ họ tin vào những điều hoang đường. Không
phải chỉ có Vatican cũng như vị chủ chăn của Công Giáo, Giáo Hoàng John
Paul II, không còn tin vào thuyết “tội tổ tông” và ơn “cứu chuộc”
hay “cứu rỗi” của Chúa Giê-su, mà Linh Mục của ông ta, Linh Mục James Kavanaugh, cũng đã viết trong cuốn
The Birth of God, Chương V: Nhưng đối với con người hiện đại. chuyện
hi sinh của Giê-su chẳng có ý nghĩa gì mấy,
trừ khi hắn đã bị reo rắc sự sợ hãi và bị tẩy não từ
khi mới sinh ra đời (But to modern man, it makes far less sense unless he has
been suitably frightened and brainwashed from birth). Đối với tôi (Linh mục James Kavanaugh), đó là một huyền thoại “cứu rỗi” của
thời bán khai, miêu tả một người cha giận dữ, chỉ nguôi được cơn giận
bằng cái chết đầy máu me của chính con mình.
Đó là một chuyện độc ác không thể tưởng tượng được của
thời bán khai (It is a primitive tale of unbelievable cruelty). Tôi chấp nhận sự kiện
là Giê-su đã chết, và ngay cả đã bị đóng đinh trên thập giá. Nhưng tôi không thể chấp nhận cái huyền
thoại là cái chết của ông ta là để chuộc tội cho tôi. Huyền thoại “cứu rỗi” trong Tân Ước
chỉ là một cách diễn giải. Đó là
một huyền thoại của thời bán khai, bản chất của nó giống như những
huyền thoại của các dân tộc bán khai ở khắp nơi, nhưng nó hoang đường
và ác độc hơn hầu hết các huyền thoại khác (But it is more
unbelievable and more cruel than most myths). Tôi không muốn được “cứu
rỗi” hay rửa sạch tội lỗi trong máu của bất cứ ai. Tôi được cứu khỏi cái gì? Tôi cũng không
chấp nhận huyền thoại về một Chúa Cha đòi hỏi đối xử với con của
mình là Giê-su bằng một loại công lý vô tình cảm và đòi hỏi hắn phải
chết để chuộc tội cho tôi. Cái huyền
thoại này cũng chẳng có gì hấp dẫn hơn vì ông ta đã vinh quang làm cho
con ông ta sống lại. Tôi không thể
yêu một ông Cha như vậy và cũng chẳng có gì cần phải biết ơn một đứa
con như vậy. Tôi không yêu cầu ông ta
phải chịu đau khổ vì tôi và ngay cả muốn ông ta làm như vậy. Và, Giám Mục Tin Lành John Shelby Spong
cũng đã viết trong cuốn Why Christianity Must Change or Die, pp. 98-99: Nhân
loại chúng ta không sống trong tội lỗi. Chúng
ta không sinh ra trong nguyên tội. Chúng
ta không cần phải rửa sạch cái tì vết của tội tổ tông trong lễ rửa
tội. Chúng ta không phải là những tạo
vật sa ngã, mất đi sự cứu rỗi nếu không đi rửa tội... Một
đấng “cứu thế” có nhiệm vụ khôi phục chúng ta trở về tình trạng
tiền sa ngã [nghĩa là mù và vô trí như Adam và Eve trước khi ăn trái cấm.
TCN] chỉ là sự mê tín trước thời b.)
Khi Giáo Hoàng phải thú nhận là "thiên
đường không phải là một nơi trừu tượng mà cũng chẳng phải là một
nơi chốn cụ thể ở trên các tầng mây” (Heaven is neither an abstraction
nor a physical place in the clouds), và “Hỏa
ngục không phải là sự trừng phạt áp đặt từ bên ngoài bởi Thượng
đế, mà là trạng thái hậu quả của những thái độ và hành động mà
con người đã làm trong đời này” (Hell is not a punishment imposed
externally by God, but the condition resulting from attitudes and actions which people
adopt in this life) thì “thiên đường” mà các tín đồ tin rằng là một nơi
chốn để đến ngày phán xét, Chúa cho lên ở cùng Chúa một cuộc sống
đời đời thật ra chỉ là một cái bánh vẽ trên trời, đúng như danh từ
“A Pie in the Sky” mà Mục Sư Ernie Bringas đã dùng để gọi. Mặt khác, sự sợ hãi về một hỏa ngục
mà trong bao năm qua Giáo hội Ki-tô nói chung đã nhồi nhét vào đầu óc những
người yếu bóng vía là nơi đầy đọa vĩnh viễn những người không tin
Chúa, chẳng qua chỉ là một sự hù dọa độc ác, vô trách nhiệm của giới
chăn chiên, tất nhiên không còn một giá trị nào trong thế giới ngày nay. Những người mà ngày nay còn tin vào một
thiên đường hay hỏa ngục của nền thần học lừa dối của Ki-tô Giáo
thật ra, như Linh mục James Kavanaugh đã nhận định, là những người thuộc
lớp kém hiểu biết hoặc “đã bị reo rắc sự sợ hãi và bị tẩy não
từ khi mới sinh ra đời” (has been suitably frightened and brainwashed from
birth). Hành động Giáo
Hoàng xưng thú 7 núi tội lỗi của Giáo Hội Công Giáo đối với nhân loại
không phải là một hành động can đảm như các tín đồ Công Giáo Việt
Nam có đầu mà không có óc ca tụng, vì không có ai lại đi ca tụng sự thú
tội của một kẻ phạm tội, nhất là khi không phải là một vài cá nhân
trong giáo hội phạm tội mà là cả giáo
hội Công giáo, và không phải phạm tội đối với cá nhân mà là đối với
nhân loại. Thật ra, Giáo Hoàng chẳng
qua chỉ thú nhận những tội lỗi của Giáo Hội Công Giáo mà thế giới
đã biết rõ từ lâu, và vì trước công luận thế giới, trước sự tiến
bộ trí thức của nhân loại, Giáo hội Công Giáo không có cách nào có thể
bưng bít, che dấu sự thực được nữa. Cho nên Giáo hội bắt buộc phải
đi một bước chẳng đặng đừng với hi vọng thế giới có thể chấp nhận
sự thống hối, xưng tội trống với Chúa và nhân loại của Giáo hội,
và quên đi cái lịch sử bạo tàn đẫm máu của Giáo hội, một lịch sử
đã khiến cho nhiều triệu người vô tội gồm cả nam phụ lão ấu chết
oan. Dù Giáo hội có giải
thích hành động xưng thú 7 núi tội lỗi của Giáo Hoàng như thế nào đi
chăng nữa, là hành động can đảm hay theo đúng tinh thần tự kiểm ăn
năn thống hối của Công Giáo, là để thanh tẩy ký ức hay để tiến tới
sự hòa hợp tôn giáo v..v.., các tín đồ Công giáo trên thế giới, nhất
là những tín đồ Công Giáo Việt Nam, vẫn không thể nào giải đáp được
thỏa đáng những câu hỏi như: Tại
sao một giáo hội do chính Chúa thành lập, thường tự xưng là "thánh
thiện", là "ánh sáng của nhân loại", là quán quân về
"công bằng và bác ái", được "thánh linh hướng dẫn"
v...v... lại có thể phạm những tội ác vô tiền khoáng hậu trong suốt
2000 năm nay đối với nhân loại như vậy? trong
khi các đạo khác, thí dụ như đạo Phật, thường bị Ki Tô Giáo chụp
cho cái mũ vô thần lên đầu, lại không hề làm đổ một giọt máu hoặc
gây nên bất cứ một phương hại nào cho con người trong quá trình truyền
bá trải dài hơn 2500 năm, từ trước Ki Tô Giáo hơn 500 năm? Những câu hỏi này sẽ luôn luôn ám
ảnh những tín đồ Gia Tô có đầu óc, còn đôi chút lương tri và óc suy
luận. Vì một tôn giáo mà gây ra nhiều
tội đại ác như tra tấn, tù đầy, thiêu sống v..v.., giết hại hàng chục
triệu sinh mạng vô tội, gồm cả đàn bà và trẻ con, bất cứ vì lý do
nào, thì không thể được coi là một
tôn giáo nữa. Đó chẳng qua chỉ là một
tổ chức núp sau bình phong tôn giáo để duy trì những quyền lực thế tục. Lương tâm trí thức của họ bắt họ phải
trực diện với sự thực này. Phải
chăng họ đã bị lừa dối từ bao thế kỷ nay bởi một cái bánh vẽ
trên trời mà không cần đếm xỉa gì tới vấn đề đạo đức, luân lý? Phải chăng họ đã bị nhào nặn từ nhỏ
để có một tâm cảnh vô cùng ích kỷ, chỉ ham hố một sự “cứu rỗi”
tưởng tượng cho riêng mình mà không cần biết đến cái cộng đồng tôn
giáo của mình ra sao? Phải chăng họ đã bị nhồi sọ từ nhỏ đến độ
chỉ còn có thể tin một cách mù quáng, không còn khả năng suy nghĩ để tìm
ra lẽ thật? v..v.. Nói tóm lại, qua những hành động
như thú nhận sự sai lầm của Giáo hội trong vụ án Galileo Galilei, công nhận
thuyết big bang về nguồn gốc vũ trụ, công nhận con người không phải do
Thượng đế tạo ra tức thời mà hình thành qua một quá trình tiến hóa
lâu dài, công nhận không làm gì có thiên đường trên các tầng mây cũng
như không làm gì có hỏa ngục dưới lòng đất, và xưng thú 7 núi tội lỗi
của Giáo hội đối với nhân loại, Giáo
Hoàng John Paul II đã hơn bao giờ hết cho chúng ta biết thực chất của những
niềm tin về “tội tổ tông”, “cứu chuộc”, “cứu rỗi”, “thiên
đường”, “địa ngục” v..v.. do nền thần học Ki-tô Giáo dựng lên. Những mưu toan thần học để đưa con người
vào trong vòng mê tín, tuân phục Giáo Hoàng và các “bề trên” đã không
còn một giá trị thuyết phục nào trong thời đại ngày nay nữa, cùng lúc
cho chúng ta biết bản chất của Giáo hội Công Giáo trên hoàn cầu. Tôi cho rằng đây chính là những hành động
vĩ đại của một vĩ nhân, và hi vọng các tín đồ Công Giáo Việt Nam nhận
thức được những uẩn hàm (implications) trong những hành động vĩ đại
trên của Giáo Hoàng, và từ đó có thể định cho mình một con đường tâm
linh phù hợp với những truyền thống nhân bản thiết thực của dân tộc,
và phù hợp với sự tiến bộ trí thức của nhân loại. |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com