405-gd.gif (4053 bytes)

posted: 01.4.2005

VÕ VĂN ÁI VÀ NHỮNG TỔ CHỨC:

“QUÊ MẸ” & “PHÒNG THÔNG TIN PHẬT GIÁO QUỐC TẾ”

Trần Chung Ngọc

Không ai có thể phủ nhận ông Võ Văn Ái là người khá nổi tiếng.  Tiếng xấu hay tiếng tốt cũng tùy theo người ta biết nhiều hay biết ít về ông Ái.  Những người biết rất ít hoặc không biết gì về ông Ái, hoặc thuộc giới CCCB hay CCCĐ, thì ông Ái đúng là một thần tượng đáp ứng đúng khuynh hướng chính trị CCCĐ bất kể thủ đoạn của họ.  Còn những người biết nhiều về ông Ái từ hồi ông sang Pháp, như một số trong giới trí thức hoặc một số cựu học sinh Việt Nam du học ở Paris trước đây mà tôi quen biết, hoặc một số thuộc giới hiểu biết ở Mỹ, thì tôi không muốn nhắc lại những lời nhận định của họ về ông Ái.   Theo những nhận định này thì một tiếng “xấu” không không đủ để mô tả ông Ái.  Phần phân tích với những tài liệu trong bài này sẽ cho chúng ta biết bộ mặt thật và con người của Võ Văn Ái.

Tôi chẳng mấy quan tâm đến đời tư, tư cách và đạo đức cá nhân của ông Ái, cho nên tôi không muốn viết ra những điều tôi biết về ông Ái qua một số bạn bè thân thuộc ở bên Pháp cũng như ở bên Mỹ, những người đã biết rõ ông Ái.   Thực chất những  điều này đã rõ như ban ngày trong giới hiểu biết trên khắp thề giới.  Trong bài này, tôi chỉ phân tích một số những việc ông Ái làm qua cơ sở Quê Mẹ và Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế để chúng ta có thể có một nhận định chính xác về những việc làm của ông ấy.

I. Võ Văn Ái Và “Quê Mẹ Paris”.

Ông Võ Văn Ái là giám đốc cơ sở Quê Mẹ ở Paris.  Phó Giám Đốc tất nhiên là cô gái hay bà người Anh tên là Penelope Faulkner [Tôi không gọi tên Việt Ỷ Lan của cô này vì tôi cho rằng cô ta không có đủ tư cách để lấy tên Việt Nam này một cách có thể nói là vô ý thức], người mà giám đốc đi đâu thì phó giám đốc đi theo đó, như chính lời thú nhận của bà Phó Giám Đốc.  Một đào một kép đi với nhau để đôi khi nổi hứng, đào phó giám đốc liền mở màn tuồng “phỏng vấn” kép giám đốc. [Thông tin này có thể lấy trên Internet.]  Sở dĩ phó giám đốc phải phỏng vấn giám đốc là để cho giám đốc có dịp nói năng bừa bãi, tự quảng cáo, phô trương, phóng đại thành tích chống Cộng và tranh đấu cho “quyền làm người Việt Nam” (sic), tự do tôn giáo, bất kể thủ đoạn, của mình.  Tìm hiểu về Võ Văn Ái, chúng ta thấy ông mang trên mình rất nhiều chức vụ, những chức vụ mà thực chất như thế nào chắc chỉ có chính ông giám đốc và bà phó giám đốc biết, nhưng gồm có:

-                    Giám đốc cơ sở “Quê Mẹ Paris” [Địa chỉ: B.P. 63 94472 Boissy St Léger Cedex (France).  Phó Giám Đốc tất nhiên là cô/bà Penelope Faulkner, Đặc trách Quốc tế vụ.

-                    Giám đốc Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế.[sic] [Cùng một địa chỉ với “Quê Mẹ” như trên] Phó Giám đốc tất nhiên cũng vẫn là cô/bà Penelope Faulkner, kiêm Phó Chủ Tịch Ủy Ban Bảo vệ “Quyền Làm Người” (sic)

-                    Phát ngôn nhân của Viện Hóa Đạo, I hay II, không thấy nói rõ.

-                    Đại diện 3 tổ chức: Liên Đoàn Quốc Tế Nhân Quyền, Hành Động cho Nhân Quyền, và Ủy Ban Bảo Vệ Quyền Làm Người (“Nô lệ”, theo nhận định của Hoàng Nguyên Nhuận) [Bảo vệ “quyền của con người” hay “quyền làm người?”. TCN]

-                    Đại diện cho Việt Nam (như lời tuyên bố của Võ Văn Ái với Chân Trời Mới).

-                    Sáng lập viên Phong Trào Dân Chủ Hoàn Cầu [Có thể là để chỉ đạo cho ông Bush xuất cảng dân chủ trên thế giới bằng bom đạn và ưu thế kinh tế]

-                    Chủ Tịch Diễn Đàn Dân Chủ Á Châu. [Theo nhận định của một Phật tử trong thư gửi TT Tuệ Sỹ, đăng trên trang nhà Giao Điểm thì: những kẻ kêu gào dân chủ to mồm nhất là những kẻ chẳng hiểu gì về dân chủ.  Ông Ái là một trong những kẻ này]

Nhìn vào từng ấy chức vụ của ông giám đốc và bà phó giám đốc, chúng ta thấy cả một màn hài kịch của các diễn viên khó có thể xếp hạng.  Và có lẽ còn nhiều chức vụ bí mật khác mà tôi không biết đến.  Một mình giữ từng ấy chức vụ, tất nhiên ông Ái phải là bậc Vô Thượng Sư, đồng hạng với Vô Thượng Sư Thanh Hải.  Là một Vô Thượng Sư nên những hoạt động hàng ngày, mỗi ngày 24 giờ, có khi làm cả giờ thứ 25, của ông ấy cho từng ấy chức vụ tất nhiên phải thuộc loại Vô Thượng Thiên Tài:

-                    Vô thượng thiên tài phổ biến các tài liệu bịa đặt một cách khá đần độn để chống Cộng.

-                    Vô thượng thiên tài xin tiền Mỹ để chống Cộng theo chỉ thị của cơ quan cấp tiền.

-                    Vô thượng thiên tài xuyên tạc phóng đại sự thật để chống Cộng.

-                    Vô thượng thiên tài xử dụng nghệ thuật “mồm miệng đỡ chân tay” nấp sau chiêu bài chống Cộng, nhân quyền và tự do tôn giáo.

-                    Vô thượng thiên tài chỉ đạo GHPGVNTN Hải Ngoại, gây chia rẽ trong đại khối Phật Giáo, sử dụng và lừa bịp mấy Thầy ở trong nước thiếu thông tin, cùng lúc hạ thấp quý Thầy bằng những lời văn ngụy tạo thấp kém không xứng đáng với các bậc tu hành.

Chỉ có một điều là những thủ đoạn vô thượng thiên tài thuộc loại bịp bợm này khó có thể qua mắt ai, vì thiên hạ không phải chỉ gồm toàn những người có cùng loại đầu óc như của ông Ái, hoặc có cùng trình độ như ông Ái.

Theo các bậc Vô Thượng Thiên Tài chính trị ở Phúc Lộc Thọ, khu Bolsa, Cali., thì Cộng Sản đã bị Giáo Hoàng John Paul II và Goóc-Ba-Chèo cho dẹp tiệm từ năm 1989.  Ngày nay, ở Việt Nam cũng như ở Trung Quốc, chỉ có một thứ Cộng sản rất đặc biệt: Cộng Sản Tư Bản (Capitalist Communism).  Nhưng đối với một số người thì CSVN chính hiệu CS lại sống dai (die hard) vì ông giám đốc Ái và bà phó giám đốc Penelope Faulkner cũng như những người thuộc loại CCCB hay CCCĐ không muốn cho CS chết.  CS chết thì hết tiền cho ông giám đốc và bà phó giám đốc chống Cộng.  CS chết thì những người CCCB hay CCCĐ hay buôn bán hận thù thất nghiệp. 

Trong bài này, tôi chỉ quan tâm đến hai chức vụ của ông Ái: Giám đốc cơ sở “Quê Mẹ Paris”, Giám đốc “Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế”, và vài thủ đoạn thuộc loại vô thượng thiên tài của ông Ái.

Trước hết, vì ông Ái là Giám đốc cơ sở “Quê Mẹ Paris” cho nên tôi tưởng chúng ta hãy tìm hiểu chút ít về “Quê Mẹ Paris”, có cùng địa chỉ với “Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế”.  Ta với mình tuy một mà hai, mình với ta tuy hai mà một.

Chúng ta biết rằng “Quê Mẹ Paris” đã lãnh của cơ quan Mỹ National Endowment for Democracy (NED) $90000 năm 1997, $95000 năm 1998, $70000 năm 1999, $70000 năm 2001, $70000 năm 2003 [xin đọc tài liệu trong www.ned.org ].  Tôi không có con số cho những năm khác.  Một câu hỏi được đặt ra ngay:  Cơ quan NED là cơ quan như thế nào, và cấp tiền cho “Quê Mẹ Paris” để làm gì, hay nói cách khác, “Quê Mẹ Paris” lãnh tiền của NED để làm gì? 

Theo ông Ái thì “Quê Mẹ Paris” lãnh tiền của NED để làm việc chùa, vì trong bài phỏng vấn của Nguyễn Sĩ Tiến ông Ái khẳng định: Tôi cũng như tất cả các bằng hữu điều hành cơ sở Quê Mẹ (Paris), Ủy Ban Bảo Vệ Quyền Làm Người Việt Nam, đều thiện nguyện, không ai có đồng lương nào.  Chúng tôi lao động sinh sống nuôi thân như mọi người...Tiền túi đổ ra hoạt động thì có, và thường xuyên, làm chi có lương.”   Có ai tin được chuyện này không?  Tiền túi ở đâu ra?  Ông lãnh của NED mỗi năm gần trăm ngàn đô để làm gì mà lại phải bỏ tiền túi ra hoạt động?  Vậy chắc chắn là tiền của NED ông bỏ vào túi rồi bỏ ra một phần nhỏ để hoạt động. Nói dối nói trá  như trên một cách thản nhiên ông Ái đã không hề liếm mép.  Chúng ta cũng nên biết, muốn xin được  tiền của NED, Quê Mẹ phải làm đơn xin theo một mẫu nhất định, và phải nộp một dự án hoạt động hợp với chủ trương hay chỉ đạo của NED thì NED mới cấp tiền, chứ tự nhiên NED không có mời bất cứ tổ chức nào đến để phát tiền.  Rất có thể NED cho người đến tiếp xúc, nhưng muốn xin được tiền của NED cũng phải đệ đơn xin và trình dự án phù hợp với chủ trương của NED cho đúng thủ tục.

Cũng trong cuộc phỏng vấn của Nguyễn Sĩ Tiến, ông Võ Văn Ái cho chúng ta biết là ông ta lãnh tiền của NED là lãnh tiền của Quốc Hội Hoa Kỳ chứ không phải là của CIA.   Ông Ái tưởng có thể lòe bịp được thiên hạ khi nói:

“NED là một tổ chức công khai, do Quốc Hội Hoa Kỳ tài trợ và kiểm soát.  Ông ở bên ấy [bên Mỹ] phải biết Quốc Hội Hoa Kỳ không là CIA.  Tổ chức này làm việc minh bạch và thông suốt.”

Trong bài “Quê Mẹ! Nhưng Mẹ Nào?”, đăng trên trang nhà Giao Điểm trước đây, tôi đã đưa ra một số tài liệu về tổ chức NED của chính những người Mỹ và cựu sáng lập viên NED viết, tưởng không cần nhắc lại ở đây nữa.  Nói ngắn gọn, NED là một tổ chức của Mỹ, thành lập vào năm 1983, trong thời tổng thống Reagan, thời mà CIA đang bị điều tra về nhiều vụ lén lút can thiệp nham nhở ở ngoại quốc.  Những hoạt động của NED không khác những hoạt động của CIA mấy, nhưng được ngụy trang đàng sau những mỹ danh như tranh đấu cho Dân Chủ và là một tổ chức do “tư nhân tài trợ” trong khi sự thật là từng xu một của tiền thuế người dân Mỹ đã được đổ vào NED. Với những tài liệu trong bài “Quê Mẹ! Nhưng Mẹ Nào?” và cộng thêm vài tài liệu sau đây, hi vọng chúng ta sẽ hiểu rõ cơ quan NED hơn và đồng thời hiểu rõ vai trò của ông Võ Văn Ái đã được NED sử dụng như thế nào.  

Barbara Conry, một phân tích gia về chính sách ngoại vụ của Hoa Kỳ, thuộc Viện Cato ở Washington D.C. (a foreign policy analyst at the Cato Institute in Washington, D.C.) đã viết:

“NED là một khẩu đại pháo bắn bừa bãi trong chính sách đối ngoại.  Đẩy mạnh dân chủ là một mục tiêu mơ hồ có thể được vận động, xoay sở để biện minh cho bất cứ hành động khác thường nào của những nhóm đặc quyền – đảng Cộng Hòa và Dân Chủ, tổ chức lao động, và Phòng Thương Mại Hoa Kỳ - những nhóm dùng nhiều tiền nhất của NED...

NED, cũng còn có một lịch sử nhũng lạm và quản lý tồi tệ, may mắn lắm cũng là một tổ chức không cần thiết và thường có tính cách phá hại.  Qua NED, người Mỹ đóng thuế đã trả tiền cho những nhóm đặc quyền đi quấy rối những chính quyền dân cử chính đáng của các quốc gia thân thiện, can thiệp vào các cuộc bầu cử ở nước ngoài, khuyến khích sự tham nhũng trong các phong trào dân chủ…”

(The National Endowment for Democracy is a foreign policy loose cannon. Promoting democracy is a nebulous objective that can be manipulated to justify any whim of the special-interest groups--the Republican and Democratic parties, organized labor, and the U.S. Chamber of Commerce--that control most of NED's funds. NED, which also has a history of corruption and financial mismanagement, is superfluous at best and often destructive. Through the endowment, the American taxpayer has paid for special-interest groups to harass the duly elected governments of friendly countries, interfere in foreign elections, and foster the corruption of democratic movements.)

Và Ron Paul, Dân Biểu thuộc đảng Cộng Hòa, bang Texas, đã đưa ra nhận định:

“NED mà cái tên không đúng [những hoạt động không đúng với tên của tổ chức] không gì hơn là một chương trình tốn kém, lấy tiền thuế của người dân Mỹ để vận động ủng hộ những chính trị gia và đảng phái ở ngoại quốc.  Những gì mà NED làm ở ngoại quốc, qua những tổ chức như Viện Dân Chủ Quốc Gia và Viện Cộng Hòa Quốc Tế, thì đúng là bất hợp pháp ở Mỹ.

NED thảy tiền mặt vào các cuộc bầu cử ở các nước ngoài để ủng hộ một đảng này hay đảng khác.  Hãy tưởng tượng là vài trăm ngàn đô-la sẽ thực hiện được những gì để hỗ trợ một chính trị gia hay một đảng chính trị trong một quốc gia tương đối nghèo. Thật là đặc biệt Orwell khi bảo rằng sự vận động xoay sở của Mỹ trong các cuộc bầu cử ở nước ngoài là “đẩy mạnh dân chủ”.” [Tác giả dùng từ Orwellian để chỉ những hành động phi dân chủ của NED nhân danh dân chủ.  Orwellian hàm ý những niềm tin trái ngược: “chiến tranh là hòa bình”, “tự do là nô lệ”; và “ngu dốt là sức mạnh” = the belief that war is peace, freedom is slavery, and ignorance is strength.]

(The misnamed National Endowment for Democracy (NED) is nothing more than a costly program that takes US taxpayer funds to promote favored (ủng hộ) politicians and political parties abroad. What the NED does in foreign countries, through its recipient organizations the National Democratic Institute (NDI) and the International Republican Institute (IRI), would be rightly illegal in the United States. The NED injects "soft money" into the domestic elections of foreign countries in favor of one party or the other. Imagine what a couple of hundred thousand dollars will do to assist a politician or political party in a relatively poor country abroad. It is particularly Orwellian to call US manipulation of foreign elections "promoting democracy.")

Với những tài liệu trên, chúng ta đã có thể biết thực chất của NED, cơ quan tài trợ cho “Quê Mẹ Paris”, và tài trợ để đạt những mục tiêu gì?  [Muốn biết thêm về NED, xin quý độc giả đọc bài Tổ Chức AFL-CIO và NED – Góp Vốn Quốc Gia cho Những Toán Sát Thủ? ("National Endowment for Death Squads? The AFL-CIO and the NED") By Jon Quaccia, Thường Đức chuyển ngữ, trên trang nhà Giao Điểm], và “Quê Mẹ” của ông Võ Văn Ái và bà Penelope Faulkner, muốn lãnh của NED gần trăm ngàn đô-la mỗi năm, cũng phải có những hoạt động như thế nào cho xứng đáng với, nếu không phải là đồng lương thì cũng là đồng tiền bát gạo của NED.

Theo tài liệu của chính NED trong www.ned.org thì NED cấp tiền cho “Quê Mẹ” để “Quê Mẹ” thi hành nhiệm vụ “Quê Mẹ” xin làm, hoặc nói cách khác, được NED giao phó:

    “Xuất bản tờ Quê Mẹ bằng tiếng Việt, hai tháng một lần, một nguồn tin tức và thảo luận về những ý tưởng dân chủ [của Mỹ] ở Việt Nam không bị kiểm duyệt.  “Quê Mẹ” cũng phải in và phân phối 50000 bản tin ngắn hàng tháng về những mối quan tâm về nhân quyền và quyền công nhân ở Việt Nam.” [Có bao nhiêu sự thật trong những bản tin này, đây là một dấu hỏi lớn].

   (To publish Que Me, a bi-monthly Vietnamese-language magazine, a source of uncensored news and discussion of democratic ideas in Vietnam.  The association will also publish and distribute 50000 copies of a mini-bulletin on urgent human and worker rights in Vietnam)

Do đó, chúng ta phải hiểu rằng NED dùng các tay sai như Quê Mẹ ở khắp nơi trên thế giới để đẩy mạnh dân chủ đa nguyên đa đảng không ngoài mục đích tạo không khí thuận lợi để NED có cơ hội dùng tiền bạc len lỏi vào mua những cá nhân hoặc đảng phái, thao túng chính trường các nước ngoài sao cho có lợi cho Mỹ, để Mỹ có thể đạt được những mục tiêu trong chủ trương đế quốc kinh tế và xâm lăng văn hóa.

Lẽ dĩ nhiên chúng ta không thể phê bình tiêu cực những hoạt động của NED dùng tay sai để chống Việt Nam vì những hoạt động đó nhằm phục vụ đường lối và quyền lợi của nước Mỹ.  Tuy ngày nay tôi là một công dân Mỹ, nhưng cũng như rất nhiều công dân Mỹ khác, tôi có quyền không đồng ý với chính sách đối ngoại của chính quyền Mỹ, những hành động lắt léo can thiệp vào các nước khác của Mỹ, cũng như có quyền phản đối cuộc chiến tranh xâm lược Iraq. Nhưng dù sao tôi cũng vẫn còn ít nhiều ràng buộc với Việt Nam, vẫn còn yêu nơi chôn nhau cắt rốn, yêu dân tộc đã nuôi dưỡng tôi trong nhiều năm, yêu miền đất mà vì những lý do bất khả kháng tôi không thể sống trên đó nhưng trái tim chưa bao giờ xa nó, thì tôi không thể không đặt một câu hỏi với ông Võ Văn Ái:  “Ông lãnh tiền của NED để chống Việt Nam qua những bản tin ngụy tạo, bịa đặt v..v.., vậy ông thuộc hạng người nào?”  Rất có thể ông sẽ tự biện là ông tranh đấu cho nhân quyền và tự do tôn giáo theo quan điểm của nước Mỹ, nhưng ông không thể nào phủ nhận sự kiện là ông đang lãnh tiền của NED để hoạt động theo chỉ thị của NED, và chúng ta đã biết, qua vài tài liệu ở trên, thực chất của cơ quan NED và mục tiêu hoạt động của cơ quan này là như thế nào.  Thêm những sự kiện sau đây có thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn vấn đề.

Nhiều sự kiện trên khắp thế giới, thí dụ như những hành động của Mỹ ở Việt Nam, Indonesia, Guatamala, El Salvadore, Nicaragua v..v..(Xin đọc cuốn 9-11 , Seven Stories Press, New York, 2001, của Noam Chomsky) đã chứng tỏ rằng Nhân Quyền chỉ là một chiêu bài chỉ có trên mặt văn tự của Mỹ, với hậu thuẫn của bom đạn và ưu thế kinh tế, để ép những tiểu nhược quốc nào có thể ép được phải theo quan niệm về nhân quyền, dân chủ, đường lối chính trị, quyền lợi kinh tế của Mỹ, tạo thuận lợi cho Mỹ phát triển kinh tế, truyền bá văn hóa và tôn giáo của Mỹ [Thực chất nền văn hóa và tôn giáo của Mỹ không thuộc phạm vi bài này].  Cuộc xâm chiếm Iraq của chính quyền Bush gần đây đã chứng tỏ rõ ràng hơn hết nhận định trên.  “Viện trợ Ki-Tô” (Christian aid) đã đổ vào Iraq để mua linh hồn cho Chúa.  Nhiều nhà thầu (war contractors) trước đây đã đóng góp cho quỹ tranh cử của Bush, một hình thức hối lộ, nay đã trúng thầu trong những dịch vụ hái ra tiền, những dịch vụ liên quan đến chiến tranh, nghĩa là kiếm lời nhờ chiến tranh.  Đây chính là đường lối tư bản rừng rú cố hữu, không liên quan gì đến nhân quyền.  [Xin đọc bản phúc trình “Windfalls of War: US Contractors in Iraq and Afghanistan” của tổ chức nghiên cứu Center for Public Integrity].  Riêng hãng (Kellogg, Brown & Root (KBR) - khai thác dầu hỏa Halliburton) mà Dick Cheney cai quản trước khi làm Phó Tổng Thống đã “trúng thầu” trị giá 2.3 tỷ đô-la.  Nhân danh nhân quyền, tự do, dân chủ, Mỹ đã đổ bom đạn tàn phá Iraq, giết không ít thường dân vô tội, gây chia rẽ giữa các khối tín ngưỡng khác nhau ở Iraq, và sau cuộc bầu cử theo lệnh Mỹ, nguy cơ nội chiến ở Iraq càng ngày càng gia tăng.  Hãy nhìn lại cuộc chiến ở Việt Nam, có khác gì đâu, cũng là nhân danh chiêu bài “chống Cộng” cho tự do, dân chủ?  Chỉ khác là ở Việt Nam sự tàn phá về nhân mạng, đất đai, mùa màng v..v.. đã lên tới một mức độ khủng khiếp hơn nhiều.

Ông Võ Văn Ái được cơ quan NED của Mỹ cấp tiền để tranh đấu cho “quyền làm người Việt Nam” (sic), làm như hơn 80 triệu dân Việt Nam ngày nay không có quyền làm người.  Thân phận của một tay sai ngoại bang, lãnh tiền của ngoại bang để chống phá Việt Nam bất kể đạo đức, mà dám mở miệng đòi tranh đấu cho “quyền làm người Việt Nam”, quyền gì? quyền tự do đi làm tay sai như Võ Văn Ái chăng, hay quyền làm “nô lệ” như Hoàng Nguyên Nhuận đã nhận định về Võ Văn Ái?  Nhưng ông Võ Văn Ái, cũng như những người dựa hơi mấy ông, mấy bà dân biểu Mỹ, lại không biết rằng chính cái bộ mặt “nhân quyền” của Mỹ lại là một bộ mặt lem luốc mà cả thế giới đã biết. Đó là cái nhục của những kẻ làm tay sai cho một ông chủ, hay dựa hơi một ông chủ mà mình không biết rõ, mà không biết đến bản chất và thực chất của chính ông chủ mình.

Noam Chomsky, một học giả lừng danh của Mỹ, Giáo sư Viện Kỹ Thuật Massachusetts (M.I.T.), đã viết rõ về chính sách ngoại giao của Mỹ:

    “Thật ra chính sách ngoại giao của Mỹ là đặt căn bản trên nguyên tắc không liên quan gì đến nhân quyền, mà là liên quan nhiều đến sự  tạo ra một bầu không khí thuận lợi cho ngoại thương”  

    (James Speck, Editor, The Chomsky Reader, p. 331:  U.S. foreign policy is in fact based on the principle that human rights are irrelevant, but that improving the climate for foreign business operations is highly relevant.)

Ngoài ra, bộ mặt thực về “nhân quyền” của Mỹ đã được chứng minh trong biến cố sau đây.  Đầu tháng 5, 2001, Liên Hiệp Quốc đã bỏ phiếu hất Mỹ ra khỏi Ủy Ban Nhân Quyền Quốc Tế trong đó Mỹ liên tục là một thành viên từ năm 1948, trong khi Trung Quốc, Việt Nam, Cuba đều được bầu làm thành viên.  Điều này cho thấy, Mỹ chỉ có thể dựa vào ưu thế kinh tế và quân sự  chứ không thể dựa vào chiêu bài “nhân quyền”.  Nếu Mỹ thực sự tôn trọng nhân quyền trên thế giới thì tại sao Mỹ lại bị hất ra khỏi Ủy Ban Quốc Tế Nhân Quyền?  Nhưng đồng tiền của Mỹ rất mạnh, có thể mua dễ dàng những tay sai chính hiệu như Võ Văn Ái để tranh đấu cho “nhân quyền” ở Việt Nam, một sách lược của Mỹ để ép Việt Nam phải tạo ra một bầu không khí thuận lợi cho ngoại thương của Mỹ.   Gần đây, Mỹ lại đưa ra những lời dọa dẫm đối với Việt Nam với lý do là Việt Nam là nước đáng quan tâm về vấn đề tự do tôn giáo trong khi trên thế giới có rất nhiều nước mà Mỹ phải quan tâm hơn nhiều về vấn đề “nhân quyền” và “tự do tôn giáo” như Do Thái, Saudi Arabia, Cuba, Trung Quốc, các nước trong khối Hồi giáo, và một số nước ở Nam Mỹ và Phi Châu.  Việt Nam thật là khốn khổ.  Vì là một nước nhỏ đang cần phát triển, vì lợi ích kinh tế để làm cho dân giàu nước mạnh, nên Việt Nam đã nhiều lần phải nhượng bộ trước chính sách ngoại giao lưỡng chuẩn (double standards) của Mỹ và sự đánh phá của đám tay sai vong bản.  Việc nhân nhượng đám cuồng tín Tin Lành mất gốc gần đây là một thí dụ. 

Nhưng cái đòn nhân quyền của Mỹ vô hiệu đối với Trung Quốc. Gần đây, cuối tháng 2, 2005, trong bản phúc trình hàng năm về vấn đề nhân quyền, Bộ Ngoại Giao Mỹ đã chỉ trích tình trạng nhân quyền ở Trung Quốc.  Theo tin của Edward Cody, Tờ Washington Post, thì ngày 3 tháng 3, 2005, Nội Các của Thủ Tướng Trung Quốc Wen Jiabao đã chính thức ra tuyên cáo lên án Hoa Kỳ bằng những lời lẽ nặng nề chưa từng thấy.  Trung Quốc, khi lên án Hoa Kỳ dùng sách lược lưỡng chuẩn (double standards) để xét đoán về nhân quyền trong các quốc gia khác, đã đặt Trung Quốc thêm vào danh sách càng ngày càng nhiều các quốc gia cho rằng một chính phủ đã tạo nên những cảnh vi phạm nhân quyền trong nhà tù Abu Ghraib thì không có quyền bình luận về những gì xảy ra ở nơi khác.  [China accused the United States on Thursday of using double standards to judge human rights in other countries, adding to a growing list of nations suggesting the government that produced the Abu Ghraib prison abuses has no business commenting on what happens elsewhere]

Kèm theo một danh sách dài về những vi phạm nhân quyền của Mỹ trong chính nước Mỹ cũng như ở các nước khác, bản tuyên cáo của nội các chính phủ Trung Quốc viết: “Không một quốc gia nào được tự đặt mình ra ngoài quá trình phát triển quốc tế về nhân quyền hay tự coi mình như là hiện thân của nhân quyền để có thể ngự trị trên các quốc gia khác hay ra lệnh cho các quốc gia khác” [No country should exclude itself from the international human-rights development process or view itself as the incarnation of human rights that can reign over other countries and give orders to the others.]

Theo ký giả Cody thì bản tuyên cáo của Nội Các Chính Phủ Trung Quốc để đối lại phúc trình về nhân quyền của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ có tầm vóc mạnh hơn là lời bình luận của Bộ Ngoại Giao hay của một bài báo [The sharp Chinese retort, which contained a long list of what it labeled U.S. human-rights abuses at home and abroad, came directly from Wen’s cabinet, giving it more weight than a Foreign Ministry] 

Trước phản ứng quyết liệt của Trung Quốc, bác bỏ quyền “cảnh sát nhân quyền” (human rights police) tự phong của Mỹ, và trước những vi phạm nhân quyền của Mỹ mà Trung Quốc đưa ra, dựa trên tài liệu của chính nước Mỹ và của Liên Hiệp Quốc, Hoa Kỳ đã phải quay đầu 180 độ, quyết định sẽ không đề nghị một nghị quyết lên án Trung Quốc về vấn đề nhân quyền trước ủy ban nhân quyền  Liên Hiệp Quốc năm nay, vì Trung Quốc đã có nhiều điểm tiến bộ về nhân quyền, theo tin Associated Press ngày 17 tháng 3, 2005: 

By Barry Schweid, Associated Press

WASHINGTON - Citing recent Chinese steps to ease up on political prisoners and religious practices, the Bush administration decided Thursday to forgo a showdown with China over its record on human rights at a 53-nation U.N. human rights conference.

The Bush administration will not propose a U.N. resolution critical of China's human rights policy this year because of recent concrete steps by Beijing in the treatment of political prisoners and protection of religious services, U.S. officials said Thursday.

The decision removes one of the major flash points of the annual six-week session of the 53-nation U.N. Human Rights Commission, which began Monday.

Một câu hỏi được đặt ra:  Mỹ có quyền phê phán vấn đề nhân quyền ở Việt Nam hay không, và liệu Việt Nam có dám làm như là Trung Quốc hay không?

Qua biến cố loại Mỹ ra khỏi Ủy Ban Quốc Tế Nhân Quyền trước đây, Vince Hayner đã viết một bài với nhan đề “Những Vi Phạm Của Hoa Kỳ” (US Violations) trong đó có đoạn như sau:

     “Sự loại Hoa Kỳ ra khỏi Ủy Ban Nhân Quyền là một bất ngờ cần được hoan nghênh.  Trong khi các chính trị gia, ký giả và dân thường hỏi tại sao, câu trả lời ở ngay trước mắt chúng ta.

     Hoa Kỳ có một thành tích khủng khiếp về nhân quyền.  Ngoài chuyện hàng ngày áp bức chính dân của mình, Hoa Kỳ vẫn tiếp tục vi phạm nhân quyền ở các nơi như Vieques (Porto Rico) bằng Hải Quân Hoa Kỳ, và ở quanh thế giới trong những xí nghiệp bóc lột nhân công tàn tệ (sweatshops) cho những xí nghiệp Hoa Kỳ, và điều có lẽ đáng lo ngại nhất là, giết hại hơn 1 triệu dân Iraq [trong cuộc đánh Iraq của Bush cha]   trong chiêu bài trừng phạt, đó là chỉ kể vài sự kiện.

     Hi vọng rằng sự loại Hoa Kỳ ra khỏi Ủy Ban Nhân Quyền là một dấu hiệu mà các thành viên khác của LHQ sẽ không dung dưỡng cho những hành động không hề thay đổi, đơn phương tấn công nhân cách con người của Hoa Kỳ.”

     (The ejection of the US from the UN Human Rights Committee is a welcome surprise.  While politicians, journalists and everyday people ask why, the answer is right in front of us.

     The US has a horrible human rights record.  Besides the daily oppression of its own citizens, the US continues to violate human rights in place like Vieques with the US Navy, around the world in sweatshops for US corporations and, perhaps most alarming, with the killing of more than 1 million Iraqi people via sanctions, just to name a few.

     It is hoped that this ejection comes as a sign that the other members of the UN will not tolerate the consistent unilateral assaults on human dignity by the US.)

Đó là những bộ mặt thực của Mỹ trong vấn đề nhân quyền, của cái Quốc Hội đã dùng tiền thuế của dân để lập ra cơ quan NED, một cánh tay khác của CIA,  mà vô thượng thiên tài chống Cộng Võ Văn Ái nấp sau, hưởng ơn mưa móc bằng đô-la, tung ra những thông tin bịa đặt để tranh đấu cho nhân quyền và dân chủ ở Việt Nam.   

Tuy nhiên, công bằng mà nói, tương đối thì Mỹ cũng là quốc gia có thể nói là tôn trọng quyền của người dân Mỹ vào bậc nhất.  Cũng vì vậy mà tôi mới có thể viết lên bài này.  Nhưng chúng ta cần phải hiểu rằng, người dân đây chỉ là dân Mỹ sống trên đất Mỹ.  Vấn đề ở đây không phải là Mỹ tôn trọng quyền của người dân Mỹ trên đất Mỹ, mà là trên bình diện quốc tế, Mỹ có tôn trọng nhân quyền ở các nơi khác trên thế giới hay không?  Những sự kiện trong lịch sử Mỹ ở Việt Nam, Indonesia, Guatamala, El Salvadore, Nicaragua v..v. đã chứng tỏ, đúng như Vince Hyaner đã viết ở trên: Hoa Kỳ có một thành tích khủng khiếp về nhân quyền. 

Tưởng chúng ta cũng nên biết thêm là năm 1986, Mỹ là quốc gia duy nhất đã bị Tòa Án Quốc tế (World Court) kết án là khủng bố quốc tế - dùng võ lực bất hợp pháp, cho những mục tiêu chính trị (Noam Chomsky, Ibid. p. 84: In 1986, the U.S. was the only country comdemned by the World Court for international terrorism – for “unlawful use of force” for political ends) và Mỹ đã phủ quyết một nghị quyết của Hội Đồng An Ninh Liên Hiệp Quốc kêu gọi mọi quốc gia, trong đó có Mỹ, phải tôn trọng luật lệ quốc tế.  Cường quyền đã thắng công lý.  Tại sao Mỹ không dám công nhận quyền của Tòa Án Quốc Tế Le Hague?  Vì nếu công nhận thì Mỹ sẽ là quốc gia đầu tiên bị đưa ra Tòa Án Quốc tế về những tội ác chiến tranh (war crimes) trong đó có những tội ác ở Việt Nam. 

Trong cuốn Giới Thiệu Noam Chomsky (Introducing Noam Chomsky) của John Maher và Judy Groves, Totem Books, New York, 1997, hai tác giả trên có ghi một nhận định thời danh của Giáo sư Noam Chomsky, trang 156:  

     “Nếu những luật của Nuremberg (tòa án xử tội phạm chiến tranh) được áp dụng thì sau mỗi cuộc chiến tranh, mọi tổng thống Hoa Kỳ đều đã phải bị treo cổ.”

    (If the Nuremberg laws were applied, then every post-war American president would have been hanged)

Thật là rõ ràng, Mỹ đã dùng những tay sai như Võ Văn Ái để đánh bóng bộ mặt nhân quyền đạo đức giả của Mỹ, cùng lúc xuyên tạc, phóng đại sự vi phạm tôn giáo và nhân quyền ở Việt Nam qua luận điệu đồng nhất hóa vài cá nhân trong Phật Giáo, Công Giáo với tôn giáo, để làm áp lực với Việt Nam, một nước nhỏ, kém mở mang, muốn phát triển kinh tế, để đạt được những nhượng bộ trong vấn đề giao thương với Mỹ.

II. Võ Văn Ái Và Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc tế.

Ông Võ Văn Ái là Giám Đốc “Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế” ở Paris.  Cái nhãn hiệu “Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế” là một nhãn hiệu bịp bợm, vì có cái gì là quốc tế ở đây.  Đưa cái nhãn hiệu Quốc tế vào, ông Võ Văn Ái không ngoài mục đích bịp thiên hạ là đàng sau ông có cả một khối Phật Giáo quốc tế làm hậu thuẫn.  Đây là một thủ đoạn quen thuộc của Võ Văn Ái. Nhưng ông chỉ có thể bịp được những kẻ đầu óc kém cỏi.  Chứng minh?

“Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế” được Võ Văn Ái dịch sang tiếng Anh là “International Buddhist Information Bureau” và tiếng Pháp: “Bureau International d’Information Bouddhiste”.  Ngay ở dưới hai nhãn hiệu này có câu bằng tiếng Việt: “Cơ Quan Thông Tin và Phát Ngôn của Viện Hóa Đạo, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất”.  Vậy Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN là Phật Giáo Quốc Tế?  Cho nên mỗi khi đọc đến danh xưng “Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế” tôi lại bật cười thương hại: “Cái thằng cha giám đốc này ngu thật.  Nếu hắn không ghi câu tiếng Việt thì người ta còn có thể hiểu lầm.  Nhưng câu tiếng Việt đã nói rõ hơn bao giờ hết là chẳng có gì có thể gọi là “quốc tế” ở đây.  Một nghĩa của “international” là liên hệ đến 2 hay nhiều hơn quốc gia.  Một nghĩa khác là liên hệ đến mọi quốc gia trên thế giới, nghĩa này tiếng Việt dịch là “quốc tế”.  Do đó,  “Cơ Quan Thông Tin và Phát Ngôn của Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN” không thể nào biến thành “Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế” được mà chỉ có thể là “Phòng Thông Tin Của Viện Hóa Đạo II, Thành Phần Lưu Vong Của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.”  Ông Võ Văn Ái có hiểu được như vậy không?

Tôi không biết rõ cái gọi là “Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế: Cơ Quan Thông Tin và Phát Ngôn của Viện Hóa Đạo, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất” được thành lập tự bao giờ, do ai thành lập, và ai cử ông Võ Văn Ái làm Giám đốc, Penelope Faulkner làm Phó Giám Đốc.  Tại sao “Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế: Cơ Quan Thông Tin và Phát Ngôn của Viện Hóa Đạo, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất” lại có một cô gái người Anh làm Phó Giám Đốc? Viện Hóa Đạo, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất không có ai có đủ khả năng hay sao?  Và ai quyết định đặt Phòng Thông Tin này trong cơ sở “Quê Mẹ”, có độc lập với “Quê Mẹ”, một tổ chức lãnh tiền của NED để chống phá Việt Nam, không?  Nhưng vì Giám đốc và Phó Giám đốc của “Quê Mẹ” cũng như của “Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế” cùng là Võ Văn Ái và Penelope Faulkner, nên chắc chắn hai tổ chức này phải có liên hệ mật thiết với nhau.  Và như vậy thì Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN  lấy danh nghĩa gì để mà tranh đấu cho nhân quyền, dân chủ, và tự do tôn giáo ở Việt Nam, biết rằng Quê Mẹ đã lãnh tiền của NED để hoạt động?  Danh nghĩa NED?  Đây là một vấn đề mà tôi mong các bậc đạo cao đức trọng trong Viện Hóa Đạo, GHPGVNTH ở trong nước cũng như ở Hải Ngoại cần phải quan tâm để khỏi gây ngộ nhận cho đa số người Việt theo Phật Giáo.   Hơn nữa, Võ Văn Ái còn có nhiều hành động làm giảm uy tín của Viện Hóa Đạo II, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất rất nhiều như tôi sẽ chứng minh trong một đoạn sau.  Điều duy nhất có thể cứu vãn phần nào tình thế, tuy rằng đã quá muộn, là Viện Hóa Đạo II, GHPGVNTH ở Hải Ngoại, nếu thực sự có một tổ chức mang danh trên, nên chính thức công bố là Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế không có liên hệ gì với “Quê Mẹ”,  dọn trụ sở sang một địa chỉ khác, và chính thức công bố khai trừ Võ Văn Ái ra khỏi chức vụ Giám Đốc “Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế: Cơ Quan Thông Tin và Phát Ngôn của Viện Hóa Đạo, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.” Phó Giám Đốc Penelope Faulkner tự động sẽ đi theo Giám đốc, khỏi cần khai trừ. Tất cả uy tín của Viện Hóa Đạo II, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tùy thuộc vào những hành động hợp lý trên.  Nếu không, Viện Hóa Đạo II, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất chỉ còn hiện hữu trên mặt giấy tờ và chứng tỏ thực chất nằm trong vòng thao túng của một tên đầu cơ chính trị, tay sai của ngoại bang..

Thật ra, cái gọi là “Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế” mà ông Võ Văn Ái làm giám đốc, chỉ là một xưởng sản xuất ra những “Thông Cáo Báo Chí” chứa đựng những thông tin nhiều khi bịa đặt để chống Cộng chứ chẳng dính dáng gì đến Phật Giáo cả.  Nói cách khác, qua những việc làm thiếu lương thiện trí thức, Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế đã bôi nhọ Viện Hóa Đạo II, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại rất nhiều.  Ông Võ Văn Ái đã mượn danh nghĩa của Viện Hóa Đạo II, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại, mượn danh vài quý Thầy ở bên nhà, để làm những việc cho mục đích riêng của mình khiến cho Viện Hóa Đạo II, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại và cả vài quý Thầy ở bên nhà bị mang tiếng khá nhiều.  Ông Võ Văn Ái cũng còn ngụy tạo một số văn kiện mà những ý tưởng và văn phong kém cỏi trong đó đã hạ thấp những người mà ông Ái đề là tác giả của những bản văn đó.  Tôi sẽ chứng minh những điều này trong một phần sau.

Vấn đề là Quốc Tế nào đọc thông cáo báo chí của Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế?  Nhóm trí thức Diễn Đàn ở Pháp, gồm toàn chuyên gia cấp cao,  cũng như nhóm Khuông Việt gồm những Phật tử trí thức có hạng, hội y sĩ, dược sĩ ở Pháp có bao giờ đăng thông cáo báo chí của “Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế” hay nhắc đến tên Võ Văn Ái đâu.  Tại sao?  Vì ở Pháp, ai mà không biết nhân cách của Võ Văn Ái từ hồi đang có chiến tranh Quốc Cộng kéo dài cho tới ngày nay. Mà đọc những “Thông Cáo Báo Chí” này thì rõ ràng là nội dung chất đầy thông tin láo và phát ngôn bừa bãi.  Chỉ có những người có đầu mà không có óc mới không nhận ra những điều này.

Tôi đã phê bình vài bản “Thông Cáo Báo Chí” của Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế trước đây và đã chứng tỏ rằng trong đó có những điều bịa đặt sai lầm, văn phong kém cỏi, và hiểu biết thấp kém về chính trị cũng như về giáo lý Phật Giáo.  Gần đây, Võ Văn Ái đã vội vã lên tiếng chống đối chuyến về Việt Nam của Thầy Nhất Hạnh và Tăng thân Làng mai với luận điệu xuyên tạc, chụp mũ, hoàn toàn sai sự thực một cách rất hạ cấp như sau:

Chuyến đi của Sư Ông Thích Nhất Hạnh chỉ nhắm vào hai mục tiêu:

-                    Ðồng lõa với Ðảng và Nhà cầm quyền Hà Nội che giấu cuộc đàn áp khốc liệt Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất...”

-                    phát triển tại Việt Nam Dòng Tiếp Hiện của Sư Ông. Ðây là dòng phái mới trong lịch sử Phật giáo Việt Nam hiện đại cho phép chư Tăng, Ni có quyền lập gia đình.”

Trong bài “Thầy Nhất Hạnh – Tsunami – Chuyến Về Việt Nam” đăng trên trang nhà Giao Điểm tháng 2, 2005, tôi đã vạch trần những điều láo lếu của Võ Văn Ái trong luận điệu xuyên tạc vu khống trên vì không có gì là sự thật trong đó.  Nhưng tại sao Võ Văn Ái lại vội vã lên tiếng chống đối?  Điều này thật dễ hiểu.  Đây là phản ứng của một kẻ điên cuồng trước một sự việc có tính cách xóa bỏ những việc làm gian xảo của hắn trước đây và có thể đưa tới khó khăn cho hắn trong việc tiếp tục xin làm tay sai cho NED vì trước những thực tế, cả thế giới đã biết đến bộ mặt thực của hắn. Nhưng vấn đề chính ở đây là

Nhưng vấn đề chính ở đây là Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế là “Cơ Quan Thông Tin và Phát Ngôn của Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN”, vậy giới chức nào trong Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN cho phép Võ Văn Ái vội vã ra một “thông cáo báo chí” có tính cách xuyên tạc một các hạ cấp về chuyến về Việt Nam của Thiền sư Nhất Hạnh? Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN có trách nhiệm gì trong vụ này không?  Tôi hi vọng Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN hãy lên tiếng làm sáng tỏ việc làm vô trách nhiệm của Võ Văn Ái.

Có vẻ như nấp sau danh xưng Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế, Võ Văn Ái đã tự tung tự tác cất lên tiếng nói cá nhân của mình.  Nhưng thử hỏi Võ Văn Ái là ai mà có tư cách phê phán chuyến đi của Thầy Nhất Hạnh và Tăng thân Làng Mai.  Uy tín của Thầy Nhất Hạnh bao trùm thế giới, một kẻ ăn gian nói dối như Võ Văn Ái thì lấy tư cách gì và nhân danh cái gì để phê phán Thầy Nhất Hạnh, tư cách và nhân danh một tay sai lãnh tiền của NED hay sao?  Thử hỏi, Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc tế, “Cơ Quan Thông Tin và Phát Ngôn của Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN”, với sự thao túng của Võ Văn Ái  trong nhiều năm nay, đã gây được tiếng tăm gì cho Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN, hay thực sự đã nhận Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN” xuống vũng bùn chính trị qua những việc làm tự tung tự tác rất kém cỏi và vô đạo đức của Võ Văn Ái?  Nhưng điều lạ đối với tôi là Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN  không hề lên tiếng về bất cứ điều gì Võ Văn Ái làm khiến cho tôi có cảm tưởng rằng hoặc Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN  đồng ý với những việc Võ Văn Ái làm, hoặc Võ Văn Ái đã nắm được cái tẩy nào của Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN  do đó tự tung tự tác, toàn quyền thao túng, biết rằng Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN  sẽ không có phản ứng.  Đây chỉ là sự suy đoán cá nhân, dựa trên các sự kiện và lôgic, không có nghĩa là tôi đã biết rõ nội vụ.

Chúng ta chỉ cần nhìn vào những hình ảnh đón tiếp phái đoàn ở khắp nơi, hình ảnh Thầy Nhất Hạnh thuyết giảng Phật Pháp ở nhiều nơi [Ngày 25 tháng 1, 2005: Trên 8000 Tăng, Ni, Phật tử nghênh đón ở Phi trường Tân sơn Nhất; Ngày 3 tháng 2, 2005, 3000 Tăng Ni Phật tử đến nghe Thầy Nhất Hạnh thuyết Pháp ở Chùa Xá Lợi, 5000 Tăng Ni Phật tử đến nghe thuyết Pháp tại Chùa Linh Mụ v..v..] và nhìn vào những chủ đề thuyết giảng của Thầy Nhất Hạnh về đạo đức, văn hóa truyền thống Việt Nam v..v.., và nhất là đọc THÔNG BẠCH V/v liên hệ bố tát của Tăng và thính giới của hàng cư sĩ Huế, ngày 21 tháng 2 năm 2005 do Trưởng Tăng Đoàn, Tỷ kheo Thích Thiện Hạnh, T/M Tăng Đoàn Phật Giáo Thừa Thiên Huế (ấn ký); Kính gửi: Trú trì các Tự viện, Tu viện, các chúng Thập Thiện, Bồ Tát, các đơn vị tu học thuộc Tăng đoàn Phật giáo Thừa Thiên – Huế, và Hội Đồng chỉ đạo Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, mà nội dung là Quý Thầy trong 2 Giáo Hội làm lễ Bố Tát chung, thể hiện tinh thần đoàn kết của Phật Giáo. 

Tất cả những sự kiện trên, cộng với những bài viết của Hoàng Nam,  Nhật Nam, Minh Mẫn, Quán Như về chuyến về Việt Nam của Thiền sư Nhất Hạnh, đã như một cái tát vào mặt Võ Văn Ái, vạch ra bộ mặt thật của một tên phản bội Thầy, Tổ, và Quốc Gia và vô hiệu hóa âm mưu bôi nhọ Thiền sư Nhất Hạnh, một khuôn mặt có tầm vóc quốc tế, chống phá Việt Nam và chia rẽ Phật Giáo Việt Nam của Võ Văn Ái trong mấy chục năm nay cũng như của những kẻ ngoại đạo đại loại như Lữ Giang, tâm thần hoảng hốt trước một biến cố lịch sử trọng đại có khả năng đưa đến sự đồng tâm đoàn kết trong đại khối Phật Giáo Việt nam, khôi phục những giá trị nhân bản, đạo đức trong truyền thống Việt Nam.

Sau đây tôi xin đưa ra vài sự kiện điển hình để chứng minh những thủ đoạn lắt léo, tự tung tự tác của Võ Văn Ái, nấp sau chiêu bài nhân quyền, tự do tôn giáo, và nhất là lấy danh nghĩa Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế.  Những sự kiện này không có gì mới lạ.  Tôi đã phanh phui ra trước đây trong một số bài phê bình về những thủ đoạn lừa bịp của Võ Văn Ái.  Nay chỉ nhắc lại cho nó tạm gọi là đầy đủ trong chủ đề “Võ Văn Ái và Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế”.  Nhưng trước hết chúng ta hãy đọc nhận định sau đây của ông Hoàng Trần, một trí thức trẻ Việt Nam ở Úc, trong một bài viết bằng tiếng Anh nhan đề Lừa Dối và Tuyên Truyền Trong Cộng đồng Người Việt ở Úc (Deception and Propaganda within the Vietnamese Community in Australia), đăng trên trang nhà Chuyển Luân, mà tôi xin tạm dịch như sau:

Trong gần 30 năm qua, những ngôn từ phát ra từ những trung tâm truyền thông kém phẩm chất, kể cả ở Úc, đã nhồi nhét vào cộng đồng người Việt những loại thông tin tạo ra bởi những kẻ điều khiển hoặc giống như vậy – mà không gặp một sự thách thức phản đối nào.  Trong báo chí hoặc đài phát thanh, luận điệu chống Việt Nam là một chỉ tiêu hơn là biệt lệ. Cộng đồng đã quá chán ngấy và ghê tởm trước những thông tin mà chúng ta biết rõ là sai lầm trầm trọng, tưởng tượng, hoặc bịa đặt – đúng ra là bịa đặt một cách quá kém cỏi.  Những kẻ điều khiển truyền thông và những “lãnh tụ cộng đồng” trắng trợn coi thường cộng đồng người Việt, và kiêu căng coi cộng đồng như thuộc quyền xử dụng của họ.”

(For almost 30 years, the overseas Vietnamese language media outlets, including those in Australia, have been feeding the Vietnamese community with those kinds of information produced by those operators or the like – without challenge.  In papers or radios, anti-Vietnam is the norm rather than the exception.  The community is so sick and so tired of the information which are, we definitely know, largely false, imaginary, or manufactured – very poorly manufactured, in fact.  These media operators and “community leaders” nakedly display their complete contempt for the Vietnamese community, and arrogantly treat the community as if it is at their disposal.)

Tác giả Hoàng Trần đã viết rất đúng khi đưa ra nhận định là: “Cộng đồng Việt Nam hải ngoại đã quá chán ngấy và ghê tởm trước những thông tin mà chúng ta biết rõ là sai lầm trầm trọng, tưởng tượng, hoặc bịa đặt – đúng ra là bịa đặt một cách quá kém cỏi.” đặc biệt là khi áp dụng vào những “Thông cáo báo chí” của Võ Văn Ái hoặc những bản văn mà “Quê Mẹ” hay “Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế” tung ra như tôi sẽ chứng minh qua vài trường hợp điển hình sau đây.

Chúng ta hãy phân tích vài bản văn mà Quê Mẹ khẳng định là những tài liệu từ Việt Nam gửi chui ra ngoại quốc, đặc biệt chỉ có Quê Mẹ nhận được.  Phân tích những bản văn này chúng ta thấy đó là sản phẩm của một trình độ trí thức yếu kém rất rõ rệt, chứa nhiều sơ hở sơ đẳng có tính cách phản tác dụng.

Bản văn thứ nhất là "Bản Phúc Trình Tóm Lược Về Tình Trạng Nhân Quyền Tại Việt Nam" của ông Đoàn Viết Hoạt, được Quê Mẹ tung ra vào khoảng đầu năm 1994.

Câu hỏi đầu tiên được đặt ra là ông Đoàn Viết Hoạt "phúc trình" cho ai?  Vì, phúc trình, theo tự điển Nguyễn Văn Khôn, chỉ có một nghĩa: "Tường trình để trả lời cấp trên" và đây cũng là nghĩa chúng ta thường hiểu.  Cấp trên của ông Đoàn Viết Hoạt là ai?   Điểm đặc biệt nhất là khi Quê Mẹ tung ra bản "Phúc Trình" này thì ông Đoàn Viết Hoạt đang bị giam trong nhà tù Xuân Phước, một nhà tù được tờ báo Xây Dựng ở San Jose, số 54, trang 5, mô tả như sau: "...Điểm danh 4 lần một ngày cộng thêm 4 lần mỗi khi đi và về lao động...Xuất nhập trại đều qua nhân viên khám xét toàn diện thân thể.  Trại cấm học và đọc ngoại ngữ...Tuyệt đối cấm gửi thư ra ngoài mà không qua ban giáo dục.  Mọi vi phạm đều bị kỷ luật và bị biệt giam..."

Trong hoàn cảnh như vậy mà ông Đoàn Viết Hoạt có thể gửi ra ngoài một bản phúc trình dài mở đầu bằng một câu hết sức mâu thuẫn: "Bản phúc trình này được soạn thảo trong một hoàn cảnh giam giữ khắc nghiệt..".  Soạn thảo hàm ý có đầy đủ thời gian, tài liệu, dữ kiện và phương tiện, những điều kiện không thể có trong một hoàn cảnh giam giữ khắc nghiệt.  Lại nữa, bản phúc trình viết: "Những ý kiến tóm lược này đều dựa trên những dữ kiện có thực mà tác giả đã trực tiếp tìm hiểu..".  Điều này hàm ý ông Hoạt đã đến tận nơi điều tra những vi phạm nhân quyền của chính quyền Việt Nam để thu thập dữ kiện (data).  Bằng cách nào mà ông Hoạt, đang làm bạn với muỗi và rệp trong nhà tù khắc nghiệt như nhà tù Xuân Phước, có thể "soạn thảo" một bản "Phúc trình" dựa trên các dữ kiện mà ông đã trực tiếp tìm hiểu?  Đã hơn một lần tôi chính thức yêu cầu trên diễn đàn công cộng, xin Quê Mẹ của ông Võ Văn Ái và ông Đoàn Viết Hoạt trả lời cho những thắc mắc nêu trên.  Nhưng lẽ dĩ nhiên, tôi chỉ nhận được một sự im lặng, ngầm thú nhận đó là một bản văn do Quê Mẹ ngụy tạo.  Điều đáng nói ở đây là tác giả bản văn này, bất kể là ai, đã đánh giá quá thấp trí tuệ của những người Việt di cư, coi trí tuệ của họ đồng hạng với trí tuệ của chính mình.  Ngụy tạo một bản văn thấp kém như vậy không biết Quê Mẹ hi vọng có bao nhiêu người ở hải ngoại cũng như trong nước tin, trừ những kẻ có đầu mà không có óc.

Hơn nữa, trong một bản văn mà nội dung là tranh đấu cho nhân quyền và để phổ biến cho các cơ quan quốc tế mà lại có những câu châm biếm thiếu chuyên nghiệp (unprofessional) và rất rẻ tiền như: "vừa đá bóng vừa thổi còi", "có cây (vàng) mới chống (án) được", "làm kiểng" v..v...  Thực chất của bản văn này, do đó, chỉ là một tờ truyền đơn chống Cộng kém cỏi, phản tác dụng vì có quá nhiều sơ hở sơ đẳng, đúng như nhận định của ông Hoàng Trần: tưởng tượng, hoặc bịa đặt – đúng ra là bịa đặt một cách quá kém cỏi.”.

Một bản văn khác cũng được Quê Mẹ tung ra cuối năm 1994 là bản  "Nhận Định Về Những Sai Lầm Tai Hại Của Đảng CSVN Đối Với Dân Tộc Và Phật Giáo Việt Nam", nói là của Hòa Thượng Thích Quảng Độ kèm với bức thư Hòa Thượng gửi ông Đỗ Mười.  Bản "Nhận Định..." này được một số báo hải ngoại đăng tải.  Báo Xây Dựng ở San Jose, số 65 đã để ra 2/3 số báo để bình luận.  Thụy Giao trong báo Xây Dựng phàn nàn là chỉ có báo ngoài đời đăng chứ các báo Phật Giáo không chịu đăng, không nhìn thấy tầm quan trọng của bản "Nhận Định..".  Các báo Phật Giáo không đăng là phải, vì bản văn này cũng để lộ trình độ quá kém cỏi về ý tưởng cũng như về văn phong, ngoài nhiều mâu thuẫn.

Tờ Phật Giáo Hải Ngoại, cơ quan ngôn luận chính thức của Văn Phòng II Viện Hóa Đạo và Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại Tại Hoa Kỳ, chỉ đăng bức thư gửi ông Đỗ Mười mà lại đề rõ là đăng lại của báo Người Việt, số 3317 ngày 6 tháng 1 năm 1995.  Tôi liên lạc điện thoại với Thầy Đức Niệm (Văn Phòng II Viện Hóa Đạo) thì được biết: "Văn Phòng không hề nhận được bản sao bức thư cũng như bản "Nhận Định.." từ trong nước gửi ra và chỉ biết là bản trên đã được báo Quê Mẹ tung ra phổ biến."  Thật là lạ vì dưới bức thư có đề rõ ràng:

BẢN SAO KÍNH GỬI:

- HT Thích Huyền Quang, Quyền Viện Trưởng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN.

- GHPGVNTN các cấp trong nước và ngoài nước.

- Quý vị lãnh đạo các tôn giáo bạn "để kính tường"

Nhưng chẳng có ai nhận được kể cả Văn Phòng II Viện Hóa Đạo, chỉ có Quê Mẹ nhận được. Nhưng điều đáng nói nhất là trong bản "Nhận Định.." chúng ta thấy cùng một văn phong như trong bản "Phúc Trình" của Đoàn Viết Hoạt, và tất nhiên, cùng chứa những mâu thuẫn, sơ hở rất sơ đẳng, phản ánh trí tuệ thấp kém của tác giả bản văn. 

Thật vậy,   Bản văn ghi rõ ở cuối: "Viết tại Xã Vũ Đoài, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.  Tháng 1 năm 1992 (Ngày 14-12, Tân Mùi).".  Bây giờ chúng ta hãy đọc câu sau cũng ở trong bản "Nhận Định..":  "lợi tức đổ đồng của Nhật Bản mỗi đầu người 7000 đô la một năm (hiện nay, 1994 (vâng, 1994 đấy. TCN), là 28000 Mỹ kim)".  Chúng ta nên nhớ là khi HT Thích Quảng Độ viết bản "Nhận Định.." này, tháng 1, 1992,  thì Ngài còn đang bị quản thúc ở Xã Vũ Đoài, Thái Bình.  Nhưng câu trên lại chứng tỏ là bản văn được viết vào năm 1994, chưa kể là khó có thể tin được là lợi tức mỗi đầu người Nhật, trong vòng 2 năm, tăng lên gấp 4, từ $7000 lên tới $28000. Câu trên nằm trong chính bản “Nhận Định” của Hòa Thượng Thích Quảng Độ chứ không phải là ghi chú mà Quê Mẹ thêm vào.  Vậy tác giả bản “Nhận Định” có phải là Hòa Thượng Thích Quảng Độ hay không?  Hay Ngài lại chỉ là một nạn nhân của Quê Mẹ?

Nhưng không phải chỉ có một sự kiện phi lý như vậy, mà Quê Mẹ còn đặt vào miệng một Cao Tăng những câu châm biếm không hợp với tinh thần một bản "Nhận Định.." và đạo đức Phật Giáo, thí dụ như: "một ông "cắc cớ""; "lót tay"; "có ki lô oét mới có ki lô oắt"; "có cầu thớt mới có cầu dao", "phản pháo"; "lắt léo"; "lật lờ đánh lận con đen" v..v..   Phải chăng đây là ngôn từ của một cao Tăng đạo cao đức trọng như Hòa Thượng Thích Quảng Độ dùng để tranh đấu cho tự do và nhân quyền ở Việt Nam?  Tôi không hiểu là Hòa Thượng có biết là Võ Văn Ái đã lợi dụng Ngài nhưng vì trình độ ngụy tạo quá kém cỏi nên vô hình chung đã kéo Ngài xuống vũng bùn chính trị nhơ nhớp.

Cũng chưa hết, điểm nổi bật nhất trong bản "Nhận Định.." là đoạn HT Thích Quảng Độ kể lại một buổi họp ở Viện Hóa Đạo trong đó Ngài phát biểu:

 "..Kính thưa toàn thể quý vị.  Chắc quý vị cũng như tôi đều thấy rõ hiện nay con thuyền GHPGVNTN đang lênh đênh giữa biển khơi và gặp sóng to gió lớn, chưa biết sẽ chìm lúc nào.  Vậy, nếu những ai trong quý vị có mặt ở đây hôm nay cảm thấy nguy nan sợ hãi và muốn bước sang thuyền khác (ý nói Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam. TCN) để thoát thân, thì xin quý vị ấy cứ tự do, không ai ngăn cản cả.  Nhưng tôi chỉ xin quý vị ấy một điều là: trước khi bước sang thuyền khác quý vị cứ để mặc con thuyền Giáo Hội (Thống Nhất. TCN) lênh đênh trôi giạt trong sóng gió với những người còn ở lại trên đó, họ sẽ cố sức lèo lái, nếu may mắn vượt qua cơn nguy nan mà đến được bờ bình an thì họ sống, còn nếu chẳng may con thuyền chìm thì họ cũng sẵn sàng chết theo nó, chứ quý vị đừng đang tâm nhận chìm con thuyền của mình mà có lần đã từng đưa quý vị đến bờ danh vọng, lợi lộc, trước khi bước sang thuyền khác.  Tôi chỉ xin quý vị có thế thôi.  Tôi dứt lời và xin cảm ơn quý vị."  Khi tôi nói xong thì cả trong hội trường và ngoài sân, ngoài các hành lang nổi lên những tràng pháo tay vang dội..."

Chúng ta có thể tin được là Hòa Thượng Thích Quảng Độ đã thốt ra những lời như trên không.   Nếu thật là như vậy thì Ngài đã chê những người nào muốn bước sang thuyền khác là hèn nhát, sợ hãi và muốn thoát thân, một thái độ không thể có của một bậc cao tăng đạo cao đức trọng như HT Thích Quảng Độ.  Mặt khác, như vậy thì hóa ra con thuyền Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, xuất thân từ cuộc tranh đấu Phật Giáo ở miền Nam năm 1963, chỉ là con thuyền đưa hàng Giáo Phẩm Phật Giáo miền Nam đến bờ danh vọng, lợi lộc.  Thật thế sao?   Hòa Thượng Thích Quảng Độ có biết rằng Quê Mẹ của Võ Văn Ái đang hạ thấp uy tín của Ngài hay không?   hay vì Ngài quá bận tâm trong việc tranh đấu, tin tưởng vào hậu thuẫn bịp bợm của Võ Văn Ái cho nên không nhìn ra điểm này.  Tôi cũng đã đặt những thắc mắc này trước Quê Mẹ và Văn Phòng II Viện Hóa Đạo, nhưng cũng chỉ nhận được một sự im lặng khó hiểu.

Sự gian xảo của Võ Văn Ái không chỉ giới hạn trong thủ đoạn ngụy tạo tài liệu mà còn bao trùm trong mọi mặt khác mà mục đích là xuyên tạc sự thật để chống Cộng, nấp sau những chiêu bài nhân quyền và tự do tôn giáo nhưng sự thực chỉ là để vu khống, bôi xấu Việt Nam.  Chúng ta hãy kể ra thí dụ sau đây:

Trường hợp của Thượng Tọa (sic) Thích Trí Lực.  Võ Văn Ái khoe rằng:

   “Tháng 5, can thiệp cho 2 Thượng tọa  thuộc GHPGVNTN đến tị nạn ở Cam Bốt và đã được Cao ủy Tị nạn LHQ chấp  thuận. Chẳng may, sau đấy, Mật vụ cộng sản Việt Nam đã lén lút đến Nam Vang bắt cóc Thượng tọa Thích Trí Lực. Thượng tọa có nguy cơ bị thủ tiêu, nếu không là dẫn độ về Việt Nam.”

Đây là những lời bịa đặt vu khống Việt Nam một cách trắng trợn.  Vì Thích Trí Lực bị bắt ở Việt Nam chứ không phải ở Cam Bốt, và khi bị bắt thì Thích Trí Lực đã hoàn tục từ lâu, không còn  là tu sĩ Phật Giáo, và bị bắt về tội vượt biên rồi trở lại Việt Nam để đón vợ. 

Tài liệu của Human Rights Watch ở Mỹ cho biết: “Thượng tọa Thích Trí Lực chạy sang Cambod tháng 4, “mất tung tích” ở Nam Vang vào tháng 7, sau khi được Cao Ủy Tị Nạn LHQ ở Cambod chấp thuận cho quy chế tị nạn.  Cao Ủy Nhân Quyền LHQ và các tổ chức nhân quyền quốc tế đã biểu lộ sự quan tâm về sự an toàn của Thích trí Lực, e rằng đã bị cưỡng dẫn về Việt Nam và cầm tù”

   (Report 2002:   Venerable Thich Tri Luc, who fled to Cambodia in April, was “disappeared” from Phnom Penh in July, shortly after receiving refugee status from the UN High Commissioner for Refugees in Cambodia.  The UN High Commissioner for  Human Rights and international rights organizations expressed concerns about the safety of Thich Tri Luc who was feared to have been forcibly returned to Vietnam and imprisoned)

   Chúng ta nên biết, Human Rights Watch cũng như một số tổ chức Nhân Quyền khác đều nằm trong sách lược của Mỹ và được Mỹ tài trợ, trong đó có “Quê Mẹ Paris” như tôi đã chứng tỏ trong những tài liệu đã nêu ở trên.

   Ở đây tôi chỉ muốn nói rằng, Human Rights Watch cũng chỉ đoán mò về sự kiện “thất tung” của Thượng tọa Thích trí Lực chứ không có một bằng chứng quyết định nào.  Nhưng ông Võ Văn Ái thì khác, ông khẳng định là “Mật vụ cộng sản Việt Nam đã lén lút đến  Nam Vang bắt cóc Thượng tọa Thích Trí Lực”.  Điều rõ ràng là ông Ái và Human Rights Watch đã toa rập cùng nhau đưa ra thông tin thất thiệt, và riêng Quê Mẹ thì thổi phồng sự việc từ một nghi vấn thành một khẳng định và tăng thêm cường độ vu khống: “Thượng tọa Thích trí Lực có nguy cơ bị thủ tiêu ngay trên đất Cambod.”  Sự bất lương của Võ Văn Ái quả thật đã làm cho chúng ta phải ghê tởm. 

Khi Human Rights Watch và Võ Văn Ái loan tin như trên về Thích Trí Lực thì chúng ta phải đặt một câu hỏi:  Thích trí Lực là người như thế nào để nhà nước Việt Nam phải cất công sang tận Cam Bốt bắt về, hay thủ tiêu ngay trên đất Cambod, vi phạm luật lệ quốc tế, điều mà chỉ có Mỹ dám làm càn như vậy.  Thích Trí Lực nắm trong tay những bí mật Quốc Phòng của Việt Nam?  Từ trước đến nay, có bao nhiêu Tu sĩ Phật Giáo chính hiệu vượt biên và được hưởng qui chế tị nạn, nhưng đã có ai bị nhà nước Việt Nam đi bắt về?  Mặt khác, khi đó Thích Trí Lực có còn là một Thượng Tọa hay không?   Như vậy, mục đích loan tin láo của Human Rights Watch và Võ Văn Ái là gì?  Sự thật về vụ Thích trí Lực ra sao?  Trần Thanh Hải đã viết trong bài Vòng Tục Lụy, đăng trên trang nhà Giao Điểm, tháng 12, 2003, như sau:

Lún sâu vào con đường thế tục, dựa thế ngọai bang, ngây thơ mà làm chính trị, phẩm hạnh của thành phần nhân sự suy đồi, nên nhiều năm qua tổ chức GHPGVNTN ở nước ngòai đã không làm nên tích sự gì mà còn tai hại cho Phật Giáo. Làm việc tùy tiện không nghiên cứu. Thí dụ, TT. Thích Trí Lực (Phạm Văn Tưởng) đã hoàn tục hơn 10 năm, có nhiều vợ, đặc biệt có một người con với bà Hà năm 1992. Sau khi ly dị bà nầy năm 1994, ông Phạm Văn Tưởng lấy bà Trần Thị Hoàng Oanh năm 1999. Có gởi thiệp mời tôi dự đám cưới. Gần 3 năm sau, ông Tưởng trốn qua Căm Bốt sau đó trở về lại Việt Nam để đón vợ nên bị bắt. Thế mà HT Quảng Độ và ông Võ Văn Ái viết thư và tố cáo chính quyền Việt Nam bắt cóc. Bắt cóc thì phải vào lãnh thổ Cam Bốt, nhưng không hề nghe chính quyền Cam Bốt tố cáo chính phủ Việt Nam vi phạm lãnh thổ thì bắt cóc như thế nào được? Nói lên điều nầy không phải tôi bênh vực cho cái chính phủ nầy, nhưng để nhắc quí vị nên trung thực và phải nói cho có lý. Vì làm việc tùy tiện thiếu cân nhắc lại mang tâm hận thù nên, một trong những việc làm đáng ghi nhớ của giáo hội [ở hải ngoại] nầy là rình rập xem có tăng ni nào từ Việt Nam sang du lịch, thăm thân nhân hoặc chữa bệnh thì đấu tố biểu tình, nhưng đến khi mấy ông linh mục, giám mục, mục sư cũng từ Việt Nam ra thì không những thấy họ im phăng phắc mà còn xum xoe đi dự lễ mừng!

Trên đây chỉ là vài trường hợp điển hình chứng tỏ những việc làm thấp kém và tai hại của Võ Văn Ái, nhân danh Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN”.  Võ Văn Ái ngụy tạo những văn kiện thấp kém và xuyên tạc sự thật như trên để chống Cộng thì theo tôi, còn lâu mới tạo được ảnh hưởng, mới có kết quả, khoan kể là chính quyền Việt Nam có thể khai thác những sơ hở này để phản tuyên truyền.  Trong thời đại ngày nay, khó ai có thể dấu ai được chuyện gì, nhất lại là những chuyện không chính đáng, gian xảo.  Đối với một số thầy ở bên nhà, vì thiếu thông tin chính xác, vì hoàn cảnh chính trị đặc biệt, nên bị Võ Văn Ái khoa trương hư danh lừa bịp thì không nói làm gì.  Nhưng với các quý thầy trong “GHPGVNTN Hải Ngoại”, thì không có lý gì để mà không biết đến những thủ đoạn gian xảo lừa bịp của Võ Văn Ái để kiếm lợi cá nhân.  Tôi thành thực ước mong, quý thầy trong GHPGVNTN,  ở bên nhà cũng như ở hải ngoại, hãy cân nhắc kỹ thực chất vai trò của Võ Văn Ái, duyệt lại tất cả những việc Võ Văn Ái đã làm từ trước tới nay, bản chất những việc đó như thế nào, có phù hợp với chủ trương của Giáo hội hay không, đã giúp được Giáo hội những gì, đã làm hại Giáo hội ra sao v..v.., để có thể đưa ra một quyết định dứt khoát về lá bài Võ Văn Ái.  Mong vậy thay.


04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com