posted: 21.4.2005
TẢN
MẠN XUNG QUANH VẤN ĐỀ JOSEPH RATZINGER ĐƯỢC BẦU LÀM GIÁO
HOÀNG Trần Chung Ngọc
Về phương diện học thuật
(scholarship) trong giới trí thức, vấn đề có khác. Người ta muốn biết giáo hoàng mới là người
như thế nào, đạo đức ra sao, có chủ trương như thế nào, vì dù sao với
gần một tỷ tín đồ, Giáo hoàng của Ca-tô Giáo Rô-Ma cũng có ảnh hưởng
ít nhiều trong cộng đồng thế giới. Bài
này chỉ có mục đích đưa lên vài nét về vị tân giáo hoàng mà tôi tin
chắc là tuyệt đại đa số tín đồ Ca-tô, đặc biệt là tín đồ “mít”,
không hề biết đến. Tờ The
Australian đã tóm tắt về cuộc đời và đức tin của Ratzinger như sau: “Ông ta có cùng quan điểm với giáo hoàng người Ba Lan (John Paul II): rằng chỉ có một Giáo hội Ca-tô thống
nhất với những giá trị tuyệt đối mới có thể chống lại chủ thuyết
toàn trị và những toan tính của chủ thuyết vật chất của Tây phương. Hồng y (Ratzinger) bị “sốc” bởi những
cải cách của Công Đồng Vatican II trong thập niên 1960, khi những đoan quyết
cổ xưa phải nhường chỗ cho sự tranh luận trí thức và tranh luận thần
học... Hồng y (Ratzinger) cũng đã mạ
lỵ Phật Giáo, Ấn Giáo và các tôn giáo Đông phương khác là đưa ra niềm
hi vọng sai lầm qua “con đường tâm linh tự thỏa dâm”, lên án giới
truyền thông là phóng đại xì-căng-đan linh mục loạn dâm với trẻ con
trong giáo hội (Ca-tô) ở Bắc Mỹ và khuyến khích trở lại dùng tiếng
La-Tinh trong lễ mi-sa” (He shares the view of the Polish Pope ...
that only a united Catholic Church with absolute values can stand against totalitarianism
and the temptations of Western materialism. The cardinal was shocked by the reforms of the
Second Vatican Council in the 1960s, when the old certainties gave way to intellectual and
theological debate. ... The cardinal has also condemned Buddhism, Hinduism and other
Eastern religions as offering false hope through "auto-erotic spirituality",
accused the media of exaggerating the extent of the pedophilia scandals in the Tại sao hồng y Joseph Ratzinger lại có
thể thốt ra những lời phê bình thô tục có thể nói là hạ cấp, vô
giáo dục, phi đạo đức tôn giáo, về Phật Giáo như vậy? Cái cốt đạo đức tôn giáo của nhiều vị
lãnh đạo Ca-tô Giáo Rô-ma nó là như vậy. Từ
xưa, Ca-tô Giáo đã coi các tôn giáo khác là thấp kém, thờ ma quỷ, và đã
đồng hành với các thế lực thực dân Tây phương, tự ban cho nhiệm vụ
mang niềm tin mù lòa tin bướng tin càn vào một người Do Thái của Ca-tô
Giáo để đi “văn minh hóa” các dân tộc mọi rợ. Ngày nay, chúng ta hẳn còn nhớ giáo hoàng
John Paul II đã lên tiếng phê bình các mục sư Tin Lành truyền đạo ở Nam
Mỹ là “Những con chó sói đói mồi.” Đạo đức tôn giáo của vị chủ chăn
Ca-tô (JPII) và phụ tá đắc lực của ông, Joseph Ratzinger, người nắm chức
vụ Bộ Trưởng “Bộ Giáo Lý Đức Tin”
(Congregation for the Doctrine of the Faith), hậu thân của Tòa Án xử dị giáo
(formerly known as the Holy Inquisition), của Ca-tô Giáo Rô-ma, là như vậy. Động lực chính khiến cho vị chủ chăn
JPII cũng như phụ tá Ratzinger thốt ra những lời phi đạo đức tôn giáo
mà không ai có thể chấp nhận như trên là vì sự nở rộ của Phật Giáo
trong thế giới văn minh Âu Mỹ, và sự suy thoái của Ca-tô Giáo trên khắp
thế giới, đặc biệt là ở Nam Mỹ trước sự tấn công của Tin Lành. Vì thiếu căn bản đạo đức và giáo dục
tôn giáo cho nên hai vị chủ chăn Ca-tô đã phải xử dụng đến loại ngôn
từ hạ cấp để xuyên tạc và hạ thấp các tôn giáo khác. Các tín đồ Ca-tô mít khen thơm Joseph
Ratzinger là đã có bằng Tiến Sĩ Thần Học khi mới có 26 tuổi, và ông ta
đã là giáo sư môn Thần Học tại đại học nổi tiếng Tubingen, từ 1966
đến 1969, và sau đó là giáo sư thần học và tín lý tại đại học
Regensburg. Nhưng họ không biết rằng, phần quan trọng trong luận án tiến
sĩ của Ratzinger đã bị bác bỏ, khiến cho ông ta phải viết lại và chỉ
trình cho ban giám khảo phần lịch sử trong luận án lúc đầu (Theo tài liệu
trong “Courrier de Rome” trên Internet: This degree (Doctor of Theology) he obtained Feb.
21, 1957, at nearly 30 years of age, but not without controversy. The “critical” part of his thesis was, in fact,
rejected, in such a way that he was obliged to truncate and edit it, and present to the
committee just the “historical” part of the original..).
Họ cũng không biết rằng, ở đại học Tubingen, Ratzinger đã bị
các sinh viên trẻ, có đầu óc cởi mở, tiến bộ, chất vấn về nền thần
học và các tín lý Ca-tô mà ông ta không thể dùng để thuyết phục họ,
cho nên ông ta phải bỏ đại học đó để về dạy thần học và tín lý
ở đại học thủ cựu Regensburg. Nhưng
hiển nhiên là cái bằng Tiến Sĩ Thần Học không bảo đảm cho đạo đức
tôn giáo của ông ta, vì thật ra Thần Học trong Ca-tô Giáo chỉ là một
môn học nhằm mục đích đào tạo những người có nhiệm vụ nhồi sọ
tín đồ bằng những ngụy biện hoang đường về sự hiện hữu của một
Thiên Chúa. Tất nhiên, cái bằng Tiến
Sĩ Thần Học này rất có giá trị đối với đám tín đồ thấp kém, ít
hiểu biết, đã được nhào nặn từ khi mới sinh ra đời để hoàn toàn
tuân phục bề trên.. Ngoài Ki-tô Giáo
ra, cái bằng Tiến sĩ Thần Học có giá trị gì trong những xã hội
phi-Ki-tô? Tại sao? Chúng ta hãy đọc vài tài liệu sau đây: Giáo sư David Voas, đại học New Mexico, Hoa Kỳ, tác giả cuốn sách khảo cứu Tân Ước nổi
tiếng: Cuốn Thánh Kinh Mang Tin Dữ: Cuốn
Tân Ước, đã viết trong phần dẫn nhập như sau: Thần học, đã một thời
như là bà hoàng của các khoa học, ngày nay có vẻ chỉ còn là bà hoàng của
các tu viện, vẫn đàm tiếu về cùng những chuyện cổ xưa sau khi các em
nhỏ hát Thánh ca đã trưởng thành và bỏ đi lâu rồi. Thật là
đáng xấu hổ... Thần học - chấp nhận như là môn học về
Thiên Chúa - bị coi là không có chủ đề nào, hoặc ít nhất là không có
chủ đề nào chúng ta có thể nghiên cứu. Đó
là ngành học duy nhất với những chuyên gia thực sự không biết mình
đang nói cái gì. Vì
không có chất liệu cho chủ đề, các nhà Thần học phải xử dụng đến
hai lãnh vực kỳ quặc: óc tưởng tượng và Giáo quyền... Ngày nay, các tư tưởng gia Ki Tô có nhiệm
vụ chứng tỏ Thánh Kinh có ý nghĩa, nhất quán, và có vẻ như là có thể
biện hộ cho vấn đề luân lý đạo đức trong đó. Điều này có thể thật là khó khăn. (David
Voas, The Bad News Bible: The New Testament,
Introduction: Theology, once queen of the sciences, now seems merely queen of the
cloisters, still gossiping about the same old stories long after the choir boys have grown
up and moved on. It's a shame... Granted,
theology - the study of God - suffers from the suspicion that it has no subject, or at
least none we can study. It is the only field
with experts who don't know what they are talking about. Their subject matter being
inaccessible, theologians must resort to the odd couple of imagination and authority...
Christian thinkers now have the job of showing that scripture makes sense, is consistent,
and appears morally defensible. This can be
difficult.) Ngoài
ra, H. L. Mencken (1880-1956), một Văn hào Mỹ, đã viết: "Thần học:
một nỗ lực để giải thích cái không thể biết được bằng cách đặt
sự giải thích vào những cái không đáng biết" (Theology: an effort to explain the
unknowable by putting it into terms of the not worth knowing.) Và
Alfred North Whitehead (1861-1947), một nhà Toán học và Triết gia Mỹ cũng
đưa ra nhận định: Tôi
coi nền thần học Ki Tô Giáo như là một trong những tai họa lớn của
nhân loại. (I
consider Christian theology to be one of the great disasters of the human race).. Trong thực tế, ngày nay đã không còn
ai coi môn Thần Học có giá trị nữa, vì mọi luận cứ Thần Học để
“chứng minh” sự hiện hữu của một Thiên Chúa đều đã bị dứt
khoát bác bỏ trước những khám phá của khoa học về vũ trụ nhân sinh. Cũng vì vậy mà phe bảo thủ Tin Lành
không dám dùng thần học để chứng minh sự sáng tạo của Thiên Chúa, mà
phải tạo ra danh xưng khác như “khoa học sáng tạo” (creation science) để
cố nhồi nhét vào đầu óc các học sinh Trung Học niềm tin vào sự sáng tạo
của Thiên Chúa như được viết trong Cựu Ước.
Nhưng rồi, pháp viện tối cao Hoa Kỳ quyết định “thuyết sáng
tạo” không phải là khoa học, nên đã bác bỏ danh xưng ngụy biện này. Và Tin Lành lại phải nghĩ ra một danh
xưng khác là “thiết kế thông minh” (Intelligent design) để chỉ công cuộc
sáng tạo của Thiên Chúa Tin Lành. Cho
tới ngày nay, thuyết “thiết kế thông minh” cũng không được phép dạy
trong các trường Trung Học song song với thuyết Tiến Hóa. Và trong giới truyền thông điện tử Việt
Nam hải ngoại, chúng ta cũng chỉ thấy lác đác vài người như Lê Anh Huy,
NNLan là còn cố gắng làm ô nhiễm đầu óc người Việt bằng cách chống
phá thuyết Tiến Hóa và quảng cáo cho cái thuyết “thiết kế thông minh”
rất thiếu thông minh của họ. Tôi sẽ
bàn về thuyết này trong một bài riêng. Khi được bầu làm Giáo hoàng, bộ mặt giả dối, đạo đức giả của
Joseph Ratzinger đã để lộ khi ông ta đứng trong khung cửa sổ ở Vatican, tự
nhận trước quần chúng tín đồ mình là một “người làm vườn đơn giản
và khiêm cung trong vườn nho của Chúa” (a simple and humble worker in the
vineyard of the Lord). Không có gì sai sự
thực hơn. Vì trước những hành động
của ông trong quá khứ, người đời đã gọi ông qua nhiều danh hiệu
không lấy gì làm đẹp cho lắm. Danh hiệu nổi tiếng nhất của ông là: “Hồng Y
Thiết giáp” (Panzerkardinal), vì ông ta có những hành động liều
lĩnh, vô trí tuệ, nói năng bừa bãi, giống như một khối sắt biết di
chuyển, chuyên nghề xung kích, và qua lời tuyên bố trước đây của ông về
Phật Giáo: “Buddhism is a kind of spiritual auto-eroticism” thì dường như ông
ta không có mấy giáo dục và đạo đức tôn giáo của ông ta là một dấu
hỏi lớn. Danh hiệu thứ hai là “The Cũng như Giáo hoàng tiền nhiệm John
Paul II mà Mac Kher trong www.nycny.com đã gọi
là một con người đạo đức giả và cố ý lừa dối tệ mạt nhất (This
is hypocrisy and duplicity at its worst) [vì ngày
hôm trước Giáo Hoàng nói về đối thoại,
sự hiểu biết, và sự đoàn kết giữa các tôn giáo. Ngày hôm sau, ông ta nói ngược lại, nhấn
mạnh Ki-tô Giáo là tôn giáo chân thật duy nhất, và kêu gọi tín đồ đi
cải đạo Á Châu...], Joseph Ratzinger, trong cuộc phỏng vấn của Jean
Sévillia, tờ Le Figaro, khi được hỏi là những nhiệm vụ chính
của giáo hoàng triều tiếp theo là gì (What will be the great tasks of the next
pontificate?), đã trả lời trong đó có đoạn: “Và còn Hồi Giáo và cả Phật Giáo nữa,
hai sự thách thức lớn cho thế giới Tây phương.
Cần phải đi vào cuộc đối thoại với họ, tìm một con đường
để hiểu biết lẫn nhau mà không mất đi ánh sáng lớn đến với chúng
ta từ khuôn mặt của Dê-su Kờ-rít.” (And then there are Islam and also
Buddhism, the two great challenges for the Western world. It is necessary to set up a
dialogue with them, to find a way of understanding each other without losing sight of the
great light that comes to us from the figure of Jesus Christ.) Phê bình Phật Giáo bằng loại ngôn từ
hạ cấp như trên có phải là đi vào con đường đối thoại tôn giáo hay
không? Và chúng ta không nên quên là
ngày 5 tháng 9, 2000, Joseph Ratzinger, với sự chấp thuận của John Paul II, đã
tung ra bản tuyên ngôn “Dominus Jesus” trong đó có hai điểm trịch thượng
đối với mọi tôn giáo khác như sau: 1. “.. như là một phương tiện đưa đến sự
cứu rỗi, những tôn giáo phi-KiTô thiếu sót một cách trầm trọng”
(..non-Christian religions are gravely deficient as a means of salvation) 2. “Giáo hội Công Giáo La Mã là phương tiện
duy nhất đem đến sự cứu rỗi cho toàn thể nhân loại” (The Roman
Catholic Church is the only instrument for the salvation of all humanity) Cũng vì vậy mà Giáo sư Thần học Ca-tô nổi tiếng
trên hoàn cầu, Hans Kung, đã đưa ra một nhận định về bản tuyên ngôn
“Dominus Jesus” là “một sự pha trộn của
tính chất lạc hậu thời Trung Cổ và Tâm Lý Bệnh Hoạn về Những Ảo Tưởng
Hão Huyền về Quyền Lực hay Toàn Năng của Vatican” (A mixture of
medieval backwardness and Vatican megalomania). [Megalomania
= A psycho-pathological condition in which
fantasies of wealth, power or omnipotence predominate] Tin mới nhất cho biết, trong lễ mi-sa đầu tiên,
giáo hoàng Benedict XVI, alias Josepth Alois Ratzinger, đã trở giọng hòa hoãn
(conciliatory tone), và sẽ đến với những tôn giáo khác (reach out to other
religions), nhưng chúng ta hãy coi chừng, vì không thể nào tin được những
lời nói của ông ta, thường là nói một đàng làm một nẻo. Ôn cố tri tân, chúng ta hãy điểm qua vài nhận định
về Ratzinger. Ngoài những lời phát biểu
hạ cấp đối với Phật Giáo, và những lời trịch thượng đối với mọi
tôn giáo khác trong bản tuyên ngôn “Dominus Jesus”, Ratzinger đã có những hành động như thế
nào? Những hành động và biện
pháp đàn áp trí thức của Ratzinger cũng như thực chất con người của
ông ta đã được ghi trong nhiều cuốn sách của chính những tín đồ Ca-tô,
thí dụ như Louis Baldwin với cuốn “The
Pope and The Mavericks” trong đó tác giả viết nguyên một chương về
Ratzinger, từ trang 105 đến trang 115; Garry Wills với cuốn “Why I Am A Catholic”, trong đó tác giả viết
về chủ trương độc tài giáo trị của Ratzinger như sau, trang 258: “Ratzinger
chủ trương là các giám mục phải một mình cai trị trong những giáo xứ
của mình, chỉ liên lạc với các giám mục khác qua La-mã, chỉ gặp nhau
trong các giáo đường ở La Mã dưới quyền của (đoán xem là ai?) Hồng y
Ratzinger.” (Ratzinger holds that bishops must rule alone in their dioceses,
communicating with other bishops only through Rome, meeting with each other only at Roman
synods run by (guess who?) Cardinal Ratzinger.). Tác
giả Wills cũng còn ghi là Giáo hoàng John Paul II cũng như Ratzinger đều sống
theo lưỡng chuẩn (Ibid., p. 259: Now the pope has a double standard like that of his
soulmate Ratzinger); John Cornwell với cuốn “Breaking
Faith: The Pope, The People, and the Fate of Catholicism” trong đó tác giả đã
ghi một số phản ứng điển hình của đa số tín đồ Ca-tô Mỹ trong tờ
National Catholic Reporter trước tuyên
ngôn “Dominus Jesus” của Ratzinger như sau, trang 220: “Một thế
chính trị như vậy trong một thế giới đa dạng liên kết với nhau hàm ý
là Giáo hội La Mã đang cắm đầu chạy vội vào thế kỷ 14” (Such
political posturing in a cyber-knit world implies that the Roman church is rushing
headlong into the fourteenth century), “Hồng Y
Ratzinger nên tự mình thoát ra khỏi những bức tường dày đặc đang bao
quanh ông ta và hãy thấy rõ những gì đang xảy ra trong vũ trụ của chúng
ta” (Cardinal Ratzinger should remove himself from the dense walls that surround him
and find out what is going on in our universe), “Tôi
thật là bối rối và xấu hổ để cho Ratzinger nói thay cho tôi hay cho cả
giáo hội. Nếu “chúng ta là giáo hội”
thì đây là thời điểm chúng ta phải nắm quyền kiểm soát giáo hội của
chúng ta nhân danh Dê-su Kờ-rít” (I am embarrassed and ashamed to have
Ratzinger speak for me or the whole church. If
“we are the church” it is time to take control of our church in the name of Jesus
Christ). Việc Joseph Ratzinger được bầu làm Giáo Hoàng của
Ca-tô Giáo Rô-ma đã làm hài lòng thiểu số bảo thủ cực đoan trong Ca-tô
Giáo. Còn các tín đồ Ca-tô thông thường,
nhất là những tín đồ ở trong thế giới thứ ba và những tín đồ “mít” thì chỉ biết tung hô, ca tụng. Nhưng dư luận thế giới về kết quả cuộc
bầu Giáo hoàng này không phải là tất cả đều hân hoan tích cực. Ngay cả trong Giáo hội Ca-tô cũng có nhiều
nhận định về vị giáo hoàng mới là Benedict XVI, alias Joseph Ratzinger. Linh mục Thomas Reese, chủ biên tuần
báo Trong khi đó thì có một anh mít đặc,
có đầu mà không có óc, bốc thơm là
sự chọn lựa Ratzinger làm giáo hoàng là “một
sự chọn lựa đầy ý nghĩa” và
đó là “Một hy vọng lớn cho Việt Nam”. Việt Để kết luận và để cho quý độc
giả biết rõ hơn về -
Phanh phui ra sự đồi bại của Vatican
và những liên hệ của -
Đào sâu vào những chuyện -
Chứng tỏ có bao nhiêu nguồn tài
chánh của (Product Description |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com